Archive

Archive for June, 2011

Thiền

June 30, 2011 Leave a comment

Nicolas Hogg sinh năm 1974 tại Leicester. Sau khi tốt nghiệp ngành tâm lý  trường đại học Đông Luân Đôn ( University of East London), ông đi du lịch khắp nơi. Ông đã từng  sống ở Nhật, Fiji và Mĩ. Hiện nay,  Nicolas Hogg sống ở Anh và sinh nhai bằng  nghề dạy đọc, viết cho những người tị nạn.

Ông đã  giành được  giải thưởng New writting ventures năm 2005 cho thể loại tác phẩm hư cấu và hai lần lọt vào danh sách đề cử giải Eric Gregory dành cho những nhà thơ trẻ. Gần đây, ông đã hoàn thành tiểu thuyết đầu tay có tên gọi Show me the sky ( tạm dịch: Hãy chỉ cho tôi thấy bầu trời).


 

Karl đang kể  cho cô con gái nghe  chuyện tất cả các cảnh sát Nhật đều đeo găng tay trắng như thế nào khi họ túm lấy anh  trong ánh đèn nê-ông hào nhoáng trên một con đường ở Tokyo. Khi ấy anh chỉ kịp  nhìn thấy những bàn tay loang loáng lướt qua mà không nhìn thấy thân hình họ.

“ Bố  đã bị bắt giữ bởi những nhà nghệ sĩ diễn kịch câm. Họ tống bố vào xà lim nơi chỉ có một cửa sổ và bốn tấm chiếu sậy. Không có bất cứ thứ gì khác. Sáng, trưa rồi tối, bố ăn mãi một thứ cơm giống nhau với món súp có vài sợi tảo biển loáng thoáng trên  bề mặt. Mỗi ngày một lần, viên cai ngục  mở khóa dẫn bố ra ngoài đi dạo với những bạn tù khác”.

Anh quay về phía cô con gái và cài chặt lại  ghế ngồi của cô bé. Anh yêu chiều cô con gái  đến độ người ta có thể tưởng tưởng rằng anh sẽ bắt cóc cô bé nếu như anh không  được chăm sóc cô bé nữa hoặc khi mẹ cô bé làm một điều gì đó.    “ Xoay tròn đi nào! Xoay tròn một vòng đi con!” Anh nói và mỉm cười “ Giống như trò kéo quân đó con yêu!”.

Những từ còn lại anh nói bằng tiếng Nhật và điều này không hiểu sao làm anh sửng sốt cho dù anh đã từng ở Nhật. Anh nói cho cô con gái biết rằng anh  đã từng biết nói xin chào, cám ơn, xin làm ơn nhưng giờ đây anh đã quên. “ Dù thế nào”, anh liếc nhanh cô con gái trong gương chiếu hậu.

“ Giờ đây chúng ta cũng đang ở Mĩ”.

Anh muốn nói cho cô bé biết thêm về   gã Yakuza[1] với những hình xăm trên người và Samurai[2].  Điều anh muốn nói là thế chứ không là  phải sự trớ trêu khi anh  bị đuổi ra khỏi lực lượng thủy quân lục chiến vì  những hành vi bạo lực hay  những điều sẽ xảy ra với mẹ cô bé khi cô ta bỏ chạy  mang theo cô con gái duy nhất.

“  Gã Yakuza đó xăm từ cổ đến ngón chân”, anh làm điệu bộ diễn tả. “ Một tác phẩm nghệ thuật biết đi”. Anh cho xe chạy chậm lại và giữ vô lăng cho xe  vòng qua một đống băng bằng một tay để diễn tả cho cô bé biết  cổ và những ngón chân nằm ở chỗ nào.

“  Gã Yakuza là người duy nhất nói tiếng Anh và cũng là người duy nhất được phép nói. Nếu có người tù nào dám nói gì đó to  hơn tiếng thì thầm viên cai ngục sẽ lệnh cho anh ta quay trở lại vào bên trong ngay lập tức. Những người tù e ngại viên cai ngục vì có những cảnh sát ở đằng kia”, anh quay lại phía con gái và đầu thì gật lấy gật để sau từng lời nói.

“ Ngựa ơi!”, cô bé thức giấc trong vài giây để kêu to tên loài vật rồi lại chìm vào giấc ngủ. Các tấm cửa sổ phủ một lớp sương mờ vì thế Karl vớ lấy tấm giẻ lau sạch đám hơi nước đọng trên mặt kính. Chiếc xe chúi mũi xuống một cái rãnh. Qua tuyết, cùng với  cô con gái anh đã  nhìn thấy vài chú ngựa ở trong bãi.

II.

“ Sự yên lặng đã giết bố dần dần. Bố chỉ ở đó có duy nhất một ngày thôi và bố cảm thấy phát điên lên vì không có việc gì để làm cả. Tất cả những gì mà  gã Yakuza có thể làm bằng thứ tiếng  Anh  của anh ta là  chỉ cho bố xem những hình xăm trên người  “Cá chép này. Kiếm này. Rồng này”. Sự tẻ nhạt biến đi chút ít. Dù sao anh ta cũng là thú giải trí duy nhất của bố. Và bố cố nói cho anh ta hiểu việc ngồi không trong xà lim buồn chán đến cỡ nào. Cuối cùng anh ta cũng hiểu và mỉm cười. Anh ta cởi áo ra và chỉ cho bố xem hình xăm trên lưng, một võ sĩ ngồi  bắt chéo chân mắt nhắm nghiền bên cạnh dòng sông”.

Karl chạy chậm lại lần nữa. Ánh sáng lóe lên từ chiếc đèn hiệu trên chiếc xe ủi tuyết là sắc màu  duy nhất trong cái phong cảnh nhuộm một màu trắng tinh khôi này. Anh khéo léo về số  rồi lại tăng đột ngột làm chiếc xe biến thành lưỡi dao phá tan những lớp băng. “Anh ta chỉ vào cánh tay và nói “ he you. He you”. Bố không hiểu anh ta định nói gì. Anh ta đã hoàn toàn nản chí với thứ tiếng Anh của mình và mọi chuyện  rối tinh lên khi viên cai  ngục chạy tới. Có một sự tương phản khá lớn giữa viên cai ngục và gã Yakuza này. Viên cai  ngục gầy nhẳng như đứa trẻ trong bộ đồng phục nhăn nhúm rộng thùng thình thét còi vào mặt người đàn ông xăm khắp người đứng yên đó với bộ ngực trần đang trố mắt nhìn viên cảnh sát như thể anh ta có thể xé nhỏ anh ta thành từng mảnh bất cứ lúc nào.

Con gái anh vẫn ngủ say. Con đường trống rỗng giống như một đường kẻ của một thế giới đã bị xóa bỏ. Không ai trong số hai người đang ở trong xe cả.  Karl  đứng trong sân nhà tù ở Nhật và con gái anh thì đang mơ về con ngựa trắng với dải bờm lượn sóng đang phi nước đại băng qua đồng cỏ và những dòng suối lấp lánh.

“ Thêm một đống những viên cai  ngục khác kéo đến và nói lúng búng giống như Keystone cops và tất cả bọn bố lại bị tống trở lại vào xà lim”. Tất cả những người tù khác thì hốt hoảng nghe theo lệnh đó còn người tù Yakuza thì đi bộ thong thả về xà lim như thể anh ta đang tản bộ trong công viên. Khi niềm vui vẻ trôi đi ấy là khi rắc rối tìm đến. Bố lại trở về căn nhà êm ái của mình. Nó dường như câm lặng và tẻ ngắt hơn bao giờ hết. Tất cả những gì bố có thể làm là hít đất và ngủ. Bố đã mơ thấy bố thức dậy với chiếc chìa khóa trong tay và đi ra mở cửa,  và bố đã nghĩ  ánh sáng rực rỡ tràn qua các vết nứt chính  là ánh sáng mặt trời và tự do. Khi bố nhấc cánh cửa lên, tất cả những gì bố nhìn thấy là những vì sao và trái đất đang trở nên nhỏ lại ”.

Từ trên con đường trên cao, anh đưa mắt nhìn xuống phố. Những con đường không bóng cây xanh và những ống khói. Những ngôi nhà dường như đứng sát lại gần nhau cho đỡ lạnh.

III.

“ Chúa ơi! Bố  thực sự sợ hãi. thường thì khi con  thức dậy những điều khủng khiếp sẽ chỉ là một giấc mơ, nhưng cái hộp[3] này không thể biến mất như quả tên lửa phóng vút vào không gian. Bố điên lên, bố nói thực với con đấy. Bố đấm rầm rầm vào cửa cho đến khi những khớp ngón tay nứt ra. Những viên cai ngục  chạy đến, mở cửa hầm lên và thét vào mặt bố bằng tiếng Nhật. Khi ấy bố không hề bận tâm. Bố muốn họ chạy đến  lúc lắc cái dùi cui để làm điều gì đó. Nhưng chả có gì để mà phải đối phó cả nên họ chỉ đứng đó, ngoài cửa hầm và quát lên “ Im đi”. Bố thì sung sướng khi biết rằng không phải chỉ có một mình bố độc hành lên sao hỏa”.

Karl vén đồng hồ đeo tay xem giờ rồi lại kéo xuống. Anh lấy ra từ chiếc túi anh để cạnh chân một chai nhựa đựng nước hoa quả và dứ dứ trước mặt cô con gái. Cô con gái hỏi liệu con ngựa đã ở đây chưa. Anh nhìn cô bé cầm lấy chai nước bằng cả hai tay và cố kiết uống như thể đấy là lần đầu tiên hoặc là lần cuối cùng cô bé được uống. Đôi mắt cô bé chính là  của anh, đôi mắt xanh nhạt và sáng.

Mái tóc đen bóng là từ mẹ, một người phụ nữ vẫn còn đẹp một cách sắc sảo đáng ghét. Anh thực sự phải công nhận điều đó.

“Cuối cùng thì mọi thứ cũng trở lại yên bình, bố chấm dứt cơn tức giận, thở phào ra và ngủ thiếp đi cho tới tận sáng hôm sau”. Họ đã để cửa hầm mở suốt cả đêm có lẽ họ e ngại rằng bố sẽ làm một điều gì đó đối với chính bản thân mình. Giờ đây sau cánh cửa đóng đầy đinh và những nhặng xị ồn ào với gã yakuza ngày trước đó , những viên cai ngục  bổ sung đứng lặng  trong sân tập thể dục chờ đến giờ điểm danh. Vì thế khi bạn bố đến gần, bố dường như có cảm giác miễn cưỡng khi bắt đầu cuộc nói chuyện. Nhưng dù thế nào, anh ta cũng đã biết mọi chuyện về cái cửa, liếc nhìn những đốt ngón tay bố,  anh ta nói: “ Anh thật là khùng, cái đó chả có gì hay ho đâu”. Anh ta làm động tác giống như thể đầu anh ta là quả bom sắp nổ  và sau đó đi bộ cùng bố tới giữa sân”.

Karl đặt chiếc chai rỗng trở lại vào chiếc túi mà vợ anh đã chuẩn bị cho sáng nay. Cô ta đang ở với một người bạn cách nhà khoảng hai tiếng đồng hồ lái xe và dường như đang cố giữ nỗi giận dữ qua tuần để đến ngày thứ bảy trút hết vào gã đàn ông, người đã đưa cô đến Mĩ và sau đó bỏ rơi cô.

Động cơ gầm lên rồi sau đó tắt lịm. Karl trong giây lát, nhìn ra cánh đồng lấp lánh. Anh vặn chìa khóa lần nữa. Lần này chiếc xe gầm gừ nổ. Anh  chỉnh lại gương và giải thích gã Yakuza đã giới thiệu anh ta tên là  Makoto như thế nào. Những người tù khác tiếp tục xếp thành vòng tròn quanh sân khi Makoto ngồi trên sân và ra hiệu cho Karl  làm theo.

IV

“ Bọn bố đã ở đó, ngồi đối mặt với nhau ở giữa. Những người tù khác và những viên cai ngục  hoặc là đi bộ xung quanh hoặc là ngắm nhìn. Bố đã nghĩ rằng có thể sẽ bắt đầu một trận ẩu đả, một cái  nghi lễ nho nhỏ giữa một gã giang hồ và một người nước ngoài để mua vui cho những cai ngục”.

Nhưng sau đó Makoto cởi áo sơ mi và nhắm mắt lại. Làn da được tô vẽ của anh ta sáng lên dưới ánh nắng mặt trời đang dọi xuống giữa sân. Những chiếc vảy cá chép phát ánh sáng vàng và cái lưỡi tõe ra của con rồng kì quái thì có màu đỏ máu. Anh ta ngồi bắt chéo chân và  Karl nhìn thấy ngực anh ta mở rộng ra đón không khí, cái cách mà toàn bộ cơ thể của anh ta thư giãn theo từng hơi thở.  Sau đó anh ta mở mắt và chỉ vào hình xăm chỗ trái tim, một võ sĩ đang ngồi trên tảng đá cạnh bờ sông. Anh ta chỉ tay về phía  những bức tường vây xung quanh sân và nói “ nhà tù”. Anh ta chỉ vào đầu mình và  nói  “ tự do”. Những người tù vây quanh trong im lặng. Những người cai ngục ngắm nhìn một cách vô cảm. Karl học theo anh ta những bài tập thở, làm đúng theo những động tác thả lỏng hay thóp lại, cho phép Makoto sửa cho đúng tư thế, uốn gối cho thật thẳng hoặc lắc lư cổ tay. Anh cảm thấy vũ trụ mở ra trong chính bản thân mình, cái cảm giác trải ra, mở rộng. Những chiếc xà lim nở ra cùng với ô-xy. Máu chạy rần rật trong các mao mạch đến khắp nơi đem lại sự  sống cho thân thể anh giống như dòng sông đang băng qua sa mạc. Anh quên bẵng đi cái khắc nghiệt của sân tù và  đám người đứng nhìn xung quanh. Anh đã trở thành tù nhân của không khí. Chỉ khi tiếng còi chấm dứt buổi tập cất lên anh mới trở về thực tại với những bức tường và những viên cai ngục. Trong mười ngày, anh đã học thuộc trước khi quân cảnh đến và hộ tống anh vào căn cứ trong nỗi ngượng ngùng, sau  ba mươi bữa ăn đặc trưng với súp và cơm anh đã dùng mỗi buổi trên sân tập với Makoto, thở , thả lỏng và hít vào cái xa xôi  của sự thiền định.

“ Bố nói cho con biết nhé, bố đã đi thẳng tới chỗ hình xăm với người võ sĩ. Bố ngồi xuống trên cùng một hòn đá đó, nhúng một tay xuống dòng suối và để cho các ngón tay đu đưa trong dòng chảy. Bố thề rằng đã có một ngọn gió nhẹ thổi trên mặt và nghe thấy tiếng lá xào xạc trên cây”.

Từ đường cao tốc anh rẽ vào một con đường phủ đầy tuyết. “Ngựa ơi! Ngựa ơi!”, cô con gái cảm nhận rõ sự thay đổi  tốc độ  hơn là cảnh sắc, cô bé hiểu được rằng những lần sang số và ngoặt gấp đang đưa cô tới bãi giữ ngựa mỗi lúc một gần. Những bánh xe quay tròn như thể là chiếc xe lửa chạy trên đường ray. Tuyết tóe ra hai bên theo hình đuôi cá. Anh ghì vô lăng chặt hơn và trong đầu hiện lên ý nghĩ gọi cho vợ thông báo rằng có thể anh và cô con gái sẽ về muộn vì đã phải chờ để cho chiếc máy kéo kéo chiếc xe ngu xuẩn và cả ông chồng ngu xuẩn lên khỏi cái rãnh. Cô ta sẽ hỏi tại sao anh lại ở ngoài cái chốn hoang vu lạnh cóng này với cô bé chỉ mới có ba tuổi. Anh thậm chí không nhận ra cô bé đang bị chảy mũi sao?

Anh tự hỏi liệu cô ta có thể thực sự hiểu được những gì  anh có thể làm, những gì anh đã làm không?

Sau đó tuyết rít lên dưới  bánh xe khi anh tiến đến sát bên chuồng ngựa. Không được phi nước đại những chú ngựa bồn chồn dậm chân làm nước bắn tung tóe như mặt sóng vào buổi sáng. Chúng có vẻ cô đơn.

Anh buộc lại chiếc mũ len có hai dải phủ xuống tận cằm cho cô bé. Cô bé vùng vẫy khi anh đặt chân cô bé xuống đôi ủng cao su. Cô bé muốn nhảy vào tuyết , và khi áo khoác của cô bé được đóng cúc, cô bé chúi mặt xuống, xoay lưng lại phía bố và khóc. Anh bế cô bé bằng một tay còn tay kia thì xách một túi đựng cà rốt và lõi ngô. Tại hàng rào, cô bé đứng lên đỉnh lan can và dựa vào cánh tay bố. Sau đó những chú ngựa tới, mũi ướt sáng lấp lánh và chân thì dậm dật trên nên đất đóng băng.

Anh chỉ cho  cô bé  biết cách cho lũ ngựa ăn như thế nào bằng bàn tay mở rộng . Cách cong ngón tay cái lại và làm thế nào để giữ cho chắc. Khi anh đặt cô bé xuống để nhặt chiếc túi, cô bé đi dưới hàng rào với củ cà rốt trong tay. Cô bé giữ nó thật liều lĩnh như trứng để đầu gậy[4]. Anh gần như là nhảy vào chuồng ngựa để cứu cô bé khi một con ngựa với chiếc bờm dài chạy nước kiệu đến và cúi đầu xuống. Anh đã phải cố tỏ ra vẻ mặt nghiêm nghị  của ông bố đang nhìn đứa trẻ mắc lỗi. Cô bé bật cười và không hề sợ hãi khi anh hít hà mái tóc và thơm vào má cô bé. Nhưng anh nghĩ cô bé vẫn còn quá nhỏ để có thể cưỡi được ngựa. Còn quá nhỏ để hiểu được thế nào là li hôn. Và khi không còn mẩu cà rốt và miếng lõi ngô đóng băng nào nữa, họ trèo lên ngọn đồi và trượt tuyết. Karl nằm xuống và hướng đầu về phía trước. Cô bé trèo lên lưng anh và reo lên vui sướng khi anh trượt xuống chân đồi. Cứ mỗi lần cô bé hét lên “ lần nữa! lần nữa!”, anh lại cần mẫn kéo chiếc xe  trượt lên trên đỉnh. Cô bé ngồi thẳng trên ghế giống như một nàng công chúa  tí hon. Anh ngoái lại phía sau ngắm cô con gái nhỏ đang lắc lư bàn tay trong tuyết xốp.

“ Còn nhớ chứ con yêu, chuyện cái nhà tù bố đã nói với con ấy? Gã đàn ông với những hình xăm đó. Khi bố quay trở lại xà lim, nó không còn là chiếc hộp tí nào nữa”.

Anh thở hổn hển vì anh vừa đi vừa nói, tỉa tót câu chuyện trong bầu không khí lạnh cóng.

“Bố có thể đi đến bất cứ nơi nào bố muốn. Nếu bố nổi giận và muốn choảng một ai đó bố sẽ làm tim đập chậm lại và nhắm mắt, trở về dòng sông với người võ sĩ. Thậm chí bố có thể trở lại bãi biển lần nữa với cha và mẹ của bố, nhặt vỏ ốc cùng chú Tony, đá bóng trong công viên. Nhưng đố con biết phần lớn thời gian bố ở đâu nào?”.

Anh quay lại. Cô bé biết anh đang nói với mình  nhưng cô bé  chỉ để ý tới  những con ngựa, tuyết và cái trò cưỡi ngựa rùng mình này thôi.

“Ở đây. Những cách đồng bao la vô tận này. Những con ngựa và bầu trời”.

Họ ở trên đỉnh ngọn đồi. Mặt trời ẩn sau những đám mây rọi những tia sáng yếu ớt.

“ Thậm chí nó trông chẳng khác chi thiên đường”.

Họ trèo lên trượt xuống cho đến khi trời xẩm  tối. Tuyết rực lên lấp lánh trong ánh sáng đang nhạt dần và khi họ lê bước về xe, anh nhận ra mình đã đưa cô bé về nhà vào  muộn như thế nào. Cô ta sẽ làm anh lo sợ như thế nào với cú gọi tới sở cảnh sát và tòa án. Hai tấm vé máy bay quay trở về Nhật Bản. Những chú ngựa đứng tựa vào lan can xem anh tháo mũ và giầy cho cô bé. Anh đập sạch tuyết ở đế giày, giũ áo khoác và đưa chai nước cho cô bé. Lúc này cô bé im lặng, đưa chai nước lên miệng và nhấp từng ngụm. Anh đóng cửa và bước đến thùng xe phía sau.

Trước khi anh nhấc chiếc xe trượt lên và đập giũ sạch tuyết, anh lột tấm thảm phủ ra và mở toa đựng dụng cụ. Anh nhặt khẩu súng trường mà anh chở sáng nay lên, và anh cảm thấy nó trĩu nặng trong bàn tay. Anh biết cái hành động này đã diễn ra cả ngàn lần. Anh tưởng tượng ra  hình ảnh viên đạn nổ trong ổ đạn, đầu đạn chì vọt qua nòng và xuyên vào bất cứ đâu.

Anh nhìn những ngón tay cô bé bấu xung quanh chiếc chai rỗng, dò xung quanh chỗ ngồi để tìm bố.

VII.

Sau đó anh tháo đạn. Anh bỏ những viên đạn, khẩu súng rồi chiếc xe trượt vào trong thùng xe và đóng lại. Tuyết lại tiếp tục rơi. Và trước khi anh lái xe về nhà trong yên lặng, gặp vợ mình ở hàng hiên với cô con gái đang ngủ trong tay, anh trèo lên nóc xe, ngồi bắt chéo chân và cảm nhận bầu trời lướt qua khuôn mặt.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 


[1] Từ tiếng Nhật chỉ thành viên của tổ chức xã hội đen.

[2] Võ sí Nhật

[3] Chỉ xà lim – ND

[4] Nguyên văn là “statue in habour”

Advertisements
Categories: Truyện dịch Tags: ,

Phụ nữ Nhật học cách quyến rũ đại gia

June 30, 2011 Leave a comment


Ngày 14 tháng 2 là ngày mà người phụ nữ có thể bày tỏ tình cảm của mình đối với người đàn ông mà họ thầm yêu mến. Ở Tokyo cái gọi là “ bữa tiệc danh giá” được tổ chức nhằm tạo ra  cơ hội cho những người phụ nữ đang ao ước được kết thân với những người đàn ông nổi tiếng có cơ hội gặp được những cá nhân “ưu tú” trẻ trung bao gồm các chuyên gia IT, các nhà doanh nghiệp và các giám đốc. Hơn nữa, một khóa học có nhan đề là “tìm kiếm người đàn ông nổi tiếng” gần đây đã được tiến hành bởi một người phụ nữ. Hiragana Times đã phỏng vấn người phụ nữ này.

CIA: “Cuộc hội thảo tìm kiếm người đàn ông nổi tiếng” thực ra là gì vậy thưa chị?

Người tổ chức: Nói một cách ngắn gọn, đây là  một khóa học mà ở đó các giáo viên sẽ huấn luyện cho các cô gái những kĩ thuật thực tế để có thể kết thân được với những người đàn ông nổi tiếng.

CIA: Tại sao chị lại  mở khóa học này thưa chị?

Người tổ chức: Khi nam nữ kết hôn thì theo lẽ thông thường người con gái phải gửi gắm cuộc đời mình vào người đàn ông. Người đàn ông không thay đổi sự nghiệp sau khi kết hôn nhưng người phụ nữ có thể trở thành vợ một chính trị gia, diễn viên hay vận động viên lại tùy thuộc vào người đàn ông sẽ trở thành chồng của cô ta. Người đàn ông cần tài năng và tiền bạc để trở thành nổi tiếng, nhưng để đạt được những thứ đó thì người phụ nữ chỉ cần sắc đẹp và sự may mắn cho dù cô ta có bất tài đến mấy. Khóa học này sẽ giúp họ khám phá những khả năng tiềm ẩn của họ.

CIA: Các giáo viên sẽ dạy những gì?

Người tổ chức: Trước hết, vẻ nữ tính của họ sẽ được chải chuốt. Chúng tôi cũng dạy họ làm thế nào để quyến rũ đàn ông bắt đầu từ những gì cơ bản nhất bao gồm kiểu tóc, chăm sóc da và giữ cân đối thân hình tới ăn mặc sao cho gợi cảm, cách cư xử, nói năng sao cho duyên dáng. Thêm nữa, chúng tôi dạy các kĩ năng cần thiết khác bao gồm cách sử dụng các đồ trang sức, cách ăn uống, cách tư duy của các đại gia, nơi có thể tìm thấy các đại gia và làm thế nào để tiếp cận được họ.

CIA: Cho dù vậy nhưng có vẻ như mức phí 100.000 Yên/ ngày là quá đắt?

Người tổ chức: Không. Không hề đắt một chút nào. Nếu cô ta  muốn “đúc” lấy một người đàn ông, cô ta phải thuê gia sư khi anh ta còn là một chú bé, phải cho anh ta tới trường học thêm và rồi cho anh  ta học xong trường đại học. Tất cả quá trình ấy sẽ tốn kém bao nhiêu nào? Nó sẽ tốn tương đương với việc mua một căn nhà. Khóa học này sẽ đem đến cho các cô gái khả năng có được cả tài sản lẫn tiền bạc mà chỉ tốn có 100.000 Yên thôi. việc này chả khác gì mua một chiếc vé số với cơ hội trúng thưởng rất cao.

CIA: Liệu phương pháp của chị có thực sự giúp các cô gái kiếm được đại gia không?

Người tổ chức: Vâng, tất nhiên rồi. Khóa học này là dựa trên những kinh nghiệm thực tế của tôi. Tôi đã sống với hai đại gia cho dù bây giờ  tôi đã giã từ họ và không thể nêu tên họ ra đây.

CIA: Chị đã kết hôn với họ ạ?

Người tổ chức: Không. Nói thật với anh tôi chỉ là “bồ” thôi.

CIA: Nếu thế thì nó khác với mục đích của khóa học này chị nhỉ?

Người tổ chức: Tôi chưa bao giờ nói trong khóa học rằng mọi người có thể sẽ kết hôn với các đại gia. Nói ra thì có vẻ bất lịch sự nhưng người tham gia khóa học hoặc là những người phụ nữ đã “lỡ thì” đang tìm kiếm cơ hội để “đánh” một quả lớn hoặc là những cô thiếu nữ trẻ trung mơ mộng không có khả năng nhìn nhận chính bản thân mình. Những đại gia sẽ không bao giờ coi những người phụ nữ này như những người vợ tương lai. Do đó tôi gợi ý những người theo học trở thành những “cô bồ nhí” của các đại gia. Họ sẽ có rất nhiều cơ hội cho vị trí đó. Nếu họ sánh bước với các đại gia, họ sẽ nhìn thấy thế giới của các đại gia và sẽ được tiêu rất nhiều tiền. Thậm chí sau khi chia tay, họ sẽ còn có tiếng là “ bà lớn” nữa. Mà cũng có khả năng họ có thể kết hôn với các đại gia nhờ vào sắc đẹp của mình.

Bình luận của CIA

 

Nếu bạn nhận tiền và cho “tình” bạn sẽ trở thành gái bán dâm, nhưng nếu bạn nhận tiền và tiêu tiền trong vai trò là một “bồ nhí” thì điều đó không hề phạm luật. Liệu có phải khóa học này, nơi người ta dạy các cô gái trở thành những gái gọi hạng sang cho các đại gia đang lợi dụng kẽ hở để lách luật không?

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ Hiragana times số 232 tháng 2 năm 2006

 

Tay trong tay

June 29, 2011 Leave a comment


      

Khi chúng tôi ngồi trên bãi cát trắng như màu tuyết

Và những con  sóng  xanh sầm sập vỗ vào bờ.

Tôi nhìn  bầu trời và cố  gắng nghĩ  xem

Tại sao những ngôi sao dường như  sáng  hơn bất cứ khi nào trước đó.

 Có phải vì bầu trời quá sạch trong

Nên những vì sao lung linh tỏa sáng

Hay có thể vì rằng tình yêu gần gũi

Vào buổi tối mùa hè kia, buổi tối  diệu kì

Chúng tôi  cười, hôn nhau và trò chuyện

Vẽ những bức tranh đầy  trên bờ cát

Suốt bờ biển dài, đường  chúng tôi  đi

Chỉ có nàng  và tôi, tay trong tay dạo bước.

Buổi tối của chúng tôi đã hầu như kết thúc

Khi mặt trăng đang nhanh chóng mờ dần

Một ngày nữa  sẽ dần thu nhỏ lại

Và rất nhiều điều sẽ ở lại phía sau

Mọi thứ dường như đã chảy tan đi

Nhanh hơn cả  đồng xu ai đánh rớt

Khi buổi tối  trôi đi rồi ngày tới

Chúng tôi mất thêm những khoảnh khắc diệu kì

Chắc chắn rồi  mặt trời sẽ hiện  lên

Bởi vì đây là quyền uy của chúa

Chúa sẽ thấy trong mắt tôi lấp lánh

Khi tôi cùng nàng sánh bước bên nhau.

Karl Wild AKA GodsGift

Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

Cỗ Máy Mơ Ước

June 29, 2011 Leave a comment


Bang Trộm Cắp, thành phố Ba Hoa, đường  “The Ax”, ấy là nơi tôi sống và đấy là nơi ẩn chứa sự phân vân, nỗi cáu giận và cả công việc của tôi, nơi tôi cầu mong tôi có những niềm vui vô hình nho nhỏ. Nexington-on-Axis là một cái tên thích hợp, cái tên mà quan nhiếp chính sử dụng trong những địa chỉ hiếm khi công bố nhưng phần lớn những cư dân gọi bằng một cái tên khác, và  tù nhân, cộng sự, người chăm sóc, người tin cậy- phụ tá của tôi, Howlaa Moor gọi nó là “ Cái Lồng”  ít nhất khi cậu ta cảm thấy tiếc cho bản thân mình.

Tôi thức dậy sớm trong khi Howwlaa vẫn ngủ trong hình thù con người đang ngáy. Tôi nhìn xuống những con đường ở vùng lân cận gần nhà tôi, tới khu những người phục vụ cho chính phủ có phẩm hàm thấp nhất  và đến khu những người nghèo khó khốn khổ. Bầu trời ảm đảm và mưa rơi lấp đầy những ổ gà. Những đứa trẻ thích đùa   đã chộp lấy một cơn bão từ một nơi nào đó, đấy là việc tốt khi những khu vườn trên mái nhà ở vùng này đang cần mưa. Tôi nhìn thấy người sứ giả tiến lại qua con đường lỗ chỗ ổ gà. Tôi không nhận ra anh ta thuộc loài nào – anh ta là  động vật hai chân có đuôi và da anh ta sáng lấp lánh như một con rồng cho dù dáng đi của anh ta lại giống loài chim- nhưng tôi đã nhận ra những chiếc lông đỏ lòi ra khỏi dải băng quấn trên đầu, thứ cho phép anh ta đi qua những nơi khó khăn mà không gặp rắc rối gì.

“ Howlaa”, tôi gọi, “ Dậy thôi! người sứ giả đến rồi kìa”.

Howlaa cựa quậy trên đống chăn màn làm bằng lông chim, lụa, nhét bừa  trong những chiếc bao vải bạt thậm chí là bao sợi vải thô bởi Howwlaa có rất nhiều xúc giác. Và tôi ngờ rằng bởi vì Howlaa thích  trêu chọc tôi bằng những thứ gợi nhớ lại của cảm giác vật lí mà tôi không thể trải qua được.

“Suỵt! Wisp”, Howlaa nói. Tên tôi không phải là Wisp nhưng đấy là cái tên mà cậu ta  gọi tôi và đã là một khoảng thời gian dài kể từ khi tôi từ bỏ việc cố gắng  thay đổi thói quen đó. “ Sứ giả có thể đến tìm ai đó. Ở đây có đến bốn kẻ thường dân nợ nần mà. Để tớ ngủ nào”.

Howlaa nhặt lên một mẩu trái cây hình cầu ăn dở và ném  mạnh vào tôi. Nó bay qua tôi và không gây hại gì nhưng nó làm tôi bực mình, đấy là điều mà Howlaa trông chờ.

“ Sứ giả có lông vũ màu đỏ và lớp da thì có thể chuyển động được”, tôi nói và  làm tiếng nói tôi có  sự cộng hưởng, làm cho nó bò trườn len lỏi đến từng tế bào, từng mẩu xương vì thế tiếp tục ngủ hay làm ngơ  tôi là điều không thể.

“ A, và sau đấy là chuyện công cán đẫm máu nhỉ”. Howlaa ném tấm choàng lông thú, vươn tay và các khớp cơ xương vươn dài ra, lớn lên trông chẳng khác gì nghệ thuật xếp hình Origami. Tôi không hề nhúng tay một tí nào vào việc tạo nên hình dạng đáng sợ với lớp da gợn sóng nâng lên hạ xuống của Howlaa sáng đó. Không có ai khác ở đây  và tôi kinh ngạc trước hình dạng của Howlaa. Howlaa đã biến thành  Nagalinda, với hai chi dài, khuôn mặt lớn và đôi mắt đổi màu liên tục như ngọc ô-pan và miệng không có môi trồi ra những chiếc răng nhọn hình tam giác. Nagalinda là những sinh vật đáng sợ nổi tiếng là tàn ác cho dù tôi nhận ra rằng  không phải tất cả bọn chúng đều hoàn toàn gớm ghiếc hơn những loài khác. Nhưng dù thế nào việc chúng thích chén thịt đồng loại cũng đã mang lại tai tiếng đáng kể ở “The Ax”. Howlaa muốn biến thành hình thù như vậy để dọa sứ giả của triều đình. Hành động này có vẻ là bất phục tùng nhưng nó quá nhỏ đến nỗi quan nhiếp chính cũng chả quan tâm đến việc quở trách Howaala. Thái độ đó càng làm cho Howaala thêm bực mình hơn.

Quan nhiếp chính biết cách cai trị chúng tôi. Quan nhiếp chính có trong tay rất nhiều đòn bẩy và biết dùng nó để đẩy chúng tôi ra xa hay kéo lại,  đấy là lí do tại sao ông ta là quan nhiếp chính còn chúng tôi ở địa vị thần dân. Tôi thường có ý nghĩ rằng quan nhiếp chính kiểm soát thành phố cũng điêu luyện chả kém Howlaa kiểm soát hình dạng mình. Đấy là một sự so sánh tuyệt với vì “The Ax” có thể thay đổi linh hoạt như thân hình của Howlaa.

Chuông cửa rung lên. “ Tại sao cậu không mở cửa?”, Howaala cười xếch tận mang tai. “ Ok, được rồi, tốt, đừng dùng tay, mở thật khéo vào, còn lại tớ sẽ giải quyết”.

Howaala mở tung cửa để chào đón người sứ giả, người chưa từng trông thấy Nagalida khủng khiếp bao giờ. Người sứ giả thì quá run rẩy bởi gã béo quái dị ấy còn quan nhiếp chính thì vẫn đứng ngoài vẻ kinh khiếp của Howaala.

Tim Pratt

Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh

Categories: Truyện dịch

Thời đại người giám sát thành kẻ bị giám sát

June 29, 2011 Leave a comment

Phó giáo sư Kim viết trong cuốn sách rằng rất có thể “Người có mặt trong vọng gác Panopticon không phải là chính phủ mà là các công dân”, hay nói một cách khác, kính bao quanh tháp canh đã trở nên trong suốt.

Wikileaks, trang web công bố một số lượng lớn các công điện ngoại giao của Mĩ, đã tạo nên một làn sóng thu hút sự chú ý của dư luận. Các mạng xã hội như Facebook, Twitter nơi người dùng tự mình truyền đi thông tin đã gắn kết dân chúng trong cuộc cách mạng hoa nhài lan rộng tại các nước Ả-rập. Phong trào chia sẻ thông tin giữa các công dân mạng hiện đang làm thế giới chao đảo.

Cuốn sách có tựa đề “Sự xuất hiện của xã hội phản Panopticon” của Phó giáo sư John Kim – Khoa Nghiên cứu chính sách truyền thông Đại học Keio đã đưa ra sự lí giải đúng thời điểm về sự biến đổi trong mối quan hệ giữa quốc gia và sức mạnh của dân chúng hiện nay.

Phó giáo sư Kim đã bàn luận với các nhà nghiên cứu nổi tiếng về việc Wikileaks công bố hàng loạt các bức công điện và ảnh hưởng của sự bùng nổ phong trào công dân thông qua mạng truyền thông xã hội. Phó giáo sư Kim trong vai nhà bình luận đã xuất hiện trên kênh tin tức và giải thích:  “Tin tức giống như những sợi mì đang tuôn chảy. Không cần phải “ăn hết” tất cả những sợi mì đang chảy đó”. Ông là bậc thầy khi giải thích hiện tượng mới bằng phép ẩn dụ dí dỏm. Lần này, để giúp người đọc dễ hình dung, ông đã đưa ra hình ảnh “Phản Panopticon”.

“Phản Panopticon”

Panopticon là một kiểu nhà tù do Jeremy Bentham, một nhà tư tưởng người Anh, thiết kế vào thế kỉ 18. Thế kỉ 20, nhà tư tưởng Pháp Michel Foucault đã giới thiệu sơ đồ kiểu nhà tù này như là biểu tượng hệ thống cai trị dân chúng của giới cầm quyền trong tác phẩm nổi tiếng “Sự ra đời của nhà tù“. Đó là tòa nhà hình tròn với tòa tháp canh được đặt ở trung tâm và toàn bộ các tù nhân bị nhốt trong các cũi sắt ở xung quanh đều bị đặt dưới sự giám sát. Tòa nhà được thiết kế sao cho các tù nhân không thể nhìn thấy người canh gác, vì thế ngay cả khi không có người canh gác trong tháp, tù nhân vẫn sống trong  cảm giác bị theo dõi.

Foucault cho rằng cơ cấu giám sát vô hình khiến cho những người bị giám sát tự trói buộc mình này về sau đã được chuẩn hóa trong các bộ phận của toàn thể cơ cấu xã hội như trường học, nhà máy… của xã hội hiện đại.

Trong tác phẩm “Sự xuất hiện của xã hội phản Panopticon”, Phó giáo sư Kim dẫn ra hiện tượng tấn công thẳng vào Panopticon đang xảy ra với vũ đài là Internet – ở đó dân chúng tiến hành giám sát quyền lực không ngừng nghỉ – và lần lượt giải thích về tình hình các phương tiện truyền thông mạng đang thu hút được sự ủng hộ khi vừa chống lại thế lực chính trị, vừa tiến hành công bố và chia sẻ thông tin.

Phó giáo sư Kim viết trong cuốn sách rằng rất có thể “Người có mặt trong vọng gác Panopticon không phải là chính phủ mà là các công dân”, hay nói một cách khác, kính bao quanh tháp canh đã trở nên trong suốt. Ông khẳng định: “Ngay cả bản thân chính phủ cũng không biết người đang theo dõi mình là ai”.

Phó giáo sư Kim bày tỏ sự ủng hộ đối với “sự minh bạch hóa hoàn toàn” của các thông tin từ các văn bản cơ mật do Wikileaks công bố – những tài liệu giờ đây đã trở thành ác mộng đối với phe cầm quyền và “phong trào công dân kiểu du kích” đang lan rộng nhanh chóng nhờ vào sự kết nối của những người bạn không hề biết mặt trên các mạng xã hội như Facebook. Ông nói: “Đã đến lúc không một ai có thể chặn được dòng chảy này”.

Bên trong một khu của nhà tù Presidio Modelo. Ảnh: WikiPedia

Tuy nhiên, Phó giáo sư Kim lại không hề lạc quan đối với vấn đề  liệu những chính thể được lập nên nhờ cách mạng có thể trở thành chủ thể dân chủ và mang lại hòa bình cho thế giới hay không. Đồng thời ông cũng cho biết: “Trung Quốc hiện vẫn là xã hội Panopticon. Phía giám sát đang sử dụng Internet như một công cụ kiểm soát để giám sát nhất cử nhất động của người dùng”.

Ông Kim chỉ ra rằng hệ thống mạng với một khối lượng lớn thông tin đặt dưới sự quản lí độc quyền sẽ trở thành một công cụ của áp chế. Dẫu vậy, ông vẫn hi vọng: “Những phong trào xuất phát từ Internet từ nay về sau sẽ có khả năng đóng vai trò thúc đẩy các hoạt động chính trị minh bạch hơn”.

Nhật Bản cũng sẽ có “phản Panoticon”

Trong cuốn sách, Phó giáo sư Kim đánh giá cao vai trò của báo chí Âu -Mĩ trong việc liên kết với các hoạt động của Wikileaks và chỉ ra: “Giá trị của truyền thông đại chúng có được nhờ năng lực phân tích, kiểm chứng, thuyết minh thông tin đã được nâng cao thêm”. Tại Nhật Bản, tháng 3, báo Asahi thông báo sẽ tiếp nhận những thông tin do Wikileaks cung cấp và công khai mặt trái của ngoại giao Nhật – Mĩ. Phó giáo sư Kim phát biểu: “Tại Nhật Bản mức độ trung thành với tổ chức rất cao và xu hướng coi chuyện cáo giác nội bộ là sự phản bội còn mạnh, vì thế sự hợp tác giữa Asahi và Wikileaks sẽ gây được sự chú ý”.

Truyền thông xã hội vốn đứng sau cuộc cách mạng Ả-rập cũng đóng vai trò tích cực trong trận động đất lớn vừa qua tại Nhật Bản. Trong tình hình thông tin nhiều và hỗn độn, cũng có những thông tin đồn thổi thiếu chính xác lan truyền. Tuy nhiên trong bối cảnh ở hiện trường nơi ngay cả chính quyền cũng không nắm bắt kịp tình hình thì có rất nhiều trường hợp truyền thông  chính thống – phương tiện thường nhạy bén tin tức nhất cũng phải chạy theo truyền thông xã hội. Phó giáo sư Kim cho rằng:  “Mặc dù cần phải nâng cao năng lực tiếp nhận thông tin cho người đọc để tránh bị cuốn vào những thông tin sai lầm, tuy nhiên truyền thông xã hội đã thổi một làn gió vào xã hội đóng kín và giúp người dùng giành lấy quyền công dân”.

Phó giáo sư Kim cho biết ông đang chuẩn bị viết một cuốn sách về hình ảnh quốc gia Nhật Bản 10 năm sau. Đây sẽ là cuốn sách nói về sự chuyển biến từ một xã hội với quan điểm giá trị cho rằng chỉ có việc gì đến nhanh và đúng mới tốt sang xã hội công nhận sự đa dạng. Độc giả đang chờ xem ông sẽ đưa ra hình ảnh gì để kêu gọi sửa đổi thế giới.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Asahi. Bài đăng trên Tuanvietnam.net

Abraham Lincol và những chú chim non

June 28, 2011 Leave a comment

 

 

 

 

Một buổi sáng mùa xuân, trên con đường ở miền quê nọ xuất hiện bốn người đàn ông cưỡi ngựa. Họ là những luật sư đang đi tới thành phố kia để tham dự một phiên tòa. Trước đó trời vừa đổ mưa nên nền đất nhão ra . Nước đang nhỏ từng giọt từ trên cây  cối xuống đất và cỏ thì ẩm ướt.

Bốn luật sư nối theo nhau, người nọ theo sau người kia bởi con đường mòn rất hẹp và lầy lội bùn. Họ cưỡi ngựa đi thật chậm và cười nói rất vui vẻ.

Khi họ băng qua một lùm cây nhỏ, họ nghe thấy tiếng động mạnh ở  phía trên đầu và cảm thấy có tiếng kêu chiêm chiếp yếu ớt trên bãi cỏ bên cạnh đường.

“Chíp!chíp! chíp”, tiếng kêu phát ra từ những cành lá rậm rạp trên đầu họ.

“ Chiếp! chiếp!chiếp!”, tiếng kêu phát ra từ bãi cỏ ướt.

“ Có chuyện gì xảy ra ở đây thế nhỉ?”, người luật sư thứ nhất tên là Speed cất tiếng hỏi. “Ồ, đấy chỉ là tiếng kêu của mấy con chim cổ đỏ già thôi”, người luật sư thứ hai  tên là Hardin đáp. “ cơn bão đã thổi bay hai chú chim non khỏi tổ. Chúng còn quá non nên không thể bay được. Và chim mẹ thì đang hoảng hốt kêu cứu!”.

“ Thật đáng tiếc! Chúng sẽ bỏ mạng trên bãi cỏ này thôi!”, người luật sư thứ ba, người mà tôi không nhớ tên, phụ họa.

“Ồ, mà chả sao. Chúng chỉ là những con chim thôi mà”, ngài Hardin bình luận. “ Tại sao chúng ta lại bận tâm làm gì cơ chứ?”

“ Phải đấy! Chúng ta làm thế để làm gì?”, ngài Speed hưởng ứng.

Ba người đàn ông băng qua, nhìn xuống và thấy những chú chim nhỏ trên bãi cỏ ướt lạnh. Họ nhìn thấy chim mẹ đang bay xung quanh, và gào khóc gọi chồng.

Họ tiếp tục lên đường và cười nói vui vẻ như trước đó. Chỉ vài phút sau, họ đã quên phắt chuyện những chú chim.

Nhưng người luật sư thứ tư, người có tên Abraham Lilcoln, thì dừng lại. Ông xuống ngựa và nhẹ nhàng đặt những chú chim lên bàn tay rộng mở  ấm áp.

Những chú chim dường như không hề tỏ ra sợ hãi mà se sẽ kêu chiêm chiếp như thể hiểu rằng chúng đã được an toàn.

“Đừng lo lắng! những người bạn của ta”, Lincoln cất tiếng “ Ta sẽ đặt các bạn trở lại chiếc giường nhỏ ấm áp”.

Sau đó ông ngẩng lên và tìm kiếm chiếc tổ, nơi những chú chim đã bị rớt xuống.  Chiếc tổ nằm ở vị trí quá cao, vượt quá cả tầm với của ông. Nhưng Lincol có thể trèo. Ông đã trèo không biết bao nhiêu cây khi  ông còn là một cậu bé. Ông nhẹ nhàng đặt từng chú chim vào ngôi nhà nhỏ. Hai chú chim nhỏ khác không bị rơi vẫn ở đó. Chúng âu yếm vuốt ve nhau và tỏ ra rất hạnh phúc.

Chẳng mấy chốc, ba vị luật sư vượt lên trước dừng lại bên  một con suối để cho ngựa uống nước.

“ Lincol đâu nhỉ?”, một người hỏi.

Tất cả bọn họ đều ngạc nhiên khi không thấy Lincol đi cùng.

“ Các cậu có còn nhớ những con chim lúc trước không?”, Speed hỏi. “ Chắc là cậu ta đã dừng lại để chăm sóc bọn chúng”.

Vài phút sau, Lincol đuổi kịp ba người. Giày ông dính đầy bùn, áo khoác ông rách toạc vì mắc phải gai.

“ Chào cậu, Abraham!”, Hardin cất tiếng “ Cậu đã ở đâu vậy?”

“ Mình dừng lại một chút để đưa mấy con chim non trở về với chim mẹ”, ông đáp.

“Tốt lắm! bọn tớ luôn nghĩ cậu là một anh hùng “, Speed nói “ Giờ thì điều ấy thật đúng!”.

Rồi cả ba cười lớn. Họ nghĩ rằng điều ấy thật là ngớ ngẩn, một người đàn ông khỏe mạnh lại chấp nhận nhận lấy những điều phiền toái chỉ vì vài con chim non vớ vẩn.

“ Thưa các quý ngài! Tôi sẽ không thể ngủ được tối nay nếu tôi bỏ mặc những con chim non bất hạnh chờ chết trên bãi cỏ ướt”.

Abraham sau đó đã trở thành một luật sư và cũng là một chính khách rất nổi tiếng. Ông đã được bầu là tổng thống. Và sau Washington ông là tổng thống vĩ đại  nhất nước Mĩ.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Anh

Categories: Nhìn ra thế giới

Học sinh Nhật Bản sôi nổi tranh luận về điện nguyên tử

June 26, 2011 Leave a comment

Mình rất muốn mọi người Việt Nam nhất là các bậc phụ huynh và những người làm nghề báo chí, giáo dục đọc bài báo mình dịch dưới đây. Trong khi ở nơi khác lòng dũng cảm, trí thông minh, tư duy phê phán  và mối quan tâm đến những vấn đề lớn lao của đất nước bị đem ra làm trò cười thì ở Nhật, những công dân nhỏ tuổi đã suy ngẫm rất nghiêm túc và sắc sảo. Nước Việt của của chúng ta bây giờ nghe nói sắp phổ cập thạc sĩ, tiến sĩ rồi nhưng mấy ai suy nghĩ được như các em học sinh tiểu học dưới đây? Thế mới biết Nhật Bản hơn người không phải chỉ vì Nhật sớm tỉnh ngộ thoát khỏi “thế giới Trung Hoa” để “thoát Á nhập Âu”, “khai sáng quốc dân” mà Nhật còn hơn người vì có được những công dân nhỏ tuổi vĩ đại như thế này. Và nếu thừa nhận điều đó, tất nhiên cần phải đặt ra câu hỏi, cái gì đã tạo ra và nuôi dưỡng nên những công dân ấy?
Mời các bạn cùng đọc.

Học sinh tiểu học Nhật Bản sôi nổi tranh luận về điện nguyên tử.

“Bố cháu là nhân viên của Điện lực Tokyo”
Thượng tuần tháng 4, Ban biên tập báo Mainichi nhận được lá thư của một em học sinh lớp sáu tiểu học. Lá thư bắt đầu bằng câu: “ thật là đường đột nhưng bố cháu là nhân viên Điện lực Tokyo”. Tiếp theo là những ý kiến, suy tư không ngừng nghỉ của em về điện nguyên tử khi chứng kiến cảnh người cha với tư cách là nhân viên Điện lực Tokyo phải tiếp nhận những lời phê phán.
Người gửi lá thư đến tòa soạn là em Yudai (tên nhân vật đã được thay đổi) sống tại thủ đô Tokyo.
Ngày 27 tháng 3, phần dành cho học sinh tiểu học trên báo Mainichi có đăng bài báo “Cửa sổ tin tức” với lời kêu gọi “Điện lực Tokyo liệu có đang suy ngẫm về những người khác hay không?” và lá thư này đã được gửi tới nhân cớ đó.
Bài báo nói trên đã truy cứu trách nhiệm của Điện lực Tokyo khi dẫn ra việc Điện lực Tokyo liên tục thất bại trong kiểm soát sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1, tiến hành kế hoạch “cắt điện luân phiên” theo thứ tự đối với các khu vực mà trung tâm là khu vực Kanto đã đẩy cuộc sống của nhiều người lâm vào tình cảnh khó khăn.
Em Yudai sau khi công nhận rằng: “Quả thật phần lớn đó là sự thật” đã phản biện lại như sau.
“Tuy thế nhưng phần phía cuối bài báo có viết rằng “ Sự nguy hiểm của nhà máy điện nguyên tử và việc phó thác cung cấp nguồn điện không thể thiếu đối với đời sống cho nó có thể thực sự là điều vô cùng nguy hiểm”. Việc viết như thế là vô trách nhiệm.
Ai đã tạo ra các nhà máy điện nguyên tử đây? Đương nhiên không phải là Điện lực Tokyo rồi. Tiếp nhé, ai đã là người tạo ra cái cớ để xây dựng nên các nhà máy điện nguyên tử nào? Đó là người Nhật, à mà không chính là mọi người trên thế giới. (lược một đoạn). Người Nhật không thể không gia tăng các nhà máy điện nguyên tử đó là do người ta đã mở siêu thị, chơi game đến tận khuya và dùng điện phung phí.

Khi nghĩ đến việc đó thì có thể nói người tạo ra nhà máy điện nguyên tử là tất cả mọi người trong đó bao gồm cả Điện lực Tokyo ( lược một đoạn). Tất cả mọi người đều vô trách nhiệm”.
Lá thư này được viết vào cuối tháng ba vì thế đã một tháng rưỡi trôi qua. Công việc phục hồi nhà máy điện nguyên tử Fukushiama cho đến lúc này vẫn tiếp tục ở vào thế giằng co. Ngày 14 điện lực Trung bộ đã cho ngừng vận hành tất cả các lò phản ứng từ số 1 tới số 5 của nhà máy điện nguyên tử Hamaoka (thành phố Omaezakishi, tỉnh Shizuoka) và điều chỉnh lại biện pháp an toàn đối phó với động đất và sóng thần.
Dư luận xã hội Nhật Bản hiện tại đang chao đảo vì nỗi bất an chất phóng xạ lan rộng cùng nỗi lo lắng thiếu điện và các cuộc tranh luận xung quanh vấn đề “nên từ bỏ điện nguyên tử” hay “ Không, Điện nguyên tử là một loại năng lượng trọng yếu” đang dâng cao.
Và lá thư của em Yudai kết thúc như thế này:
“Vấn đề điện hạt nhân cần phải được mọi người cùng bàn luận và đưa ra quyết định. Nếu như làm như vậy, chắc chắc sẽ có được một phương án tốt”.
Ngày hôm qua, chúng tôi đã gặp trực tiếp em Yudai và hỏi em về cảm xúc khi viết lá thư đó. Lá thư này được em viết ra vào ngày 27 tháng 3 ngay khi em đọc báo Mainichi dành cho học sinh tiểu học. Cho đến thời điểm đó thì do cắt điện luân phiên mà cả trường học và nơi học thêm đều nghỉ sớm cho nên em đã có nhiều thời gian để suy nghĩ và lá thư được viết một mạnh trong nhiều giờ liền. Em Yudai cho biết: “Nếu như lắng nghe ý kiến khác biệt sẽ làm cho tư duy của mình thêm sâu sắc. Lúc này cần phải có nơi để có thể trao đổi các ý kiến”.
Điện nguyên tử là cần thiết hay không cần thiết? Nếu cần thiết thì ai sẽ là người quản lý và sẽ đặt nhà máy ở đâu? Nếu không cần thiết thì đối phó ra sao với tình trạng thiếu năng lượng? Các em hãy thảo luận với bạn bè trong lớp và gia đình. Sau đó hãy viết thư gửi những suy nghĩ của các em về ý kiến của bạn Yudai đến ban biên tập. Chúng tôi sẽ giới thiệu chúng trên báo.
Địa chỉ gửi thư:
T 100-8051
Mainichi Shogakusei Shinbun
Bộ phận phụ trách “Thư gửi bạn Yudai”

Phản hồi trên toàn quốc về lá thư của học sinh lớp sáu có bố làm cho điện lực Tokyo.

Lá thư do một nam học sinh lớp sáu tiểu học sống ở thủ đô Tokyo có bố là nhân viên Điện lực Tokyo gửi cho báo Mainichi đã nhận được phản hồi từ khắp nơi trên toàn quốc. Trước sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1, lá thư viết “Việc mọi người trên thế giới sử dụng phung phí điện đã là cái cớ sinh ra điện nguyên tử” đã liên tiếp nhận được ý kiến tán thành, phản đối đậm chất trẻ thơ của học sinh tiểu học trên toàn quốc.
1. Tớ cho rằng Điện lực Tokyo đã sai lầm. Việc cho rằng do mọi người dùng nhiều điện mà tạo ra điện nguyên tử chẳng qua cũng chỉ là cãi cùn. Cho dù nói là an toàn nhưng việc lừa mọi người rồi tiếp tục vận hành lò nguyên tử đã cũ làm cho sự cố xảy ra chính là vấn đề. Trong lá thư có cảm giác người viết cho rằng điện nguyên tử phụ thuộc vào tất cả mọi người vì thế mà sự cố xảy ra nhưng tớ cho rằng chính việc Điện lực Tokyo đã làm cho đường sá ở Fukushima tốt lên, trả tiền hỗ trợ cho người dân Fukushima chính vì thế mà mọi người đã bị phụ thuộc vào điện nguyên tử.( Một học sinh tiểu học lớp 6 ở Kyoto).
2. Tớ phản đối lối suy nghĩ cho rằng toàn thể quốc dân có trách nhiệm liên quan đến sự cố nhà máy điện nguyên tử. Cũng có thể rằng người ta phải có trách nhiệm trong việc sử dụng điện lãng phí. Nhưng có ai đã thông báo cho chúng ta về sự nguy hiểm của điện nguyên tử đây? Chúng ta liệu đã được học về nó trong trường học hay chưa?
Ngược lại, trên bảng tin của nhà trường lại có tấm áp phích với nội dung nguyên tử là năng lượng sạch, an toàn và là thứ không thể thiếu. Có cả các tấm áp phích và các cuộc thi viết luận về đề tài như thế. Người làm điều đó chính là Điện lực Tokyo và nhà nước. Chúng ta, những người tiếp nhận nền giáo dục như thế liệu có thể đưa ra những ý kiến như “ nguyên tử rất nguy hiểm! Mong rằng đừng xây dựng nhà máy điện nguyên tử !” hay không? Tớ cho rằng từ giờ trở đi mọi người cần phải thảo luận để xem xem người lớn đã sai lầm những gì” (Một học sinh lớp 5 thành phố Kamakura, tỉnh Kanagawa).
3. Trong số bạn bè của tớ có bạn có bố đang làm việc tại Điện lực Tokyo. Ngày trước bạn ấy là người tốt, văn võ song toàn được mọi người yêu mến nhưng giờ thì bạn ấy hay bỏ học và không hề nói chuyện với nhiều người trong đó có tớ. Tại sao một cô bạn tốt như thế mà lại bị mọi người bắt nạt?
Điện nguyên tử mặc dù có ích cho con người nhưng giống như lần này, nó đã làm cho con người tổn thương giống như “con dao hai lưỡi”. Trận động đất lần này là trận động đất lớn 1000 năm mới có một lần. Ít nhất xin cũng đừng phê phán điện nguyên tử cho tới khi tìm ra phương pháp phát điện mới” ( học sinh M).
4. Tớ cảm thấy đồng cảm nhất với ý kiến của cậu bạn kia. Tại vì mẹ tớ hiện đang làm việc cho Bộ kinh tế công nghiệp. Trong vấn đề sự cố nhà máy điện nguyên tử, không phải chỉ có Điện lực Tokyo mà cả Bộ kinh tế cũng bị chỉ trích. Tớ có cảm giác mạnh mẽ rằng mẹ mình cũng là thủ phạm và dần dần tớ cảm thấy mình thật là có lỗi.
Quả thật, trách nhiệm của nhà nước và Điện lực Tokyo là rất lớn nhưng tớ vẫn muốn nói rằng toàn thể quốc dân, à mà không, cả thế giới hiện đang dùng một lượng điện lớn cho đời sống cũng có trách nhiệm (một học sinh lớp 6 trường tiểu học Kanai trực thuộc đại học Tokyogakugei).
5. Bố tớ cũng là nhân viên của Điện lực Tokyo. Mỗi khi bố tớ đi tới nhà máy điện nguyên tử tớ vô cùng lo lắng. Quả thật thì Điện lực Tokyo cũng có trách nhiệm nhưng tớ rất không thích khi mọi người đổ hết trách nhiệm cho Điện lực Tokyo. Tớ nghĩ người không thể không chịu trách nhiệm chính là nhà nước. Nhà nước và người Nhật theo đuổi sự tiện lợi vì thế mà điện nguyên tử trở nên cần thiết. (Một học sinh lớp 6 trường tiểu học Gumisawa, thành phố Yokohama).

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Mainichi ngày 23/6/2011
http://mainichi.jp/select/weathernews/20110311/news/20110623k0000e040017000c.html?toprank=oneday
http://mainichi.jp/life/edu/maishou/archive/news/2011/05/20110518kei00s00s011000c.html

Liên quan đến sự vĩ đại của các công dân nhỏ tuổi nước Nhật mời các bạn đọc tiếp bài báo có tựa đề khá …sốc: “ Nhật Bản có phải là đất nước đáng vứt đi không?” dưới đây. Bài báo này là câu trả lời của nhà báo Nakamura Hideaki, phó tổng biên tập báo Mainichi trả lời câu hỏi của các cháu học sinh tiểu học gửi đến tòa soạn.
Mời các bạn cùng đọc để xem xem bác nhà báo cáo già này động viên các cháu học sinh tiểu học thế nào.

Nhật Bản có phải là đất nước đáng vứt đi không?

Bạn đã bao giờ nghe thấy ai đó nói rằng Nhật Bản từ giờ sẽ ngày một xấu hơn chưa? Đấy là câu chuyện về những vấn đề như dân số suy giảm, tiềm lực kinh tế bị dồn ép bởi Trung Quốc, những tội ác kinh hoàng gia tăng…Thật đáng lo phải không nào? Liệu nước Nhật có thực sự là nước đáng vứt đi không?

“Cool Japan”

Thật là đường đột nhưng xin được hỏi các bạn có yêu mến nước Nhật hay không? Tôi nghe nói mọi người trên thế giới rất yêu mến nước Nhật đó.
Đài BBC của nước Anh vào tháng 4 năm 2010 có công bố kết quả “Điều tra về mức độ cảm tình” đối với các nước trên thế giới. Đây là cuộc điều tra bằng bảng hỏi dành cho khoảng 3 vạn người ở 33 quốc gia khác nhau trên thế giới.

Có 53% số người được hỏi trả lời rằng có ấn tượng tốt với Nhật Bản và Nhật Bản là nước thứ hai sau Đức dẫn đầu trong danh sách các nước được yêu thích nhất trên thế giới. Những người yêu mến Nhật Bản phần nhiều tập trung ở các nước Indonesia, Kenia, Philippines. Phim hoạt hình, thời trang, ẩm thực được họ gọi là “cool Japan” và những thứ này được yêu mến trên cả mức chúng ta thường nghĩ. Sách của Murakami Haruki cũng được dịch ra khắp thế giới và ông có vô vàn người hâm mộ cuồng nhiệt.

Người Nhật giỏi khoa học và công nghiệp chế tạo được đánh giá cao

Số người Nhật nhận giải Nobel trong ba lĩnh vực khoa học tự nhiên: Vật lí, Hóa học, Sinh lí tính cả những người nhận giải năm ngoái như Suzuki Akira, Negishi Eiichi là 14 người và Nhật đứng thứ 7 trên thế giới về số người nhận giải. Vệ tinh thám sát “Hayabusa” đã lên tới hành tinh xa hơn cả mặt trăng và mang về mặt đất an toàn thứ vật chất không hề có trên trái đất, chứng minh rõ sự ưu việt của khoa học kĩ thuật Nhật Bản.

Công nghiệp chế tạo của Nhât Bản cũng nhận được sự đánh giá cao. Nếu hỏi người Mĩ “ Anh tin tưởng nhất vào loại xe hơi nào?” thì câu trả lời sẽ là Toyota hay Honda. Gần đây khách du lịch đến từ Trung Quốc tăng lên và họ mua, mang về Trung Quốc môt lượng lớn nồi cơm điện, mĩ phẩm sản xuất tại Nhật Bản. Đó là bởi vì chất lượng của sản phẩm rất tốt.

Và điều chúng ta tự hào hơn hết với thế giới là an toàn phải không nào?
Các bạn có biết “Bảng xếp hạng hòa bình trên thế giới” do Viện nghiên cứu kinh tế hòa bình của nước Anh công bố không? Viện nghiên cứu này đã điều tra và xếp hạng 150 nước dựa trên số vụ án giết người, số vụ án xảy ra, việc có được súng đạn trong tay là dễ hay khó, chính phủ chi bao nhiêu tiền cho quân đội, chính trị có ổn định hay không…Năm 2010 Nhật Bản xếp thứ 3 sau New Zealand và Iceland. Nhật Bản đã vượt qua vị trí thứ 7 giành được ở năm trước đó.

Người Nhật quá thận trọng và sâu sắc

Vậy thì tại sao lại có nhiều người nói những điều tối tăm như trên?
Người Nhật thường suy nghĩ thận trọng và sâu sắc về tương lai và mang trong mình tính cách “lo lắng trước rồi mới hành động”. Người Nhật luôn có xu hướng tìm kiếm sự toàn bích. Đó không có gì là xấu. Nhưng khi nói “hỏng! vứt đi rồi” thì cũng giống như trong học tập hay chơi thể thao, nó sẽ làm cho đất nước mất đi sự khỏe mạnh.

Nhật Bản là đất nước hòa bình nơi những con người trung thực đang sinh sống. Các bạn có sẵn sàng cùng xây dựng xây đất nước tươi đẹp hơn khiến cho mọi người trên thế giới phải ghen tị không nào? Để làm được điều đó thì người lớn sẽ cố gắng vì thế các bạn hãy nhiệt tâm ủng hộ.

Và khi có người lớn nào đó chỉ biết nói: “Nước Nhật ngày xưa thật tuyệt vời”, “ Nước Nhật bây giờ hỏng mất rồi” các bạn hãy nói thật to: “ Xây dựng đất nước tốt đẹp vì chúng tôi chẳng phải là trách nhiệm của người lớn hay sao?”.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Mainichi số ra ngày 4 tháng 1 năm 2011

%d bloggers like this: