Archive

Archive for September, 2011

Sử học

September 30, 2011 Leave a comment


 

Sử học là khoa học truy tìm các sự thật lịch sử và những gì liên quan tới nó thông qua quá trình phê phán, đánh giá, kiểm chứng sử liệu. Tuy nhiên sử học ra đời với tư cách là khoa học có phương pháp luận là điều tương đối mới mẻ. Nói một cách cụ thể thì vào thế kỉ 17 nó ra đời với tư cách là ngành cổ tự học khi các kĩ thuật liên quan đến phê phán sử liệu ở thời Phục hưng được hệ thống hóa.

Khái quát

Đối với con người thì việc mong muốn biết về sự hình thành, quá trình phát triển của sự vật là hành vi thuộc về bản năng của con người. Do đó mà việc để lại những ghi chép về quá khứ hay kĩ thuật nhằm phục vụ việc hiểu biết quá khứ đã tồn tại từ thời cổ đại(Herodot, Tuyxidit, Tư Mã Thiên). Tuy nhiên sự ra đời của sử học hiện đại (cận đại) với sự xác lập của phương pháp luận để trở thành khoa học thì là chuyện thuộc về thời đại mới gần đây. Nói một cách cụ thể thì vào thời Phục hưng việc hệ thống hóa kĩ thuật liên quan đến phê phán sử liệu được xúc tiến  và từ sau thế kỉ 17 thì  nó ra đời với tư cách là ngành Cổ tự học.

Nhà cổ tự học Leopold von Ranke đồng thời cũng là nhà sử học do coi trọng phương pháp phê phán tư liệu của cổ tự học trong nghiên cứu lịch sử nên đã xác lập nên sử học thực chứng và nâng cao tính khoa học của sử học. Sử học thực chứng “chỉ ghi lại sự thật” của Ranke đã có ảnh hưởng lớn tới giới sử học Âu Mĩ và tạo nền tảng cho sử học ngày nay. Tuy nhiên phương pháp của Ranke một mặt coi trọng nghiêm ngặt sự truy tìm sự thật lịch sử nhưng lại cũng làm sinh ra xu hướng thiên vị tư liệu văn kiện và về sau đã bị phái Annales phê phán. Vì vậy trong sử học hiện tại thì ngoài việc dựa trên sử học thực chứng việc tìm kiếm sự thật lịch sử bằng phương pháp nằm ngoài nghiên cứu văn kiện (tranh ảnh, truyền thuyết, bích họa, điền dã, địa lý học, khảo cổ học) cũng được coi trọng và sử học còn có thêm tư cách nhân loại học.

Thái độ tiếp nhận quá khứ như là bài học có thể thấy từ rất xa xưa. Ví dụ  trong tác phẩm “Livius luận” Niccolò Machiavelli đã đưa ra bài học cho tương lai bằng việc nhắc lại lịch sử chế độ cộng hòa Roma cổ đại ở thời hoàng kim của Italia. Tuy nhiên do  việc nhìn nhận quá khứ bằng tiêu chuẩn của ngày nay có thể sẽ dẫn tới việc nhìn sự vật qua đôi kính màu cho nên cần phải chú ý. Ví dụ hiện nay chiến tranh được coi là xấu xa nhưng trong quá khứ thì chiến tranh được đánh giá như là thủ đoạn cuối cùng để giải quyết tranh chấp. Việc phê phán, ứng dụng đối với khứ một cách cảnh giác sử dụng giá trị quan và cảm giác luân lí của bản thân thời đại mình rất có thể sẽ dẫn đến nhìn nhận sai lầm chân tướng của lịch sử.

Phương pháp  nghiên cứu.

Nhắc lại lịch sử là hành vi mang tính chủ thể của con người, các vấn đề được xác định và nghiên cứu tùy theo nhận thức vấn đề của từng người. Đối với những người không hề có ý thức vấn đề đối với xã hội mà họ đang sống thì chắc chắn cũng không thể sinh ra ý thức về lịch sử.  Nghiên cứu được đòi hỏi là nghiên cứu được tiến hành bằng việc đưa ra bằng chứng khách quan, tiến hành khảo sát lô-gic và làm cho người khác bị thuyết phục. Thông thường, nghiên cứu lịch sử sẽ có phần lịch sử nghiên cứu (thành quả tiếp nhận từ những người đi trước), việc đề cập đến thành quả của người đi trước, phê phán hoặc là làm sâu sắc, phát triển nghiên cứu của học chính là mục tiêu của sử học.

Phê phán sử liệu

Trong sử học thì công tác phê phán sử liệu là việc không thể thiếu được. Phê phán sử liệu là việc xem xét xem sử liệu đó có tin cậy hay không tin cậy, nếu tin cậy thì nó đáng tin cậy ở mức độ nào. Ví dụ như về một sự kiện nào đó mà sử liệu A lại mâu thuẫn với sử liệu B  thì ở đó sẽ bao gồm công tác suy ngẫm về tư cách của cả hai sử liệu và tiến hành xác nhận xem tư liệu nào  là đúng đắn.

Nếu như sử liệu A là lời nghe kể lại từ người thứ ba sau 1 năm xảy ra sự kiện và sử liệu B là nhật kí của người đương thời lúc xảy ra sự kiện thì nói chung người ta sẽ cho rằng sử liệu gần nhất với sự kiện (về mặt thời gian, không gian) sẽ là thứ xác thực nhưng do lời làm chứng của người đương thời phần lớn có chứa việc nhấn mạnh tính bình thường, đúng đắn của bản thân (có ý thức hoặc vô thức) cho nên không phải lúc nào nó cũng là sự thực vì thế trong điều kiện có thể việc tập hợp nhiều sử liệu và tiến hành xác minh phê  phán qua lại là việc làm quan trọng. Thêm nữa cho dù là tin đồn nhưng nó bao gồm cả sự đánh giá của thế gian đối với sự kiện đó và cũng có trường hợp nó có thể được dùng như là sử liệu.

Trường hợp sử liệu là sách lịch sử đã được biên soạn từ trước đó thì cũng có trường hợp nó được biên soạn có chủ đích dựa trên lập trường của người biên soạn. Ví dụ chính sử của Trung Quốc từ đời Đường trở đi trở thành thứ do nhà nước biên soạn cho nên để nhấn mạnh vương triều đương thời mà có xu hướng viết xấu hơn so với thực tế về các hoàng đế cuối cùng của các vương triều trước đó. Do đó cần phải xác định một cách thận trọng tư tưởng, tín điều, hoàn cảnh chính trị của người để lại sử liệu đó và hoàn cảnh xã hội đương thời.

Lịch sử quan (quan điểm lịch sử)

Quan điểm lịch sử là thuật ngữ dùng để chỉ sự khác nhau của việc coi trọng yếu tố nào trong việc khảo sát tính liên quan hay cấu tạo của các hiện tượng lịch sử phong phú được dẫn dụ bởi phương pháp luận đã nói đến ở trên. Việc mong muốn tìm ra sự liên quan giữa các hiện tượng lịch sử là một trong những công việc của quan trọng đối với sử học nhưng  ở đó tùy theo quan điểm lịch sử của luận giả mà cách nhìn nhận hay ý kiến rất khác nhau. Ở đây sẽ đưa ra các quan điểm sử học chủ yếu theo thứ tự thời gian qua các thời đại.

Ở châu Âu cổ đại, dưới ảnh hưởng của Ki-tô giáo, quan điểm sử học phổ biến ghi chép các sự kiện trong thần thoại với tư cách như là sự thực lịch sử được xác lập. Giống như tác phẩm “Vương quốc thần thánh” của Aurelius Augustinus, thánh thư (kinh cựu ước, kinh tân ước) được đưa ra và  coi nguyên như là sự thực, tồn tại dòng chảy cho rằng trải qua sự sáng tạo trời đất, Adam, thuyền Noah, Ki-tô ra đời, đến hiện tại và đến sự phán xét cuối cùng và đây là quan điểm sử học tồn tại suốt thời trung đại. Về sau nó bị phủ định trong thời Khai sáng tuy nhiên trong lịch sử, tư tưởng nhắm đến một mục đích nào đó vẫn tiếp tục tạo ra ảnh hưởng lớn đối với hậu thế.

Mặt khác biên niên sử trong thời trung đại lại không khảo sát sự liên quan qua lại mà chỉ liệt kê các sự thật. Mối quan tâm của những người chấp bút viết nên các cuốn sách không mang “quan điểm lịch sử” này hướng về các sự kiện  đặc biệt như chiến tranh hay các lễ hội hào nhoáng.

Sau thời Phục hưng, khi khoa học tự nhiên phát triển và các quy luật trong thế giới tự nhiên được làm sáng tỏ thì tư tưởng cho rằng có lẽ trong lịch sử cũng có các quy luật nào đó dâng cao và đến thời kì Khai sáng thì quan điểm lịch sử cho rằng lịch sử tiến bộ từ thời đại mông muội ngu dốt đến thời đại khai sáng dựa trên quy luật trở thành chủ lưu (quan điểm sử học tiến bộ).

Nhà triết học Hegel cho rằng nhờ vào quá trình phát triển lịch sử thế giới của lịch sử nhân loại mà lí tính (tinh thần tuyệt đối) sẽ làm rõ bản thân. Đây cũng là một trong số các quan điểm sử học tiến bộ.

Ở nước Anh cận đại đã ra đời quan điểm sử học của Whiggish giải thích bằng nhị nguyên luận cực đoan rằng các sự kiện trong lịch sử được chia thành “vật xúc tiến tiến bộ” và “vật ngăn cản sự tiến bộ”. Do coi sự tồn tại của  tiến bộ mang tính quy luật trong lịch sử  là tiền đề nên cũng giống như quan điểm duy vật lịch sử sẽ được nói tới ở phần sau, nó được coi như là một quan điểm lịch sử phái sinh từ quan điểm sử học tiến bộ.

Nhà sử học Ranke đã phản đối quan điểm sử học tiến bộ ưu tiên luận chứng của tính quy luật và đối xử bừa bãi với sự thật lịch sử và ông đã lập ra phương pháp nghiên cứu hiện đại dựa trên sự chứng minh mang tính thực chứng triệt để với tư cách là sự chống lại sử học tiến bộ và làm nâng cao tính khoa học của sử học (sử học thực chứng). Ranke phản đối lí luận về quy luật lịch sử của Hegel đồng thời rung tiếng chuông cảnh báo về xu hướng siêu hình thực dụng mà nguyên nhân sâu xa là do mong muốn tìn kiếm tính quy luật.

Nhà triết học Mark vừa tiếp thu quan điểm sử học tiến bộ của Hegel vừa phê phán phần ông coi tư tưởng, quan niệm là động lực của lịch sử và thiết lập nên quan điểm duy vật lịch sử coi động lực của lịch sử là quan hệ kinh tế (“Tuyên ngôn cộng sản”, “Tư bản luận”).  Thêm nữa ông cho rằng một khi  mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với  quan hệ sản xuất trở nên sâu sắc thì sẽ diễn ra cách mạng xã hội.

Nhà xã hội học, kinh tế học Max Weber trong tác phẩm “Luân lý tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản” đã chú ý đến tôn giáo,  coi tôn giáo là thứ quy định hành động của con người và nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế và luân lí tôn giáo. Phương pháp như vậy của Weber đã chứng minh rằng  sự cách biệt về văn hóa sẽ làm sản sinh ra sự cách biệt về sự phát triển của lịch sử. Đồng thời Weber cũng phê phán mạnh mẽ việc đưa vào sự phê phán giá trị trong học thuật (chẳng hạn như chủ nghĩa xã hội là đúng, cách mạng là đương nhiên….).

Nhà sử học Henri Pirenne đã chứng minh rằng từ phương diện lịch sử kinh tế các yếu tố kinh tế đã đem đến ảnh hưởng quan trọng đối với lịch sử.  nghiên cứu của Pirenne mặc dù trùng khớp với quan điểm lịch sử duy vật khi coi trọng yếu tố kinh tế tuy nhiên nó lại phủ định cách nhìn mang tính hệ thống và trở thành nội dung đơn tuyến.

Phái Annales  xuất hiện vào thế kỉ 20 đã sử dụng phương pháp luận của các khoa học xã hội khác như xã hội học, tâm lí học và nhắm đến lịch sử cảm tính, tâm tính, lí giải cơ cấu bên trong của lịch sử tức là nắm bắt vi lịch sử thay vì nhằm vào nhận thức lịch sử lấy sự kiện làm trung tâm. Sau khi phái Annales nổi lên người ta chứng kiến khuynh hướng coi trọng lịch sử theo chủ đề mang tính xã hội học  như lịch sử nông chính, lịch sử xuất bản, lịch sử giá cả, lịch sử dân số, lịch sử kinh tế, lịch sử tâm lí và các tri thức về dân tục học, kinh tế học, văn hóa nhân loại học…

Nhà địa lý học, sinh vật học Jared Mason Diamond trong tác phẩm “Súng, vi khuẩn gây bệnh, sắt” đã cho rằng các yếu tố địa lý, sinh vật học đã quyết định lịch sử và làm nổ ra cuộc tranh luận trong giới sử học.

Học thuyết hệ thống thế giới (World-systems Theory) do nhà sử học, xã hội học Immanuel Wallerstein  đề xướng  rằng không nên rút ra kết luận ở một xã hội hay ở một đất nước mà cần phải nhìn nhận nó từ quá trình của hệ thống thế giới.

Quy luật lịch sử

Trong quan điểm sử học Khai sáng và duy vật lịch sử – những quan điểm trở thành dòng chủ lưu thời cận đại thì lịch sử được cho là thứ tiến triển về một hướng nhất định nào đó dựa trên các quy luật và họ chủ trương rằng phát hiện các quy luật lịch sử là mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu. Tuy nhiên sử học lấy chủ nghĩa thực chứng làm xương sống ngày nay cho rằng lịch sử có tính liên tục không lặp lại và phủ định ý kiến cho rằng các quy luật lịch sử mang tính phổ biến tuyệt đối có tồn tại. Thêm nữa cho dù tính quy luật có tồn tại đi chăng nữa thì lịch sử được cấu tạo từ tất cả các yếu tố tồn tại trong văn minh nhân loại vì thế là khái niệm rất phức tạp và chừng nào chưa làm rõ tất cả các yếu tố đó thì việc cấu trúc các quy luật phổ biến còn khó khăn. Tuy nhiên tùy theo từng học giả mà cũng có học giả cho rằng việc làm rõ các quy luật có tính mềm dẻo (quy luật có tính khuynh hướng) là có thể. Tuy nhiên cho dẫu thế thì những gì nhìn thấy giống như quy luật tóm lại cũng chỉ là một giả thuyết ví dụ đó không phải là việc quan điểm duy vật lịch sử đúng hay sai mà vấn đề nằm ở chỗ nó có thuyết minh chính xác các sự kiện lịch sử hay không.

Tính khách quan.

Sự khó khăn của lịch sử hiện đại.

Ví dụ như khi luận giải về lịch sử cổ đại Hi Lạp hay lịch sử Phục hưng và khi luận giải về lịch sử hiện đại bao gồm thời đại mà mình đang sống thì ở trường hợp sau sẽ có khó khăn cố hữu sinh ra. Những vấn đề mà xã hội hiện đại đang đối mặt sẽ được phản ánh sinh động trong lịch sử hiện đại. Ví dụ như những người chịu nhiều thiệt hại do chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn sống với số lượng lớn và hiện tại vết thương đó vẫn chưa lành. Việc sử dụng nó như là công cụ tiến thoái trong chính trị rất nhiều. Ngay cả ở Nhật liên quan đến nhận thức lịch sử trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai đã có rất nhiều cuộc tranh luận diễn ra nhưng do sự chấp nhận cách làm cảm tính mà sự đánh giá khách quan gặp khó khăn. Cùng với việc đề cập đến tình hình trên, việc nỗ lực làm rõ các sự thực hay tính liên quan là cần thiết.

Phân loại

Trong đại học ở Nhật Bản ở từng bộ môn đều diễn ra nghiên cứu lịch sử với tư cách như là một bộ phận của nghiên cứu cơ sở, cổ điển. Đặc biệt ở các khoa văn thì chuyên ngành nghiên cứu sử học nói riêng được thiết lập vì thế nó được xếp vào khoa chọ nhân văn. Tuy nhiên cũng có ý kiến xếp nó vào khoa học xã hội xuất phát từ tính liên quan của nó tới kinh tế học, xã hội học, xã hội nhân loại học…và không có ý kiến thống nhất.

Trong khi đó ở Âu Mĩ phần lớn nó được xếp vào khoa học xã hội tuy nhiên cũng có lí luận cho rằng nó vừa có phần thuộc về khoa học xã hội vừa có phần thuộc về khoa học nhân văn.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

http://ja.wikipedia.org/wiki/%E6%AD%B4%E5%8F%B2%E5%AD%A6

 

Advertisements

Thơ tặng mẹ

September 29, 2011 Leave a comment

Yêu mẹ con làm thơ tặng

Câu thơ run rẩy ướt nhòe

Thương mẹ một đời vất vả

Cuối mùa rơm thóc vàng  hoe

Thơ con từ lời ru mẹ

À ơi cánh võng ban trưa

Lời ru cho con giấc ngủ

Dịu đi cái nắng trưa hè

Thơ vút lên từ đồng đất

Mùa đông đất nẻ khô cằn

Mồ hơi mẹ rơi mằn mặn

Ngọt ngào cơm bát con ăn

Xa mẹ thơ thành câu hát

Cất lên mỗi buổi chiều tà

Nhìn làn khói bay chầm chậm

Chạnh lòng nhớ mẹ ở xa

2001

Tổng thống và Hiroshima-Tại sao không thể?

September 28, 2011 Leave a comment

Đọc bài này học thêm được từ “cái gai lịch sử” (歴史のトゲ). Các bác nhà báo Nhật cũng “chế” từ ghê thật.

 

 


Thông thường cũng có khi mối quan hệ ngoại giao tiến triển tốt đẹp nhưng cách tiếp cận lại là vấn đề khó khăn. Ví dụ như vấn đề nguyên tử giữa Nhật Bản và Mĩ.

Tại Hiroshima-Nagasaki trên 20 vạn người đã chết và hiện vẫn còn rất nhiều người khổ sở vì di chứng. Nếu nhìn từ phía Nhật Bản thì đây là hành động tấn công không phân biệt không thể nào tha thứ. Tuy nhiên phía Mĩ lại cho rằng để nhanh chóng kết thúc chiến tranh thì nó là cần thiết.

Sự đối lập quan điểm về vấn đề nguyên tử có thể nói là “cái gai lịch sử” đâm sâu tới đáy mối quan hệ Nhật-Mĩ gắn kết bởi Hiệp ước an ninh Mĩ-Nhật.

Do là vấn đề khó vì thế có người muốn nhổ cái gai đó đi nhưng cũng có người lại muốn né tránh.

Trong văn thư ngoại giao của Mĩ mà Wikileaks có trong tay một phần của vấn đề này đã được nhìn nhận. Tháng 8 năm 2009 trước việc tổng thống Mĩ Obama lần đầu tiên tới thăm Nhật Bản, thứ trưởng bộ ngoại giao lúc đó là Yabunaka Mitoji đã hội đàm với đại sứ Mĩ Roos. Nghe nói ông Yabunaka có nói với đại sứ Roos rằng việc tổng thống tới thăm Hiroshima là chuyện “quá sớm”.

Vào tháng 4 năm đó, tổng thống Obama tại Praha đã tuyên bố về “thế giới không có vũ khí hạt nhân”. Nghe nói  tiếp nhận bài diễn văn này những tiếng nói ủng hộ tổng thống thăm Hiroshima đã dâng cao ở xung quanh vùng vốn là tâm chấn của vụ nổ hạt nhân.

Kết cục, tổng thống không đến Hiroshima nhưng việc phía Mĩ có mối quan tâm mạnh mẽ là sự thực. Nếu như thứ trưởng ngoại giao đã truyền đạt kiến giải tiêu cực thì chuyện đó phải hiểu như thế nào đây? Thật không thể hiểu nổi.

Xin hãy đến đây để biết sự thật. Hãy vì trẻ em thế hệ tương lai”. Numata Suzuko, người chuyên kể về việc bị nhiễm xạ qua đời vào mùa hạ này đã từng bày tỏ sự kì vọng vào tổng thống như thế.

Chính đây là thông điệp mà Nhật Bản-quốc gia bị ném bom nguyên tử cần phát ra thế giới. Bộ ngoại giao chắc chắn phải là người đảm nhận vai trò truyền đạt thông tin đó một cách rộng rãi.

Đương nhiên, cho dù thứ trưởng bộ ngoại giao có gợi ý mạnh mẽ đi nữa thì sự phản đối của phái bảo thủ trong lòng nước mĩ cũng sẽ rất lớn và khó mà biết được là chuyến đi có thực hiện được hay không.

Đồng thời giả sử như nếu thực hiện được thì chuyện nước Nhật có trách nhiệm hay không có trách nhiệm chiến tranh đối với châu Á cũng có thể sẽ trở thành vấn đề ở cả trong đối nội và đối ngoại.

Cho dù thế nào đi nữa thì nó  cũng vẫn có khả năng phản ánh nguyên nhân tạo ra rắc rối ở trong chính quyền và bộ ngoại giao. Cho dẫu nói vậy thì chuyện né tránh mãi cũng không phải là điều hay.

Trước đó vào năm 2008 cũng đã từng có tiền lệ là chủ tịch Hạ viện Mĩ Perosi thăm Hiroshima và Kawano Yohei chủ tịch hạ viện Nhật thăm Haoai và dâng hoa. Nếu như bằng những nỗ lực đi trước đó việc tổng thống thăm Hiroshima thực hiện được thì chắc chắn rằng hai nước Mĩ-Nhật sẽ hướng trực tiếp tới vấn đề nguyên tử hơn nữa.

Lần này thi thoảng những phát ngôn của quan chức ngoại giao ở vào thời kì chuyển giao chính quyền đã trở thành vấn đề vì thế niềm tin thêm lần nước được xác quyết. Chúng tôi nghĩ ngoài cách dùng toàn bộ hệ thống chính trị để nhổ “cái gai lịch sử” đi thì không còn cách nào khác.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Asahi.

http://www.asahi.com/paper/editorial.html#Edit2

 

 

Kì diệu

September 27, 2011 Leave a comment

Gieo hạt lúa vàng vào đất

Được cả mùa vàng sân phơi

Từ một ô cửa rất nhỏ

Mở ra bát ngát bầu trời

Bà bảo trăng tròn cao lắm

Ao nhà lóng lánh trăng rơi.

Nguyễn Quốc Vương

( 8/2003)

Hoài niệm

September 23, 2011 Leave a comment

Sao con mãi nao lòng

Khi khói vờn mái rạ

Xạc xào lùa trên lá

Cơn gió bấc cuối chiều

Ngõ cũ chửa xanh rêu

Con trở về trượt ngã

Có cái gì rất lạ

Nghèn nghẹn chẳng thành lời

Chớp mắt thời gian trôi

Tuổi thơ giờ như khói

Cuộc đời như dấu hỏi

Tóc mẹ giờ màu sương

Chân dẫm bụi bao đường

Vẫn nao lòng chốn cũ

Trở về cùng giấc ngủ

Mái tranh nghèo chiều mưa

Nguyễn Quốc Vương

5-2003

Sinh viên cao học Khoa giáo dục Đại học Hiroshima nghiên cứu những gì?

September 21, 2011 3 comments

Đại học Hiroshima là trường Đại học quốc lập nằm ở tỉnh Hiroshima, được thành lập vào năm 1949.

Dưới đây là danh sách đề tài luận văn của sinh viên cao học khoa giáo dục Đại học Hiroshima năm 2008.

1. 韓国の小学校国語教科書にみられる韓国人像に関する研究

(Nghiên cứu hình ảnh con người Hàn Quốc trong sách giáo khoa quốc ngữ tiểu học của Hàn Quốc).

2. 中国における高齢者教育に関する研究 -老人大学・学校の実践を中心に-

(Nghiên cứu giáo dục dành cho người cao tuổi ở Trung Quốc lấy thực tiễn ở trường đại học người cao tuổi làm trung tâm)

3. 中国農村における義務教育の普及に関する研究 -農村寄宿制学校を中心として-

(Nghiên cứu phổ cập giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn Trung Quốc với trung tâm là trường học có chế độ kí túc nông thôn).

4. 複雑な背景を持つ生徒の人間形成に関する研究 -参加という外発的動機づけ行為の効果-

(Nghiên cứu sự hình thành con người của học sinh có hoàn cảnh phức tạp- Hiệu quả của tham gia – hoạt động tạo động cơ ngoài).

5. 中国の小・中学校における教師の専門性に関する研究

(Nghiên cứu về tính chuyên môn của giáo viên ở trường tiểu học – trung học ở Trung Quốc)

6. 英国におけるPlaying for successの現実と課題

(Hiện thực và vấn đề đặt ra đối với Playing for success ở nước Anh).

7. 幼児の自然に対する概念の形成に関する研究

( Nghiên cứu sự hình thành khái niệm đối với tự nhiên của trẻ em ở độ tuổi chưa đến trường)

8. 学級教授の思想と構造に関する教授学的研究

(Nghiên cứu mang tính phương pháp dạy học về tư tưởng và cấu tạo của giảng dạy theo lớp).

9.米国におけるキャリア教育に関する研究 -オハイオ州を中心に-

(Nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp ở Mĩ lấy bang Ohio làm trung tâm)

10. 「持続可能な開発のための教育(ESD)」に関する比較研究 -先住民の知識、価値観の教材化を中心として-

(Nghiên cứu so sánh về “giáo dục vì sự phát triển bền vững” (ESD)- lấy việc giáo tài hóa tri thức, quan điểm giá trị của cư dân bản địa làm trung tâm).

Nguyễn Quốc Vương dịch từ trang nhà của Đại học Hiroshima (Nhật Bản)

Trung đông trước ngưỡng cửa hòa bình và phồn vinh.

September 21, 2011 Leave a comment

Bao lực lại sinh ra bạo lực.

Trong khoảng 10 năm sau ngày xảy ra vụ khủng bố ở nước Mĩ có lẽ ai cũng sẽ có ý nghĩ như thế khi hàng loạt các vụ bạo lực đã xảy ra ngay trước mắt.

Sau khi bị khủng bố nước Mĩ đã tiến hành cuộc chiến tranh Afganistan và chiến tranh Iraq và đi cùng với nó là sự leo thang  tranh chấp  ở Palestin và xung đột giữa các phe phái tôn giáo ở Iraq. Các cuộc khủng bố quy mô lớn đã liên tục tiếp diễn ở Trung Đông, châu Âu và châu Á.

Cho dẫu vậy thì cuộc cách mạng lật đổ độc tài diễn ra bằng các cuộc biểu tình hòa bình của dân chúng ở Ai Cập, Tuynidi thật là ấn tượng. Làn sóng dân chủ hóa Trung Đông được gọi bằng cái tên “mùa xuân Ả Rập” là ánh sáng hi vọng về công cuộc  xây dựng từ đống hoang tàn.

Dân chủ hóa Trung Đông”  đã được chính quyền Mĩ dưới thời Bush đề xướng  bằng sức mạnh. Ở khu vực Trung Đông như  Iraq, Ai Cập, Palestinan bầu cử đã được thực thi. Ở Ả Rập  Xê Út lần đầu tiên cũng tiến hành bầu cử hội đồng địa phương.

Tuy nhiên dân chủ hóa đã không bắt rễ vững chắc. Kết quả của cuộc bầu cử  do  các thế lực chống Mĩ, chống Israel như tổ chức “Đồng bào Hồi giáo” của Ai Cập hay Hamas của chính phủ tự trị Palestina chi phối vì  thế nước Mĩ đã dần trở nên không thể nói về chuyện dân chủ hóa.

Dân chúng đứng dậy

Sự làm ngơ của nước Mĩ đã khiến cho công cuộc dân chủ hóa ở Trung Đông suy thoái. Trong cuộc bầu cử quốc hội Ai Cập vào cuối năm ngoái do áp lực của chính quyền mà thế lực đảng đối lập đã bị loại bỏ. Trước chính trị không hề đổi thay, dân chúng Ả Rập đã thức tỉnh và đứng lên hướng về cường quyền với tư cách là chủ thể của công cuộc dân chủ hóa.

Cả Libya nơi diễn ra nội chiến cuối cùng cũng bắt đầu hướng tới việc xây dựng chính quyền lâm thời. Trước đó không phải chỉ ở các quốc gia nơi thế lực cường quyền bị lật đổ mà ở tất cả các quốc gia tiếng nói của dân chúng đã bắt đầu trở nên có sức mạnh.

Ở Syria bất chấp  sự đàn áp những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục tới tận tháng 7. Ở Ả Rập Xê Út nơi phụ nữ bị cấm lái xe, phụ nữ đã liên tiếp lái xe và công bố hình ảnh đó lên Internet và động thái này cũng nằm trong dòng chảy chung ấy.

Cũng có động thái đáng phải quan tâm. Tại Ai Cập nhân sự việc binh sĩ người Ai Cập chết do  cuộc tấn công bằng súng của quân Israel,  cuộc biểu tình phản đối nhằm vào Đại sứ quán Israel đã nổ ra và diễn tiến thành hành động quá khích tràn vào bên trong tòa nhà.

Ngay cả trong lòng quốc dân Ai Cập sự phê phán đối với các động thái quá khích cũng rất mạnh mẽ. Sự đi quá đà của biểu tình sẽ trở thành chủ nghĩa bài ngoại và làm rối loạn hòa bình của khu vực. Một khi sự hỗn loạn không được kiểm soát thì nó sẽ làm cho việc thực thi bầu cử bị chậm trễ và chính phủ cùng quốc hội chính thống không thể ra đời. Tiến trình dân chủ hóa cần phải được tiến hành gấp rút.

Việc thế lực Hồi giáo sẽ phát triển mạnh mẽ khi có bầu cử là điều chắc chắn. Chúng ta hi vọng họ sẽ không phải là thế lực phê phán giống như từ trước đến nay mà sẽ lột xác với tư cách là thế lực chính trị có trách nhiệm trong việc kiến thiết đất nước.

Cải cách hành chính xóa bỏ chủ nghĩa con ông cháu cha và sự hủ bại của thời kì cường quyền và vấn đề thất nghiệp, nhà ở trầm trọng của những người trẻ tuổi chiếm trên một nửa dân số là các vấn đề đang đặt ra. Chúng  ta mong rằng họ sẽ đề ra và thực thi các chính sách cụ thể  để phát triển xã hội và phục hưng kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề nan giải trên.

Ở Âu Mĩ cũng xuất hiện tiếng nói lo ngại về sự tiến triển của quá trình Hồi giáo hóa.

Tuy nhiên chúng ta mong rằng “mùa xuân Ả Rập” sẽ là cơ hội để làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác và hòa giải giữa thế lực Hồi giáo và Âu Mĩ trong việc chi viện cho công cuộc xây dựng đất nước và thực thi dân chủ hóa Trung Đông.

 

 

 Mĩ cần chấp nhận sự “ghét Mĩ” và  đóng vai trò trung gian.

Tổng thống Obama vào tháng 5 đã từng tuyên bố: “Mĩ sẽ ủng hộ quá trình dân chủ hóa Trung Đông”. Tuy nhiên Mĩ cũng cần phải xác định tinh thần rằng ý thức ghét Mĩ, chống Mĩ dâng cao trong dân chúng trong suốt 10 năm sẽ được bộc lộ ra ngoài công việc chính trị thông qua bầu cử.

Cuộc chiến tranh Iraq vốn được Mĩ gọi là “giải phóng” trong con mắt của dân chúng thế giới Ả Rập, Hồi giáo đã trở thành ‘xâm lược”. Chính quyền Bush tuyên bố:  “chiến tranh chống khủng bố” nhưng trong lòng dân chúng Ả Rập thì tiếng nói bày tỏ sự ủng hộ cuộc “thánh chiến chống Mĩ” cũng mạnh mẽ.

Từ trước đến nay dưới sự thống trị của thể chế cường quyền thân Mĩ dư luận chống Mĩ trong dân chúng đã bị đè nén. Nhưng từ giờ trở đi không thể làm được chuyện đó. Việc xây dựng mối quan hệ tin cậy với dân chúng Trung Đông vốn bị tổn hại bởi sự sa lầy của cuộc chiến tranh chống khủng bố trong 10 năm từng chút một là công việc vô cùng quan trọng.

Đối với các nước Ả Rập ở vùng vịnh hiện vẫn tiếp tục duy trì thể chế cường quyền thì nước Mĩ cần phải đưa ra yêu cầu tiến hành thực thi dân chủ một cách nghiêm túc. Thêm nữa, Mĩ cũng cần phải dốc toàn lực giải quyết vấn đề Palestina vốn là nguồn gốc của bạo lực ở khu vực Trung Đông. Phản ứng của Mĩ sẽ được kiểm nghiệm bằng đề nghị thừa nhận nhà nước mà tổ chức giải phóng Palestina (PLO) đưa ra trước Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Nước Mĩ đã đưa ra cảnh cáo rằng sẽ thực thi quyền phủ quyết. Tuy nhiên tổng thống Obama không được quên rằng vào năm ngoái trong Đại hội đồng nhằm có được sự thỏa thuận hòa bình trong vòng một năm,  ông đã từng tuyên bố: “Trong cuộc họp của Đại hội đồng vào năm tới có lẽ chúng ta sẽ đón chào quốc gia chủ quyền Plestina”.

Việc đình chỉ đàm phán hòa bình Trung Đông chủ yếu là do Israel tái triển khai việc xây dựng khu vực nhập cư. Việc chỉ sử dụng quyền phủ quyết đối với Palestina mà không làm gì để tác động tới Israel có thể sẽ dẫn tới sự phản kháng chống Mĩ của dân chúng. Nước Mĩ với vai trò là người trung gian công bình  cần phải có sự giải thích và hành động làm cho dân chúng Trung Đông tâm phục khẩu phục. Trọng trách đó là rất nặng.

Mở ra thời đại mới ở Trung Đông

Đối với chúng ta thì “mùa xuân Ả Rập” là sự khởi đầu trong xây dựng mối quan hệ với dân chúng Trung Đông- những người đã trở thành chủ thể của chính trị. Việc Trung Đông tìm kiếm con đường hợp tác với Âu Mĩ và Nhật Bản, tiếp nhận sự chi viện về kĩ thuật và trí tuệ sẽ là cơ sở để dân chủ hóa. Chúng ta mong rằng sự hiểu biết lẫn nhau sẽ mở ra thời đại mới – thời đại hòa bình và phồn thịnh – cho khu vực Trung Đông.

 

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Asahi.

 

http://www.asahi.com/paper/editorial.html

 

%d bloggers like this: