Thông tin tổng hợp về các cuốn sách đã xuất bản của tôi

July 5, 2016 Leave a comment

Thi thoảng lại có bạn nhắn tin hỏi mua những sách tôi đã dịch và xuất bản. Lần này, nhân dịp “Lịch sử học là gì” xuất bản, tôi gom lại đây thành danh sách những sách tôi đã dịch, viết với các thông tin cần thiết để bạn nào quan tâm có thể tìm. Danh sách này sẽ được bổ sung khi có ấn phẩm mới ra đời.

sách đã xuất bản
1. Ozaki Mugen, Cải cách giáo dục Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vương dịch, Văn Ngọc Thành hiệu đính, Nhà sách Thái Hà và NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2014.

 

Thông tin về nội dung cuốn sách có thể đọc tại các địa chỉ sau:

1. Trang web của Thaihabooks: http://thaihabooks.com/sach-thaiha/411/Cai-cach-giao-duc-Nhat-Ban/

 

  1. VTV: http://vtv.vn/doi-song/cai-cach-giao-duc-nhat-ban-huu-ich-cho-cac-nha-giao-duc-127393.htm

Sách này có bán tại các cửa hàng sách online trên mạng hoặc các bạn có thể tìm mua tại các chi nhánh của Thaihabooks như  Nhà sách Bản Quyền ở Hà Nội (Địa chỉ119 Tô Hiệu, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Điện thoại+84 90 224 24 22).

2. Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản, Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vương dịch, Phạm Thu Giang hiệu đính, Nhà sách Quảng Văn và NXB phụ nữ, Hà Nội, 2016.

Sách được xuất bản lần đầu tiên bằng tiền đóng góp của bạn đọc trong và ngoài nước. Theo cam kết với phía Nhật Bản và bạn đọc, sách này không bán chỉ dành để tặng bạn đọc, ưu tiên các phụ huynh có con nhỏ.
Để có cuốn sách này các bạn liên hệ với anh Minh Tuấn, giám đốc Quảng Văn (FB: https://www.facebook.com/tuan.trinh.5205?fref=ts), hoặc nhà sách Quảng Văn (Trụ sở chính: 230, tổ 9, đường K3, Thị trấn Cầu Diễn, H.Từ Liêm, TP Hà Nội;

Tel/Fax: 043. 76 33303).
Các bạn cũng có thể đọc bản ebook miễn phí trên các trang mạng (các bạn hãy dùng google để tìm kiếm, hoặc đọc trên Alezaa).

Những tổ chức, cá nhân nào muốn tài trợ để in sách này đem tặng cũng in vui lòng liên hệ với anh Minh Tuấn, giám đốc Quảng Văn.

Hiện nay cuốn sách này vẫn tiếp tục được tặng tới tay các bạn đọc trên toàn quốc.

3. Nguyễn Quốc Vương, Điều bí mật trong vườn, NXB Văn học, Hà Nội, 2016.

Đây là tập thơ viết cho thiếu nhi.
Thông tin về nội dung tập thơ có ở đây: http://baobacgiang.com.vn/bg/van-hoa/tac-gia-tac-pham/158170/dieu-bi-mat-trong-vuon.html

Các bạn có thể đọc trước một vài bài trong tập thơ này ở đây:

https://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-qu%E1%BB%91c-v%C6%B0%C6%A1ng/ai-mua-th%C6%A1-t%C3%B4i-b%C3%A1n-th%C6%A1-cho/10154611194702316

Bạn nào muốn có tập thơ này xin vui lòng liên hệ với tôi theo địa chỉ email: thonsau@gmail.com hoặc qua địa chỉ FB (https://www.facebook.com/ro.son.14)

Sách sẽ được gửi đến các bạn qua đường bưu điện sớm nhất có thể.

4. Bộ giáo dục Nhật Bản, Hướng dẫn học tập môn Xã hội, Nguyễn Quốc Vương dịch, Nguyễn Lương Hải Khôi hiệu đính, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2016.

 

Thông tin về nội dung sách: http://nxbdhsp.edu.vn/san-pham/huong-dan-hoc-tap-mon-xa-hoi.html

 

Sách này in lần đầu 3000 bản nghe nói đã gần hết và sắp tái bản. Các bạn muốn mua sách này xin vui lòng đến Nhà sách Sư phạm, 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội hoặc liên hệ với NXB Đại học sư phạm

(Trụ sở: 136 Đường Xuân Thuỷ, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

– Điện thoại: +84 4 3754 7735 ; Fax: +84 4 3 754 7911

– Email: hanhchinh@nxbdhsp.edu.vn

– Website: www.nxbdhsp.edu.vn)

 

  1. Odanaka Naoki, Lịch sử học là gì? Nguyễn Quốc Vương dịch, Ban tu thư Đại học Hoa Sen và NXB Đại học quốc gia TP. HCM, TP. HCM, 2016.

 

Thông tin về nội dung cuốn sách có tại đây: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10204883665251247&set=a.1023840776120.3727.1828271905&type=3&theater

Các bạn ở phía nam mua sách trực tiếp tại Đại học Hoa Sen hoặc liên hệ với đại diện Ban tu thư theo địa chỉ:

1. Cô Bảo Quyên
quyen.nguyenthibao@hoasen.edu.vn
2. Anh Phan Minh Trí
tri.phanminh@hoasen.edu.vn

 

Hoặc liên hệ với Ban Tu thư qua số điện thoại: 090 801 4174

 

Các bạn ở Hà Nội có thể đặt mua qua hai địa chỉ:
1. Ms Chi
FB: https://www.facebook.com/BinhTam9204?__mref=message_bubble
2. Mr. Đạt (các bạn cũng có thể đặt mua các sách khác của Đại học Hoa Sen)
FB: https://www.facebook.com/Fabienquach…
ĐT: sdt Đạt: 097 947 1329

 

Nếu các bạn có ý kiến phản hồi, phê bình về các cuốn sách trên xin vui lòng gửi tới địa chỉ email: thonsau@gmail.com.

Trân trọng

Nguyễn Quốc Vương

 

p.s: Ngoài ra những bạn quan tâm tới giáo dục, lịch sử và giáo dục lịch sử ở Nhật Bản, Việt Nam cũng có thể tìm đọc các bài viết, dịch của tôi trên các báo, tạp chí, phương tiện truyền thông đại chúng và blog tại địa chỉ này:

https://thonsau.wordpress.com/category/bai-viet-da-xuat-ban/

 

 

 

Advertisements

“Điều bí mật trong vườn”

November 26, 2015 Leave a comment

Nhà xuất bản Văn học vừa ấn hành tập thơ “Điều bí mật trong vườn” của tôi. Đây là tập sách thứ ba của tôi được xuất bản  nhưng lại là cuốn đầu tiên tôi viết (hai cuốn trước đó là “Cải cách giáo dục Nhật Bản” và “Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản).
Tập thơ viết về những trải nghiệm và mơ ước thời thơ ấu ở Thôn Sấu của tôi.

 

bìa tập thơ
Bạn nào muốn mua tập thơ này xin vui lòng liên hệ với tôi qua FB (https://www.facebook.com/ro.son.14) hoặc email : thonsau@gmail.com

Những bạn ở Hà Nội có thể nhận sách trực tiếp hoặc qua bưu điện, những bạn ở xa sách sẽ gửi qua bưu điện.
Giá sách: 50.000VNĐ/cuốn. Nếu gửi qua bưu điện người nhận chịu tiền cước.

Xin trân trọng cảm ơn.

Nguyễn Quốc Vương

“Miền hoang tưởng” và nỗi cô đơn của kẻ muốn làm người

November 17, 2017 Leave a comment

 

 

Một ngày đi xe buýt vài lượt tôi đã đọc xong tiểu thuyết “Miền hoang tưởng” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

miền hoang tưởng.jpg

Cuốn tiểu thuyết này viết đã lâu, cuối sách thấy ghi 1973-1974, nhưng không xuất bản được và giờ đây, sau 30 năm NXB Phụ nữ mới làm giấy khai sinh cho nó.
Cuốn tiểu thuyết không quá dày chỉ có 287 trang. Các nhân vật trong tiểu thuyết cũng ít và đơn giản. Nếu kể ra cốt truyện của nó có khi chỉ cần đến mươi dòng.
Lý  lịch của các nhân vật chính trong truyện có thể tóm tắt sơ lược đôi dòng như sau:
Tôi (Nguyễn Tư): y sĩ, bộ đội đi B, chiến đấu ác liệt, chiến tranh chưa kết thúc thì về Bắc lên nông trường Tây Bắc lao động. Ở đây anh quen Ngà, một thiếu nữ chăn bò cùng nông trường và hai người yêu nhau-một tình yêu cháy bỏng, trong sáng, giữa chừng Nguyễn Tư bỏ nông trường về thi trường nhạc. Thi đỗ nhưng vì không xin được giấy của nông trường nên không thể nhập học, phải sống nhờ nhà chị gái có chồng là “chính ủy” tên Trần. Về sau do mẫu thuẫn tư tưởng với anh rể, Nguyễn Tư sống lang thang, vạ vật ở nhà những người bạn như họa sĩ Minh, Hưng và ngủ ngoài ga với Ngọ-một bộ đội đi B cùng cảnh ngộ phải sống kiếp ma cà bông.

Ngọ: Bộ đôi đặc công đi B, làm thơ “phản động” để trong ngăn kéo bị tịch thu, bị bắt đưa đi cải tạo rồi về quê không ai chứa, không sống nổi phải lên Hà Nội ngủ ga tàu, xếp hàng mua bia thuê, bán máu sống qua ngày.

Mai: Đồng đội và là thủ trưởng cũ của Nguyễn Tư là đội trưởng đội sản xuất ở nông trường Tây Bắc. Khi Nguyễn Tư về Hà Nội theo đuổi ước ơ âm nhạc đã chăm sóc Ngà tận tình và sau này cưới Ngà làm vợ.
Hưng: Cũng từng là bộ đội, chăm đọc sách, có máu nghệ sĩ sống với người vợ to béo, tốt bụng cùng 3 người con, hai trai một gái. Con trai đầu là Hùng nhập ngũ đi B và chết vì bị kẻ địch bắt sống treo lên cây cắt cổ hứng máu vào lon sữa, sau đó bị mổ bụng moi gan.
Minh: Họa sĩ. Say mê vẽ dù không đi học vẽ bao giờ. Say tranh quá bị vợ bỏ mang theo con gái.
Ngoài ra còn có Lê, con trai của Trần, Hùng con trai của Hưng và Lan người yêu của Ngọ-một cô sinh viên trường y bỏ học, yêu say đắm Ngọ và bị cả gia đình từ bỏ.

 

Dòng chảy của câu chuyện là sự đan xen của những lá thư của Nguyễn Tư viết cho Ngà. Những lá thư gửi đi nói những lời yêu đương có cánh và nhắc lại kỉ niệm xưa còn những lá thư không gửi đi viết về cuộc sống ô trọc nhầy nhụa hàng ngày: lang thang, ăn nhờ ở đậu, bất đắc chí với hiện thực tàn nhẫn.

Xen vào đó là những hồi ức về chiến trường đẫm máu nơi bên A treo lính bên B lên cây cắt tiết hứng vào lon rồi mổ bụng moi gan còn bên B giết tù binh bằng gậy tre đánh vào gáy rồi vứt xuống suối.

Thủ pháp dùng nhân vật “Tôi” với trạng thái lúc tỉnh, lúc mê, lúc sống với hiện thực não lòng lúc sống với “miền hoang tưởng” dẫn truyện đã giúp nhà văn thả sức cho nhân vật tranh luận, tâm sự, khóc than, lên giọng với Chúa, với Thượng đế, với Hàn Phi Tử, với Trương Chi, với lũ quỷ đủ màu da.

Xuyên suốt truyện là bi kịch và sự dằn vặt khôn nguôi của những con người đã từng cầm súng, có tính cách nghệ sĩ, khao khát tự do và muốn sống cuộc sống THÂT SỰ LÀ NGƯỜI  trong bối cảnh thời chiến ngột ngạt và tàn nhẫn.

Quán bia cũng có “mú”, nhà ga cũng có “mú”, những người bạn thân cũng nghi nhau là “mú”.

 

Mú ở đây là chỉ “cá chìm”.

 

Họ vật lộn với cái đói, cái nghèo, cái tủn mủn về vật chất của đời thường. Họ cũng phải vật lộn với sự va đập khủng khiếp giữa khao khát làm người, giữa lý tưởng tự do với cuộc đời ô trọc và đủ thứ áp chế vô hình, hữu hình.

Để sống họ phải làm đủ nghề mạt hạng và cuối cùng là phải “uống” máu chính mình mà sống. Họ sống bằng nghề bán máu và bán cả tủy của chính mình. Cả người bán máu và tay môi giới bán máu đều là những người lính từng đổ máu. Nhưng rồi cho dù phải đi bán máu nuôi thân và lấy tiền giúp bạn, Nguyễn Tư vẫn không chịu nghe theo lời dặn của Ngọ để làm cho máu mình loãng ra để được lợi thêm một tí.

Cái gì đã chờ đợi họ?

Bi kịch!
Ngọ yêu Lan, cưới Lan tại quán bia vì gia đình xua đuổi và xã hội không chấp nhận họ. Vợ chồng yêu nhau ở giữa trời và Lan luôn ngượng vì không quen trần truồng dưới ánh trăng. Họ lên rừng nhưng bị hỏi giấy tờ và lại bật về thành phố. Rồi Lan có chửa, họ khao khát có túp lều dù rách nát cho con nhưng bất lực. Để rồi sau đó khi công an càn quét lưu manh, Ngọ bị bắt và đưa đi cải tạo, Lan mới được đưa đi theo trên một chiếc xe nhà nước để lên rừng sống.

 

Hưng thì mất đi đứa con trai lớn đang học Bách Khoa ở chiến trường. Cái chết của con Hưng thảm khốc quá khiến vợ Hưng phát điên nói nhảm cả ngày. Vợ chồng con cái rơi vào cảnh lục đục, mắng nhiếc lẫn nhau. Về sau khi sửa xong nhà vợ Hưng có đỡ nhưng trầm tư, u buồn.

 

Minh thì bị vợ bỏ dắt theo con gái. Mấy tháng sau khi bỏ chị ta lấy chồng.

 

Ngà lấy Mai nhưng sống không hạnh phúc. Mai sau phát điên có lẽ vì những ám ảnh của chém giết.

 

Nguyễn Tư sống lang thang vạ vật trong triền miên đau khổ và dằn vặt. Ốm liên miên vì đói ăn lại phải bán máu nhiều lần lấy tiền giúp Hưng sửa nhà (thực chất là trả ơn vì Hưng có thời đã nuôi Tư từng bữa). Về sau khi Tư ốm nặng Ngà có trở về gặp. Tư được hưởng hạnh phúc làm đàn ông với vị ngọt tình yêu trong một tuần. Bất ngờ Mai mang dao về thành phố phá cửa phòng vào tìm Ngà. Tư và Mai đánh nhau. Mai đâm Tư trọng thương còn Tư vụt gậy làm Mai chết. Tư bị bắt và có lẽ kết cục cuối cùng là trường bắn. Hủ hóa với vợ cán bộ lại giết chết cán bộ trong thời chiến là trọng tội!

Những kiếp người bị nghiền nát trong nghịch cảnh và bi kịch.
Những nhân vật bị thiêu cháy trong hỏa ngục đời thường ô trọc và nhầy nhụa khao khát muốn được làm người. Rủi thay, cho đến cuối đời, họ vẫn chỉ là những kẻ sống trong “miền hoang tưởng”.

Họ đã cô đơn trong xã hội mênh mông của đồng loại.

Hà Nội, khuya 17/11/2017

 

P.s. Cũng trong buổi chiều, tôi được nghe nhiều phụ huynh, người lớn phàn nàn, tâm sự về hiện tượng những thanh niên sinh ra trong các gia đình giàu có, có địa vị bỗng nhiên chán đời bỏ đi bụi, sống lang thang bầy đàn hoặc không tha thiết một điều gì. Họ hỏi tôi “phải làm gì?”. Tôi là một anh học trò chẳng có quyền năng gì nhưng sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này trộm nghĩ, có lẽ nên cho các cháu đọc những cuốn sách như thế này. Biết đâu trước kia nó là sách “cấm” thì giờ đây nó sẽ là biệt dược để làm hồi sinh sự sống trong tâm hồn các cháu.

 

 

ĐỌC SÁCH-MỘT CÁCH THỨC ĐỂ HÒA NHẬP VỚI THẾ GIỚI VĂN MINH

November 8, 2017 Leave a comment

 

Nguyễn Quốc Vương 

Kính thưa các vị đại biểu và quý vị khán giả!

 

Cảm ơn Ban tổ chức và NXB Phụ nữ đã cho tôi cơ hội được đứng ở đây để nói đôi lời về “sách và hội nhập”
Kính thưa quý vị!
Trong những năm gần đây có một xu hướng dễ nhận thấy trong xã hội chúng ta là người Việt bắt đầu thể hiện sự quan tâm tới văn hóa đọc bằng các hành động cụ thể. Nhiều hội sách được tổ chức, hoạt động xuất bản, phát hành sách trở nên sôi nổi hơn với nhiều đầu sách quý, thể tài phong phú, các câu lạc bộ, các nhóm dân sự đã tích cực hoạt động để đưa sách về nông thôn và trường học.

Đấy là những chuyển động tích cực. Nó thể hiện một sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của quốc gia và kiến tạo cuộc sống hạnh phúc của mỗi cá nhân, gia đình.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ với gia tốc ngày càng lớn và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng rõ, hòa nhập trở thành con đường tất yếu để phát triển quốc gia và đảm bảo hạnh phúc cũng như những giá trị của con người.

Cho dù xét ở góc độ cá nhân hay nhìn ở phương diện quốc gia, đọc sách đều là một cách thức, một phương tiện để hội nhập.
Nhìn trong lịch sử sẽ thấy, quá trình giao lưu tiếp xúc với nước ngoài, với một nền văn hóa khác để học hỏi thường gắn liền với sự chuyển dịch của văn hóa đọc và sự hiện diện của những cuốn sách mới.

Xin lấy một vài ví dụ.
Người Nhật đã học hỏi văn minh của nhà Đường (Trung Quốc) thông qua việc gửi sứ vượt biển tới đây. Đoàn sứ thần này ngoài nhiệm vụ ngoại giao còn gánh trên vai sứ mệnh học hỏi các giá trị văn hóa, văn minh bởi thế trong đoàn không thể thiếu những học trò có trí tuệ, ham học cùng các nhà sư. Khi trở về Nhật Bản, họ mang theo rất nhiều sách. Những cuốn sách đó đã lan tỏa những tri thức của Trung Quốc, khơi gợi cảm hứng để người Nhật học hỏi, nghiên cứu, cải biến chúng tạo ra văn hóa kiểu Nhật đặc sắc.

Từ cuối thời Edo (1603-1867), những người Nhật thức thời bao gồm các võ sĩ, thương nhân và trí thức đã chú ý tới văn minh phương Tây. Họ đã nhiệt tâm nghiên cứu và tiếp nhận văn minh phương Tây thông qua việc học tiếng Hà Lan để đọc sách của người Hà Lan. Sau đó, họ lại nhận ra tầm quan trọng của tiếng Anh và tìm hiểu những sách viết bằng tiếng Anh một cách say mê.

Trong khoảng thời gian đó, người Nhật đã say mê đọc và dịch, viết lại rất nhiều cuốn sách của phương Tây. Những cuốn sách của người phương Tây và những cuốn sách do người Nhật viết ra dưới ảnh hưởng của văn minh phương Tây khi đó đã tạo ra cuộc cách mạng trong nhận thức của người Nhật.

Tôi đã từng đọc một cuốn sách của người Nhật biên soạn viết rằng khi gặp một du học sinh đồng thời cũng là một học giả của Trung Quốc ở châu Âu Fukuzawa Yukichi, người vốn được mệnh danh là “Voltaire” của Nhật Bản, đã hỏi người này “Nước ông có bao nhiêu người đọc được chữ ngang?” (Ý chỉ tiếng Hà Lan, tiếng Anh, Pháp…). Du học sinh người Trung Quốc nhẩm tính rồi đáp “khoảng 50” và hỏi lại Fukuzawa xem  nước Nhật có khoảng bao nhiêu người tương tự. Fukuzawa đáp “khoảng 500”. Nếu ta hình dung ra mức độ chênh lệch giữa diện tích và dân số hai nước khi đó cũng như số phận của hai nước về sau ta sẽ thấy hai con số trên có ý nghĩa như thế nào.
Cuộc Duy tân Minh Trị của nước Nhật không giản đơn chỉ là một cuộc cải cách từ trên xuống và các giá trị văn minh được tạo ra một cách dễ dàng bằng một vài sắc chỉ của minh quân-thiên hoàng Minh Trị khi đó mới 16 tuổi.
Thực chất, nhìn ở góc độ văn hóa, Duy tân Minh Trị là một cuộc cách mạng trong văn hóa đọc. Đó là sự chuyển dịch mạnh mẽ và dứt khoát từ việc chỉ đọc sách của Trung Quốc sang đọc các sách của phương Tây. Đó cũng là quá trình chuyển dịch chủ thể đọc. Nếu như trước kia chỉ có những người thuộc tầng lớp thượng lưu đọc và họ coi đọc sách như một thú vui tao nhã, phong lưu, thể hiện đẳng cấp thì giờ đây, trong giai đoạn này, cùng với sự phổ cập của giáo dục, đọc là sinh hoạt thường ngày của dân chúng và là con đường tiếp cận chân lý của giới tinh hoa. Sự phát triển của ngành xuất bản hướng đến phục vụ đại chúng và số lượng sách khổng lồ được in ra, phát hành trong giai đoạn này đủ chứng minh cho điều đó. Những cuốn sách của Fukuzawa Yukichi như “Khuyến học”, “Tây Dương sự tình” đã trở thành sách bán chạy, bán được cả triệu bản và làm cho rất nhiều người say mê.
Nước Nhật đã làm cuộc cách mạng chuyển mình vĩ đại và ít đổ máu với một lực lượng trí thức, võ sĩ thông tuệ Đông-Tây và với gần 50% dân số biết đọc, biết viết. Sau năm 1945, trong khi dân chủ hóa đất nước và trở lại với những giá trị phổ quát như dân chủ, hòa bình, tôn trọng con người, sách và văn hóa đọc cũng đóng vai trò tương tự.

Nhìn vào lịch sử của dân tộc mình chúng ta cũng sẽ thấy hiện tượng tương tự. Cùng với quá trình tiệm cận văn minh, hòa nhập, đóng góp vào thế giới văn minh của dân tộc là quá trình phát triển của văn hóa đọc. Ông cha ta đã đọc các sách vở của Trung Quốc trong một thời gian dài trước khi quan tâm và có khả năng đọc được các sách của phương Tây. Bởi thế những người thức thời nhất và ưu tư nhất với vận mệnh của dân tộc trong thời cận đại là những người đọc cả hai thứ sách đó.

Những thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XX, xét ở góc độ văn hóa là thời kì người Việt làm quen và tiếp nhận văn minh phương Tây. Sách viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và đặc biệt là sách dịch đã có ảnh hưởng lớn.

Những trí thức lớn, thiết tha với nước nhà thời đó cũng là những người cổ vũ nhiệt thành và không mệt mỏi cho việc học và đọc. “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách đến như mưa”-câu thơ nói về sinh hoạt học thuật-văn hóa ở trường Đông Kinh nghĩa thục là một phác họa rất cảm động về quãng thời gian ấy.
Trong những ngày này, khi nhìn lại lịch sử đã đi qua, nhìn vào sự phát triển của thế giới xung quanh cũng như những gì chúng ta đang phải đối mặt hàng ngày, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn vai trò của sách và văn hóa đọc.

Chúng ta đang có gần 90 triệu người, hàng chục triệu học sinh, hàng triệu giáo viên các cấp với trên 90% dân số biết đọc, biết viết nhưng tính trung bình mỗi năm mỗi người dân Việt Nam chỉ đọc chưa đầy một cuốn sách và chủ yếu lại là sách giáo khoa.
Đấy là một hiện thực buồn bã đồng thời cũng là động lực thôi thúc chúng ta hành động.
Chúng ta hãy biến việc đọc sách thành thú vui của cá nhân, thành sinh hoạt thường ngày của gia đình. Đấy là một cách để chúng ta hòa nhập với thế giới văn minh và tạo ra các giá trị nhân văn bền vững.

 

Hà Nội, 8/11/2017

 

Tôi đã chứng kiến truyền thông Nhật ứng xử trước thiên tai

November 8, 2017 Leave a comment

Trong hoàn cảnh người dân đang gánh chịu thảm họa, việc họ ngừng phát các chương trình giải trí sẽ gây thiệt hại kinh tế tức thời, nhưng hành động đó là trách nhiệm của “người trong một nước”.

Ngày 11/3/2011, một trận động đất lớn xảy ra ở vùng Đông Bắc Nhật Bản, kéo theo sóng thần khổng lồ và sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima, khiến nước Nhật gánh chịu thiệt hại lớn về người và tài sản.

Trong những ngày đó tôi đang du học tại Nhật Bản. Cho dù cách xa tâm chấn khoảng 700km và an toàn, người thân ở Việt Nam vẫn vô cùng lo lắng và muốn gọi tôi về nhà. Lúc đó tôi vừa bảo vệ xong luận văn cao học và công việc chính là dịch các bản tin trên báo, tóm tắt các bản tin trên truyền hình về thảm họa thiên tai, đưa lên mạng xã hội, blog cho bạn bè người Việt ở Nhật và gia đình ở quê nhà đọc..

Công việc giống như một phóng viên “bất đắc dĩ” đó đã giúp tôi hiểu thêm về cách thức ứng xử của truyền thông nước Nhật trước thảm họa thiên tai.

Nhật Bản,Thảm họa kép động đất sóng thần 2011,Truyền thông,Thiên tai,Chương trình giải trí,Tin tức thiên tai
Những hình ảnh ám ảnh từ thảm họa lịch sử của nước Nhật. Ảnh: AP

Phản ứng tức thời

Ngay sau khi động đất xảy ra, các hãng truyền hình, phát thanh Nhật Bản đã ngay lập tức thiết lập một chương trình đặc biệt với quy mô lớn chưa từng thấy để đưa tin về thiên tai. Riêng NHK, hãng truyền hình lớn có sử dụng ngân sách công để phát sóng, đã dừng các chương trình truyền hình thường lệ để dành 60 tiếng liên tục phát tin tức về thảm họa thiên tai này kể từ khi động đất xảy ra. Tính chung trong vòng hai tuần kể từ khi xảy ra động đất, NHK đã trở thành hãng truyền hình dành nhiều giờ phát sóng nhất về thiên tai với trên 300 giờ phát sóng.

Các hãng truyền hình khác như Truyền hình Nhật Bản, Truyền hình Asahi, Truyền hình Tokyo, TBS… đều có các động thái tương tự. Họ đã cắt các chương trình thường lệ và thay vào đó là chương trình đưa tin thiệt hại, hướng dẫn cứu trợ nạn nhân. Họ đã chấp nhận thiệt hại về kinh tế khi cắt đi thời gian vốn dành cho quảng cáo để thay vào đó là nội dung liên quan đến thiên tai.

Một bảng thống kê sơ bộ trên mạng cho biết hầu hết các kênh truyền hình, phát thanh nói trên đều dành ít nhất 14 giờ đồng hồ sau khi động đất xảy ra dành cho các bản tin và chương trình liên quan đến thiên tai.

Bày tỏ sự cảm thông

Trong bối cảnh người dân ở các tỉnh Đông Bắc bị thiệt hại nặng nề vì động đất, sóng thần và cả nước lo lắng vì rò rỉ phóng xạ, các kênh truyền hình ở Nhật đã ngưng chiếu các chương trình, bộ phim giải trí một thời gian để dành thời gian phát sóng nội dung liên quan đến cứu trợ thiên tai, bản đồ các khu vực nhiễm phóng xạ. Chẳng hạn NHK đã tạm thời ngưng chiếu bộ phim truyền hình “Teppan” hay “Go” đang ăn khách để phát sóng chương trình đặc biệt chuyên đưa tin tức liên quan tới trận động đất Đông Nhật Bản. Các bộ phim này được phát sóng lại như thường lệ vào ngày 19, tức là hơn một tuần sau khi thảm họa thiên tai xảy ra.

Bộ phim “Ohisama” vốn dự định được phát sóng từ ngày 28/3 đã được dời đến ngày 4/4. Kênh truyền hình giáo dục của NHK cũng tạm ngừng cả chương trình dạy tiếng nước ngoài và chương trình về nhà trường. Tuy nhiên sau đó, để đáp ứng nhu cầu của trẻ em, NHK đã tiếp tục chương trình giáo dục vào hai khung giờ : 7-9 giờ sáng và 4-6 giờ chiều.

Truyền hình Asahi cũng tạm dừng các chương trình nấu ăn, giải trí như “Căn phòng của Tetsuko” và chỉ đến ngày 15 các chương trình này mới được phát sóng trở lại.

Nhìn chung, theo quan sát của tôi trong những ngày đang sống ở Nhật đó thì các kênh truyền hình dù lớn dù nhỏ đều dành ưu tiên cho thông tin liên quan đến thiên tai và hạn chế hoặc ngừng phát sóng các chương trình hài, giải trí, quảng cáo.

Tại sao các hãng truyền thông làm như vậy?

Trong số các hãng truyền hình nói trên thì chỉ có hãng NHK (Hiệp hội phát thanh truyền hình Nhật Bản) là có nhận tiền từ ngân sách phục vụ phát sóng các chương trình giáo dục, phúc lợi xã hội. Các kênh truyền hình khác thuần túy là doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ đã chấp nhận hi sinh quyền lợi kinh tế, thậm chí vi phạm hợp đồng với đối tác để cung cấp các chương trình phục vụ công tác cứu hộ cứu nạn và bày tỏ sự cảm thông với các nạn nhân của thảm họa động đất sóng thần.

Tại sao họ lại làm như vậy? Phải chăng trong điều lệ của hiệp hội phát thanh truyền hình nước Nhật có điều khoản nào đó ràng buộc họ? Tôi chưa có điều kiện tìm hiểu điều đó, nhưng nếu có thì có lẽ hành động của họ cũng không phải chỉ đơn giản xuất phát từ điều đó.

Trong những ngày ấy, nước Nhật thực sự đứng trước khó khăn vô cùng nghiêm trọng, nhưng người Nhật vẫn kiên nhẫn xếp hàng mua xăng và trật tự tìm nơi sơ tán. Giá cả hàng hóa không hề leo thang và trật tự xã hội vẫn được kiểm soát tốt.

Trong thảm họa, thái độ và hành vi của những người có trách nhiệm, của truyền thông sẽ có ảnh hưởng lớn đến tình hình chung. Không phải ngẫu nhiên mà sau khi thảm họa xảy ra, người Nhật đã không giấu nổi sự kinh ngạc cũng như thay đổi cách nhìn về giới trẻ khi chứng kiến sự tham gia tình nguyện của thanh niên trên khắp nước Nhật vào công tác cứu hộ, cứu nạn ở vùng Đông Bắc.

Truyền thông nước Nhật ít nhiều đã có đóng góp trong việc tạo ra sợi dây gắn kết, cảm thông và chia sẻ giữa mọi người trong hoạn nạn và lan tỏa các giá trị nhân văn đó. Trong các thảm họa thiên tai lớn, thiệt hại thứ phát có khi lớn hơn thiệt hại ban đầu do thiên tai gây ra trực tiếp. Thông tin nhanh, chính xác, kịp thời là một cách phòng chống các thiệt hại thứ phát đó. Vai trò và trách nhiệm của truyền thông trong các tình huống khẩn cấp được thể hiện ở đó.

Các ông chủ truyền thông Nhật đủ thông minh để hiểu rằng truyền thông luôn được xã hội nhìn nhận như là một phương tiện bảo vệ và nêu cao chính nghĩa. Trong hoàn cảnh nước Nhật gặp khó khăn và người dân đang gánh chịu thảm họa, việc họ ngừng phát các chương trình giải trí sẽ gây thiệt hại kinh tế tức thời, nhưng hành động đó cũng là hành động nâng cao uy tín và là trách nhiệm của “người trong một nước”.

Nguyễn Quốc Vương

Ngay sau ngày xảy ra vụ chìm phà Sewol – thảm kịch hàng hải tồi tệ nhất của Hàn Quốc vào 16/4/2014 vừa qua, các đài truyền hình của Hàn Quốc đã đồng loạt cho ngừng phát sóng một số bộ phim và các chương trình giải trí.

Trong một tuần vừa qua, hầu hết các chương trình giải trí nổi bật của SBS, KBS và MBC đều bị dừng phát sóng để tưởng nhớ đến các nạn nhân của vụ chìm phà Sewol. Đây được coi là một trong những tai nạn thảm khốc nhất của Hàn Quốc, tính đến thời điểm hiện tại đã có 64 người thiệt mạng, 238 người mất tích.

Mới đây nhất, KBS tiếp tục thông báo tất cả các chương trình giải trí trong khung phát sóng 23h00 của kênh sẽ bị hủy bỏ toàn bộ từ 21/4 đến 25/4. Các chương trình cuối tuần vào ngày 26/4 và 27/4 bao gồm Immortal Songs, Entertainment Weekly, Happy Sunday và Gag Concert cũng được KBS tạm dừng phát sóng.

Trước đó, vào hai ngày 19/4 và 20/4 cuối tuần vừa qua – khoảng thời gian tập trung những chương trình đặc sắc nhất, ba đài truyền hình của Hàn Quốc cũng ngừng phát sóng các show thực tế và dành thời lượng để đưa các bản tin về vụ chìm phà Sewol.

3 Đài lớn của Hàn Quốc tiếp tục hủy chương trình sau vụ chìm phà Sewol, Vtv.vn, 21/04/2014.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/toi-da-chung-kien-truyen-thong-nhat-ung-xu-truoc-thien-tai-409362.html

“Biên niên sử thế giới bằng hình- Một cách học sử khác

November 7, 2017 Leave a comment

 

 

Một thực tế phũ phàng

 

Những năm gần đây, môn Lịch sử trong trường phổ thông đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận không phải vì sự hấp dẫn và tác dụng của nó mà vì những vấn đề trầm trọng mà nó đang đối mặt.
“Hàng nghìn điểm không môn Lịch sử” trong kì thi tuyển sinh đại học.
“Học sinh xé đề cương” khi môn Sử không được lựa chọn làm môn thi tốt nghiệp.
Học sinh nói “Quang Trung và Nguyễn Huệ là đồng chí anh em”

Nếu dùng google tìm kiếm các cụm từ trên ta sẽ có hàng vạn thậm chí hàng chục vạn kết quả.
Nhìn vào thực tế đó và suy ngẫm thì câu hỏi đặt ra cho tất cả chúng ta là phải chăng giới trẻ không còn thích và cảm thấy cần phải học lịch sử nữa?
Phải chăng “Lịch sử đã chết?” và giáo dục lịch sử đã giương cờ trắng đầu hàng trước thời đại của công nghệ?

Trên thực tế đang diễn ra một nghịch lý: các nhà sử học và các giáo viên dạy lịch sử đánh giá cao vai trò của môn lịch sử nhưng thực tế học sinh lại không thích học hoặc thờ ơ với môn học này ở nhà trường.
Truy tìm căn nguyên của tình trạng này sẽ dẫn đến nhiều kết quả. Một trong những kết quả quan trọng được tìm thấy sẽ là sự lạc hậu của lý luận dạy học lịch sử. Lý luận dạy học lịch sử ở Việt Nam về cơ bản đã dừng lại ở lý luận dạy học lịch sử của Liên xô những năm 70-80 của thế kỉ trước. Những sự bổ sung sau này, nếu có cũng chỉ là sự phụ họa, minh họa cho lý luận đó.

Tìm kiếm những phương thức giáo dục khác, thoát ra khỏi sự trì trệ ấy đang trở thành vấn đề thách thức giới giáo dục lịch sử và công chúng yêu sử.

Trong bối cảnh bế tắc về lý luận, việc hướng ra ngoài thế giới để tìm ra câu trả lời là con đường tất yếu.
Dịch các sách về lịch sử, giáo dục lịch sử là một cách đưa người Việt bước đi trên con đường mới.

Bởi thế, cuốn sách “Biên niên sử thế giới bằng hình ảnh” (NXB Kim Đồng, 2017) là một viên gạch lát đường quan trọng.

Nhà sử học dùng cơ cấu nào để kể lại lịch sử?

 bài sách

Nếu quan niệm lịch sử là tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ hay hẹp hơn là tất cả những gì đã diễn ra và được lưu lại trong tư liệu hay kí ức thì việc người ta sẽ kể lại gì (lựa chọn những gì để kể) và kể như thế nào sẽ trở thành vấn đề lớn.
Thứ trở thành điểm tựa để nhà sử học dựa vào đó lựa chọn lấy các sự thật lịch sử, sắp xếp chúng, kể lại chúng theo trình tự, lớp lang nhất định và gán cho chúng một ý nghĩa nào đó trong sự liên tưởng đến cuộc sống hiện tại được gọi là “lý luận” hay “cơ cấu”.

Người Việt đã rất quen với cơ cấu kể lại và giải thích lịch sử dựa trên sự biến chuyển của các hình thái xã hội và đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, trong cuốn sách này, các tác giả đã dùng một cơ cấu khác.

Cơ cấu đó là gì?
Hãy đừng rời mắt khỏi tiêu đề của cuốn sách và tiêu đề phụ: “Biên niên sử thế giới bằng hình: Một chuyến du hành qua thời gian từ thời voi mamut và các xác ướp đến kỉ nguyên của những chuyến bay và facebook”.
Chỉ tiêu đề thôi đủ cho biết, sự phát triển của trí tuệ con người và sự tiến hóa của văn minh là cơ cấu chủ yếu để các tác giả trần thuật lại lịch sử theo lối biên niên-lối viết theo véc-tơ thời gian thẳng tắp, một ý niệm chi phối toàn bộ tư duy và sinh hoạt của loài người.

Một cách kể phong phú

Đúng như tên gọi của cuốn sách, một cuốn sử thế giới viết theo lối biên niên, ở đây các sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian và chia thành các thời kì.
Mở đầu là Thời tiền sử cách ngày ngay 6, 5 triệu năm-3000 năm trước Công nguyên và khép lại bằn giai đoạn 1945-2012 được định danh là “Tiến nhanh về phía trước”.
Cách kể biên niên là cách trần thuật lịch sử cổ xưa nhất và phổ biến nhất trên thế giới. Nhưng cách kể ấy dễ làm người viết lúng túng trong việc phải lựa chọn sự kiện nào, bỏ sự kiện nào và làm cho người đọc buồn chán. Có gì buồn chán hơn khi phải dõi theo các sự kiện đơn điệu diễn ra theo dòng chảy thời gian?

Có lẽ ý thức được điều đó nên các tác giả đã tận dụng tối đa không gian trang sách để kể. Từng giai đoạn sẽ được mở đầu bằng một đoạn tóm tắt ngắn mô tả khái quát toàn giai đoạn. Chẳng hạn giai đoạn 3000-700 TCN có tên “Biên niên sử thời cổ đại” được tóm tắt như sau:

“Việc phát minh ra nghề nông đã làm thay đổi vĩnh viễn cuộc sống con người. Giờ đây một cuộc sống ổn định có thể cho phép nuôi được nhiều người hơn so với săn bắt và hái lượm. Sự bùng nổ dân số đã khiến các làng xóm phát triển thành các thành phố và thị trấn, đồng thời làm xuất hiện các giai cấp khác nhau. Những nền văn minh sớm nhất đã phát triển ở Ai Cập và Lưỡng Hà, với vua chúa, các tôn giáo và chữ viết. Con người đã có một bước tiến lớn khi biết cách sử dụng kim loại để chế tác công cụ, vũ khí và đồ trang sức. Sự tranh chấp đất đai và tài nguyên cũng đã dẫn đến những cuộc chiến tranh đầu tiên”.
Sau phần mở đầu khái quát, các chủ đề sẽ mở ra với các sự thật lịch sử được mô tả, trần thuật theo trục thời gian.
Cho dù kể theo “lịch đại” (trục thời gian) các tác giả vẫn chú ý khái quát lịch sử diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới từ châu Âu, tới châu Á, châu Phi, Châu Mĩ…

Trong khi lựa chọn các sự thật lịch sử, các tác giả vừa chú trọng đến các thành tựu của văn minh như công cụ lao động, chữ viết, công trình kiến trúc, tổ chức xã hội vừa không bỏ qua sự tiến triển của sinh hoạt đời thường như sinh hoạt của giới bình dân, sinh hoạt của trẻ em.
Điều thú vị nữa là các tác giả cũng không bỏ qua lịch sử hình thành, thay đổi địa chất của trái đất, sự phong phú và luôn biến đổi của thảm thực vật, quần thể động vật. Con người đã ăn, mặc, ở, đi lại , cúng tế ra sao được mô tả rất sinh động.

Tính toàn diện, đa chiều, đa không gian là đặc trưng cơ bản trong cách thức trần thuật của cuốn sách.

Một lối kể thực chứng

Ở Việt Nam, người ta rất thích lối trần thuật lịch sử theo kiểu kể chuyện. Thậm chí gần đây, những người làm chương trình còn đề nghị sách giáo khoa lịch sử cấp tiểu học sẽ viết lịch sử dưới dạng các câu chuyện để học sinh hứng thú học tập, dễ nhớ, dễ thuộc.
Nhiều người tán thành với điều đó khi họ liên tưởng đến tình trạng học sinh chán học lịch sử ở hiện tại.
Nhưng thật ra sức mạnh, vai trò và sự hấp dẫn của môn Lịch sử trước hết và  cơ bản phải nằm ở tư cách của nó: Sử học là một môn khoa học. Những sự hấp dẫn có tính chất giải trí sẽ không tồn tại được lâu và nếu lạm dụng sẽ gây “nghiện” và tạo ra nhiều hệ lụy.
Đã là khoa học thì mục đích tối thượng của nó là truy tìm chân lý dựa trên các bằng chứng thực chứng và suy luận logic.

Bằng chứng của các nhà sử học là tư liệu hay sử liệu. Sử liệu có nhiều loại: sử liệu thành văn, sử liệu hiện vật, sử liệu dân tộc học …

Ở đây, các tác giả đã tuyệt đối tuân thủ nguyên lý này khi cho lịch sử loài người bắt đầu bằng những gì được phục dựng dựa trên thành tựu của khảo cổ học: những hóa thạch xương, răng của người vượn, những bức vẽ cổ xưa trên hang động, những công cụ bằng đá và dấu vết hang động nơi con người cư trú. Không thấy có bóng dáng truyền thuyết và huyền thoại ở đây.

Các sự kiện khác được lựa chọn và kể trong sách cũng được kể dựa trên sử liệu vì thế có thể coi cả cuốn sách là một tập hợp tư liệu: từ các bức bích họa của người nguyên thủy, các công cụ của con người thời đại đồ đá mới, các bình gốm Jomon, các mảnh tường khắc chữ hình nêm của người Lưỡng Hà, các chữ giáp cốt được tìm thấy trong lòng đất tới các bức ảnh chân dung, các tấm bản đồ cổ…

Về nguyên tắc và bản chất, việc học tập lịch sử của học sinh trong trường không khác quá trình tìm tòi nhận thức lịch sử của nhà sử học là bao. Học sinh cũng sẽ phải tìm kiếm, chỉnh lý, phê phán, đọc hiểu tư liệu để tạo ra nhận thức lịch sử của riêng mình từ đó biểu đạt nó, văn bản hóa nó, mài sắc nó và đem nó cọ xát với nhận thức lịch sử của người khác thông qua trao đổi và tranh luận.
Phương thức trần thuật lịch sử dựa trên tư liệu của cuốn sách sẽ thích hợp với lối dạy học lịch sử hướng vào phát triển tư duy và năng lực biểu đạt của tư duy.
Những ai quen dạy và học với lối tư duy cho rằng dạy học lịch sử là truyền đạt và ghi nhớ tri thức lịch sử sẽ gặp lúng túng khi đọc cuốn sách này.

 

Lịch sử được kể bằng nhiều cách

Nếu đọc các cuốn sách giáo khoa lịch sử ở Việt Nam và có một chút lý luận về giáo dục lịch sử, người ta sẽ nhận thấy sách có cấu trúc rất đơn giản và lối kể vô cùng đơn điệu. Trong sách sẽ chỉ có bài viết chính là phần kể của tác giả. Phần này được tác giả viết theo lối “vô nhân xưng” để tỏ ra khách quan vì thế sẽ không có hình bóng tác giả ở đây. Đi kèm sẽ là tranh, ảnh, bản đồ minh họa. Tư liệu gốc thiếu và không được chú ý đầy đủ. Ở phần sau bài viết sẽ là các câu hỏi thử thách trí nhớ hay khả năng đọc hiểu của học sinh đối với bài viết của tác giả.

Ở “Biên niên sử thế giới bằng hình”, nhóm tác giả sử dụng một lối kể khác. Lịch sử ở đây được kể đồng thời bằng nhiều cách khác nhau thông qua nhiều “phương tiện” khác nhau. Nó được kể qua các tư liệu (ảnh chụp hiện vật, văn kiện, bản đồ, di tích..), lời của nhà sử học (bài viết chính), hình minh họa (mô phỏng các hiện vật, nghi lễ…) và đặc biệt là được kể qua chính nhận xét của những người đương thời, sử gia đương thời hay các sử gia trước đó.
Chẳng hạn như để kể về “Trẻ em đương thời” thông qua một nhân vật cụ thể là “một người thư lại Ai Cập” (tr.40), các tác giả đã kể thông qua tư liệu “Ostracon” (các mảnh đá hoặc gốm dùng để viết), bài viết của nhà sử học mô tả quá trình trở thành một viên thư lại từ khi còn là đứa trẻ con, những bức hình minh họa công việc của viên thư lại. Đặc biệt ở đây, cuốn sách cũng dẫn ra rất nhiều những nhận xét hay kết quả nghiên cứu của các nhà sử học đi trước. Ví dụ:

 

Sau quá trình nhắc lại trong trạng thái thôi miên, cậu bé được nạp đầy thư mục những cấu tạo từ chi tiết và cụm từ tạo nên ngôn ngữ văn học quốc gia” (Trích từ cuốn Ancient Lives, 1984 của nhà Ai cập học John Romer)

 

Tai của đứa trẻ là ở sau lưng nó, để nó nghe khi bị đánh” (Bài học được nhà sử học Adolf Arman trích dẫn trong cuốn Nền văn học của người Ai Cập cổ đại, 1927)

 

Ta sẽ dạy con yêu quý sách vở còn hơn cả mẹ mình, và ta sẽ bày ra trước mắt con sự tuyệt diệu của chúng. Nó (văn phòng lưu trữ sách của một viên thư lại) cao quý hơn mọi văn phòng nào khác. Không gì sánh được với nó trên Trái đất này” (Lời dạy của Due-Khety, một bài học ở trường, khoảng 2000 năm TCN)

 

Tìm kiếm, đọc, giải mã tư liệu đồng thời đọc và phân tích những công trình nghiên cứu của những người đi trước là thao tác cơ bản trong nhận thức lịch sử của nhà sử học.

Cách viết như trên sẽ giúp cho việc học và đọc của trẻ em gần với quá trình tìm kiếm và tiệm cận chân lý đó.

 

Không chỉ dừng lại ở kết quả nghiên cứu của các nhà sử học

Nguyên tắc vàng của giáo dục lịch sử là nó phải được tiến hành dựa trên nền tảng của sử học nghĩa là những thứ được dạy phải là kết quả nghiên cứu của nhà sử học.
Tuy nhiên, nhược điểm cố hữu của các cuốn sách giáo khoa hay sách lịch sử ở Việt Nam thường là chỉ trình bày kết quả mà nhà sử học thu nhận được hoặc đưa ra mà không trình bày rõ quá trình, phương thức nhà sử học tạo ra kết quả đó. Sức hấp dẫn của sử học là nằm ở tính “mở” không có hồi kết và tính tương đối của chân lý.

Ở đây, trong cuốn sách này, các tác giả đã chú ý tới điều đó khi thi thoảng đưa vào sách những đoạn mô tả công việc của nhà sử học. Xin trích vài đoạn rất thú vị:

“Thực đơn thời tiền sử

Con người thời đại Đồ đá giữa đã biết ăn nhiều thứ khác nhau. Dưới đây là những thứ mà họ có thể đã ăn:

– Quả mọng

– Quả hạch

– Hạt

– Lá

….

– Cá

– Thịt

– Trứng” (tr.11)

 

“Nông dân phải làm việc vất vả hơn những người săn bắt hái lượm. Phụ nữ phải dành nhiều giờ để nghiền hạt bằng cách chà đi chà lại một hòn đá nhỏ trên một phiến đá lớn, gòi là bàn nghiền. Các bộ xương thời kì này cho thấy động tác quỳ bên bàn nghiền gây ra chứng viêm khớp và làm tổn thương các đầu ngón chân và mắt cá”

 

Cả hai ví dụ đều cung cấp thông tin giúp người đọc hình dung ra công việc phục dựng, giải mã quá khứ của các nhà sử học dựa vào thành tựu khảo cổ học. Công việc của họ là xác định tuổi của hiện vật và bắt các hiện vật vốn lặng câm ấy cất tiếng nói của mình.

 

Một cách biểu đạt sự tiến hóa của văn minh đầy…ý nhị.

Nếu bạn đọc sách và lưu ý bạn sẽ nhận thấy dọc theo trục thời gian khi lịch sử càng tiến lại gần ngay nay, khoảng cách phân chia thời gian các giai đoạn càng nhỏ và hẹp lại dần: 6, 5 triệu năm TCN-3000 năm TCN; 3000-700 TCN; 700TCN-500; 500-1450, 1450-1750; 1750-1850; 1850-1945; 1945-2012.
Đấy là sự thể hiện ý nhị gia tốc thay đổi trong tiến hóa văn minh của loài người. Trí tuệ con người ngày càng phát triển với tốc độ nhanh và chất lượng cao tạo ra những công cụ lao động, phương thức sản xuất, trình độ tổ chức xã hội mới đầy hiệu quả.

“Tiến nhanh về phía trước”-tên gọi cho giai đoạn lịch sử hiện đại từ 1945-2012, giai đoạn của máy bay, máy tính, mạng xã hội Facebook…gợi mở gì cho người đọc suy ngẫm về tương lai của loài người?

Loài người sẽ tiến về đâu trong vũ trụ bao la?

Tương lai nào sẽ chờ đón họ?

Con người rồi sẽ có cuộc sống văn minh hơn, hạnh phúc hơn hay sẽ nhanh chóng diệt vong bởi chính các phát minh của họ?

 

Giống như một cuốn từ điển hay sách giáo khoa?

 

Ở Việt Nam, người ta, do sự lạc hậu trong lý luận giáo dục và sai lầm trong tư duy về giáo dục lịch sử, thường hay tranh cãi rất…ngớ ngẩn về mức độ nặng nhẹ hay dày mỏng của sách giáo khoa lịch sử. Người ta than phiền sách giáo khoa lịch sử có quá nhiều số liệu (nào là bao nhiêu tên địch chết, bao nhiêu tên địch bị thương, ta bắn rơi bao nhiêu máy bay, xe tăng…), rồi thì quá nhiều sự kiện cần ghi nhớ!?

Thực ra sách giáo khoa lịch sử của Việt Nam so với sách giáo khoa  lịch sử của nước khác tương đối sơ sài và đơn giản về số liệu thống kê, các bảng biểu, bản đồ và tư liệu.
Tư liệu gốc và bảng biểu thống kê hầu như không có. Rất nhiều hiệp ước, văn kiện gốc có giá trị đã không được giới thiệu dưới dạng tư liệu.

Nếu quan niệm dạy học lịch sử là truyền thụ tri thức mà người giáo viên biết và quan điểm giải thích các tri thức-sự thật đó, cuốn sách giáo khoa nhiều số liệu, sự kiện được viết theo kiểu biên niên đương nhiên phải gánh chịu sự chỉ trích nặng nề. Theo lối tư duy đó người thầy sẽ luôn mong có thật nhiều thời gian để mà mô tả, giải thích, tường thuật, thuyết giảng cho học sinh. Học sinh trái lại sẽ mong giờ học nhanh kết thúc. Tác giả viết sách giáo khoa lại mong sách có nhiều số trang hơn để đưa vào cái này, cái nọ.
Tuy nhiên, nếu như quan niệm dạy học lịch sử là hướng dẫn học sinh làm “nhà sử học nhỏ tuổi” sử dụng tư duy và phương pháp làm việc của nhà sử học để nhận thức lịch sử thì chuyện sách dày, mỏng không quan trọng. Quan trọng nó phải bao gồm các tư liệu thực chứng được sắp xếp theo một logic hợp lý nhất định, có bài viết của nhà sử học có tính chất như một sự tham khảo quan trọng và những chỉ dẫn sử dụng các tư liệu, bài viết ấy cũng như cách thức biểu đạt kết quả nhận thức được ở người học.

Việc cuối cùng sẽ nằm ở vai trò của người giáo viên: dạy cái gì, dạy như thế nào.

Xem xét ở góc độ ấy, cuốn “Biên niên sử thế giới bằng hình” vừa giống như một  cuốn sách giáo khoa vừa giống như một cuốn từ điển để tra cứu.
Bởi thế, không chỉ học sinh mà các thầy cô giáo dạy lịch sử ở phổ thông cũng cần tìm đọc.
Trong cuộc sống thường ngày, rất nhiều người không bày tỏ sự quan tâm tới lịch sử nhưng thực ra bất chấp điều đó, tất cả tư duy và hành động của họ đều bị dẫn dắt bởi ý thức-nhận thức lịch sử. “Tất cả chúng ta đều là tù nhân của lịch sử”-một sử gia nổi tiếng đã kêu lên đầy cảm khái như thế!

Hiểu biết về lịch sử một cách khoa học thông qua học và đọc sách là một cách để con người có được tư duy và hành động đúng trong thế giới đầy bất an và thay đổi nhanh chóng ngày nay.

Nguyễn Quốc Vương

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tuổi trẻ và sự lựa chọn nghề nghiệp

November 1, 2017 Leave a comment

 

Nguyễn Quốc Vương
Hà Nội, 30.10.2017

 

Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh Trường THPT …

Cảm ơn BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi có cuộc giao lưu này.

Cảm ơn các em học sinh đã ngồi đây để nghe những lời nói của một người xa lạ.

Sự luyến tiếc tuổi trẻ

Không rõ khi tiếp xúc hay nhìn thấy những người lớn tuổi hơn mình, đặc biệt là những người thuộc thế hệ đi trước các bạn nghĩ gì trong đầu?

Với tôi, mỗi khi gặp những người trẻ tuổi, những người đang ở chặng đường đẹp nhất của cuộc đời con người, tôi lại có cảm giác tiếc nuối và cảm giác ấy mỗi lúc một mạnh lên cùng với thời gian. Tôi ước có một phép thần nào đó để mình trẻ lại như các bạn, để lại được ngồi trên ghế nhà trường, để được đi  học, vui chơi cùng bè bạn và mơ mộng.
Học, vui chơi, kết giao bạn bè và mơ mộng có lẽ là những thứ thuộc đặc quyền của tuổi trẻ.

Có bạn sẽ kêu lên rằng “Làm gì có chuyện đó. Người trưởng thành, người già vẫn có thể và trên thực tế vẫn làm những việc đó đấy thôi”.

Đúng thế! Những người trưởng thành như chúng tôi bây giờ, như các thầy cô của các em vẫn làm điều đó hàng ngày. Nhưng có một thứ không thể nào có được, dù rấtmuốn…

Nó là gì?

Đó là…cảm giác. Nếu thích nói kiểu văn chương, các bạn có thể gọi nó là cảm xúc.

Người trưởng thành có thể học, có thể kết giao bạn bè, có thể mơ mộng. Nhưng cảm xúc thúc đẩy những hành động đó, cảm xúc duy trì chúng và cảm giác khi giành được kết quả từ những hành động đó không bao giờ giống như hay chính xác hơn là không bao giờ được như thời còn trẻ.
Ở độ tuổi của các bạn, được cô bạn gái hay bạn trai mình thích tặng cho một nụ cười, các bạn có thể sung sướng cả ngày, cả tháng, cả năm, thậm chí là suốt cả cuộc đời.
Ở độ tuổi của các bạn, khi đọc những cuốn sách hay, các bạn có thể khóc hay có thể cảm động chảy nước mắt.

Cảm động vì một nụ cười hay rơi nước mắt vì một cuốn sách là chuyện thường chỉ xảy ra khi người ta còn trẻ.
Khi đã trưởng thành, người ta vẫn có thể bị ấn tượng bởi nụ cười của ai đó và cũng có thể cảm động khi đọc sách nhưng sự xúc động với cường độ mạnh và ngân vang không thể nào như thời trẻ nữa.

Cũng ở độ tuổi của các bạn, ai cũng sẽ mơ mộng và sống với thế giới tưởng tượng, thế giới lý tưởng của riêng mình. Bất chấp hiện  thực trước mắt ra sao và bản thân đang sống trong hoàn cảnh thế nào, ở thế giới tưởng tượng đó, các bạn sẽ “cho” bản thân mình  gặp được người mình yêu, làm công việc mình thích và biến mình  thành người có những khả năng đặc biệt.

Khi ở độ tuổi của các bạn tôi cũng đã từng mơ mộng thế. Tôi đã từng mơ mình trở thành nhà bác học rồi sau đó lại mơ mình trở thành một thuyền trưởng tàu viễn dương. Tôi mơ thấy mình biết bay và làm được đủ thứ.
Giấc mơ là tài sản đặc biệt của mỗi người. Vì thế, khi còn có thể mơ ước, các bạn đừng tiếc dành thời gian và tâm tưởng cho nó.
Nhưng, tôi biết hay nói chính xác là tôi đoán, có rất nhiều bạn trẻ ngồi ở đây lại đang mơ ước thành..người lớn, thành những người như tôi và các thầy cô có mặt ở đây.

Các bạn muốn nhanh chóng tốt nghiệp phổ thông, chấm dứt cuộc đời học sinh để khỏi phải thức khuya học bài và dậy sớm đến trường mỗi sáng. Các bạn cũng muốn nhanh chóng được chấm dứt cảnh lo lắng bị gọi lên bảng đầu giờ, bị thầy cô la mắng khi bị điểm kém hay không học bài, bị phụ huynh ép thi trường nọ trường kia…

Một số bạn khác thì lại thích mình nhanh thành người lớn để có thể tự do làm một số việc, tự do đưa quyết định mà không bị bố mẹ, thầy cô ngăn cản. Chẳng hạn, tôi biết ở đây, ngay lúc này, có những bạn muốn mình là người trưởng thành để tự do hò hẹn với cô nàng (anh chàng) nào đó trong lớp mà mình thích.

Như thế, có phải chăng là chúng ta đang tự mâu thuẫn với chính mình?

Ở mỗi cá nhân, trong cuộc đời mình đều sẽ có sự mâu thuẫn ngược chiều kì quặc nhưng lại đầy…hợp lý ấy.

Sự thật ấy nói lên một điều rằng con người muốn sống được cần phải có giấc mơ và ở mỗi độ tuổi nhất định, người ta nhất định nên (hoặc phải) làm điều gì đó hoặc không được làm điều gì đó.
Như đã nói ở trên, ở độ tuổi của các bạn, học, kết giao bạn bè và mơ mộng là việc nhất thiết phải làm vì ở giai đoạn này những việc đó rất thích hợp… Sau này, đương nhiên các bạn vẫn có thể làm, nhưng những cảm xúc dẫn dắt, duy trì những việc làm đó của các bạn sẽ khác.

Việc các bạn sử dụng năng lượng và thời gian của bản thân như thế nào trong giai đoạn còn là học sinh sẽ có ảnh hưởng lớn đến những chặng sau này của cuộc đời. Nếu các bạn phung phí thời gian vào những chuyện vô bổ (ví dụ như chơi trò chơi điện tử chẳng hạn-tôi tạm ví dụ là như vậy) thì sau đó các bạn sẽ thấy luyến tiếc vô cùng. Chơi điện tử không phải là thứ gì thuộc đặc quyền của tuổi trẻ. Sau này trưởng thành và nhàn rỗi, ví dụ trong lúc chờ vợ nguôi cơn giận hay khi chờ bạn gái (bạn trai) trong lần hò hẹn đầu tiên, bạn có thể giết thời gian bằng cách chơi điện tử thoải mái.

Cuộc đời, trong mắt những người trẻ tuổi, là con đường dài tít tắp nhưng trong mắt những người đã không còn tuổi trẻ thì đấy là con đường hữu hạn, thậm chí là con đường đang bị ngắn lại từng giờ.
Nhân sinh là con đường một chiều: chỉ có một chiều đi, không có chiều trở lại. Vì thế người ta cho dù sinh ra trong gia đình nghèo khó hay quyền quý cũng chỉ có tuổi thơ, tuổi trẻ một lần duy nhất trong đời.

Điều đó có nghĩa là những việc của tuổi trẻ, chúng ta chỉ có cơ hội được làm duy nhất một lần trong đời. Tuổi trẻ cho dẫu đẹp cũng sẽ qua đi và không bao giờ quay trở lại.
Các bạn đừng bao giờ quên điều đó.

Cần chuẩn bị gì cho tương lai?

Tuổi trẻ tuyệt vời như thế, nhưng tôi dám chắc rằng, có nhiều bạn ngồi đây ở nhiều phút giây đã lãng phí hoặc lãng quên giá trị của nó.
Chẳng hạn, có lúc có bạn đã thở dài chán nản muốn buông xuôi mọi thứ. Có bạn đã muốn giơ hay tay đầu hàng không muốn theo đuổi giấc mơ của mình nữa. Thậm chí, buồn hơn, có bạn đã sử dụng thời gian thuộc về tuổi trẻ cho những thú vui nguy hiểm như dùng chất kích thích, ma túy hoặc những cuộc vui chơi thiếu lành mạnh như cờ bạc, cá độ, rượu bia…

Tuổi trẻ cho dù tuyệt vời thì đến lúc nào đó các bạn cũng sẽ phải chia tay tuổi trẻ. Vì thế các bạn trong khi phải ý thức sâu sắc về sự quý giá của tuổi trẻ, cũng cần phải chuẩn bị tốt cho chặng đường sau-chặng đường của người trưởng thành.
Như thế nào là người trưởng thành?

Sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau được đưa ra. Ngay cả các thầy cô giáo rất có thể sẽ có câu trả lời khác với bố mẹ các em. Các nhà tâm lý học cũng sẽ có câu trả lời khác với những người thợ….

Nhưng có lẽ, ai cũng sẽ đồng ý với câu trả lời này: “Người trưởng thành là người có khả năng tự lập về kinh tế nhờ vào nghề nghiệp của bản thân”.
Nghĩa là người đó phải làm một nghề gì đó để có thu nhập trang trải cuộc sống riêng mà không phải dựa vào bất cứ ai.

Điều này rất quan trọng.

Một người khi không phải dựa vào ai (giống như một cái cây có bộ rễ vững chắc) thì có thể đứng vững trước sóng gió của cuộc đời và mới không để bản thân mình lẫn vào người khác.
Nghề nghiệp quan trọng như thế cho nên, người Việt chúng ta khi gặp nhau, nếu là người trưởng thành, sau khi hỏi họ tên, quê quán thì thường hỏi “Anh/chị làm nghề gì?”.

Nghề nghiệp không đơn giản chỉ là công cụ kiếm tiền. Bởi vì có rất nhiều người do may mắn có được tài sản của cha ông để lại hay vì một lý do nào đó đã có trong tay tài sản lớn đủ để sống trọn đời. Nhưng trên thế giới này các bạn thấy vẫn có rất nhiều người giàu có vẫn tiếp tục học để có nghề nghiệp, vẫn tiếp tục lao động, thậm chí lao động hăng say hơn cả người bình thường.

Tại sao lại như vậy?

Đơn giản vì ngoài tiền bạc, nghề nghiệp còn đem lại niềm vui để sống và làm cho con người ta khỏi tha hóa, đánh mất nhân tính. Trong lịch sử, lao động đã giúp cho con người ngày một người hơn và giờ đây, lao động vẫn tiếp tục làm điều đó.

Ông cha chúng ta, bằng thực tiễn phong phú của mình đã đúc kết rằng “nhà cư vi bất thiện” (câu thành ngữ có ý nói rằng việc sống trong nhàn hạ lâu ngày, không có việc gì để làm, rảnh rỗi quá sẽ dễ làm nảy sinh ra các hành động không tốt). Đấy là một lời cảnh báo chân thành, đầy tính thực tiễn và nghiêm khắc.
Nếu lao động giúp chúng ta duy trì và phát triển tính người, thì lười lao động và trốn lao động (vì nghĩ đơn giản lao động là để làm ra tiền mà mình có tiền rồi thì cần gì lao động) sẽ làm cho con người chạy lùi lại quy trình tiến hóa. Con người sẽ bị “thú hóa” khi bị dẫn dắt hoàn toàn bởi bản năng.

Năng lượng vốn dĩ cần phải sử dụng cho lao động nghè nghiệp sẽ bị sử dụng cho những việc vô bổ hoặc những việc xấu. Mà các bạn biết đấy, xét trong lịch sử và trên bình diện rộng là xã hội cũng như nhìn vào các trường hợp cụ thể, các bạn đã tìm thấy trường hợp nào lười lao động, trốn lao động và tha hóa có thể tồn tại lâu dài hay có kết quả cuối cùng tốt đẹp không?

Chọn nghề như thế nào?

Nghề nghiệp quan trọng là như vậy nhưng lựa chọn và làm nghề một cách chuyên nghiệp không dễ?

Nhiều người khi nghỉ hưu mới tâm sự rằng “Tôi đã chọn sai nghề”.

Có những người khác thì cứ vài năm lại thay đổi nghề vì chưa tìm được nghề gì thích hợp với bản thân mình.

Có nhiều người khác thì thu được thành công nhất định ở nghề họ đang làm, nhưng họ lại cũng có suy nghĩ rằng “giá như được làm nghề mơ ước, họ có thể thu được thành công vang dội hơn nữa”.
Một số khác, kém may mắn hơn, đã không thể làm được nghề mà mình muốn dù được đào tạo và cấp bằng.
Các bạn có lẽ cũng đang trong tâm trạng băn khoăn về lựa chọn nghề nghiệp của mình. Mơ ước thì vô cùng nhưng những điều kiện để thực hiện ước mơ lại hữu hạn.
Mỗi người đều sẽ gặp phải những khó khăn riêng như hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, học lực hay khó khăn về địa lý.
Trong bối cảnh hiện tại khi thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học cũng có thể thất nghiệp và “đi chăn lợn”, sự lựa chọn của các bạn càng trở nên khó khăn hơn.
Vậy, để chọn được nghề thích hợp các bạn sẽ phải làm gì?

Rất khó có thể đưa ra câu trả lời chung cho tất cả mọi người. Nhưng bằng trải nghiệm của mình tôi thấy rằng, muốn chọn được nghề phù hợp các bạn phải hiểu được bản thân mình. Để làm được nghề và yêu nghề giỏi các tri thức giáo khoa (ví dụ toán lý hóa, văn…) không thôi là không đủ. Giỏi các môn đó có thể giúp các bạn thi đỗ dễ dàng vào các trường cao đẳng, đại học để giúp có cơ hội hay chứng chỉ hành nghề đó. Nhưng khi ra trường và đi làm, ngoài kiến thức chuyên môn, các bạn sẽ thấy để làm tốt công việc của mình người ta còn phải có lòng nhẫn nại để vượt khó, cần tinh thần cầu thị để hợp tác với đồng nghiệp, cần lòng yêu thương con người để làm nghề (có nghề nào mà không liên quan đến con người?).

Điều gì sẽ xảy ra khi bác sĩ không yêu thương con người?

Điều gì sẽ xảy ra khi người giáo viên không có lòng nhẫn nại?

Điều gì sẽ xảy ra khi các cá nhân trong xã hội không hợp tác với nhau?

Vì vậy, các bạn cần phải cố gắng hiểu rõ bản thân mình. Hãy suy nghĩ và trả lời xem mình thích gì, mơ ước gì, mạnh về mặt nào, yếu những mặt nào.
Khi chọn nghề các bạn cũng hay đặt lên bàn cân xem nghề nào nghe có vẻ “oai” và nghề nào không.

Tâm lý này dễ hiểu và khá phổ biến. Nhưng nếu như các bạn bị dẫn dắt bởi tư duy đó, các bạn sẽ lựa chọn nghề vượt quá khả năng hoặc tư chất con người mình.

Tâm lý lựa chọn nghề nghiệp nói trên sinh ra từ thiên kiến. Trên thực tế không có nghề sang và nghề hèn. Chỉ có nghề lương thiện và nghề không lương thiện. Vì thế sẽ có những người “sang” và người “hèn” trong những nghề nghiệp ấy.

Một người làm bánh mì, nếu làm ra bánh mì ngon, sạch sẽ, bán đúng giá, được khách hàng tín nhiệm thì đó là một người sang trọng.
Ngược lại một người kĩ sư nhưng lại làm dối, làm ẩu dễn đến cầu sập, nhà hỏng thì đó là người kĩ sư tồi, một kẻ “hèn” đáng lên án.
Khi lựa chọn nghề, các bạn cũng sẽ gặp phải lời khuyên hay sức ép từ phía cha mẹ. Cha mẹ có lý do để khuyên hay ép các bạn. Họ là người đi trước, có trải nghiệm đời sống, kinh nghiệm nghề nghiệp. Họ cũng là người có thừa tình yêu dành cho các bạn. Nhưng họ cũng không phải là thánh thần và cũng dễ phạm sai lầm vì họ thường yêu thương con quá mức hoặc là vì họ đã không thể trở lại tuổi trẻ hay xa tuổi trẻ quá lâu nên thường quên mất xúc cảm của tuổi trẻ và tôn trọng quyết định của tuổi trẻ.
Bố mẹ dẫu có yêu thương con thế nào đi nữa thì cũng không thể sống với con, che chở cho con suốt cả cuộc đời.

Đấy là một thực tế tàn nhẫn.
Vì thế, khi quyết định chọn nghề, các bạn vừa phải lắng nghe bố mẹ vừa phải lắng nghe trái tim mình.
Nếu các bạn đủ tự tin, đủ can đảm để chịu trách nhiệm với quyết định của mình, các bạn hãy quyết định.
Sẽ không công bằng khi các bạn muốn chọn nghề mình thích, trường mình thích nhưng lại trút hết trách nhiệm sang phía gia đình khi lựa chọn đó khiến bạn khổ sở hay thất bại sau này.

Nếu bạn quyết định, bạn phải có trách nhiệm với quyết định đó. Trách nhiệm đó thể hiện bằng sự say mê trong học tập và nỗ lực không ngừng để đạt được mục tiêu đã chọn.
Và tất nhiên, chuyện nghề nghiệp không phải là câu chuyện lựa chọn một lần xong rồi thôi. Sự lựa chọn đi học nghề hay thi đại học, thi trường nào… chỉ là một sự lựa chọn ban đầu. Các bạn sẽ còn có rất nhiều cơ hội để lựa chọn lại và điều chỉnh. Điều đó phụ thuộc vào những suy nghĩ và trải nghiệm các bạn có được khi tốt nghiệp trung học phổ thông, xa gia đình và sống cuộc sống tự lập. Cuộc sống muôn màu ấy sẽ thử thách bản lĩnh của các bạn.
Là một người đi trước và cũng là người đã từng hoang mang rất nhiều khi phải lựa chọn đường đi cho mình, tôi chúc các bạn sẽ luôn có được cảm xúc say mê, hào hứng, mơ mộng và tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ trên chặng đường đời.

Hà Nội, 30/10/2017

 

 

 

 

LỜI NGUYỆN CẦU TỪ CHERNOBYL HAY LỜI NGUYỆN CẦU CHO TẤT CẢ CHÚNG TA?

October 26, 2017 Leave a comment

 

SACH

Dù muốn dù không tất cả chúng ta, không kể nam  nữ, giàu sang hay nghèo hèn rồi cuối cùng cũng chết.
Vấn đề là chết như thế nào và cuộc sống đã có mang lại một ý nghĩa như thế nào cho chính bản thân và những người sống tiếp.
Hầu hết chúng ta đều muốn mình có con, có cháu và mong chúng sống sung sướng, hạnh phúc.
Vấn đề là chúng ta có thể làm gì để tạo ra điều đó?

Hãy đọc “Lời nguyện cầu từ Chernobyl” ( Tác giả: Svetlana Alexievich, người dịch: Nguyễn Bích Lan, NXB Phụ nữ, 2016) để suy ngẫm về những câu hỏi ấy.
Cuốn sách là tập hợp lời kể “độc thoại” của những chứng nhân-nạn nhân đã chứng kiến, đã trải nghiệm cuộc sống kinh hoàng khi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986. Đấy là lời kể của những người phụ nữ mất chồng, những người lính mất đồng đội, những người thanh niên chết trong đau đớn  hoặc phải sống tiếp cuộc đời bệnh tật.

Sự thật qua lời kể của nhân chứng quá tàn khốc. Tàn khốc đến độ, cho dù đã đọc không ít những cuốn sách viết về những nạn nhân bị bom nguyên tử ở Nhật Bản, tôi vẫn bàng hoàng, toàn thân lạnh cứng.

Xin trích vài đoạn:

“Hai ngày cuối cùng ở bệnh viện-tôi nhấc cánh tay anh lên thấy xương cốt của anh lủng lẳng hết. Những mảnh phổi, mảnh gan trôi ra miệng anh. Anh bị nghẹt thở vì nội tạng của chính mình” (tr.35).

 

 

“Chúng tôi cô đơn. Ở đây chúng tôi là những kẻ xa lạ. Họ thậm chí chôn  những người đã từng ở Chernobyl trong một khu  riêng biệt, không giống như chôn những người khác.” (tr.134)

 

“Đứa con gái nhỏ của tôi-nó khác biệt. Nó không giống những đứa trẻ khác.

Nó còn nhỏ và nó hỏi tôi: “Tại sao con không giống những người khác?”

Khi chào đời, nó không phải là một đứa trẻ, nó là một cái bao tải nhỏ bị khâu vá chằng chịt, không có chỗ mở nào, chỉ có đôi mắt. Trong số y bạ của nó ghi: “Bé gái, sinh ra với nhiều bệnh  lý phức tạp: không tạo hình hậu môn, không tạo hình âm đạo, không phát triển thận trái”. Đó là nói theo ngôn ngữ y học, nhưng nói đơn giản thì con tôi sinh ra như thế này: không có hậu  môn, không có bướm, không có thận. Tôi chứng kiến con mình phải lên bàn  mổ vào ngày thứ hai của cuộc đời nó, …

Trong vòng bốn năm, con gái tôi trải qua bốn lần phẫu thuật…. Tôi yêu con gái vô cùng” (tr.138)…

 

Có vô vàn những sự thật tàn nhẫn và tàn khốc như thế được kể lại trong sách.

Nhưng mặt khác, thần chết lại tìm đến người dân ở Chernobyl trong khuôn mặt vô hình thậm chí là khuôn mặt thiên thần. Phóng xạ là kể địch “vô hình”. Người dân và người lính ở đây không nhìn thấy kẻ địch. Vì thế những người lính gan dạ nhất đã từng chiến đấu ở Afganistan cũng hoảng sợ khi thấy đồng đội chết dưới tay thần chết và mình đang chết dần. Người dân thì sửng sốt không hiểu tại sao mình phải bỏ nhà cửa mà đi, phải đổ sữa đi, không được ăn hoa quả trong vườn trong khi quả vẫn chín, khoai tây vẫn được mùa…

 

Phóng xạ lan tràn khắp nơi. Nhiều tài xế không hiểu được tại sao chim lại đâm sầm vào cửa kính xe và cho rằng chúng muốn “tự sát”, họ đâu biết lũ chim đã bị mù mắt vì phóng xạ. Nhà đạo diễn phim đã vô cùng ngạc nhiên khi ông đứng trước vườn táo nở hoa mà không hề ngửi thấy hương thơm. Cả đoàn làm phim cũng không ai ngửi thấy. Sự thật là trong môi trường phóng xạ cơ thể con người đã “đóng lại” khứu giác.

Sự cố hạt nhân cũng nổ ra vào thời điểm Liên Xô tan rã. Vì thê cướp bóc, hãm hiếp, ly khai và trả thù bùng phát triền miên. Những người đàn ông bịt mặt vũ trang nhảy lên xe buýt dồn những người đàn ông khác sắc tộc xuống đường và xả súng bắn chết trước mặt trẻ em và phụ nữ. Những toán  lính có vũ trang lùng sục người Nga khắp nơi. Một y tá đã vĩnh viễn  không thể sống bình thường khi tận mắt chứng kiến một toán đàn ông vũ trang súng máy ném một đứa bé vừa mới sinh xuống dưới đất qua cửa sổ tòa nhà cao tầng chỉ vì y tá không chịu trả lời “Nó là giống người gì?”.

Từng đoàn lính vác súng vào khu vực cách ly bắn  hạ cả thú rừng lẫn vật nuôi và chính họ phải ăn những thức ăn được nhuộm trong phóng xạ.

Khu vực cách ly trở thành một vùng đất chết.

 

Những ai đã từng ở Chernobyl vĩnh viễn không sống được cuộc đời bình thường dù không chết. Người khác xa lánh họ, sợ hãi họ và tránh mặt họ. Những người đã sống trong khu vực cách  ly đều bị cách  ly vĩnh viễn và bị “giam cầm” ngay khi đã nằm sâu dưới lòng đất với quan tài bọc chì.

Đọc sách, tự nhiên tôi nhớ đến những dòng thơ của nhà thơ Waga Ryoichi, một thầy giáo dạy lịch sử sống ở ngay khu vực nhà máy điện hạt nhân Fukushima của nước Nhật. Khi sự cố xảy ra, ông đã dùng mạng xã hội phát đi những vần thơ tha thiết:

Nhà ga nơi khu phố anh có đổ nghiêng không? Đồng hồ có chỉ đúng thời gian hiện tại? Chúc ngủ ngon. Không đêm tối nào không gọi  đến bình minh. Kẻ du hành, người đưa tiễn, người đón đưa, người trở về. Đi nhé, mừng anh trở lại. Chúc ngủ ngon. Xin hãy trả lại nhà ga cho khu phố của tôi.
Chúng tôi từng người để lại những chú mèo hoảng sợ. Khi viết tới đây, thì bưu thiếp tới. “Sẽ không đọc nữa”. Nhân loại hoảng sợ. “Có cái gì đó thật kinh hãi”.

Khi khó khăn thì bóp trán chau mày, khi thất vọng thì căm ghét và ném bỏ. “Sẽ xé bỏ”. Vì thế hãy đọc đi. “Dù có đọc thì cũng ích chi đâu”. Xé.

Hãy trả lại phố xưa, hãy trả lại làng, hãy trả lại biển hãy trả lại gió.  Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại sóng, hãy trả lại cá, hãy trả lại tình yêu, hãy trả lại ánh mặt trời. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại chén rượu, hãy trả lại bà, hãy trả lại lòng tự hào, hãy trả lại Fukushima. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi.

 

Nếu có giấc mơ tôi sẽ không từ bỏ nó đừng từ bỏ tôi sẽ không bao giờ từ bỏ Tôi sẽ không từ bỏ bản thân mình không được phép từ bỏ đi sinh mệnh .  Tôi đã từng nhận rất nhiều những cái chết đầy thương tiếc. Cho chính chúng tôi.”

 

 

“Phóng xạ đang rơi

            Đêm khuya yên tĩnh”

………………………………..

            “Với bạn quê hương là gì?

              Với tôi quê hương là tất cả

             Tôi sẽ chẳng bao giờ từ bỏ quê hương”

 

Gấp sách lại rồi, đầu tôi hiện lên những dòng sông đen, những ngọn đồi nham nhở, những kênh rạch bốc mùi, những cánh đồng rau mù mịt thuốc trừ sâu…

“Tôi sợ con người”-một nhân chứng trong sách đã đau đớn kêu lên như thế! Đấy là tiếng kêu thảm thiết mong chúng ta thức tỉnh lương tâm tự vấn “chúng ta đang làm gì với trái đất này và với chính cuộc sống của mình?”

 

NHÀ VĂN PHÙNG QUÁN VÀ BA PHÚT SỰ THẬT

October 26, 2017 Leave a comment

 

Hai ngày nay lúc đứng lúc ngồi trên xe buýt tôi đã đọc hết cuốn sách này.

Cuốn sách tập hợp các bài viết của nhà văn Phùng Quán hoặc đã đăng báo hoặc được tìm thấy dưới dạng “di cảo”.

Cuốn sách mỏng mà đọc xong người nhẹ bẫng, rã rời như thể mình vừa vác một gánh nặng nghìn cân trèo qua một ngọn núi.

Trong những bài viết, nhà văn Phùng Quán chủ yếu kể về những người đồng đội cũ ở Trung đoàn Trần Cao Vân, về nhà thơ Tố Hữu-người bà con, cũng là người có liên quan đến khúc đoạn trường trong cuộc đời ông và đặc biệt là về những nhà văn, nhà thơ mà ông kính trọng, yêu quý: Đoàn Phú Tứ, Tuân Nguyễn, Trần Đức Thảo, Hồ Vi, Nguyễn Hữu Đang…

Tôi biết tới nhà văn Phùng Quán từ khi còn là học sinh tiểu học. Ngày ấy, ngồi bên bậu cửa sổ, tôi đã say mê đọc “Vượt Côn Đảo” và “Tuổi thơ dữ dội”. Ở đây, trong cuốn sách này, tôi cũng gặp lại Bồng da rắn, Vịnh sưa, Mừng, Quỳnh sơn ca…những chiến sĩ vệ quốc đoàn đang độ tuổi thiếu niên trong “Tuổi thơ dữ dội”.

Nhà văn Phùng Quán kể chuyện cứ nhẩn nha, chậm rãi pha chút hóm hỉnh, hài hước. Những chuyện bi thương cùng cực hay kinh khiếp rợn người cũng được ông kể lại với cùng một giọng như thế. Nhưng, với những ai cho dù còn có một chút ít ỏi lương tri làm người, khi đọc những dòng chữ của ông ở đây hẳn đều ngậm ngùi sa lệ.

Xin trích một đoạn ông viết về nhạc sĩ Văn Cao:

“Hồi còn đánh Mỹ, tôi làm việc ở Vụ văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51-Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Hồi ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội để ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xê bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc-Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi ơi ới gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai.

– Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: -Chị cho tôi gói thuốc lào.

Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán:

– Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?

Chị chủ quán ngơ ngác: – Làm gì có thuốc lào Tây ạ?

Tôi cười giải thích: – Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây.
Chị chủ quán nói: – Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.
Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi bóng, đưa cho anh:
– Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử.
Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách: “Ăn thuốc” đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào.
Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói:
– Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa!
– Mời ông cứ tự nhiên.
Văn Cao hỏi tôi: – Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo.
– Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm.
Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi.
Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền-Trần Hưng Đạo.
-Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa.
Tôi hỏi ông:- Ông có biết ông ấy là ai không?
– Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa…
Tôi nói: Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên cả nước phải đứng nghiêm, kể cả cụ Hồ.
Ông khách trợn tròn mắt: – Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao?
– Đích thị Văn Cao!
Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu: Thế thì còn ra thế nào nữa…!
Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi:
– Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không?
– Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh.
– Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa.
– Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1. Chờ mãi không được thế là người ta đem tiền, đem chè đi nhờ họa sĩ khác.
Nghe chị kể tôi cũng thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang loại 1. Chao ôi, thật đáng tiếc!
Hôm sau tôi gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh:
– Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên?
– Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng.. Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái.
Anh lắc đầu:
– Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền…”

Có lẽ vẽ chân dung nhà văn, nhà thơ bằng thơ không ai hơn Xuân Sách và vẽ bằng văn không ai hơn được nhà văn Phùng Quán.

Trong sách, nhà văn Phùng Quán cũng kể về những người đã từng làm cho mình khốn khổ và cảnh ngộ bi thương của mình cứ như không. Phải là người có nhân cách và tài năng đến cỡ nào mới có thể bình thản với những chuyện địa ngục trần gian như thế.

Ở nước mình, từ nghìn năm trước đã có vô số nhà thơ. Ngay cả bây giờ, số người xưng là nhà thơ cũng nhiều như nấm mọc sau mưa. Nhiều người trong số họ cũng viết được nhiều bài thơ hay nhưng không có nhiều người giống như Phùng Quán và các bạn của ông, đã biến chính đời mình thành bài thơ hay nhất. Một bài thơ hay mà buồn bã, bi thương đến nghẹn lòng. Thử hỏi trên thế gian này, có bài thơ hay nào mà không buồn, không làm cho người ta thổn thức?

Sách đặt xuống rồi lật bìa sau xem tôi vẫn thấy tiếc. Một cuốn sách hay như thế in ở nơi có đến gần 100 triệu dân mà chỉ in có vỏn vẹn 3000 bản. Là một người cũng có sách in, tôi ghét cay ghét đắng chuyện sách lậu, sách in nối bản không báo cho tác giả-những chuyện vốn không hiếm hoi trong làng xuất bản nước nhà, nhưng chẳng hiểu sao với riêng cuốn này tôi lại mong manh hi vọng rằng có lẽ con số 3000 kia chỉ là ước lệ, còn thực tế sách in đến tận 30 triệu bản và vẫn còn đang in tiếp.

P.s. Những bạn nào đa cảm muốn lấy nước mắt của mình để lọc lại tâm hồn giữa cuộc đời ngổn ngang sấp mặt này, xin đừng bỏ qua cuốn sách này.

Hà Nội, 24/10/2017

%d bloggers like this: