Archive

Archive for May, 2011

Hoa gạo tháng Ba

May 27, 2011 2 comments


 

                         

 Đi trong cái nắng ấm áp, dìu dịu của mùa xuân, lòng tôi lại cồn cào nhớ về một triền đê ngàn ngạt cỏ may và tràn trề nắng gió. Nhớ về nơi ấy, tự nhiên thấy mình như được trở về sống với những kỉ niệm ngọt ngào của tháng Ba. Tháng Ba! Mới nhắc đến thôi đã gợi lên bao điều, đã đủ nhắc nhỏm người ta nhớ về quê hương với những gì ngọt ngào tươi đẹp nhất.

 

Tháng Ba ở quê đẹp lắm! Đây đó là màu xanh trong hiền hòa của dòng sông Thương lượn quanh theo triền đê, là màu xanh của tre, của lúa…nhưng có lẽ đẹp nhất, rực rỡ nhất và dễ làm lòng người xao xuyến vẫn là màu đỏ của loài hoa chỉ nở vào tháng Ba: hoa gạo.

Chẳng biết vô tình hay hữu ý, loài cây ấy lại chọn bờ sông cắm rễ sinh sôi. Trước cửa nhà tôi, dọc theo hai bờ sông Thương, gạo mọc thành hàng, cứ hơn chục mét lại có một cây sừng sững vươn cành. Không rõ những cây gạo ấy có tự bao giờ, chúng tự sinh sôi hay có bàn tay con người vun trồng. Chỉ biết rằng khi lũ trẻ chăn trâu chúng tôi lớn lên, biết chăn trâu, tắm sông và đủ sức leo lên những cành thấp ngang đầu thì những cây gạo đã trầm mặc nghiêng bóng xuống dòng sông xanh. Trên mình nó đã không thể đếm được những dấu ấn của thời gian xù xì nơi lớp vỏ.

Không giống như những loài cây khác, gạo sinh ra đã mang trên mình đầy gai, những chiếc gai hình thoi bao kín thân cây xếp thật đều và càng lên cao phía ngọn gai càng nhọn. Cũng thật lạ là chỉ khi vươn cao đến một khoảng không nhất định, gạo mới trổ cành vươn ra xung quanh, tựa như những cánh tay gân guốc vươn ra bốn phía.

Cả mùa đông, thân gạo già gầy trơ khấc, trên mình không một chiếc lá màu xanh. Gạo đứng im lìm phơi sương gió tưởng như sức sống trong cây đã cạn. Thế rồi khi mùa xuân về kéo theo mưa bụi  lay phay nhè nhẹ và cái nắng vàng ong, gạo như bừng tỉnh dậy dồn sức sống lên đầu cành với cơ man chồi xanh và nụ. Hình như cả quãng thời gian khắc nghiệt mùa đông, gạo âm thầm vươn rễ, chắt chiu dòng nhựa sống để đến mùa xuân dành trọn cho hoa và lộc biếc. Nụ hoa gạo tròn xinh, chum chúm, xếp sin sít liền nhau nhiều hơn cả lá. Nụ tiếp dòng nhựa sống lớn dần lớn dần rồi đến tháng Ba, hoa bung nở đỏ rực một khoảng trời. Từ xa nhìn lại, những cây gạo ấy tựa như những bó đuốc cháy đỏ khổng lồ. Chim chóc kéo về từng đàn, từng đàn đuổi nhau trong tán cây cất tiếng hát líu lo ngợi  ca mùa xuân. Hoa gạo cũng kéo về loài ong mật chăm chỉ bởi núp trong những cánh hoa đỏ rực kia là bầu mật ngọt tinh khiết được chắt lọc cả năm trời để dành riêng cho loài ong vào mùa xuân. Vào khi ấy, dòng sông như trở nên thơ mộng hơn. Những cành gạo tán đỏ rực hoa buông xuống mặt sông xanh, lung linh huyền ảo trong ánh nắng vàng.

Với bọn trẻ chúng tôi thì màu đỏ ấy có sức hấp dẫn lạ kỳ. Vào mùa hoa gạo nở, không ai bảo ai, dù là  lúc chăn trâu hay sau giờ tan học, chúng tôi đều tụ tập dưới gốc cây gạo to nhất gần bến đò. Chúng tôi say sưa ngắm nhìn, trầm trồ bình luận trước sắc màu rực rỡ của hoa. Có biết bao trò chơi diễn ra dưới tán hoa màu lửa ấy: chọi gà, đánh khăng, nhảy dây…

Sống nơi đô thị ồn ào, tôi càng nhớ da diết về những ngày thơ, về quê hương thanh bình, về một loài hoa nồng nàn như lửa-Để rồi lại khát khao được nhìn thấy màu đỏ ấy nơi quê mình, khát khao được nằm lim dim mắt trên thảm cỏ xanh dưới tán hoa màu đỏ để thả hồn phiêu du theo thế giới cổ tích. Lần nào về thăm quê, tôi cũng ra bờ sông nơi có hàng cây gạo chạy dài tăm tắp. Đứng dưới tán cây, ấp đôi bàn tay lên lớp vỏ xù xì xám mốc, ngước nhìn những cánh tay gân guốc đang vươn lên cao đón nắng, lòng tôi lại cồn cào nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ để rồi thảng thốt giật mình khi biết rằng quãng thời gian tươi đẹp nhất, êm đềm, ngọt ngào nhất đã qua đi  dù đã dằn lòng níu kéo.

                                                                                                                                                                                      Nguyễn Quốc Vương

Advertisements

Liên Chung: Trồng hành, tỏi cho thu nhập cao

May 23, 2011 Leave a comment
Hành ơi! Tỏi ơi! làng Sấu ơi cay lắm!
 

Trồng hành tại thôn Sấu.

Với người dân xã Liên Chung (Tân Yên), hành, tỏi được coi là cây trồng thế mạnh, nâng cao thu nhập.

Trải dài theo những cánh đồng từ thôn Hậu, đến Sấu Bến của xã đều xanh ngắt màu hành, tỏi. Tuy vậy, theo Chủ tịch UBND xã Lương Đức Tráng: “Năm nay thời tiết không thuận nên cả xã chỉ trồng được hơn 40 ha, giảm so với những năm trước”. Thôn Sấu là nơi có diện tích trồng hành, tỏi lớn nhất của xã. Ông Nguyễn Văn Tuy – Chi hội phó nông dân cho biết: Toàn thôn có 160 hộ và gia đình nào cũng trồng hành, ít thì 5 – 7 thước, nhiều vài ba sào với tổng diện tích hành hơn 10 ha. Thời điểm này, nhiều ruộng hành đang xuống củ, chắc không dưới 4 tạ/1 sào. Hành ở Liên Chung thường có màu tía hoặc trắng, củ to và thơm đậm rất dễ phân biệt với những giống hành trồng ở nơi khác. Đây cũng là cây trồng gắn bó với người dân Liên Chung từ nhiều đời. Trồng hành cần nhiều phân ủ mục, sau khi trồng rải lên mặt luống một lớp rơm rạ. Hành ít sâu bệnh, công chăm sóc không đáng kể. Trước đây, bà con nông dân Liên Chung thường trồng hành vụ mùa, bắt đầu từ tháng 9 và thu hoạch trong dịp cuối năm, nay thêm vụ hành chiêm trồng đầu tháng 3, thu tháng 5. Cây hành không kén đất, có thể trồng trên những chân vàn cao khó về nước tưới phù  hợp với đồng đất nơi đây. Tổng chi phí cho 1 sào hành khoảng 1 triệu đồng. Giá bán dao động từ 15- 20.000 đồng/kg. Bình quân 1 sào hành cho thu hơn 7 triệu đồng, cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Hiện trong xã cả 10 thôn đều trồng hành tỏi, nhiều hộ dân kinh tế khá lên nhờ loại cây trồng này. Để trồng hành hiệu quả cao đòi hỏi người trồng phải nắm chắc kỹ thuật trong trồng, chăm sóc và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.

Châu Giang-Báo Bắc Giang

Categories: Uncategorized

Thăm đất Chung Sơn

May 12, 2011 2 comments
Núi Dành còn gọi là núi Chung Sơn. Đó là quả núi lớn có độ cao hơn 100 mét so với mực nước biển thuộc địa phận của hai xã Việt Lập và Liên Chung, huyện Tân Yên. Nơi đây không những nổi tiếng là nơi sản sinh ra loài thảo mộc quý Sâm Nam mà còn là nơi nổi tiếng với hội núi Dành, ai ai cũng biết đến.

Trước cách mạng tháng 8, vùng núi Dành thuộc miền Yên Thế thượng. Nay thuộc miền Yên Thế hạ (Tân Yên ngày nay). Sách Đại Nam nhất thống chí có chép rằng: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra Sâm Nam và cỏ thi…”. Chung có nghĩa là quả chuông, chuông. Sơn tức là núi. Chung Sơn có nghĩa là núi như một quả chuông lớn của đất trời đặt ở phía Nam huyện, cận kề bên hai dòng sông lớn là sông Thương và sông Nhâm Ngao. Thế núi uốn lượn, uyển chuyển, quanh năm soi bóng xuống dòng sông Thương xanh mát. Trên núi trồng nhiều thông, cảnh sắc u tịch, mát mẻ, gió thổi vi vu thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội mùa xuân. Xung quanh ngọn núi này còn có núi Quảng Phúc, núi Nghĩa Trung hộ vệ nên núi chung sơn trở thành quả núi quý của vùng, chung đúc khí lành mà sản sinh ra hai loài thảo mộc quý là sâm núi Dành và hành Liên Bộ. Vì thế có câu:

“ Sâm Nam nổi tiếng núi Dành
Chợ đầy nhan nhản những hành Chung Sơn
Sông Thương uốn khúc lượn quanh
Cá nhiều tôm sẵn Lãn Tranh giỏi chài”

Truyền thuyết Sâm núi Dành còn được người dân trong vùng kể lại: Xưa có chàng mồ côi cha nghèo khó, mẹ ốm nặng không có tiền mua thuốc. Một hôm nằm mơ thấy tiên ông chỉ đường lên một ngọn núi rất cao để đào cây thuốc về sắc cho mẹ uống. Bà mẹ uống thuốc đó liền khỏi bệnh. Từ đó, anh rất chăm chỉ trồng và tìm kiếm cây thuốc này cứu chữa cho nhiều người trong vùng.

Truyện Sâm Nam còn có người kể rằng: Xưa mẹ vua bỗng dưng loà mắt, các thầy thuốc chạy chữa bao năm không khỏi, có người dâng Sâm Nam núi Dành làm thuốc chữa cho mắt mẹ vua bỗng sáng lại như thường. Vì thế dân gian có câu:

“Sâm Nam nổi tiếng núi Dành
Chữa loà cho mắt lại lành như xưa”.

Nơi đây từ xa xưa, nhân dân đã thu hái loài thảo mộc quý này đem tiến vua nên ở đây ngày trước có phường Cống. Tên phường Cống còn được khắc ghi trên cây hương đá của chùa Không Bụt, có niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 9 (1713). Chùa Không Bụt hay còn gọi là chùa Cống Phường là một ngôi chùa có thật ở địa phận núi Chung Sơn. Chùa nằm ở địa phận thôn Hậu. Trong chùa hiện nay có quy mô lớn, vững trãi, song không có một pho tượng nào. Trên các bệ chỉ đặt nồi hương. Ngày rằm, mồng một người dân nơi đây vẫn vào thắp hương. Ai muốn cúng tiến tượng cũng không được dân chấp nhận. Bởi lẽ đó là tục này do khi xưa dân đưa bụt về thờ ở chùa thì dân làng lục đục, mất đoàn kết nên phải đem tượng đi nơi khác thì dân làng mới làm ăn được. Từ đó, chùa mang tên chùa Không Bụt. Hiện tượng chùa không bụt là một hiện tượng hiếm thấy ở Bắc Giang, cũng là hiện tượng hiếm thấy không đâu có.

Trong vùng đất Chung Sơn còn nổi lên với các di tích cổ như đình Vường. Đình Vường nối tiếng là ngôi đình to đẹp nhất vùng. Đó là ngôi đình thứ 2 sau đình Thổ Hà của tỉnh Bắc Giang. Đình Vường còn giữ được nguyên dáng vẻ ban đầu đủ cả sàn, ván, cửa, võng… Các đường nét chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo thể hiện tài léo của người nghệ nhân dân gian. Đây là nơi thờ đức thánh Cao Sơn- vị thánh vốn là tướng lĩnh của Vua Hùng Vương thứ 18 đã có công dẹp giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống bình yên cho quê hương, đất nước. Đình Vường trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp còn là hội trường của UBKC khu 12. Từ năm 1965 đến năm 1973, đình là kho lưu trữ quốc gia. Hàng năm, cứ vào ngày 18 tháng 2 âm lịch, nhân dân tổ chức lễ hội rước kiệu lên đỉnh núi Dành làm lễ. Chính vì những giá trị trên, đình Vường đã được xếp hạng là di tích quốc gia năm 1991.

Ở trên đỉnh núi dành có một ngôi đền gọi là đền Dành. Hàng năm, cứ vào ngày 19, 20, 21 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Dành lại được tổ chức long trọng trong không khí đón chào một mùa xuân mới. Đây là ngày hội của hai làng Hậu và Đồng Sen thuộc hai xã Liên Chung và Việt Lập. Làng Hậu tổ chức hội lệ ở phía Tây núi, làng Đồng Sen tổ chức ở phía Đông núi. Mỗi làng có một ngôi đền ở núi Dành. Làng Hậu có ngôi đền Thượng (đền Dành), làng Đồng Sen có đền Hạ ở lưng chừng núi. Cả hai đền đều thờ đức thánh Cao Sơn- Quý Minh. Khi làng Hậu mở hội núi Dành cũng là mở hội đình Vường. Trong phần làm lễ ở đình Vường có tổ chức rước lên núi Dành tế thần ở đền Thượng. Do có cuộc rước tế thần này nên hội ở núi Dành càng thêm khí thế, cảnh núi mùa xuân đã đẹp lại càng thêm đẹp hơn. Bên kia làng Đồng Sen cũng tổ chức tế lễ ở đền Hạ, tuy không rước sách nhưng khách đến lễ hội rất đông.

Dưới làng trên núi tấp nập, từng tốp, từng tốp đến vui hội, xem trò. Các trò chơi dân gian ở hội núi Dành như đấu vật, chọi gà, hát ví, hát ống…Ngày nay có thêm các trò vui như bóng đá, bóng chuyền…

Ngày xuân đi hội núi Dành ai cũng hồ hởi, phấn khởi bởi mỗi người đến hội không chỉ để lễ đền cầu may, cầu phúc, cầu cho dân an vật thịnh … mà còn được leo núi, du xuân ngắm nhìn phong cảnh quê hương Bắc Giang hiện lên như gấm, như hoa. Vì thế núi Dành có thơ rằng:

Núi Dành mây bao che
Chùa cổ trong tùng bách
Sông Thương nước vòng quanh
Xóm làng khói thấp thoáng
Chống gậy lên đỉnh núi
Xem ngắm cảnh gấm hoa
Gió đưa tình ngoạn mục
Chiêng trống giục trẻ già
Buổi sớm mặt trời lên
Đồng quê xanh sắc lúa
Bên núi đề thơ xuân
Gửi khách về hội Dành./.

Chính vì thế, đền Dành đã được UBND tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử – Văn hoá năm 2006.

Trong vùng đất Chung Sơn còn có các di tích khác cũng to đẹp, bề thế không kém như chùa Phán Thú. Chùa Phán Thú hay còn gọi là Long Sơn tự là một ngôi chùa cổ thuộc xã Việt Lập, huyện Tân Yên, nơi sinh ra vị quan triều Lê có tên là Giáp Văn Phán, ông là người có công trong việc xây dựng chùa Phán Thú. Hiện nay, chùa Phán Thú toạ lạc trên đồi con Phượng. Đây là một ngọn núi có hình một con chim Phượng đang ngoạm phong thư mà chùa Thú chính là diều của con Phượng. Thế đất đẹp ấy được ghi lại trên cây hương đá có niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11(1715) dựng trước chùa: “Nơi đây có địa thế thật kỳ quan, vốn là nơi danh lam cổ tích. Trước chùa có chim Phượng lượn bay, có dòng nước chảy quanh năm. Thế đất đẹp như viên ngọc quý. Đằng sau có chim Yến xoè đuôi, núi Thanh Long đứng sừng sững tựa như rồng xanh uốn khúc chầu về. Phía Bắc có con rùa với dáng vẻ hào hùng quay đầu về bảo vệ. Bởi vậy mới dựng cột đá thiên đài để ngày đêm thắp hương cầu niệm…”. Theo nội dung bức kệ gỗ có niên đại Cảnh Hưng thứ 44 (1784) cũng ghi rằng: “Chùa Phán Thú từ phía trước đến phía sau chùa có hình con chim Phượng sải cánh lượn bay, những cây tùng xanh toả rộng đẹp như hoa. Tiếng chuông chùa vang khắp mọi miền, phong cảnh đẹp nhất vùng rất linh thiêng. Ai đến ngắm phong cảnh cũng thấy thêm phúc, thêm thọ”. Thực là các cụ xưa rất khéo chọn thế đất để xây dựng chùa thêm lợi cho việc mở hội và tham quan vãn cảnh. Hội chùa Thú có nhiều trò chơi dân gian độc đáo, đặc biệt là hội thi đua ngựa và thả diều vào mùa xuân. Chùa Phán Thú năm 2004 đã được UBND tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử – Văn hoá. Ngoài ra, nơi đây còn có các di tích khác như đình, chùa Lãn Tranh, lăng quan Thái Bảo…cũng là những di tích tiêu biểu của vùng đất Chung Sơn đã được Nhà nước quan tâm, bảo vệ.

Nơi đây thực là chỗ sơn thuỷ hữu tình, núi cao cảnh đẹp linh khí hội tụ. Đến thăm vùng đất Chung Sơn hôm nay, ta thấy nơi đây đang như một chồi non nảy lộc trong tiết xuân ấm áp. Ai đã một lần tới nơi đây, được leo núi ngắm cảnh chắc thầm nhủ mình sẽ nhớ mãi không quên nơi này. Một vùng đất đẹp và lung linh luôn soi mình bên dòng sông Thương thơ mộng.

(Theo Tạp chí Sông Thương số 3-2009)

Categories: Liên Chung

Hơn 2,2 tỷ đồng xây dựng Trường tiểu học xã Liên Chung

May 12, 2011 Leave a comment
Thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học, UBND xã Liên Chung, huyện Tân Yên vừa khởi công xây dựng trường tiểu học.

Công ty Xây dựng Gia Linh (Bắc Ninh) thi công. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng hơn 2,2 tỷ đồng. Trong đó, nguồn kinh phí hỗ trợ của trên theo chương trình kiên cố hoá trường lớp học là 1,3 tỷ đồng còn lại trích từ ngân sách địa phương. Cùng với trường tiểu học, Liên Chung còn được đầu tư gần 1 tỷ đồng xây dựng 4 phòng học kiên cố, 2 phòng giáo viên cho trường THCS. Liên Chung phấn đấu đến năm 2015, trường mầm non, tiểu học và THCS đều được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Châu Giang-Báo Bắc Giang

Categories: Liên Chung

Quê nghèo hiếu học

May 11, 2011 Leave a comment
Xã Liên Chung (huyện Tân Yên) nằm ven dòng sông Thương, trải dài chừng 4 km. Nói tới Liên Chung hầu hết mọi người đều mường tượng đây là vùng quê nghèo, nghèo đến độ có tích. Kể cũng phải, trong 24 xã, thị trấn của Tân Yên, Liên Chung thuộc vùng trũng. Đất canh tác đa phần chân chiêm, cấy sớm gặt vội nên chẳng mấy khi thấy người dân ở đây thong thả. Khó khăn là vậy, nhưng nói tới sự học người dân Liên Chung rất tự hào.

Dấu xưa

Dưới các triều đại phong kiến, huyện Yên Thế (gồm cả Tân Yên và Yên Thế ngày nay) chỉ có 4 người đỗ đại khoa, đó là Nguyễn Đình Tấn làng Giã (Cao Thượng) đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất  niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) đời Mạc Đăng Doanh. Dương Thân Huy quê Lan Giới đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) đời vua Mạc Phúc Nguyên. Phùng Trạm người Dương Sơn nay là xã Liên Sơn (Tân Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Tuất  niên hiệu Sùng Khanh thứ 9 (1574) triều vua Mạc Hậu Hợp và tại thôn Liên Bộ, xã Liên Chung có Nguyễn Vĩnh Trinh 35 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vĩnh Định (1547) đời vua Mạc Phúc Nguyên. Trong 4 vị tiến sĩ này thì danh tính, sự trạng và dấu tích của tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Trinh còn để lại với quê hương nhiều hơn cả. Thăm ngôi đình Liên Bộ, ông Ngô Văn Cường, 85 tuổi cho biết: Đình làng xưa có 3 gian và 1 hậu cung, toà đại đình to lắm, kế đó là chợ Mứa có những cây cột đá cỡ một người ôm. Thời gian, chiến tranh làm mai một, duy ngôi đình thì đận khó khăn đã bán về Việt Yên tính ra cũng đã hơn một trăm năm. Lần giở những tài liệu về Nguyễn Vĩnh Trinh, ông Cường cho biết cụ Nguyễn Vĩnh Trinh vốn là người làng, cha mẹ làm nông. Sinh thời rất ham học và đã đỗ đại khoa. Làm quan thanh liêm, có nhiều công tích, từng phụng mệnh đi sứ Trung Quốc. Sau này trí sĩ về quê giúp dân làng xây dựng đình chùa, ruộng vườn, mở mang sự học hành. Đình Liên Bộ thờ thành hoàng Cao Sơn, Quý Minh, Lâm Giang đô thống và từ công trạng của Nguyễn Vĩnh Trinh với dân làng nên được thờ phối hưởng.

Chuyện nay

Tự hào với truyền thống quê hương, và dẫu còn nghèo nhưng người dân Liên Chung đều có chí trong việc học hành. Chị Trịnh Thị Oanh – Trưởng thôn Liên Bộ cho biết: “Trẻ con ở đây buổi đi học, buổi phụ giúp cha mẹ trong việc đồng áng, chăn dắt trâu bò nhưng rất nhiều cháu học giỏi. Trong làng ngoài xã nhiều hộ dẫu còn rất khó khăn nhưng không hề tiếc công sức đầu tư cho con em học tập. Thôn Liên Bộ có hơn 70 cháu đã và đang theo học các trường đại học và cao đẳng. Ngay năm vừa rồi có thêm gần chục cháu đỗ vào các trường đại học. Nói về sự học của Liên Chung, đồng chí Bí thư Đảng uỷ- Chủ tịch Hội đồng khuyến học Nguyễn Văn Bí tâm sự: “Điều kiện kinh tế của Liên Chung còn nhiều khó khăn, đời sống của người dân chưa cao, nhưng nói tới chuyện học hành và khuyến học, cán bộ và người dân đều rất ủng hộ”. Địa phương cũng rất cố gắng quan tâm đầu tư trường lớp. Trường THCS đã được xây dựng, trường mầm non vừa được đầu tư  gần 2 tỷ xây mới, thời gian tới sẽ nâng cấp cơ sở vật chất trường tiểu học. Trong xã đã có 15/20 dòng họ xây dựng quỹ khuyến học khuyến tài trao thưởng hàng năm. Riêng về số lượng đỗ đại học cao đẳng, mỗi năm không dưới 30 cháu, đơn cử như năm 2007 là 31, năm 2008 là 75 cháu, năm 2009 có 40 cháu. Theo thống kê chưa đầy đủ, tại thời điểm này Liên Chung đã có 1 phó giáo sư tiến sĩ, 2 thạc sĩ và rất nhiều người đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trong số này có nhiều người về phục vụ quê hương.

Châu Giang-Báo Bắc Giang

P.s: Nếu thừa nhận là hiếu học và có nhiều người học giỏi thì việc tiếp theo là suy ngẫm xem “tại sao hiếu học, học giỏi mà Liên Chung vẫn nghèo, vẫn chậm tiến so với các địa phương khác?”

Nem chua Liên Chung

May 9, 2011 Leave a comment
Nói đến văn hoá ẩm thực truyền thống có tiếng ở vùng quê xứ Bắc đã được lưu truyền từ bao đời nay như cốm làng Vòng (Hà Nội), bánh xu xê Đình Bảng (Bắc Ninh), bánh gai Hải Dương, bánh đa Kế Bắc Giang… Các món ăn đặc sản ở mỗi vùng quê không chỉ phản ánh sự thăng hoa của quá trình lao động sáng tạo của người dân mà còn là nét đẹp văn hoá ẩm thực trong đời sống sinh hoạt cộng đồng.

Nem chua ở xã Liên Chung (Tân Yên) là món ăn đặc sản ở vùng quê này. Trong mâm cỗ ngày tết, tiệc tùng, đám cưới, mâm cơm thết đãi bạn bè, người thân, ngoài các món ăn như: Thịt gà, giò chả không thể thiếu món ăn đặc sản là nem chua. Theo các bậc cao niên cho biết nem chua ở xã Liên Chung có gần 100 năm nay, bắt nguồn từ phong tục ngày tết Nguyên đán  ở thôn Liên Bộ sau dần phát triển ra toàn xã. Nem chua Liên Chung được làm bằng các nguyên liệu rất gần gũi trong đời sống thường nhật của người dân. Nguyên liệu chính là thịt lợn, lá ổi, lá đinh lăng, thính gạo và muối ăn. Công thức chế biến nem chua đòi hỏi công phu kén cả người làm từ khâu chọn thực phẩm, pha chế, kỹ thuật gói, ủ bảo quản và sử dụng. Chọn thực phẩm  phải tươi ngon: hai phần thịt nạc, một phần thịt mỡ vai và bì, thịt luộc chín tới, pha thành khổ, rồi thái nhỏ thành sợi dài từ 2-3cm, sợi thịt càng nhỏ càng tốt, gạo tẻ để làm thính chọn loại gạo ngon, đều hạt, đem rang vàng thơm phức rồi xay nhỏ thành bột, muối ăn cũng được rang vàng khô rồi tán nhỏ thành bột, đem trộn đều thịt, thính, muối. Thời gian từ 10-15 phút trước khi gói nem thành quả, mỗi quả trọng lượng từ 1,2 đến 2 lạng là vừa đủ, lá ổi và lá đinh lăng ép vào bốn mặt ngoài của quả nem. Lá để gói quả nem nhất thiết phải là lá chuối tươi. sau khi gói xong, nem được  buộc thành từng túm mỗi túm từ 10-15 quả, treo ở chỗ cao ráo thoáng mát. Thời gian ủ chua mùa hè là 2 giỗ,   mùa đông là 3 giỗ, mỗi giỗ là 24 tiếng đồng hồ như vậy nem  mới đạt chất lượng cao. Nem chua phải ăn nóng mới ngon, cho nên trước khi ăn, nem phải được nướng trên bếp than hồng đủ lửa bằng than hoa, khi nào thấy quả nem chín vàng xém mùi thơm nức là được.

Thưởng thức món nem chua Liên Chung thật sự hấp dẫn bởi hương vị ngon ngọt từ thịt nạc, độ giòn của bì, độ béo của thịt mỡ, vị chan chát bùi, thơm của lá ổi, lá đinh lăng, mùi thơm dễ chịu của thính gạo rang, độ đậm đà của muối. Nem chua dễ ăn, vừa bổ dưỡng, rất tốt cho tiêu hoá và mọi lứa tuổi có thể dùng được. Hiện nay món nem chua Liên Chung đã được người dân nhiều địa phương trong và ngoài huyện biết đến và sử dụng.

Hồng Bàng
(Hợp Đức – Tân Yên)

Categories: Liên Chung

Đấu trí với “cát tặc”

May 8, 2011 Leave a comment
 

Thuyền hút cát được neo đậu ngay bến đò Mom – khu vực cấm khai thác cát sỏi.
Mấy tháng gần đây, trên đoạn sông Thương qua địa phận xã Liên Chung (Tân Yên) luôn bị bọn “cát tặc” hoành hành. Những kẻ khai thác cát trái phép trên sông gọi là “cát tặc”. Bọn chúng ngày càng lì lợm với nhiều thủ đoạn. Để bắt được chúng không đơn giản, nhất là muốn triệt tận gốc thì càng khó nếu chỉ có công an xã, xóm ra tay.

Đúng 21 giờ ngày 18-3, Trưởng Công an xã Liên Chung Nguyễn Văn Chinh phát lệnh: “Tất cả xuất kích!” Tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát của anh khiến cả đội hình 12 chiến sĩ công an xã hào hứng lên đường. Đêm nay, các anh quyết định không đi xe máy mà đi bộ để tránh sự phát hiện của bọn “cát tặc”.  Đoàn người bước nhẹ trên con đê lổn nhổn đá. Về khuya trời càng se lạnh. Những đợt gió bắc còn rơi rớt lại của mùa đông tràn về mỗi lúc mạnh hơn, làm cho rặng tre dọc triền sông nghiêng ngả. Đoạn đê từ nơi các anh xuất phát đến khu vực bến đò Mom- nơi có một chiếc tàu đang hút cát trộm dài chừng 3 cây số. “May không có tên cảnh giới ở trên bờ. Có lẽ chúng chủ quan”, một anh trong đoàn nói khẽ.

Theo sự chỉ đạo của Trưởng Công an xã, mọi người dùng 3 thuyền con chở 6 người bơi đột kích lên tàu đang neo đậu giữa sông. Tiếng máy nổ phành phạch làm huyên náo cả vùng quê. Tiếp cận được tàu, các anh yêu cầu chủ tàu ngừng khai thác và đưa tàu về khu vực gần trụ sở UBND xã để xử lý. Tuy nhiên, một vài người trên tàu vẫn ngoan cố không chấp hành. Phải mất hơn một tiếng đồng hồ sau, chủ tàu mới chịu đưa về nơi quy định. Khi sự việc xong thì trời cũng tang tảng sáng.

Xã Liên Chung có 7 cây số đê sông Thương chạy qua. Do đặc điểm đoạn sông chạy quanh co nên lượng cát ở đây khá lớn. Có lẽ vì thế, khúc sông này luôn bị bọn “cát tặc” đến quần đảo. Lực lượng công an xã cũng nhiều phen mất ăn, mất ngủ với chúng. Từ năm 2000 đến nay, Công an xã Liên Chung đã bắt và xử lý gần 20 tàu hút cát trái phép trên sông. Những đối tượng này ngày càng lì lợm và xảo quyệt. Chúng lợi dụng đêm tối hoặc ban trưa để khai thác. Khi bị phát hiện, chúng thường có thái độ ngoan cố và chống đối, đe dọa lực lượng làm nhiệm vụ. Mỗi lần vây bắt “cát tặc” là một lần nguy hiểm và gian khó. Đã có lần, chính anh Chinh cùng một đồng đội khác bị “cát tặc” tấn công rồi du ngã xuống sông may có người dân hai bên bờ cứu vớt kịp thời. Theo anh Chinh, khó nhất là khi anh em tiếp cận tàu. Thuyền của mình bé, mạn tàu lại cao nên rất khó trèo được lên tàu. Trong khi ấy, bọn chúng ở trên sẵn sàng dùng gậy, xẻng đánh vào tay hoặc dùng chân đạp mạnh vào đầu anh em. “Năm trước, khi tham gia bắt tàu hút cát cũng gần khu vực này, tôi suýt bị tên “cát tặc” bổ xẻng vào mặt. Rất may có đồng đội hỗ trợ nên chúng không làm được gì” – anh Thùy, một công an viên còn rất trẻ kể lại. Bởi vậy, trước khi vây bắt “cát tặc”, các anh đều họp bàn lập kế hoạch tỉ mỉ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người. Tuy nhiên, việc vây bắt chúng không phải lúc nào cũng thành công. Nhiều khi, chúng phát hiện được các anh  sớm là chặt đứt dây neo cho tàu giạt sang bờ bên kia hoặc cho tàu chạy ra ngoài khu vực cấm…

Mấy ngày sau, tôi trở lại đoạn sông chạy qua xã Liên Chung. Những biển “Khu vực cấm khai thác cát sỏi” được cắm dọc triền đê. Mặt sông phẳng lặng, yên bình. Thế nhưng, lòng người hai bên bờ sông, nhất là ở thôn Liên Bộ (xã Liên Chung) và Đức Thọ (xã Dương Đức, Lạng Giang) vẫn chưa yên. “Chúng tôi không thể chịu nổi tiếng nổ phành phạch phát ra từ tàu hút cát. Vợ chồng tôi đã phải đưa con nhỏ đi gửi ở nhà người thân. Nguy hiểm hơn, cứ đà này mùa mưa tới, nhà của tôi sẽ bị sập xuống sông do bọn “cát tặc” gây ra”, một chị có nhà nằm cạnh bờ sông thảng thốt nói. Sự bức xúc của người dân đã lên đến đỉnh điểm. Mỗi khi tàu hút cát đến hoạt động, dân làng lại đổ xô ra bờ sông nhặt gạch, đá ném xua đuổi tàu. Ông Nguyễn Đức Hiệp, Trưởng thôn Đức Thọ cho biết: “Không những không đuổi được, chúng tôi còn bị họ chửi lại. Đã một vài lần tôi điện lên cấp trên trình báo về việc này, nhưng chẳng ăn thua gì, tàu vẫn vô tư hút cát trộm”.

Chiều cuối ngày. Ba chiếc tàu hút cát nằm im mặc cho khách qua đò tất bật ngược xuôi. “Chúng ngủ ngày, cày đêm đấy”, một bác chăn bò gần đó hóm hỉnh nói. “Mấy ngày qua, người dân ở khu vực này đã có đơn gửi Sở Tài nguyên và Môi trường phản ánh về tình trạng khai thác cát trái phép trên sông. Sở Tài nguyên và Môi trường chuyển đơn về huyện, xã để giải quyết”, anh Chinh cho biết thêm rồi cười. Tôi hỏi: “Anh cười là có ý gì?”. Anh Chinh đáp: “Muốn triệt tận gốc chỉ có cách tịch thu phương tiện của chúng. Việc này lại vượt quá thẩm quyền của chúng tôi”. Qua đây, tôi hiểu thêm rằng, vì sao con tàu hút cát vừa bị các anh bắt mấy hôm trước, nay lại đang neo đậu ở bến sông kia. Sau khi chủ tàu nộp phạt 2 triệu đồng rồi viết bản cam kết không vi phạm, tàu lại được thả về  (!?)

Việc hút cát trái phép trên sông là vấn đề nhức nhối bao năm nay ở nhiều địa phương. Tình trạng này không chỉ gây sạt lở nhiều diện tích đất canh tác của dân mà còn đe dọa sự an toàn trên nhiều tuyến đê. Để giải quyết được vấn nạn này không thể giao phó cho lực lượng công an xã, xóm mà phải có sự ra tay cương quyết của lực lượng chức năng cấp tỉnh, huyện và sự phối hợp trách nhiệm của chính quyền địa phương hai bên bờ sông.

Đỗ Thành Nam-Báo Bắc Giang

Categories: Liên Chung
%d bloggers like this: