Thông tin tổng hợp về các cuốn sách đã xuất bản của tôi

Thi thoảng lại có bạn nhắn tin hỏi mua những sách tôi đã dịch và xuất bản. Lần này, nhân dịp “Lịch sử học là gì” xuất bản, tôi gom lại đây thành danh sách những sách tôi đã dịch, viết với các thông tin cần thiết để bạn nào quan tâm có thể tìm. Danh sách này sẽ được bổ sung khi có ấn phẩm mới ra đời.

sách đã xuất bản
1. Ozaki Mugen, Cải cách giáo dục Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vương dịch, Văn Ngọc Thành hiệu đính, Nhà sách Thái Hà và NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2014.

 

Thông tin về nội dung cuốn sách có thể đọc tại các địa chỉ sau:

1. Trang web của Thaihabooks: http://thaihabooks.com/sach-thaiha/411/Cai-cach-giao-duc-Nhat-Ban/

 

  1. VTV: http://vtv.vn/doi-song/cai-cach-giao-duc-nhat-ban-huu-ich-cho-cac-nha-giao-duc-127393.htm

Sách này có bán tại các cửa hàng sách online trên mạng hoặc các bạn có thể tìm mua tại các chi nhánh của Thaihabooks như  Nhà sách Bản Quyền ở Hà Nội (Địa chỉ119 Tô Hiệu, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Điện thoại+84 90 224 24 22).

2. Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản, Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vương dịch, Phạm Thu Giang hiệu đính, Nhà sách Quảng Văn và NXB phụ nữ, Hà Nội, 2016.

Sách được xuất bản lần đầu tiên bằng tiền đóng góp của bạn đọc trong và ngoài nước. Theo cam kết với phía Nhật Bản và bạn đọc, sách này không bán chỉ dành để tặng bạn đọc, ưu tiên các phụ huynh có con nhỏ.
Để có cuốn sách này các bạn liên hệ với anh Minh Tuấn, giám đốc Quảng Văn (FB: https://www.facebook.com/tuan.trinh.5205?fref=ts), hoặc nhà sách Quảng Văn (Trụ sở chính: 230, tổ 9, đường K3, Thị trấn Cầu Diễn, H.Từ Liêm, TP Hà Nội;

Tel/Fax: 043. 76 33303).
Các bạn cũng có thể đọc bản ebook miễn phí trên các trang mạng (các bạn hãy dùng google để tìm kiếm, hoặc đọc trên Alezaa).

Những tổ chức, cá nhân nào muốn tài trợ để in sách này đem tặng cũng in vui lòng liên hệ với anh Minh Tuấn, giám đốc Quảng Văn.

Hiện nay cuốn sách này vẫn tiếp tục được tặng tới tay các bạn đọc trên toàn quốc.

3. Nguyễn Quốc Vương, Điều bí mật trong vườn, NXB Văn học, Hà Nội, 2016.

Đây là tập thơ viết cho thiếu nhi.
Thông tin về nội dung tập thơ có ở đây: http://baobacgiang.com.vn/bg/van-hoa/tac-gia-tac-pham/158170/dieu-bi-mat-trong-vuon.html

Các bạn có thể đọc trước một vài bài trong tập thơ này ở đây:

https://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-qu%E1%BB%91c-v%C6%B0%C6%A1ng/ai-mua-th%C6%A1-t%C3%B4i-b%C3%A1n-th%C6%A1-cho/10154611194702316

Bạn nào muốn có tập thơ này xin vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ email: thonsau@gmail.com hoặc qua địa chỉ FB (https://www.facebook.com/ro.son.14)

Sách sẽ được gửi đến các bạn qua đường bưu điện sớm nhất có thể.

4. Bộ giáo dục Nhật Bản, Hướng dẫn học tập môn Xã hội, Nguyễn Quốc Vương dịch, Nguyễn Lương Hải Khôi hiệu đính, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2016.

 

Thông tin về nội dung sách: http://nxbdhsp.edu.vn/san-pham/huong-dan-hoc-tap-mon-xa-hoi.html

 

Sách này in lần đầu 3000 bản nghe nói đã gần hết và sắp tái bản. Các bạn muốn mua sách này xin vui lòng đến Nhà sách Sư phạm, 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội hoặc liên hệ với NXB Đại học sư phạm

(Trụ sở: 136 Đường Xuân Thuỷ, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

– Điện thoại: +84 4 3754 7735 ; Fax: +84 4 3 754 7911

– Email: hanhchinh@nxbdhsp.edu.vn

– Website: www.nxbdhsp.edu.vn)

 

  1. Odanaka Naoki, Lịch sử học là gì? Nguyễn Quốc Vương dịch, Ban tu thư Đại học Hoa Sen và NXB Đại học quốc gia TP. HCM, TP. HCM, 2016.

 

Thông tin về nội dung cuốn sách có tại đây: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10204883665251247&set=a.1023840776120.3727.1828271905&type=3&theater

Các bạn ở phía nam mua sách trực tiếp tại Đại học Hoa Sen hoặc liên hệ với đại diện Ban tu thư theo địa chỉ:

1. Cô Bảo Quyên
quyen.nguyenthibao@hoasen.edu.vn
2. Anh Phan Minh Trí
tri.phanminh@hoasen.edu.vn

 

Hoặc liên hệ với Ban Tu thư qua số điện thoại: 090 801 4174

 

Các bạn ở Hà Nội có thể đặt mua qua hai địa chỉ:
1. Ms Chi
FB: https://www.facebook.com/BinhTam9204?__mref=message_bubble
2. Mr. Đạt (các bạn cũng có thể đặt mua các sách khác của Đại học Hoa Sen)
FB: https://www.facebook.com/Fabienquach…
ĐT: sdt Đạt: 097 947 1329

 

Nếu các bạn có ý kiến phản hồi, phê bình về các cuốn sách trên xin vui lòng gửi tới địa chỉ email: thonsau@gmail.com.

Trân trọng

Nguyễn Quốc Vương

 

p.s: Ngoài ra những bạn quan tâm tới giáo dục, lịch sử và giáo dục lịch sử ở Nhật Bản, Việt Nam cũng có thể tìm đọc các bài viết, dịch của tôi trên các báo, tạp chí, phương tiện truyền thông đại chúng và blog tại địa chỉ này:

https://thonsau.wordpress.com/category/bai-viet-da-xuat-ban/

 

 

 

“Điều bí mật trong vườn”

Tháng Mười Một 26, 2015 Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà xuất bản Văn học vừa ấn hành tập thơ “Điều bí mật trong vườn” của tôi. Đây là tập sách thứ ba của tôi được xuất bản  nhưng lại là cuốn đầu tiên tôi viết (hai cuốn trước đó là “Cải cách giáo dục Nhật Bản” và “Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản).
Tập thơ viết về những trải nghiệm và mơ ước thời thơ ấu ở Thôn Sấu của tôi.

 

bìa tập thơ
Bạn nào muốn mua tập thơ này xin vui lòng liên hệ với tôi qua FB (https://www.facebook.com/ro.son.14) hoặc email : thonsau@gmail.com

Những bạn ở Hà Nội có thể nhận sách trực tiếp hoặc qua bưu điện, những bạn ở xa sách sẽ gửi qua bưu điện.
Giá sách: 50.000VNĐ/cuốn. Nếu gửi qua bưu điện người nhận chịu tiền cước.

Xin trân trọng cảm ơn.

Nguyễn Quốc Vương

‘Chóng mặt’ với kỳ nghỉ hè của giáo viên Nhật

 Nghỉ hè là dịp lý tưởng để họ tập hợp lại, tổ chức các diễn đàn, hội thảo nhằm công bố các “thực tiễn giáo dục” của bản thân đã thực hiện trong năm và thảo luận cùng đồng nghiệp.

Ở Nhật, ngoài kì nghỉ đông, nghỉ xuân, các trường học cũng có kì nghỉ hè giống như Việt Nam. Do hệ thống hành chính giáo dục của Nhật ở một mức độ nhất định thừa nhận và bảo hộ tính tự trị ở địa phương, cũng như do sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên-xã hội ở từng khu vực, thời điểm nghỉ hè và thời gian của kì nghỉ sẽ thay đổi theo từng địa phương. Nhưng nhìn chung kì nghỉ hè thường bắt đầu từ giữa tháng 7 cho đến hết tháng 8, kéo dài từ 25 – 40 ngày theo từng tỉnh/ thành.

Không được “dạy thêm” mà vẫn bận rộn

Kì nghỉ hè, giáo viên Nhật sẽ được nghỉ ngơi và dành cho việc riêng? Về lý thuyết có vẻ như vậy nhưng trên thực tế, thời gian nghỉ thật sự, tách hoàn toàn khỏi công việc của giáo viên Nhật trong hè rất ngắn, nhiều cũng chỉ khoảng 10 ngày.

Ở Nhật thông thường các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên kí hợp đồng dài hạn vẫn phải đi đến trường làm việc ngay cả khi không có tiết dạy như người làm việc ở các công sở khác. Họ đến trường để nghiên cứu, đọc sách, chuẩn bị cho bài giảng, tham gia các sinh hoạt học thuật của trường học và cố vấn cho các hoạt động, các câu lạc bộ (CLB) học sinh.

Lương giáo viên Nhật đủ để chi dùng cho cuộc sống ở mức trung bình và luật cấm họ làm việc ở các trung tâm luyện thi hay tham gia giảng dạy ở trường khác.

Nhật Bản,Giáo dục Nhật Bản,Du học Nhật Bản,Nghỉ hè,lương giáo viên
Ảnh minh họa. Nguồn: h-nittai.sakura.ne.jp

Ở Nhật, hầu như các giáo viên đều tham gia làm cố vấn cho các câu lạc bộ tự trị của học sinh. Trong chương trình giáo dục ở trường phổ thông Nhật Bản, hoạt động tự trị của học sinh đóng một vai trò quan trọng ngang nội dung giáo dục thông qua các môn giáo khoa. Các câu lạc bộ được hình thành từ tiểu học và sẽ được “chuyên nghiệp hóa” ở bậc học THCS.

Sự tham gia của học sinh vào các CLB ở cấp học này được hiểu như là bắt buộc. Các CLB rất đa dạng bao phủ nhiều lĩnh vực như thể thao, học thuật, nghệ thuật, đời sống, hoạt động xã hội…, nhằm gắn kết tạo ra cộng đồng và giúp học sinh “xã hội hóa” nhận thức, hành vi, mài sắc cá tính, năng khiếu của bản thân, rèn luyện kĩ năng tổ chức và lãnh đạo cũng như những phẩm chất cơ bản để trở thành người công dân dân chủ.

Kì nghỉ hè là khoảng thời gian thuận lợi nhất để giáo viên tập trung vào hoạt động của các CLB của học sinh nói trên. Những giáo viên kiêm cố vấn CLB sẽ rất bận rộn trong dịp hè.

Ngoài ra, trong kì nghỉ hè, giáo viên sẽ phải tham gia các chương trình “đào tạo bồi dưỡng chuyên môn”. Đó có thể là chương trình do Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ, Ủy ban giáo dục địa phương tổ chức, hoặc cũng có thể là chương trình riêng của nhà trường.

Đặc biệt, đáng chú ý nhất là sự tham gia tích cực của giáo viên vào các câu lạc bộ học thuật, các tổ chức học thuật-nghề nghiệp của chính họ. Đây là các tổ chức, diễn đàn hoàn toàn do giáo viên sáng lập, tổ chức và sinh hoạt tự nguyện.

Hiện có hàng trăm, hàng ngàn tổ chức như thế tại Nhật. Nghỉ hè là dịp lý tưởng để họ tập hợp lại, tổ chức các diễn đàn, hội thảo nhằm công bố các “thực tiễn giáo dục” của bản thân đã thực hiện trong năm và thảo luận cùng đồng nghiệp.

Ở Nhật, quan niệm giáo viên là nhà giáo dục, nhà thực tiễn giáo dục rất mạnh. Những giáo viên được cấp trên, đồng nghiệp, xã hội đánh giá cao là những người sáng tạo ra các thực tiễn giáo dục của riêng mình. Giáo viên tồi là những người nhất nhất dạy theo SGK.

Trong gần 10 năm học ở Nhật, tôi may mắn có cơ hội giao lưu, tham dự rất nhiều các buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên môn của các tổ chức đó. Nhờ vậy, tôi được gặp gỡ, lắng nghe học hỏi kinh nghiệm từ chính các giáo viên đang giảng dạy ở trường phổ thông Nhật Bản.

Ví dụ, tôi từng nhiều lần tham dự các buổi hội thảo, sinh hoạt học thuật của Hội các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản. Đây là một tổ chức nghề nghiệp thành lập năm 1949, tập hợp các giáo viên dạy các môn Xã hội, Lịch sử, địa lý… trên toàn Nhật Bản và các nhà nghiên cứu, các giáo sư đại học có liên quan, với mạng lưới chi hội rộng khắp.

Mỗi năm Hội sẽ tổ chức Đại hội một lần với một chủ đề nhất định. Đây cũng là dịp các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông gặp gỡ các nhà nghiên cứu, các giáo sư đại học để trao đổi. Họ cũng sẽ có không gian để công bố các thực tiễn giáo dục, các thử nghiệm mà họ đang thực hiện ở trường học. Hội cũng có tạp chí phát hành định kì hàng tháng đăng tải các bài báo về giáo dục lịch sử và công bố các “thực tiễn giáo dục” của giáo viên.

Hoạt động của giáo viên Nhật Bản trong kì nghỉ hè sẽ là một tham khảo hữu ích cho giáo viên Việt Nam. Để thúc đẩy cải cách giáo dục và nâng cao chất lượng giáo viên, Việt Nam cần can đảm loại bỏ các phong trào thi đua hình thức, thay vào đó là hoạt động nghiên cứu học thuật với vai trò tự chủ, tự trị của giáo viên trong trường học.

Nguyễn Quốc Vương

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/chong-mat-voi-ky-nghi-he-cua-giao-vien-nhat-375048.html

Nên giữ hay bỏ đánh giá hạnh kiểm học sinh?

Việc đánh giá hạnh kiểm học sinh ở nước ta đã tồn tại rất lâu cho dù các văn bản hướng dẫn cụ thể về nó được điều chỉnh, bổ sung thay đổi nhiều lần. Hiện tại, đánh giá hạnh kiểm vẫn là vấn đề đang gây xôn xao dư luận và làm đau đầu cả phụ huynh, giáo viên lẫn học sinh.

Ông Nguyễn Hoàng Chương (Hiệu trưởng Trường THPT Lộc Phát, Lâm Đồng): Xã hội hóa giáo dục cần bổ sung thêm nội dung: Xã hội hóa việc đánh giá học sinh.

Mỗi học sinh có một hoàn cảnh – yếu tố môi trường tác động đến sự phát triển nhân cách sau này, rồi bẩm sinh, di truyền…, rất khác biệt. Vì vậy, đánh giá học sinh đòi hỏi sự thận trọng, tỉ mỷ, công phu, công bằng. Cùng với đó là lòng yêu thương, vị tha, cả sự nghiêm khắc của người thầy.

hạnh kiểm, học sinh, giáo viên
Ông Nguyễn Hoàng Chương

Trước hết, giáo viên chủ nhiệm ghi kết quả (học lực, hạnh kiểm, lời phê) vào Sổ Gọi tên và Ghi điểm, Học bạ, Sổ liên lạc. Hiệu trưởng là người ký cuối cùng mang tính xác nhận – là công việc hành chính theo trách nhiệm được giao.

Để xếp loại hạnh kiểm, giáo viên chủ nhiệm lớp phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh, Ban chấp hành Chi Đoàn, Ban cán sự lớp, giáo viên bộ môn, giám thị, phụ huynh học sinh, cộng đồng dân cư nơi học sinh cư trú. Vì vậy, đánh giá học sinh là kết quả của sự tham gia nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường.

Hai là, ở khía cạnh nào đó mà giáo viên chủ nhiệm chưa làm tốt dẫn đến việc xếp loại hạnh kiểm thiếu chính xác, gây phản ứng tiêu cực từ học sinh, phụ huynh thì cần góp ý để giáo viên chủ nhiệm điều chỉnh. Đồng thời, lãnh đạo nhà trường tổ chức huấn luyện cho giáo viên chủ nhiệm kỹ năng đánh giá hạnh kiểm.

Ở trường sư phạm, giáo viên chỉ được tập trung bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng đánh giá năng lực học tập của học sinh. Lúc về trường phổ thông công tác, lãnh đạo nhà trường, phòng GD-ĐT, sở GD-ĐT lại thường tập trung bồi dưỡng chuyên môn, ít chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng đánh giá định tính. Mà hạnh kiểm lại thuộc phạm trù này. Cái sai của giáo viên chủ nhiệm trong xếp loại hạnh kiểm (nếu có) trước hết là trách nhiệm của cán bộ quản lý.

Có những hoạt động quản lý coi như đã hướng dẫn qua những văn bản (vốn chưa theo kịp với những thay đổi trong nhà trường hiện nay), như việc kỷ luật học sinh, xếp loại hạnh kiểm học sinh chẳng hạn. Hệ quả là mỗi cơ sở giáo dục, từng giáo viên chủ nhiệm hiểu thế nào sẽ làm thế ấy. Đánh giá hạnh kiểm học sinh chưa sâu sắc có nguyên nhân từ đó.

Ba là, đánh giá tư cách người học qua hạnh kiểm hiện nay chưa thể thay đổi. Nhiều nhà trường vẫn thực hiện tốt, có tác dụng tích cực. Để tiếp tục phát huy, việc xếp loại hạnh kiểm cần có sự chung tay đánh giá của các lực lượng bên ngoài nhà trường như phụ huynh, các đoàn thể tại địa phương, cộng đồng dân cư nơi học sinh cư trú.

Làm được điều này, việc đánh giá hạnh kiểm sẽ khách quan, chính xác. Và như thế, kết quả hạnh kiểm luôn nhận được sự đồng tình, ủng hộ.

Nguyễn Quốc Vương (tác giả nhiều cuốn sách về lịch sử giáo dục Nhật Bản): Cần bỏ việc đánh giá hạnh kiểm học sinh trong trường học.

Việc đánh giá hạnh kiểm học sinh ở nước ta đã tồn tại rất lâu cho dù các văn bản hướng dẫn cụ thể về nó được điều chỉnh, bổ sung thay đổi nhiều lần. Câu chuyện về hạnh kiểm hiện tại sẽ là vấn đề rất lớn cho dù nhìn từ thực tiễn hay lý luận giáo dục.

hạnh kiểm, học sinh, giáo viên
Anh Nguyễn Quốc Vương

Đánh giá hạnh kiểm gây ra nhiều hệ lụy, mà hệ lụy dễ thấy nhất là việc làm tổn thương học sinh. Hạnh kiểm thường được hiểu là “phẩm chất, đạo đức biểu hiện trong việc làm, trong cách đối xử với mọi người”, vì vậy, cách thức đánh giá và xếp loại hạnh kiểm của cá nhân học sinh thành các loại như tốt, khá, trung bình, yếu, kém… sẽ làm cho học sinh cảm thấy bị xúc phạm và tổn thương.

Nền tảng tồn tại của cá nhân là nhân cách, vì thế, mọi sự can thiệp sâu tác động vào nhân cách của cá nhân theo lối phủ định sạch trơn đơn giản như thế đều có tác dụng xấu. Nó giống như một đòn trừng phạt về tinh thần đối với học sinh hơn là một biện pháp giáo dục. Tư duy trừng phạt này chi phối mạnh mẽ trong phương thức nhận xét và đánh giá hạnh kiểm, vì vậy mà mỗi buổi kiểm điểm lớp hay họp đánh giá hạnh kiểm, người giáo viên vốn nắm trong tay cả quyền lực và quyền uy đã trở thành người giống như quan tòa độc quyền phán xử.

Có những học sinh, nhất là những học sinh bị xếp vào dạng “học sinh cá biệt”, sẽ suốt đời mang theo vết thương lòng khi phải tham dự những buổi kiểm điểm cuối tuần hay đọc những lời nhận xét, những dòng đánh giá về hạnh kiểm trong học bạ, cho dù sau này các em không ít người trở thành những người có phẩm cách đáng nể trọng.

Thứ hai, do đạo đức con người là một thứ rất khó đánh giá và định lượng chi tiết, nên cách thức đánh giá hạnh kiểm hiện tại dựa vào sự tuân thủ nội quy, thái độ đối với giáo viên và học lực là cách làm dễ tạo ra kết quả sai lầm.

Ngay cả ở trong đời sống và khoa học, rất khó để đo đạc và đánh giá đạo đức con người. Trên thế giới, ở thời điểm hiện tại, có lẽ chưa có phát minh nào về đánh giá đạo đức con người phân biệt được người tốt, kẻ xấu rõ ràng. Vậy thì tại sao giáo viên và nhà trường chúng ta lại có thể dễ dàng đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh thành các loại như tốt, khá, trung bình, yếu?…

Thứ ba, kết quả đánh giá hạnh kiểm dễ gây chia rẽ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh và giữa học sinh với phụ huynh cũng như các phụ huynh với nhau.

Do việc đánh giá hạnh kiểm thiếu cơ sở khoa học cho nên kết quả tất yếu là không công bằng và thiếu sức thuyết phục. Nhiều học sinh sẽ cảm thấy khó chịu, bất bình khi nhiều bạn “xấu tính”, “không tốt”, “ích kỉ” lại có hạnh kiểm tốt trong khi nhiều bạn “chơi được”, “tốt tính” lại bị xếp hạnh kiểm khá hoặc trung bình.

Cách thức đánh giá hạnh kiểm đầy quyền lực nói trên đã làm cho học sinh có thái độ và hành vi kiểu “hai mặt”. Với thầy cô thì kính cẩn, lễ độ bề ngoài nhưng với bạn bè thì rất có thể lại tỏ ra ích kỉ, bất hợp tác. Phụ huynh cũng dễ nổi nóng khi thấy con mình ở nhà ngoan ngoãn và nhân cách cũng không có vấn đề gì lớn nhưng ở trường lại bị xếp hạnh kiểm trung bình.

hạnh kiểm, học sinh, giáo viên
Hạnh kiểm thường được hiểu là “phẩm chất, đạo đức biểu hiện trong việc làm, trong cách đối xử với mọi người”…

Do nhiều lý do trong đó có lý do đến từ hệ thống hành chính giáo dục có tính tập quyền mạnh và phương thức vận hành trường học kiểu hành chính, mối quan hệ hợp tác theo chiều ngang giữa giáo viên – giáo viên, giáo viên – phụ huynh, giáo viên – phụ huynh – học sinh, học sinh – học sinh ở trường học Việt Nam rất yếu trong khi tính cạnh tranh lại rất cao.

Thực tế này có hại cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục nên những con người có tinh thần phong phú và lối sống dân chủ. Cách thức đánh giá hạnh kiểm như hiện tại là một chất xúc tác làm cho tính cạnh tranh phát triển mạnh thêm và trong nhiều trường hợp chuyển thành xung đột, đố kị.

Cuối cùng, hệ lụy sâu xa của việc nhà trường, giáo viên can thiệp sâu vào nhân cách của học sinh thông qua áp đặt đánh giá hạnh kiểm về lâu dài sẽ tạo ra những con người ngoan ngoãn giả vờ hay những người sống kiểu đa nhân cách. Học sinh sẽ biết lấy lòng thầy cô hay biết làm thế nào để có được hồ sơ đẹp, hạnh kiểm tốt trong khi thiếu đi cơ hội để mài sắc cá tính và phẩm cách của bản thân…

Trong công cuộc cải cách giáo dục toàn diện hiện nay sẽ có rất nhiều công việc phải làm nhưng trong đó không thể không thay đổi phương thức vận hành trường học, lớp học và đánh giá học sinh. Đánh giá học sinh cũng cần phải thay đổi.

Cần mạnh dạn bỏ việc đánh giá hạnh kiểm đối với học sinh. Thay vào đó là hướng đến giáo dục các em về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, cá nhân và cộng đồng.

Nếu cần đánh giá thì nên đánh giá ở góc độ tuân thủ quy tắc công cộng mà các em đã đồng thuận trước đó và chỉ coi nó là sự đánh giá ở phương diện ấy thay vì coi nó là sự đánh giá về đạo đức.

Không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với sinh viên, cách thức đánh giá dựa vào “điểm rèn luyện” cũng là một thứ cần bãi bỏ để làm cho hoạt động trường học được hồi sinh.

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/nen-giu-hay-bo-viec-danh-gia-hanh-kiem-hoc-sinh-375761.html

Thầy cô có phải là lợn hay dưa hấu đâu mà …giải cứu

Thầy cô có phải là lợn hay dưa hấu đâu mà …giải cứu

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG

07:09 03/06/17

(GDVN) – Chúng tôi là người làm nghề chuyên nghiệp, làm thầy chứ có phải dưa hay lợn đâu mà chờ giải cứu?

LTS: Trong mấy ngày qua lời kêu gọi “giải cứu giáo viên” của Tiến sĩ Lê Trường Tùng – Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học FPT được dư luận bàn luận sôi nổi.

Điểm trọng tâm nhất của lời kêu gọi là giải pháp mỗi học sinh (phụ huynh) tiểu học hàng tháng góp 100 nghìn đồng lập ra một quỹ gọi là “Quỹ giải cứu giáo viên tiểu học” hay “Quỹ khuyến dạy”. Số tiền này sẽ được dùng để trả cho giáo viên.

Là một giáo viên dạy Lịch sử, dù đã đọc đi đọc lại nhiều lần lời kêu gọi này nhưng thầy Nguyễn Quốc Vương cứ nghĩ đó như một câu chuyện đùa, thầy nhận định đây là một ý tưởng đáng kinh ngạc.

Trong bài viết gửi tới Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Vương chỉ rõ sự kinh ngạc đó.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả. 

Một lời kêu gọi thiếu tế nhị và phản cảm

Là một giáo viên, cho dù không phải là giáo viên tiểu học và tự nhận là một người giáo viên có thể tự cứu mình không cần chờ “giải cứu”, tôi thấy đây là một kêu gọi thiếu tế nhị và thẳng thắn hơn có thể coi là một “đề nghị khiếm nhã”.

Những năm gần đây, từ “giải cứu” thường được dùng để chỉ việc người dân ở khắp nơi dùng tiền mua dưa hấu, khoai lang, thịt lợn bị ế thừa do cung vượt quá cầu hoặc không tìm được thị trường.

Thầy Nguyễn Quốc Vương cho rằng, giáo viên cần được đối xử công bằng chứ không cần giải cứu như dưa hấu, thịt lợn (Ảnh tác giả cung cấp)

Lập một cái quỹ có tên “giải cứu” dành cho giáo viên – người mà từ trước đến nay vẫn được vinh danh là những người làm “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” liệu có thích hợp không?

Làm thế, sẽ có giáo viên nóng mặt mà kêu lên rằng “chúng tôi là người làm nghề chuyên nghiệp, làm thầy chứ có phải dưa hay lợn đâu mà chờ giải cứu?”.

Hơn nữa, nguồn tiền của quỹ này lại được người kêu gọi chủ trương “bổ” vào đầu mỗi học sinh.

Xin hỏi Tiến sĩ Lê Trường Tùng rằng, tiến sĩ có biết học sinh và phụ huynh cả nước năm nào cũng khổ sở vì những khoản lạm thu không?

Giả sử như phụ huynh có vui vẻ đóng những đồng tiền ấy với hi vọng rằng giáo dục sẽ tốt lên, con cái mình sẽ có môi trường học tập tốt và tiến bộ thì liệu các giáo viên có thanh thản và vui vẻ cầm lấy những đồng tiền đó không?

Học sinh sẽ nghĩ gì khi mỗi lớp, mỗi trường có một cái quỹ với mục đích như thế?

Bất khả thi và bất hợp lý

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam và thế giới, chuyện các cá nhân quan tâm đến giáo dục đóng góp, ủng hộ tiền bạc để xây dựng trường lớp, giúp đỡ thầy cô về tài chính không phải là hiếm.

Ở Việt Nam hiện tại, cũng không thiếu các nhà hảo tâm đã và đang làm điều ấy.

Tuy nhiên, cách thức lập một quỹ lấy tiền trả lương cho giáo viên và thu trực tiếp vào phụ huynh học sinh từng lớp bất chấp hoàn cảnh, nguyện vọng của từng người là cách làm bất khả thi.

Sự khác biệt trong cách đánh giá học sinh giữa Việt Nam và Phần Lan, Nhật Bản

Thậm chí quỹ này sẽ không thể ra đời được vì không huy động được tiền.

Những quỹ làm từ thiện hay phục vụ các hoạt động xã hội ngay khi ra đời đã thu hút được tiền là do chính bản thân những người khởi xướng đã đóng góp luôn một phần thậm chí toàn bộ tài sản của mình.

Nếu ở Việt Nam, có cá nhân nào đó có tài sản lớn và sạch sẽ, dùng nó làm quỹ phát triển giáo dục giống như bà Kuroyangagi Tetsuko – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Totto-chan bên cửa sổ” thì khi ấy có lẽ người dân sẽ không ngần ngại dùng tiền của mình ủng hộ cho giáo dục.

Ý tưởng này cũng rất bất hợp lý vì trên thực tế đội ngũ giáo viên tiểu học công lập không phải là những người khó khăn nhất về đời sống.

Những giáo viên tiểu học dạy ở các trường được hỗ trợ đặc biệt, những giáo viên có hợp đồng dài hạn ở các trường công lập ở thành phố thậm chí còn có đời sống tương đối tốt. Thu nhập của họ đến từ rất nhiều nguồn có tên và không tên. Nhiều giáo viên thậm chí rất giàu có so với mặt bằng chung của xã hội.

Nếu không tin, Tiến sĩ Lê Trường Tùng có thể kiểm định lại điều này qua khảo sát chính các giáo viên đang dạy các trường tiểu hoc công lập ở Hà Nội và các phụ huynh có con đang học cấp học này.

Khó khăn nhất phải là các giáo viên dạy ở những địa phương có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các giáo viên trẻ dạy các môn “phụ” như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân…và đang ở diện “giáo viên hợp đồng”.

Nhiều giáo viên trong số này cứ nghỉ hè là lại lo vì nghỉ hè thì thường không có lương và phải bươn chải đủ nghề để sống.

Nhưng điều đó không có nghĩa là cứ giáo viên có đời sống kinh tế khó khăn là họ cần tới giải cứu, nhất là theo cách Tiến sĩ Tùng nêu ra.

Việt Nam nên tham khảo cơ chế “sách giáo khoa kiểm định” của Nhật Bản

Cái giáo viên cần nhất hiện nay là một cơ chế sòng phẳng, minh bạch, công khai và dân chủ để giáo viên được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp.

Giáo viên cần phải được nhận được khoản tiền lương xứng đáng với công sức và trí tuệ mà họ đã bỏ ra, cống hiến cho xã hội.

Tất nhiên, điều kiện đổi lại là chỉ những ai có đủ năng lực, phẩm chất mới tồn tại được ở vị trí là người giáo viên.

Điểm bất hợp lý lớn nữa của ý tưởng lập “Quỹ giải cứu giáo viên” là nó mâu thuẫn với những điều luật, văn bản liên quan đến trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước, chính quyền địa phương đối với giáo dục.

Trách nhiệm đối với tiền lương của giáo viên đặc biệt là giáo viên ở bậc học giáo dục nghĩa vụ như tiểu học trước hết thuộc về nhà nước và chính quyền địa phương.

Ngân sách dành cho giáo dục hàng năm không nhỏ, ngân sách này phải được tính toán hợp lý để ưu tiên cho những lĩnh vực trọng yếu như giáo dục nghĩa vụ.

Người dân có thể hợp tác, đóng góp tài chính cho giáo dục nghĩa vụ ở nhiều dạng khác nhau tùy thuộc tình cảm và điều kiện của họ nhưng không thể ép họ có nghĩa vụ đóng góp thêm trong khi họ đã phải nộp thuế và nộp nhiều thứ phụ phí khác.

Đúng ra giáo dục tiểu học phải hoàn toàn miễn phí kể cả sách giáo khoa cho đúng tinh thần “giáo dục nghĩa vụ”.

Ở Nhật Bản hiện nay, học sinh từ tiểu học tới trung học cơ sở (giáo dục nghĩa vụ) hoàn toàn không phải nộp học phí và được nhận miễn phí sách giáo khoa.

Ở một số trường trung học phổ thông Nhật Bản hiện nay cũng đã thực hiện việc miễn học phí cho học sinh. Đấy là một cách để đảm bảo “bình đẳng cơ hội giáo dục” và nâng cao chất lượng giáo dục.

Tất cả mọi cuộc cải cách giáo dục suy cho đến cùng có thành công hay không đều phụ thuộc vào người giáo viên. Đào tạo giáo viên và tái đào tạo giáo viên là một vấn đề lớn mà cải cách giáo dục ở Việt Nam đang đối mặt.

Để có thể làm tốt công việc này, trước hết người giáo viên phải sống được đàng hoàng bằng tiền lương-khoản thu nhập chính đáng lẽ ra họ phải được hưởng khi lao động và cống hiến cho xã hội.

Người ta sẽ không thể say mê làm việc và có khát vọng vươn lên không ngừng trong nghề nghiệp nếu như bản thân từng người không có lòng tự hào về nghề mình làm.

Một trong những thứ quan trọng nhất tạo nên lòng tự hào ấy là sự tự tin họ có thể sống tốt bằng tiền lương. Vì vậy, cái mà giáo viên chúng tôi cần là sự đối xử công bằng chứ không phải là những lời hô hào giải cứu.

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Thay-co-co-phai-la-lon-hay-dua-hau-dau-ma-giai-cuu-post177108.gd#comments

Tại sao trẻ em loay hoay khi đến hè?

 Nhìn ở góc độ xã hội, trẻ em hiện tại loay hoay mỗi khi hè đến là do cấu trúc xã hội truyền thống đang thay đổi quá nhanh, trong khi cấu trúc mới chưa kịp hoàn thiện.

Mỗi khi hè đến, phụ huynh Việt Nam lại phải lo lắng chuyện con mình sẽ học ở đâu, chơi ở chỗ nào.

Kì nghỉ hè trong kí ức xa xưa thành cổ tích

Đối với chúng tôi, thế hệ 8x đời đầu sinh ra và lớn lên ở nông thôn, kì nghỉ hè khi xưa rất đáng mong đợi. Chúng tôi có thời gian làm những việc phụ giúp gia đình như chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước, chăm sóc lúa, hoa màu… Nhưng thích nhất là được chơi cùng bạn bè cùng trang lứa đủ mọi trò.

Khi đó, trường học thôn quê hoàn toàn không có học thêm hè. Suốt gần ba tháng, có lẽ chúng tôi chỉ phải đến trường “tập trung” một buổi vào ngày 1/8 để thầy cô chủ nhiệm dặn dò lịch khai giảng.

Nhưng từ khoảng 15 năm lại đây, giáo dục thành cuộc đua bất tận, trường học bận rộn cả vào những ngày hè và thường bắt đầu dạy từ rất sớm. Sự sốt ruột của các trường là dễ hiểu. Lối tư duy coi giáo dục là truyền đạt tri thức khiến giáo viên từ vô thức coi nội dung giáo dục là nội dung của SGK. Các trường và thậm chí cả phụ huynh, học sinh đều muốn học sớm để xong sớm chương trình, có thời gian tập trung cho ôn luyện phục vụ thi cử.

Trong vòng quay chóng mặt ấy, đời sống của học sinh vốn dĩ chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình và trường học đã trở nên ngày một đơn điệu.

Nếu như trong hè trường không tổ chức thì gia đình học sinh cũng vẫn hối hả cho con đến học thêm ở nhà thầy cô, ở các trung tâm luyện thi… Thậm chí có những học sinh vào kì nghỉ hè còn trở nên bận rộn hơn cả trong năm học, ngày đến 3-4 ca các môn khác nhau.

Ở một thái cực khác, phụ huynh học sinh, đặc biệt ở thành phố, lại đau đầu với chuyện “quản lý con”. Nếu như trong năm học họ có thể an tâm với ý nghĩ “trăm sự nhờ thầy cô và nhà trường” khi con bước vào trường và cánh cổng sắt đóng lại, thì giờ hè đến, họ lo lắng đủ thứ. Lo con tiếp xúc, đàn đúm với bạn xấu. Lo con chơi điện tử, la cà quán xá, lo con gặp tai nạn khi chơi ở sông ngòi, ngoài đường phố…

Nghỉ hè,Học hè,Thế hệ 8x,Sách giáo khoa,Sinh hoạt hè,Du học
Mỗi dịp nghỉ hè, phụ huynh lại có bao nỗi lo. Ảnh minh họa

Tại sao trẻ em lại “bơ vơ” khi hè đến?

Nhìn ở góc độ xã hội, trẻ em hiện tại trở nên “bơ vơ” khi hè đến là do sự tan vỡ của cấu trúc xã hội truyền thống diễn ra quá nhanh, trong khi cấu trúc mới chưa kịp hoàn thiện. Nếu như trước kia trẻ em được trải nghiệm và “xã hội hóa” nhận thức và hành vi của mình trong cả ba môi trường – xã hội là gia đình, trường học và xã hội địa phương (cộng đồng làng xã), thì giờ đây cả ba môi trường ấy đã biến đổi nhanh chóng.

Trong các gia đình truyền thống với nhiều thế hệ cùng chung sống, học sinh có cơ hội tiếp xúc và học hỏi từ các thế hệ đi trước. Ông bà cũng sẽ trở thành người chăm sóc và vui chơi với trẻ trong các kì nghỉ hè. Tuy nhiên, công nghiệp hóa, đô thị hóa dần dần biến các gia đình trở thành các gia đình hạt nhân, nơi chỉ có bố mẹ và con cái, nghỉ hè, con cái trở về gia đình thì bố mẹ vẫn phải bận rộn với công việc.

Trong cấu trúc xã hội truyền thống là làng xã, các gia đình hoặc là có quan hệ huyết thống hoặc là có mối quan hệ gắn bó trong tổ chức sản xuất, sinh hoạt chung vì vậy sợi dây liên kết rất mạnh, tạo ra một cộng đồng gắn kết.

Trẻ em sống trong cộng đồng đó một cách tự nhiên đã thiết lập được mối quan hệ với bạn đồng trang lứa, các bậc đàn anh đàn chị và cả trẻ nhỏ tuổi hơn. Không gian vật lý của những cộng đồng này cũng rất thuận lợi cho sinh hoạt vui chơi của trẻ em với đồng cỏ, các bãi đất trống , sông suối, đồi rừng…

Nhưng hiện tại làng dần dần biến thành phố hoặc biến dạng rất nhiều, khiến trẻ em mất đi không gian sinh hoạt vốn có và xã hội địa phương đã mất đi chức năng giáo dục của mình. Tất cả chức năng giáo dục giờ đây dồn cho trường học, trong khi chính trường học lại bị cuốn vào cơn lốc của thi cử và chạy đua thành tích.

Tạo ra một hệ thống liên kết

Nếu quan niệm mục tiêu của giáo dục không phải đơn giản chỉ là làm cho học sinh thi đỗ vào các trường danh tiếng hay giành vài suất học bổng để đi du học, thì việc sử dụng kì nghỉ hè ra sao là vấn đề rất quan trọng.

Nghỉ hè, phụ huynh sẽ cho con tham gia vui chơi hay đi học? Nếu đi học thì sẽ học những môn gì, những kĩ năng nào?

Như ở trên đã phân tích, nếu nhìn nhận giáo dục là quá trình tác động làm trưởng thành, hoàn thiện và xã hội hóa cá nhân, tạo ra những phẩm chất, tri thức, kĩ năng phù hợp với xã hội hiện tại và tương lai, thì đương nhiên chúng ta sẽ thấy nghỉ hè là thời gian quý báu để học sinh trải nghiệm. Việc giáo dục trẻ em không bao giờ là việc riêng của gia đình hay nhà trường và xét đến cùng, trẻ em chỉ có thể thực sự trưởng thành khi trải nghiệm và sống trong xã hội.

Vấn đề lớn của chúng ta là trong khi xã hội đã biến đổi, hệ thống ứng phó với nó lại chưa xuất hiện hoặc chưa hoàn thiện. Nếu như ở Nhật có hệ thống các câu lạc bộ ở trường, địa phương để học sinh đến sinh hoạt dịp hè, thì ở Việt Nam hiện tại vẫn chưa có nó trong tư cách một hệ thống có triết lý đầy đủ.

Mọi hoạt động có tính chất câu lạc bộ để trẻ em phát triển toàn diện và trải nghiệm đời sống xã hội vẫn phải dựa vào sự linh hoạt, tháo vát của phụ huynh. Chúng ta chưa tạo dựng được một hệ thống có thiết lập sự liên kết tốt và hiệu quả giữa gia đình, nhà trường và xã hội địa phương. Đó là vấn đề không thể bỏ qua khi tiến hành cải cách giáo dục.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/nghi-he-sao-tre-em-lai-bo-vo-373716.html

Biên soạn lại SGK: Dạy kiểu ‘rót nước’ làm thui chột tư duy phản biện

Sách giáo khoa tốt phải là cuốn sách giúp cho cả giáo viên và học sinh cảm thấy tự do, thoải mái trong quá trình truy tìm chân lý.

Xem lại Phần 1: Đã cải tiến thì đừng ‘lửng lơ’

“Tín ngưỡng sách giáo khoa”

Trong cải cách giáo dục, cho dù Sách giáo khoa (SGK) có tốt đến mấy đi chăng nữa mà nó không được sử dụng hiệu quả ở trường phổ thông thì kết quả cải cách cũng sẽ không mấy khả quan. Trên thực tế, do cơ chế một chương trình – một SGK tồn tại quá lâu cùng với tư duy coi trọng truyền đạt tri thức và thi cử, “tín ngưỡng SGK” ở Việt Nam rất thịnh hành. Xu hướng coi những gì viết trong SGK hoàn toàn đúng và là chân lý tuyệt đối rất mạnh.

Kết quả là cả giáo viên và học sinh có xu hướng coi nội dung của SGK trùng khớp hoàn toàn với nội dung giáo dục. Vì vậy, việc giảng dạy của giáo viên và việc học của học sinh trên thực tế biến thành việc truyền đạt và lĩnh hội nội dung SGK.

Thế nên, trong các kì thi giáo viên giỏi, thật hài hước là có rất nhiều giáo viên được đánh giá là “giỏi” thực chất chỉ là người diễn giải và truyền đạt nội dung SGK logic hơn, dễ hiểu hơn hay biết cách minh họa nội dung đó sinh động hơn các đồng nghiệp khác.

Đó là lối dạy học kiểu minh họa – thứ làm thui chột tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh. Các sinh viên đi thực tập cũng thường bị các giáo viên hướng dẫn và người chấm yêu cầu phải “bám sát SGK”. SGK kết cục đã trở thành cái “phao” cho những người bơ vơ về lý luận giáo dục.

Mặt khác ở Việt Nam do sự lạc hậu về lý luận giáo dục, các giáo viên có xu hướng giảng dạy truyền đạt trực tiếp các nội dung kiến thức hay chân lý vào học sinh theo kiểu “rót nước”.

Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới, người giáo viên để làm cho học sinh lĩnh hội một chân lý, một nội dung sẽ phải dùng “giáo tài” (hình ảnh, số liệu thống kê, kết quả điều tra thự tế, tư liệu…) trong tư cách “chìa khóa” là một mảnh của nội dung giáo dục, để chuyển hóa nội dung đó thành nhận thức của học sinh thông qua thí nghiệm, trải nghiệm và các hoạt động trí tuệ tương tác khác.

Việc nghiên cứu tìm ra các “giáo tài” đó và sử dụng chúng trong thực tế tạo ra các “thực tiễn giáo dục” của giáo viên ở trường học.

Sách giáo khoa, Cải cách giáo dục, Môn xã hội, Giáo dục phổ thông, Một chương trình một sách giáo khoa
Ảnh minh họa. Nguồn: Thanh niên

Mở ra hành trình truy tìm chân lý

Trong lý luận giáo dục hiện đại, SGK cho dù là thứ được biên soạn và xét duyệt căn cứ vào chương trình đi nữa, cũng chỉ là một tài liệu tham khảo chủ yếu trong việc hướng dẫn học sinh học tập. Nội dung của SGK không thể là toàn bộ nội dung giáo dục.

Người quyết định nội dung giáo dục cuối cùng phải là người giáo viên, người am hiểu cả chương trình, SGK lẫn tình hình thực tế của trường học, địa phương và đối tượng học sinh. Nội dung giáo dục phải được giáo viên tự tay xây dựng thông qua các điều tra, nghiên cứu cả tài liệu và thực tiễn của bản thân.

Trong các môn xã hội, những môn có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống và trải nghiệm của học sinh cũng như xã hội ở địa phương, điều này càng có ý nghĩa sống còn. Nội dung giáo dục đó phải được “chuyển hóa” thành nhận thức của học sinh thông qua sự gia công sáng tạo của giáo viên. Ở Nhật Bản từ năm 1947 trong cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến, lý luận này đã được Bộ giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh trong các tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên và phổ biến rộng rãi, duy trì đến tận ngày nay.

Khi tuân thủ lý luận này, chuyện SGK dày hay mỏng sẽ không còn quan trọng nữa.

Chẳng hạn trong môn lịch sử, SGK theo quan điểm hiện đại sẽ không phải là một hệ thống các bài viết theo lối trần thuật “khách quan” và “vô nhân xưng” của các tác giả theo trật tự thời gian hay chủ đề nữa. Nó sẽ là một tài liệu hướng dẫn học tập ở đó có hướng dẫn về phương pháp học tập, có tập hợp các tư liệu, các câu hỏi gợi mở giúp học sinh khám phá lịch sử, giải mã được quá khứ và tìm ra ý nghĩa của nó trong việc lý giải đời sống xã hội hiện tại bằng các phương pháp của nhà sử học.

Quan trọng nhất ở đó phải có các tư liệu gốc đáng tin cậy và các “khoảng trống lịch sử”, các “vấn đề” được cài cắm, bố trí theo ý đồ sư phạm để học sinh được làm “nhà sử học tí hon” khám phá và giải mã lịch sử.

Ý nghĩa thực sự của cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” suy cho đến cùng là nằm ở chỗ nó giúp “tương đối hóa” chân lý trong SGK và khuyến khích, đảm bảo sự tự chủ về nội dung giáo dục của giáo viên.

Tóm lại, trong một cuộc cải cách giáo dục có hệ thống và toàn diện thì việc biên soạn mới chương trình và SGK là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, SGK chỉ là thứ đi sau trong logic của một cuộc cải cách giáo dục. Thứ cần làm trước đó là phải là làm rõ được hình ảnh xã hội tương lai và hình ảnh con người mơ ước có khả năng kiến tạo và bảo vệ xã hội đó hay nói khác đi và ngắn gọn hơn là xây dựng mà minh định triết lý giáo dục.

Mặt khác, trong khi cải cách SGK cũng không được quên việc tạo ra một cơ chế hợp lý để cho các cuốn SGK liên tục được cải tiến bằng sự tham gia của những người có năng lực. SGK tốt phải là cuốn sách giúp cho cả giáo viên và học sinh cảm thấy tự do, thoải mái trong quá trình truy tìm chân lý, một hành trình vừa gian khổ vừa hấp dẫn khôn cùng.

Nguyễn Quốc Vương

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/khi-sach-giao-khoa-thanh-tin-nguong-cai-phao-359237.html

Biên soạn lại SGK: Đã cải tiến thì đừng ‘lửng lơ’

Để có các cuốn SGK ngày một tốt, điều quan trọng nhất là phải xác lập cho được một cơ chế biên soạn dân chủ, khoa học.

LTS: Bộ Giáo dục & Đào tạo vừa công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới (ngày 12/4). Bài viết dưới đây góp thêm góc nhìn về chủ trương “một chương trình, nhiều bộ sách” – một trong những nội dung của dự thảo lần này.

Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư tính từ 1945 đến nay, thường được gọi là cải cách giáo dục toàn diện và triệt để, toàn bộ sách giáo khoa (SGK) ở trường phổ thông sẽ được biên soạn lại. Theo dự kiến, những cuốn sách mới đầu tiên sẽ phải được đưa vào sử dụng trong năm học 2018-2019.

Như vậy, về mặt lý thuyết, việc biên soạn SGK mới đang được xúc tiến mạnh ở những giai đoạn cuối cùng.

Không có những cuốn SGK hoàn hảo

Quan sát dư luận trên báo chí và mạng xã hội sẽ thấy những tiếng nói kì vọng vào SGK mới không phải là ít. Điều đó rất dễ hiểu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam khi SGK thường được chỉ ra như là một trong những nguyên nhân làm trì trệ giáo dục phổ thông.

Tuy nhiên, cho dù cải cách giáo dục được tiến hành tốt thế nào cũng sẽ không bao giờ có một bộ SGK hoàn hảo. Ngay cả ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, SGK vẫn bị chính các chuyên gia giáo dục ở đó chỉ trích. Đơn giản vì SGK suy cho đến cùng chỉ là “phương án” giáo dục của một nhóm các tác giả nhất định.

Một khi đã là SGK, cuốn sách sẽ có những nhược điểm cố hữu, như phải viết dựa trên chương trình định sẵn và tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để có thể vượt qua quy trình thẩm định. Điều này vừa giúp đảm bảo tiêu chuẩn vừa làm hạn chế tầm nhìn và cách tiếp cận phong phú. Do một số yếu tố, dung lượng SGK cũng sẽ phải tuân thủ trong một giới hạn.

Để đảm bảo tính hệ thống tuân thủ theo chương trình, SGK sẽ được viết theo kiểu “trình bày la liệt”. Đây là một trong những yếu tố khiến cho rất nhiều người chỉ trích SGK lịch sử của Việt Nam kêu lên rằng “tại sao sách lại viết nhiều sự kiện, số liệu, ngày tháng như thế, làm sao học sinh nhớ và thuộc được?”.

Thực ra, nếu xét về số liệu và dữ kiện thì SGK ở Việt Nam rất sơ sài. Những ai từng tiếp xúc với SGK của các nước có nền giáo dục tiên tiến hơn đều rõ trong SGK của họ có vô vàn các loại dữ liệu được tổng hợp lại dưới dạng biểu đồ, bảng biểu, số liệu thống kê, hình ảnh, bản đồ, nhưng được đưa vào và bố trí để học sinh phân tích, nghiên cứu chứ không phải để nhớ hay thuộc.

Những hạn chế trên dẫn tới một đặc điểm là SGK, nhất là của các môn xã hội thường chỉ trình bày được “kết quả” mà không trình bày được quá trình tìm ra kết quả: phương pháp nghiên cứu nào, xuất phát từ giả thiết gì, nghiên cứu thế nào…? Cách trình bày này làm cho học sinh cảm thấy các môn khoa học, chẳng hạn như khoa học lịch sử, thiếu sức hấp dẫn.

Sách giáo khoa, Cải cách giáo dục, Giáo dục phổ thông, Một chương trình một sách giáo khoa
Ảnh minh họa. Nguồn: Tuổi trẻ

Sự lạc hậu của SGK thực ra là nằm ở tư duy làm sách mà dễ thấy nhất là việc xác định vai trò của sách cũng như kĩ thuật tổ chức, cơ cấu các dữ kiện trong sách một cách có chủ đích nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục.

Vì vậy, để có các cuốn SGK ngày một tốt, điều quan trọng nhất là phải xác lập cho được một cơ chế biên soạn dân chủ, khoa học, đảm bảo cho tất cả những ai là công dân Việt Nam có mối quan tâm và tài năng đều có thể tham gia và được cạnh tranh bình đẳng. Nếu cơ chế này được xác lập và bảo họ bằng pháp luật, các cuốn SGK tốt sẽ tồn tại, còn kém chất lượng sẽ bị loại bỏ.

Đừng thay đổi lửng lơ

Cơ chế biên soạn, phát hành và tuyển chọn SGK có ảnh hưởng lớn tới chất lượng và quan niệm về SGK. Về đại thể, trên thế giới hiện nay có 3 hình thức chủ yếu: “kiểm định”, “quốc định” và “tự do” (thường tồn tại ở các nước Bắc Âu).

Trong hình thức kiểm định (như tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan), nhà nước sẽ chấp nhận sự tham gia của nhiều nhóm tác giả và nhà xuất bản vào việc biên soạn, phát hành và nhường quyền tuyển chọn SGK cho các trường hay địa phương. Cơ chế quốc định (một chương trình một SGK) chỉ thừa nhận duy nhất một bộ sách do bộ giáo dục biên soạn và phát hành trên toàn quốc.

Cơ chế kiểm định SGK không hoàn hảo, vì trên thực tế chẳng hạn Nhật Bản khi thực hiện cũng đã gặp nhiều vấn đề. Tuy nhiên, nó vẫn là cơ chế tiến bộ hơn nhiều so với cơ chế quốc định.

Việt Nam trong cuộc cải cách giáo dục cơ bản, toàn diện lần này cũng sẽ thực hiện cơ chế “một chương trình – nhiều SGK”, đó là cách diễn đạt khác của cơ chế “SGK kiểm định”. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, cách làm của Việt Nam cho thấy có sự pha trộn giữa hai cơ chế, khi bộ GD&ĐT vẫn tham gia cả vào việc biên soạn, lựa chọn tác giả SGK.

Ở Nhật Bản sau khi cơ chế kiểm định SGK có hiệu lực từ năm 1947, Bộ giáo dục Nhật Bản vẫn tiếp tục biên soạn và phát hành nhiều cuốn SGK khác cho bậc học phổ thông. Đó là bước đệm trong thời kì chuyển giao cơ chế và đã kết thúc sau một thời gian ngắn.

Ở Việt Nam, cần phải có lộ trình minh bạch, công khai về giai đoạn bước đệm này, bởi nếu kéo dài nó sẽ làm cho cơ chế “một chương trình, nhiều SGK” chỉ tồn tại được trên danh nghĩa.

Khi thực hiện hoàn chỉnh cơ chế này, bộ giáo dục chỉ làm hai việc chủ yếu là ban hành, sửa đổi quy chế và thẩm định SGK, rút khỏi việc trực tiếp biên soạn SGK và tài trợ cho các nhóm biên soạn hay các bản thảo được đánh giá cao. Kinh phí làm SGK sẽ do cơ chế thị trường đảm nhận, nhà xuất bản nào làm SGK tốt sẽ giành được thị phần lớn và ngược lại.

Nguyễn Quốc Vương

> Đón xem kỳ 2: Để cải cách giáo dục thành công thì cùng với việc có được những bộ SGK ngày một tốt hơn, việc làm thay đổi nhận thức của những người liên quan từ các cấp quản lý giáo dục đến giáo viên, phụ huynh và học sinh về SGK cũng có ý nghĩa lớn.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/sach-giao-khoa-da-cai-tien-thi-dung-lung-lo-359234.html

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2018-2019; được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho học sinh.

Điểm thay đổi rõ rệt so với từ trước nay, giáo dục phổ thông 12 năm sẽ chia làm hai giai đoạn là giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp THCS 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT 3 năm).

Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc.

Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được phát triển thường xuyên, bao gồm các khâu xây dựng chương trình, đánh giá, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chương trình trong quá trình thực hiện.

Tại sao người Việt hay ăn cắp ở Nhật vậy?

Sự thiếu hiểu biết về người Nhật và nước Nhật còn tiếp diễn ngay cả khi người Việt đã đến Nhật, mà rào cản lớn nhất là ngôn ngữ.

Tin tức về việc cảnh sát Nhật Bản bắt giữ 7 nghi phạm người Việt tham gia đường dây ăn trộm mĩ phẩm tại Nhật Bản gần đây làm cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước xôn xao. Tuy nhiên, chắc chắn đây không phải là vụ việc đầu tiên và cũng không phải là cuối cùng.

Khi bàn luận về những vụ án này, bên cạnh nỗi lo lắng về hình ảnh đất nước bị xấu đi và cộng đồng người Việt ở Nhật bị ảnh hưởng, nhiều người cũng đặt câu hỏi: “Tại sao người Việt lại ăn cắp ở Nhật với tần suất nhiều như vậy?”.

Từ những trải nghiệm của một du học sinh đã từng sống bảy năm rưỡi ở Nhật, tiếp xúc với người Việt làm nhiều nghề khác nhau ở Nhật, tham gia phiên dịch hỗ trợ pháp lý một số vụ việc liên quan đến người Việt ở Nhật, tôi nhận ra một trong những nguyên nhân là do nhiều người Việt thiếu hiểu biết về Nhật Bản.

Người Việt, Du học sinh Việt Nam, hàng Nhật Bản, Nhật Bản, tiếng Nhật
Báo Mainichi của Nhật đưa tin vụ 7 nghi phạm người tham gia vụ ăn cắp mĩ phẩm.

Mù mờ trước khi đến… 

Rất nhiều người lao động và du học sinh Việt Nam đến Nhật Bản mà trước đó hiểu rất ít về Nhật Bản, ngay cả những thông tin dưới dạng sơ đẳng, cơ bản nhất. Trên thực tế, nhiều thủ phạm trong các vụ án trộm cắp và người lao động gặp rắc rối trên đất Nhật đã thú nhận với cảnh sát, luật sư và truyền thông rằng họ thực sự đã không tìm hiểu về Nhật Bản trước khi nhập cảnh và những gì họ trải nghiệm, đối mặt khác xa những gì họ tưởng tượng hoặc nghe người khác nói, hứa hẹn.

Những thông tin về nước Nhật từ phong tục, tập quán, sinh hoạt tới luật pháp, giao thông… đều có thể tìm kiếm trên Internet hoặc từ sách. Sự tư vấn trực tiếp của những người đã và đang sống ở Nhật cũng là nguồn thông tin quý giá. Tuy nhiên, rất ít người Việt Nam trước khi đến Nhật chịu bỏ công sức ra tra cứu hoặc đọc sách, hoặc tham gia các nhóm cộng đồng người Việt sống ở Nhật trên các mạng xã hội để tham khảo thông tin.

Từ trải nghiệm của chính bản thân khi tư vấn, cung cấp thông tin cho nhiều phụ huynh, học sinh, sinh viên muốn du học hoặc làm việc tại Nhật, tôi thấy không ít người khi hỏi chỉ muốn nghe những thông tin có “tính lạc quan” để giúp họ yên tâm lên đường tới Nhật để mong “đổi đời”.

Họ không muốn nghe và có vẻ không tin vào những con số, những ví dụ về sự thất bại, rắc rối mà người Việt có thể gặp phải ở Nhật. Họ tìm tới những người nắm giữ thông tin chỉ là để tìm kiếm cảm xúc “đồng cảm với sự ra đi” để thêm yên tâm với lựa chọn của mình.

Thái độ và tư duy tiếp cận thông tin như thế là miếng đất màu mỡ cho các trung tâm tư vấn du học, công ty phái cử làm ăn bất chính khai thác và thực hiện các hành vi lừa đảo.

Đến rồi vẫn tiếp tục… mù mờ

Sự thiếu hiểu biết về người Nhật và nước Nhật còn tiếp diễn ngay cả khi người Việt đã đến Nhật sinh sống, học tập và làm việc, mà rào cản lớn nhất là ngôn ngữ. Các du học sinh vào học các trường tiếng Nhật, đặc biệt là các trường đưa ra lời hứa hẹn “vừa học vừa làm” hầu hết chưa nói được tiếng Nhật ở mức giao tiếp đời sống hàng ngày khi đến Nhật. Các thực tập sinh trước khi nhập cảnh vào Nhật thường đã được học từ 3-6 tháng học tiếng Nhật ở các công ty phái cử.

Người Việt, Du học sinh Việt Nam, hàng Nhật Bản, Nhật Bản, tiếng Nhật
Biển cảnh báo bằng tiếng Việt trong một shop thời trang ở Nhật

Tuy nhiên, sự học đó hoàn toàn chưa đủ. Hầu hết họ không nghe được những gì người Nhật nói. Những du học sinh trường tiếng Nhật dạng “vừa học vừa làm” sau đó sẽ bị cuốn vào chuyện đi làm tối ngày. Môi trường học tiếng Nhật có tính “sách vở” và giao tiếp thuần túy theo “bài” với giáo viên tiếng Nhật trên lớp, những người đã quá quen thuộc với cách nói tiếng Nhật của người nước ngoài không giúp họ cải thiện kĩ năng tiếng Nhật.

Với vốn tiếng Nhật mỏng manh khi đi làm họ cũng thường chỉ được làm các công việc có tính “chân tay” không cần giao tiếp nhiều, không được tiếp xúc với khách hàng. Hơn nữa trong khi làm việc người Nhật thường hạn chế nói chuyện hoặc tuyệt đối không nói chuyện riêng vì thế kĩ năng nghe, nói tiếng Nhật không tiến bộ.

Đối với thực tập sinh, sau một tháng học tập trung ở nghiệp đoàn họ sẽ về công ty “thực tập” (thực chất là lao động). Công việc vất vả, bận rộn khiến động lực học tiếng Nhật của họ không còn. Trong quá trình dạy tiếng Nhật cho các thực tập sinh, tôi nhận ra vấn đề lớn nhất của họ đối với tiếng Nhật không phải nằm ở năng lực nhận thức mà ở chỗ không có động lực học.

Rất ít người có quyết tâm học tiếng Nhật để cải thiện đời sống, môi trường làm việc và xây dựng nền tảng cho tương lai. Có những công ty trả cả tiền lương cho thực tập sinh trong thời gian họ học tiếng Nhật vào thứ bảy, Chủ nhật nhưng cũng không nhiều người học hành chăm chỉ.

Chuyện này cũng xảy ra tương tự đối với các du học sinh ở các trường đại học và sau đại học học tập bằng tiếng Anh. Cuộc sống hiện đại, tiện lợi và hỗ trợ tối đa khách hàng ở Nhật đã khiến cho người nước ngoài có thể sống thoải mái ở mức độ nhất định mà không cần phải biết… một từ tiếng Nhật.

(Còn tiếp) 

Nguyễn Quốc Vương

> Xem tiếp Kỳ 2: Những sự mù mờ đó dẫn người Việt đến những tình cảnh nào trên đất Nhật?

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/nguoi-viet-an-cap-o-nhat-vi-dau-hay-sa-cam-bay-366633.html

%d bloggers like this: