Archive

Archive for March, 2012

Tiếng Diều

March 31, 2012 Leave a comment

Tiếng Diều

Xuân Chiều

Ngày xưa khi buổi thiếu nhi

Tháng ba quê thấy bi bi sáo diều

Hôm nay đầu đã muối tiêu

Tháng ba quê vẫn sáo diều bi bi

 

23/5/1993.

Advertisements

CUỘC DU LỊCH CỦA LÃO ÂN (phần cuối)

March 30, 2012 Leave a comment

Cuộc Du Lịch Của Lão Ân

Truyện ngắn của Xuân Chiều

Một hôm khi cấy hái mùa màng cũng đã xong lão Ân không đi đâu, không đan lát chi hết. Lão từ từ bước tới đứng trước tấm gương. Đầu tiên lão ngắm khuôn mặt lão, lão ngắm bộ râu, bộ tóc. Sau đó lão ngắm đến quần áo. Đúng hơn lão đã ba lần thay đổi áo theo lão mới tạm được. Rồi lão thắt phen dao vào người, đội mũ cối lên đầu. Chưa được! Lão đội mũ giải phóng. Chưa được! Lão đội nón lại càng không được. Rồi lão lại trở về cái thế ngàn đời là uống nước vặt rồi lão thần người suy nghĩ, rồi lão xách con dao đi đâu tận trưa trặt mới về mang thêm nhiều thứ lỉnh kỉnh.

Sáng hôm sau – sáng ngày mười tháng hai âm lịch khoảng chín giờ lão Ân xuất hiện gần cổng chợ huyện. Người ta thấy lão trong chiếc quần bò màu rêu, áo bà ba đen, chân đi đôi giày sĩ quan Cốt-sơ- glin đen bóng hai mắt trắng. Ngay thắt lưng lão đeo một chiến phen gỗ xoan mới kẻng đựng con dao tư to phền phễn còn để lộ cán ra ngoài. Đầu lão không đội nón, không đội mũ mà đội một chiếc lá sen to tướng quai làm bằng vải đỏ hẳn hoi lại có cả hai cái cù lủng la lủng lẳng. Khoác chéo qua vai trễ xuống hẳn một bên mông là chiếc sắc cốt đen cũng đồ trang bị cho sĩ quan còn mới. Chiếc sắc cốt phồng căng hết cỡ và dường như có một số gờ của tiền giấy lộ ra khe hở. Cái đặc biệt phải chú ý và làm cho thiên hạ phải xôn xao là lão không đi bộ như mọi lần vẫn đi chợ mà lão cưỡi trâu. Chao ôi! Con trâu của lão – một con trâu mộng già kềnh, già càng, lông tai đã rụng hết từ bao giờ, bộ sừng chênh chang như hai cái đòn gánh. Hãi lõm bụng tóp lại trễ xuống như hai múi  dù căng bị mưa để lộ lên toàn bộ khung của những xương sườn to bằng mái chèo thuyền nhỏ. Củ đuôi của con trâu rơi hẳn  và chìm sâu trong hõm đít của nó. Ở đây cần phải nói thêm con lợn mà thụt đuôi vào hõm đít thì con lợn ấy béo hết chê còn con trâu mà củ đuôi nằm trong hõm đít thì con trâu gầy không còn đường để tả. Không những thế con trâu còn ghẻ kềnh, ghẻ càng, ghẻ đến nỗi bộ da khó mà tìm thấy một cái lông, giả sử cái lông ấy có giá như một liều thuốc quý. Toàn thân con trâu nổi lên một màu khoang khuếch chỗ thì đo đỏ, chỗ thì vàng ệch, chỗ thì hoe hoe, chỗ thì đen đen nham nhám. Cổ con trâu nứt nẻ như củ từ luộc đáng sợ hơn. Trời! Nom sao mà gớm ghiếc đến thế.

Chả là từ hôm qua lão Ân đi tìm lá sen làm mũ, lão lấy thêm một ít muội tre đem xào với lưu huỳnh rồi trộn với bồ hóng, dầu luyn để bôi vào những chỗ con trâu bị ghẻ. Lưng con trâu được đặt một cái yên để lão Ân ngồi – đó là chiếc bao tải dọc xanh cũng tơi tả như cờ tam tài bị bão. Bên cạnh con trâu một cự ly không xa là con chó Lài. Con chó hôm nay cũng được thay một dây đai cổ mới – một dây da có khóa hẳn hoi. Nom con chó Lài cũng có vẻ hao hao một con béc-giê chưa đủ tuổi để thực thi nghiệp vụ. Thì ra từ lâu lão Ân đã tính toán và dự kiến cho cuộc đi hôm nay nên các thứ đều được bài trí hẳn hoi. Con trâu được bắt hai chạc phía hai bên lỗ mũi như cương ngựa để lão tiện điều khiển mà không cần phải nói. Việc làm của lão Ân hôm nay đã giải thích cho điều tại sao bấy lâu nay lão thường đưa con chó đi theo, tại sao thỉnh thoảng lão cưỡi trâu khi lão đi chăn – một việc người làng chưa hề thấy lão làm bao giờ.

Do sự nung nấu chuẩn bị chỉ chờ dịp và chọn ngày xuất phát lão Ân cũng thấp thỏm hồi hộp như một chiến sĩ đợi giờ G. Lão dậy từ gà gáy, lão nấu cơm, đun nước, lão chén no nê và không quên hòa một xoong sáu mươi cám nấu cùng bột sắn đem đến gốc mít cho con trâu. Tất nhiên nó cũng chén một bữa đại tiệc quá ngon lành. Thế là lão lên đường, dĩ nhiên thời gian xuất phát không lâu vì mọi việc được chuẩn bị và kiểm tra kĩ càng từ chiều và tối hôm trước. Đoạn đường từ nhà lão đến cổng chợ huyện chừng bảy, tám cây số. Vậy thì lão phải ước tính làm sao khoảng tám, chín giờ lão đến điểm định đến vì lúc ấy tại đó là đông người nhất. Mà theo dự tính của lão thì người càng đông càng đạt yêu cầu. Một điều phải suy xét nữa là con trâu già nên đi chậm. Đồng thời lão phải thoát ra khỏi địa phận của xã lão trước khi trời sáng hẳn để tránh gặp người quen giảm bớt điều phiền hà không cần thiết. Một tay dắt trâu, một tay xách đôi giày lão ra đi. Một cái huýt sao nhẹ con chó Lài đi trước. Cuộc xuất phát nhẹ nhàng, im ắng và bí mật. Khi ra đến đường cái to lão Ân trong người xôn xao một cảm giác là lạ. Tiếng gà gáy mỗi lúc một rộ lên mau dần và to hơn thúc chân lão cũng bước gấp. Lão Ân cho con trâu đi trước mà dường như lão cũng thấy nó đi nhanh hơn thường ngày. Nó đi một cách ngoan ngoãn yên ắng, lão không phải mắng mỏ chi hết. Phía trước là con chó cứ tiến một đoạn xa xa nó lại dừng bên đường đợi lão. Bất giác lão Ân thấy vừa như buồn cười lại vừa như sờ sợ với việc làm ngộ nghĩnh của mình, không hiểu sự việc sẽ ra sao. Trời đã tang tảng, lão Ân họ con trâu lại, lão ngồi xuống cạnh máng rửa chân. Lão lấy giẻ đã được chuẩn bị lau chân và xỏ giày. Con chó Lài từ phái trước một đoạn xa chờ lâu không thấy chủ, nó quay trở lại ngoắt ngoắt đuôi ngửi ngửi con trâu rồi liếm mừng lên đôi giày của lão Ân. Đàng xa phía trước đã thấp thoáng có bóng người. Lão Ân nhảy đến phốc một cái lên lưng trâu. Sau ít phút xoay xở, co chân, kéo quần, rút ngắc chạc cho đúng tư thế để cầm, xe dịch lại trang bị lão Ân thẳng tiến.

Lão không giục trâu đi nhanh. Nó cứ thong thả mà bước. Có điều vẻ mặt của lão Ân từ lúc này nghiêm nghị hẳn lên. Lão ít nhìn ngang, chủ yếu nhìn phía trước. Lão không nói, không cười, không ho hắng. Ấy thế là trẻ con bắt đầu phát hiện ra lão. Đứa nọ gọi đứa kia từ các ngả đường đi học chúng đua nhay chạy về phía lão để xem. Dường như thấy lạ lũ trẻ tìm mọi lời để khiêu khích lão Ân. Nhưng vô hiệu lão phớt lờ và thản nhiên hành tiến. Con chó Lài thấy đông người đến gần chủ nó, nó lui lại và giữ khoảng cách giữa nó  với chủ vài bước chân. Và mỗi khi tụi trẻ muốn vào gần con trâu hơn thì con chó chùn xuống thế thủ và nhe bộ vũ khí mà trời đã phú thác cho nó. Được một mẻ hú vía, lũ trẻ tan ra như ong vỡ tổ. Con trâu cũng vậy nó luôn gườm gườm, thỉnh thoảng trợn mắt phì một cái rõ to. Bởi thế mặc dù người xem rất đông nhưng lão Ân không bị cản trở. Lũ trẻ này theo mãi sợ quá giờ học bỏ đi thì lũ khác lại thế vào. Cứ như thế suốt đoạn đường lão Ân đi náo động lên như quanh sới vật. Mãi khi quá giờ vào học thì lượng trẻ con có phần vãn. Tuy chẳng nói chẳng rằng lão Ân vẫn quan sát được hết những thái độ của người xem đối với mình. Khi qua cổng huyện gặp một tốp người sang chừng bảy, tám cái xe máy gì đó. Họ đứng nhìn lão một lúc rồi không hiểu họ nói gì sau đó một tràng cười bốc lên chứa đầy chất chế giễu và khinh bỉ. Nghe vậy lão Ân thấy nong nóng hai dái tai, trong lòng có cái gì nghèn nghẹn ưng ức chồi lên. Tim lão có lẽ cũng đập nhanh hơn, máu chạy lên thái dương rần rật. Nhưng rồi lão trấn tính: “Hơi đâu mà chi phí vào đó…”.

Rất đúng với dự định lão Ân thầm nhận xét. Mặt trời lững thững chênh chếch trên ngọn xà cừ ven đường. Bóng của lão đổ dài và nhảy múa trên lề đường. Chà, phố huyện hôm nay sao mà đông thế, người qua lại ken nhau nườm nượp. Nào là gồng gánh, xe đạp, xe máy, xe bò, ô tô, máy kéo, máy công nông nhộn nhịp. Có một điều lão Ân sướng như chết được. Ấy là khi gặp thì ô tô cũng phải dừng lại rồi lựa tránh lão mà đi, xe máy cũng phải tránh lão kể gì phương tiện khác. Lão cứ đi đến đâu thì người quây quanh lão như đàn ong quây lấy chúa của nó. Mọi ngày thanh niên lách xe đạp gạt lão mà đi thì hôm nay họ xuống dắt xe đi theo lão. Xe máy cũng phải đi theo lão. Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con dù ít hay nhiều ai cũng phải xem lão một chút. Tất nhiên có kẻ văng tục chửi đổng lão đều nghe. Nhưng đại đa số đều nhìn lão với con mắt tò mò đoán xét. Nhất là trẻ con loại từ mười tuổi trở xuống thì chúng khoái và khoái lắm. Chúng gọi lão nheo nhéo. Chúng khoa chân múa tay muốn lại rất gần để xem lão nhưng không được vì con trâu và con chó lúc này làm nhiệm vụ bảo vệ lão ráo riết hơn. Con trâu cái đầu vênh lên, hai sừng ngang tàng, mắt đỏ hoe, phì liên hồi. Con chó luôn qua lại tứ cửa đôi mắt lạnh lùng, đuôi cúp xuống sẵn sàng giở miếng võ bản năng là nhe vũ khí. Thế là đã vượt qua cổng chợ. Lão Ân nhìn dãy dây khoai lang rồi bất chợt lão hỏi một thanh niên cũng tóc chấm vai đang rướn lên để nhìn lão:

– Rau lợn bán bao nhiêu hở anh?

– Mười lăm ạ.

– Bán cho lão dăm mớ.

Anh thanh niên cười một giọng cười thoải mái chứa đầy chất giang hồ mà thán phục.

– Bố mua thật hả?

– Mua thật – nhưng sao mà đắt thế! Rau bó bé lại không được ngon. Ý lão Ân định mặc cả thật mè nheo cố cò cưa cho rõ lâu, nhưng anh ta lại làm cho lão bất ngờ.

– Tôi biếu bố một chục đầy.

– Đùa đấy chứ?

– Không! Biếu bố thật. Có gì đựng vứt xuống đây tôi xếp cho, bố cứ ngồi đó không phải xuống.

– Nếu thật xếp lên lưng trâu này cho lão nhưng lão chỉ xin anh năm mớ thôi. Anh thanh niên chẳng những làm theo lời của lão Ân một cách nhanh chóng mà lại hể hả thực sự.

Mọi người xung quanh vốn vẫn đang nhìn lão Ân ngừng lại mọi hoạt động để chứng kiến sự kiện này. Lão Ân kéo trâu quay trở về. Lão không đi con đường ban nãy. Lão kéo trâu rẽ vào con đường tắt để rút cho nhanh. Khi đến gần gốc cây xà cừ phía cuối một phố ngách con trâu tạt xuống mương nước đánh một bụng no. Trong lúc trâu uống nước, lão Ân mới nhận ra nơi lão đang đứng là trước cửa một người đồng tuế, lại cùng làng với lão. Ông ta trước là bí thư huyện ủy nay đã nghỉ hưu. Nghe đâu ông ta cũng ca cóng nhiều thứ. Trong đó có việc mặc dù thừa một dinh cơ ở quê nhưng ông ta vẫn tìm mọi cách để chiếm đoạt ngôi nhà này. Lão Ân không muốn nhìn vào ngôi nhà ấy sợ ông ta nhìn thấy lão. Một phần muốn trâu đi nhanh nhỡ ông ta gặp lão, rất không tiện khi lão đang cố tình không muốn nói. Trái với ý nghĩ và sự điều khiển của lão Ân, con trâu đi chầm chậm rồi dừng lại. Hắn bới chân trước, móng cạo quèn quẹt xuống đường. Tưởng sao,  hóa ra hắn cong đuôi để ngay phía trước của nhà ông bạn đồng tuế của lão Ân một đống đen đen. Cái thứ đó người đời bảo rằng để lâu thì nó hóa bùn.

Huệ và Hiền là hai anh con trai của lão Ân thì lo phát sốt. Chả là do bấn bíu với vợ con Huệ sát nút mới đi họp Hội đồng nhân dân xã. Trước khi đi anh định bảo lão Ân trông con hộ. Khi phát hiện lão Ân đã đi đâu từ bao giờ nhà cửa vắng teo nhìn chuống không thấy trâu, nhìn gốc mít mà lão Ân hay buộc cũng không thấy trâu, gọi chó cũng không thấy. Quá trình nhòm ngó, gọi gặp hỏi han cũng không biết bố đi đâu. Hai anh em Huệ, Hiền hú vía chạy ngược chạy xuôi tìm hết đồng xa đồng gần cũng không thấy lão Ân. Huệ bỏ cả họp để tìm bố, gặp ai anh cũng hỏi mà không có tin tức gì hết. Hai anh cho là lão Ân lên cơn dở càng tìm hăng. Các anh dự định nếu tìm đến mười hai giờ không thấy phải huy động toàn bộ họ hàng để đi tìm lão Ân. Cũng may được được một người trong xã cho hay là bố các anh đang mua rau lợn tại chợ huyện. Huệ và Hiền mỗi người một xe đạp đạp thục mạng đến nơi vừa được mách bảo. Vừa đi được chừng hai cây số các anh đã gặp bố đang dong trâu cùng con chó trở về. Điều làm cho hai anh ngạc nhiên vừa như mừng lại vừa như lo là lão Ân đã cạo râu, cắt tóc trở lại như xưa.

Chiều hôm ấy nhà lão Ân chật ních người nhưng chủ yếu là bạn già lại hầu hết là đàn ông. Lão Ân kể lại quá trình cuộc du lịch của mình ai nấy đều cười đến phát ho, phát hen mà vẫn không thôi được. Sau đó năm hôm lão Ân lại cuốc bộ lên chợ huyện tậu đôi lợn giống. Khi đến ngã tư thị trấn, lão vào tiệm ăn mua một bát phở. Thực chất lão dựa vào bát phở để lấy cớ chiếm thời gian nghe ngóng dư âm về chuyến đi của lão. Họ bàn tán râm ran nhưng lão Ân nhớ nhất một thanh niên vừa đến tuổi dậy thì nhận xét về ông già cưỡi trâu hôm trước:

– Như Quan Công ngồi trên con Xích Thố!

                                                                                    4-1990

CUỘC DU LỊCH CỦA LÃO ÂN (phần I)

March 30, 2012 Leave a comment

   CUỘC DU LỊCH CỦA LÃO ÂN

                                                     truyện ngắn của   Xuân Chiều

 

Sự việc xảy ra đã quá nửa năm mà Lão Ân cứ tưởng như vừa mới hôm qua. Không những thế mỗi khi nghĩ về việc ấy lão còn buồn cười, cười đến chảy cả nước mắt, cười đau cả bụng cười đến sặc sụa vẫn không thôi được. Không những buồn cười mà lão còn thấy khoái, cái khoái có một không hai trong đời của lão. Cái khoái của cậu bé Quỳnh chơi đối chữ với ngài Tú Cát ngày xưa.

 

Dân làng Đồng Trung bỗng xôn xao bàn tán, bình luận và nhận định:

 

– Quái! Cái lão Ân lên cơn dở rồi hay sao mà lão làm như vậy.

 

– Coi chừng không khéo lại muốn tậu ngựa cũng nên. Trẻ muốn ba già còn muốn

bảy cơ mà.

 

– Thật không ai lường được lòng người, bao nhiêu năm nay lão hiền lành, tù tì là

thế, đến giờ lại làm cái điều thật là chướng mắt. Có khi trở chứng chết cũng nên.

Con người ta trước khi chết thường hay lẩm cẩm trái khoáy.

 

Dân làng thì bình kháo, con cái của lão Ân thì đứa nào đứa ấy bực dọc. Thậm chí còn đâm lo, không hiểu sự việc rồi sẽ ra sao. Trẻ con trong làng, nhất là tụi con trai choai choai chúng nó lại phát hiện ở lão Ân có điều gì mới lạ. Chúng đâm tò mò, lại thấy hay hay hấp dẫn. Bởi thế cứ trưa, tối chúng lại rủ nhau đến chơi với lão Ân. Còn lão Ân thì lão cứ mặc kệ tất. Lão vẫn bình thường như không có việc gì xảy ra. Lão vẫn làm ăn như thường ngày. Ai mà hỏi đến những đổi thay của lão thì lão lảng sang chuyện khác. Con cái, anh em thân tình muốn tỏ ý xây dựng, phê bình, lão không phản ứng, không chấp thuận mà cũng chẳng thanh minh. Ngược lại lão cứ tằng tằng mực của lão thì lão nảy… À thì ra từ mấy tháng lại đây lão Ân để râu . Già mà để râu thì thường tình chứ có gì là lạ? Cái lạ là ở chỗ lão để cả tóc nữa chứ. Từ một lão nông nom hiền như cục đất, tóc suốt đời cắt bốc, râu cạo nhẵn, chân đi guốc củ tre, tối rửa chân khan đi ngủ, nay lão để bộ râu dài chấm ngực, bộ tóc dài chấm vai thì quả không phải là chuyện thường. Râu quai chảo đen bóng, tóc rễ tre cũng đen bóng chưa một sợi bạc, đôi mắt to hơi sâu, lông mày rậm. Kể nom lão Ân cũng tờn tợn.

 

Sáng hôm nay lão Ân lại tiếp tục cái nghề phụ mà là chính – nghề “gạo chợ nước sông”, dân làng Đồng Trung tặng lão. Trong bộ quân phục thu đông đã nhàu mưa nắng mà con trai lão bàn giao lại, lão Ân thật thanh thản đường hoàng. Lão ngồi trên chiếc ghế đẩu tại góc sân ngay cửa bếp. Trên tay lão cầm một chiếc sàng đã được cạp xong. Bên phải lão một đùm vòng mây đã chẻ, vót và được sấy bồ hóng vàng ong cùng những thứ như dùi, kìm và con dao tư sắc bào lông chân được. Bên trái lão một dãy sản phẩm đồ tre đan đã được cạp và buộc tạm. Trước mặt lão con chó Lài bằng bắp chân nằm quay đầu vào lão thiu thiu ngủ. Lão đang nức cạp các mặt hàng của lão. Tay làm việc nhưng đầu lão Ân lại nghĩ đẩu đâu đâu. Nào là ổ trứng nay đã được mười bốn quả mà con gà chưa ấp. Gà chân lùn quả thực đẻ sai. Hai tuần nữa mấy buồng chuối đến ngày thu hoạch. Thế là nửa năm nay chưa phải đụng vào số gạo cày ra. Số tiền gửi tiết kiệm cũng đã.. Nghĩ đến đây lão Ân thấy khoan khoái lạ thường. Cái khoái của mồ hôi đã kết tinh thành sự sống. Một cảm giác tê tê buồn buồn từ nơi sâu kín nhất trong cơ thể lan tỏa khắp người. Và dường như cơn phởn đời đã lên lão hắng giọng ngâm Kiều:

Tóc thề đã chấm ngang vai

                  Nào lời non nước nào lời sắt son

 

Để dòng cảm xúc chuồi đi một lát, lão Ân thầm bình phẩm:

 

– Chà! Ngài Thanh Hiên chả hiểu quê quán của ngài ở đâu. À mà như Nghi Xuân-Hà Tĩnh? Không phải, không thế được. Ngài là người Tàu thì phải. Chắc là Tàu chứ Việt làm gì mà viết được truyện Kiều lại mê hồn người đến thế. Qua đắn đo tí chút lão Ân đi đến kết luận trong ý nghĩ của mình:

– Đúng! Thanh Hiên là người Tàu dứt khoát đi rồi. Nàng Kiều quê ở Bắc Kinh mà lại…Người Tàu quả là thâm trầm sâu sắc. Từ mấy trăm năm trước đây ngài ta đã cho hay: “Trong tay sẵn có đồng tiền. Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì”. Bây giờ chả trắng mắt ra hay sao. Con đánh bố cũng vì tiền, vợ lừa chồng cũng bởi tiền, anh em từ mặt nhau cũng tại tiền. So với cái thời còn cụ Hồ thì khác xa. Thời còn cụ thiếu thì đi vay, khó đi nhờ chứ bây giờ ấy à không làm được thì nghỉ ăn, chết thì chết chứ ai thương. Ốm thập tử nhất sinh vào viện không có tiền cúng thầy thuốc trước thì đứng có hòng…

 

Từ ngôi nhà phía tay trái lão không xa vẳng lại tiếng kèn kẹt, đều đều. À, tiếng võng đưa. Rồi tiếng à à, ơi ơi, rồi ư ư à à, rồi tiếng bài hát: “Không cho chúng nó thoát” cất lên. Té ra cô con dâu của lão ru con. Lão Ân thở dài: “Sao mà nó đầy cái lỗ nhĩ đến thế. Khổ! Phụ nữ bây giờ không cả biết đến ru con nữa. Ai thì chả biết chứ theo lão Ân thì hai cô con dâu của lão đều như nhau cả. Xem ý các tướng không thuộc đến một nửa câu Kiều. Ru con lại hát “Sẵn sàng bắn”, “Bão nổi lên rồi”, “Không cho chúng nó thoát”. Lão ấy à, lão đã ru thì kiến trong lỗ cũng phải bò ra. Trong đoạn đời mấy chục năm gà trống nuôi con lão đã làm cho bao nhiêu người chứng kiến điều ấy. Văn hóa mặc dù chỉ mới biết đọc, biết viết thế mà truyện Lục Vân Tiên, Truyện Kiều lão thuộc vanh vách. Chưa kể đến hát ví, hát xẩm, ca trù, trống quân. Lão còn biết hát khối điệu chèo nữa chứ. Phụ nữ bây giờ chỉ được cái nhí nhảnh. Phải cái vai nhí nhảnh không ai bằng. Suốt ngày ra ngắm vào vuốt, phởn phơ nhưng vụng thối và lười đến chảy thây, cả nhà không buồn quét. Ấy thế cho nên lão chẳng phải tội bố. Cô con dâu cả bao lần động viên lão ở chung bế cháu. Lão chẳng tội gì thầy tớ mà bế con cho các tướng. Lão xếp cho các tướng ở riêng. Anh nào có nhà anh ấy ở. Anh nào có con anh ấy bế. Không làm được nghỉ xơi. Lão ở mình. Một mình lão tung hoành trong khu biệt thự với hai gian nhà ở, một cái bếp con con thế là đủ. Thêm vào đó một con chó bằng bắp chân, một con mèo bằng quả mướp choai, một con lợn bằng vỏ phích Trung Quốc, hai mái gà, hai con vịt đẻ, một đôi bồ câu ra vào phậm phệch, một cái đài tâm lý bằng cái để lọ mực. Thế là lão giả an chi. Một cuộc sống thanh bạch. Lão Ân thầm nghĩ thế. Tuy lão chưa hết tuổi lao động nhưng lão không nhận ruộng. Riêng bốn thước rau xanh phần lão thì lão làm. Nói là lão làm kỳ thực thì các con của lão làm cho lão nhưng đến mùa thu hoạch thì gặt riêng cho lão để lão phơi phong cất giữ. Vườn lão rộng hơn hai đàng bừa, dài chừng mươi mười lăm mét, có chừng chục gốc chè, vài ba gốc chuối. Lão sống bằng những thu hoạch lặt vặt đó. Với mỗi phiên chợ lão bán đi vài thứ đồ nan. Chẳng là do tính khù ki nhẫn nại từ lúc còn thơ trẻ nên lão đan các dụng cụ nhà nông khá chi là khéo. Gàu giai, gàu sòng, nong, nia, dần sàng, rổ rá, thúng mủng… Chỉ tội lão không đan được chứ bao nhiêu cũng hết. Bà con quanh vùng ai cũng mến lão chất phác. Đồ của lão là đồ bền chắc, giá cả lại phải chăng. Nếu phải người quá túng có thể chịu lão vài ba phiên chợ. Mỗi khi ngồi đan thấy mệt mỏi lão lại đổi việc như xới cây, làm vườn hoặc tìm thức ăn cho gà, cho vịt. Tuy chỉ có hai con vịt nhưng  lão thường kiếm được cua, giun cho nó ăn nên nó cho lão khối cả trứng. Lão ăn, lão bán, thỉnh thoảng lão lại cho cháu của lão vài ba quả. Đặc biệt là con chó của lão. Con chó Lài mà. Thực ra lão phải đi tận chợ Nhã Nam hơn chục cây số vài ba phiên mới chọn được con chó vừa ý. Vậy nên lão chăm nó đáo để. Ngoài việc cho ăn lão còn thường xuyên tắm cọ cho nó. Rồi thì lão tập xích, tập cũi đối với nó. Con chó giờ  mới có năm tháng tuổi những đã làm cho lão hài lòng một số yêu cầu. Con vật đã biết bảo lên cũi, biết bảo đến chỗ xích, biết bảo đuổi gà. Giống cho Lài rất khôn, theo kinh nghiệm của lão đã cho thấy thế. Nó rất dữ nhưng phân biệt được kẻ quen người lạ, lại không bao giờ chầu bữa cơm. Bởi thế lão càng thêm quý nó. Khi đi đâu ban đêm lão thưởng gửi nhà  cho các con của lão ở cạnh mà đưa con chó đi theo. Chỉ cần lão huýt sáo nhẹ là con vật đi trước dẹp đường cho lão. Mỗi khi gặp điều gì bất thường nó cúp đuôi quay lại báo cho lão biết chừng. Điều này làm cho lão Ân xẩm lẩm sẽ nuôi con chó đến cóc đế lão lai, trừ khi hỏng hóc đột xuất chứ lão không bán và không bao giờ nghĩ đến chuyện nấu nhựa mận.

 

Kể đời lão Ân hàn vi thật nhưng tới đích, có hậu thành đạt và thanh nhàn đấy chứ! Nói thành đạt thanh nhàn là để mà nói, nói để so sánh với bậc tận cùng của giới hạ lưu nơi hang cùng ngõ hẻm ở xứ mùa thối chiêm khê. Chứ thực ra cuộc sống của lão Ân là cuộc đời của một cố nông hạng bét. Lão hóa vợ từ năm lão ba mươi bảy tuổi. Một mình nuôi con không bố mẹ già để dựa dẫm. Tần tảo mấy chục năm trời, nhiều lúc tưởng như khó vượt qua. Thế mà hôm nay lão cũng đã lo xong cho hai trai một gái đều có vợ có chồng và có nhà cửa riêng. Tất cả đã có cháu. Trong tay lão có năm cháu kể cả nội và ngoại gọi lão bằng ông. Đành rằng các con của lão chưa phải nhà cao cửa rộng như người khác. Nhưng cũng gọi là có chỗ chui ra chui vào. Có một điều là con của lão đứa nào cũng ngoan. Chúng nó sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc lại quý trọng lão. Nhiều người nhìn thấy thế mà thèm muốn, có kẻ phát ghen. Phía lão thì lão thấy mình vẫn khỏe và muốn để cho con cái độc lập không bị khống chế bởi bao cấp nên lão bung ra và lão ở một mình. Tuy thế ngoài những việc của lão, thỉnh thoảng lão vẫn đi chăn trâu cho con trai của lão nữa và tất nhiên lão vẫn phải cầm cương cho con lão. Khi nào mà thấy chúng đi chệch quỹ đạo là lão dật nhất là vấn đề lương tâm, đạo đức.

 

Mọi người thường hay vào chơi thăm lão. Có nhiều người, đáng kể là những bậc mày râu cùng trạc tuổi như lão thấy lão sống một mình họ bảo:

 

– Này ông Ân ạ

 

-Cái gì ông

 

– Ông còn thiếu một cái cơ bản

 

– Thiếu cái gì

– Theo tôi ấy à, những buồng chuối kia, những ổ trứng kia nó phải có một  đôi tay mềm mại, có cánh vơ vảy điệu đà để đưa chúng đi chợ mới phải. Khi hàng hóa ra đi thì trưa phải có bún, lòng trở về và có lẽ cần phải có chén tạc, chén thù nữa chứ. Ông nên nhớ có xôi có thịt mới nên phần trẻ con đấy nhé!

 

À thì ra họ tán lão lấy vợ. Những lúc như thế lão Ân đầu thì lắc, tay thì xua và miệng thì:

 

– Thôi thôi thôi… tốt nhất là chuẩn bị lấy bốn tấm vãn rưỡi…

 

Ấy nói thì nói thế chứ nhiều lúc lão thấy những lời dèm kia không phải không có sức mạnh của nó. Khi thật khỏe hoặc lúc trở trời trái gió lão thực sự thấy mình đơn chiếc. Tại sao lại phải tự thân làm tội đời thế nhỉ? Như lão có pháp luật nào ngăn cấm lão đâu. Và mỗi khi nghĩ đến ngôi nhà này của lão, cái bếp con con kia của lão, cái sân nho nhỏ này của lão có thêm một mẹ hĩm choai choai chừng băm lăm, băm bảy tuổi đi lại ra vào thì hay biết mấy. Cái xoong cơm bò rưỡi gạo của lão có thêm một bò nữa. Bữa ăn có thêm tiếng cười khúc khích có phải đời lão thêm nhiều ý nghĩa hơn không…

 

Không! Không thể thế được. Lão Ân như người chuếnh choáng hơi men vừa tan khỏi. Cuộc đời đã  trèo qua đỉnh dốc, có giỏi thì mười lăm, hai mươi năm nữa là cùng. Một hồi trống là xong vậy thì tội chi mà từ chỗ quang lại muốn quàng vào chỗ rậm. Cái gì chứ lão ơn ớn đến tột cùng cái cuộc đời làm bố cu, bố đĩ lắm rồi. Mặt khác trâu chết để da, già chết để tiếng. Lão còn phải để danh vọng cho con chứ. Đành rằng cũng có lúc con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. Đoạn đời sau thế nào chưa biết chứ bây giờ lão còn làm được, còn đi được, sự tù túng bấu víu, theo lão chỉ là một cái nhục. Vả chăng sự đời có chi là nghiện hút, thèm thuồng cho lắm.

 

Những năm tháng đã qua, ngày lão còn cái tuổi đang cuộc, lão từng đã tỉnh bơ với bao nhiêu mẻ ngon như tóp muốn xô đẩy lão nữa là bây giờ. Ở cái nơi nào thì chẳng biết chứ cái đất quê mùa này, ai chứ lão thấy một số người đã già hóp đít đi đâu cũng ông trước bà sau như vợ chồng phường chèo nó chướng mắt lắm. Thậm chí có người còn học đòi cái tuồng Tây giở Tây, tuồng Tàu dở Tàu, răng rụng hết, cằm đưa ra như cằm con nhái bén còn anh anh em em. Gớm lão nhìn thấy cảnh tượng đó tự nhiên lão nổi cả gai ốc. Cá biệt có anh đã có chắt gọi cụ cũng vẫn còn bồ bịch, dây nhợ lòng thòng kể cũng kỳ quặc thật. Nghĩ đến đây lão Ân để cái sàng đang nức dở xuống sân. Lão đứng dậy phủi những bụi nan bám vào quần áo và đi vào nhà. Một ngụm chè sao làm cho lão Ân tỉnh táo hơn và như lão vừa nhớ ra điều gì. Lão với tay vặn vào công tắc cái đài trên bàn. Tiết mục quảng cáo và nhắn tin. Tiếng phát thanh viên Hoàng Yến vừa quảng cáo chỗ này có cái này, chỗ khác có cái kia rồi thông báo những người lưu lạc… Lão Ân thầm cảm ơn thằng Hiền con lão đã kiếm cho lão cái đài. Tuy so với của người thì chẳng tốt đẹp gì nhưng ọ ẹ cho lão biết tin tức khắp thế giới. Cho lão nghe hát đủ các kiểu Đông Tây kim cổ. Cũng từ cái đài này mà trong vòng hơn một năm nay lão lượm lặt được bao nhiêu là chuyện. Chuyện xa, chuyện gần chuyện đông, chuyện tây lại có chuyện li kỳ lão khó mà hiểu nổi. Người trời, đĩa bay viếng thăm trái đất. Ở Nhật Bản có những người sống trên hai trăm năm. Ở Mĩ có cả gà không lông. Rồi thì ở đẩu ở đâu nào là quả dưa chuột nặng mấy chục cân, ếch to bằng thằng trẻ con, rắn độc thì nuôi như nuôi lươn. Cứ suy xa rồi lại nghĩ gần lão thấy ngay quê hương làng xã huyện tỉnh của lão cũng vô khối chuyện lạ mà có thật. Gấu thì ăn thịt người. Tàu kẹp trưởng ga. Công an ăn cắp tại gia bị bắt. Lợn ngày nay cũng biết ăn thịt, uống rượu. Lợn to hơn trâu. Ngựa đá chết người. Con trai tóc dài hơn con gái, đi đứng thì ẽo a ẽo ợt. Lên chùa thì thấy cả vãi hăm lăm hăm bảy. Ấy còn chưa kể đến thiên hạ hôm nay vô khối kẻ tiêu tiền như nước. Họ mua cả ô tô, máy kéo, máy húc. Họ đi du lịch khắp bốn phương trời. Họ đến các danh lam thắng cảnh. Họ có cả những thứ lạ tai: số đề, hụi, mát xa. Ôi càng nghĩ lão Ân càng thấy hoang mang. Và cũng từ đây lão thấy sao mà lão nghèo đến thế. Lão hèn đến thế. Đời lão có lẽ từ thuở cha sinh đến giờ chưa được ngồi lên một vật gì tự lăn. Trong lúc không thiếu kẻ trên đời này sống lầu cao gác tía thì lão vẫn phải ở vài gian nhà xoàng tường đắp đất. Trong lúc chân của lão vẫn tha đôi guốc mộc thì chợ đời ngược xuôi chen chúc đầy cúp, kích, ti vi. Trong lúc vô khối người lên xe xuống ngựa. Sống khắp mọi miền đất nước, tận hưởng mọi sơn hào, hải vị thì lão cả một đời lầm lũi tay cầm cày mắt nhìn đít trâu. Lão còn tức nữa là khác. Lão tức gì nhỉ? Lão tức tất cả những gì như trêu ngươi lão. Khi lão phải gánh vã đi cuốc bộ mệt như muốn chết thì ô tô đút đít bấm còi, xe máy cũng bấm còi, xe đạp lại không thèm bóp chuông mà chen lão, lách lão mà đi làm lão phải lếch thếch tránh. Thỉnh thoảng có những thằng, những đứa oắt con còn bố láo suýt đâm cả xe vào lão. Còn không thiếu thằng văng tục vào mặt lão khinh lão ra mặt, chê lão cổ hủ, tậm tịt thủ cựu quê kệch. Trong lúc lão tiêu tiền phải tính đến hàng đồng thì không thiếu kẻ tiền đổ ra hàng bao tải, mặt thì vênh như cái mo cau coi người bằng nửa con mắt. Vì đâu mà lão tức nhỉ? Lão tức cho cuộc đời lầm than hẩm hiu của lão. Tức thay cho tất cả những ai cũng phải lầm than, hẩm hiu như lão. Lão tức vì tất cả các nỗi bất công đương vẫn thịnh hành. Lão Ân mới nảy ra một kế. Và dường như trời cũng vừa trưa, lão thu dọn “chiến trường” để nghỉ.

 

Đương nhiên ngay sau đó lão Ân ráo riết thi hành diệu kế của mình. Đó là vào cuối mùa thu năm 1989. Việc đầu tiên là lão Ân để tóc, để râu. Cũng có giản đơn gì việc này, tuy không nặng nhọc, mất ngày, mất buổi nhưng chao ôi ngứa. Ngứa muốn chết khi để tóc đến lứa cắt. Qua được cái ngứa thì đến cái vướng vít, khó chịu thậm chí còn bẩn thỉu nữa. Mỗi lúc lao động nặng mồ hôi ra nhớp nháp đến kinh người. Được cái là trời mùa đông chứ nếu là mùa hạ có khi lão phải bỏ dở cuộc. Qua đây lão mới thầm phục những thanh niên tóc rũ rượi mà suốt ngày hắn phơi nắng đi đường trường, làm việc nặng. Khi nuôi bộ tóc lại đẻ thêm một việc là cứ hai tuần lão phải nấu nước bồ kết gội đầu một lượt, trước lão cứ tắm vò vò tí xà phòng là xong. Còn râu? Chà râu có khi còn phiền toái hơn cả tóc, cũng trước tiên là vướng víu sau là khi ăn khi uống quả thực nhiêu khê. Ăn uống phải lựa, phải vén râu ra. Ăn xong lại phải rửa râu, chải râu nghĩ bực mình lại buồn cười. Từ ta mà suy ra người lão Ân lại thầm nghĩ ngày xưa Các Mác ăn uống chắc cũng khó khăn lắm. Khi tóc và râu đã tốt lão Ân khước từ hết các thứ cỗ bàn chè chén. Việc thứ hai là lão càng phải đóng kịch ngay với lương tâm, cá tính của lão. Lão lầm lì không nói nhiều như lúc bình thường. Việc thứ ba lão tích cực tập dượt cho con chó. Lão chăm nom nó hơn, hay đưa nó đi hơn, thậm chí lão đưa nó đi cả chợ. Một điều đáng chú ý là khi để râu tóc lão Ân không đi chợ xa, chợ gần cũng hãn hữu trừ khi không đừng. Lão tránh tối đa việc tiếp xúc với xã hội. Anh chàng Huệ con cả của lão thì đâm lo anh thầm nói với các em:

 

– Các cô, các chú cũng phải coi chừng đấy. Tôi xem ý ông cụ trở chứng thì phải. Khi con người ta sắp kết thúc cuộc đời thường hay có những thay đổi đột ngột. Vậy đứa nào kiếm được cái gì thì cho ông cụ ăn…

 

Cái lời huấn thị ấy cứ ngầm lan đi khắp họ hàng, tông tích của lão Ân. Và cũng từ đây quà bánh lão cứ chén vô hồi kỳ trận. Lão càng can ngăn thì con cháu lại càng đem đến biếu lão. Đặc biệt là cái tết Canh Ngọ vừa rồi. Chưa có tết nào mà con cháu, anh em thân tình lại biếu lão lắm thứ đến thế. Không những thế họ còn quấn quýt lão gấp bao nhiêu lần so với tất cả tết đã qua. Tất nhiên qua ánh mắt của họ lão Ân phát hiện trong cái nồng nhiệt ấy có chứa nỗi thầm lặng, chua xót của một cuộc chia tay sắp nổ ra chưa biết vào lúc nào theo họ nghĩ. Mặc! Lão cứ mặc và càng đóng kịch tốt bao nhiêu thì diệu kế của lão càng thành công bấy nhiêu.

Xuân Canh Ngọ-xuân của con ngựa hay là con ngựa đang xuân. Một con ngựa dậy thì. Ngựa truy phong đâu phải bỡn. Trước mắt lão Ân một chân trời thiên lý mã đã hiện ra. Năm chín mươi năm du lịch. Ngày xuất phát cũng đã đến.

 

(còn nữa)

Tình Cờ

March 27, 2012 Leave a comment

Tình Cờ

 Xuân Chiều

Tình cờ quá! Gặp người xưa bạn cũ

Ngang dốc đường xuống cúp để chào tôi

Tấm áo sắc rêu anh mang màu vỏ hến

Năm tháng dãi dầu

Bạc phếch một màu vôi

Sau cái bắt tay lòng tôi khi ấy

Một cõi hoang sơ ở tít tận chân trời.

 

3-1992

Một chiến công

March 27, 2012 Leave a comment

Một chiến công

Xuân Chiều

 

Ở riêng vừa mới hôm qua

Ngoảnh nhìn trở lại đã là mười năm

Mười năm gian khổ âm thầm

Mười năm nắng dãi mưa dầm đã qua

Kể từ ngày ấy mới ra

Đồi không mông quạnh gian nhà đơn sơ

Nắng như đổ lửa ban trưa

Tiết trời tháng bảy vườn chưa cây trồng

Sườn đồi đá cuội như nung

Tường, cay, cuốc, nháo gánh gồng cả đêm

Lại còn thiếu đói ơi em

Cơm ăn chưa đáng bõ thèm đã thôi

Nao nao quay cả đất trời

Cái đêm say sắn hết đời chưa quên

Ốm đau bệnh hoạn bao phen

Con cam tẩu mã không tiền than ôi

Nhưng mà bầu máu đang sôi

Tấc riêng đâu sợ đất trời đảo điên

Tuồng chi thiếu gạo túng tiền

Đều là những thứ nhỏ nhen hàng ngày

Men đời vẫn bốc vẫn say

Mặc cho oan trái đắng cay hoành hành

Đời ta vẫn đạt vẫn thành

Đời ta vẫn cứ tươi xanh tuyệt vời

Con bốn đứa tạm đủ nuôi

Nửa nếp nửa tẻ chia đôi tình đời

Hôm nay việc nước xong rồi

Ngày làm kiếm sống đêm ngồi viết thơ

Để cho cuộc sống say sưa

Tình riêng hạnh phúc sớm trưa tràn trề

Gió xưa vẫn ập ùa về

Chúc hồn thi sĩ say mê vườn trần.

 

Mười năm là chục mùa xuân

Mặc cho mưa gió ái ân mặn mà

Đoạn phim một mảng đời ta

Thật cũng như là lập một chiến công.

 

5/10/1988

Này Đấng Lang Quân

March 27, 2012 Leave a comment

Này Đấng Lang Quân

Xuân Chiều

 

Này đấng lang quân trên đường nghĩa lớn

Vàng đá lãng quên mưu lợi bọt bèo

Chớ để non cao thành mây khói

Một phút đớn hèn cơ nghiệp đắng cay theo.

 

Tháng 3-1991

Nhà văn Murakami Haruki nói về tiểu thuyết “1Q84”

March 27, 2012 Leave a comment

Nhà văn Murakami Haruki, người vừa công bố tiểu thuyết “1Q84”, cuốn tiểu thuyết đang được bàn luận sôi nổi vào tháng 5/2009 (tập 1, 2 do nhà xuất bản Shincho ấn hành) đã đồng ý trả lời phỏng vấn báo Mainichi. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện đa tầng khắc họa “sự đối lập giữa cá nhân và hệ thống” trên vũ đài Nhật Bản thập kỉ 80 của thế kỉ XX .

PV: Tiểu thuyết “1Q84” đến thời điểm hiện tại tính chung cả hai tập đã được in 18 lần. Tập 1 in được 1.230.000 bản, tập hai in được 1 triệu bản và tác phẩm đã gây ra hiệu ứng kinh ngạc.
Nhà văn Murakami: Tôi nghĩ rằng độc giả trung thành của tôi có khoảng từ 15 đến 20 vạn  người. Nếu ở chừng đó thì điều mình muốn gửi gắm sẽ được tiếp nhận đúng như thế. Nhưng một khi lên đến 50 vạn, 100 vạn thì không thể biết được những ai đã đọc và họ có cảm tưởng như thế nào”.
PV: Tiêu đề bí ẩn vốn bắt nguồn từ tác phẩm “Năm 1985” của George Orwell (xuất bản năm 1949) cũng chứa đầy đầy ma lực và ẩn chứa bí mật?

Nhà văn Murakami: Lúc đầu tôi định lấy tiêu đề là “1985”. Tuy nhiên trong quá trình viết, tôi có trò chuyện với đạo diễn Michael Radford người đã chuyển thể tác phẩm của Orwell thành phim và nhận ra nhà văn người Anh Anthony Burgess đã viết tác phẩm có tên “1985”. Sau khi suy nghĩ rất nhiều tôi đổi tên thành “1Q84”. Khi viết xong, tôi tra trên internet và  nhận ra Asada Akira cũng công bố một cuốn sách trùng tên  có kèm theo băng cát-sét. Nhưng do đã mất nhiều công sức vì thế mà tôi đã thông báo cho Asada Akira. Câu chuyện rắc rối như thế đấy.

PV: Đã hơn 3 tháng kể từ khi phát hành. Trong thời gian này khi nghe những lời phê bình thì…
Nhà văn Murakami: Tôi hoàn toàn không đọc. Tôi thường không đọc các lời phê bình đặc biệt lần này tôi lại đang viết tập 3. Đó là do tôi muốn tập trung hoàn toàn để viết. Khi viết xong tập 1, tập 2 tôi nghĩ rằng thế là tất cả đã kết thúc. Tôi lúc đầu muốn viết hai tập nhưng sau một thời gian thì lại có cảm xúc muốn thử viết đến tập 3. Không biết rồi từ giờ trở đi sự thể sẽ ra sao nữa. Tôi dự định sẽ công bố nhanh nhất vào đầu mùa hạ năm tới.

PV:  Nhân vật chính là người phụ nữ 30 tuổi có tên “Aomame” và người đàn ông có tên “Tengo” cũng 30 tuổi. Câu chuyện càng tiến triển thì mối quan hệ cả hai người cũng không ngờ đến càng hiện rõ. Aomame, người thông thường làm việc với tư cách là huấn luyện viên thể thao, đã bí mật nhúng tay đưa người đàn ông có hành vi bạo lực gia đình khó tha thứ vào “thế giới đó” một cách bí mật là nhân vật vốn không có trong tác phẩm của Murakami?
Nhà văn Murakami: Trong quá khứ tôi không giỏi về việc khắc họa phụ nữ nhưng dần dần thì tôi đã có thể khắc họa một cách vui thích và tự do. Aomame cũng nằm trong lộ trình mở rộng đó chứ không phải là một sự tạo hình có ý thức đặc biệt. Thêm nữa, ở thời hiện đại phụ nữ lại sắc sảo và can đảm hơn  vì thế với tôi việc tự tin khắc họa sẽ dễ dàng hơn. Đàn ông gần đây không có gì là khỏe (cười) và cũng có thể việc khắc họa đàn ông khỏe mạnh đang dần trở nên khó khăn. Cho dù thế nào đi nữa thì tôi vẫn muốn từng bước một mở rộng nhân vật được khắc họa và làm câu chuyện thêm hấp dẫn.
PV: Vũ đài thập niên 80 so với những năm 60-70 chao đảo bởi các cuộc tranh đấu trong trường đại học và thập niên 90 với sự sụp đổ của cơ cấu chiến tranh lạnh nhìn có vẻ hòa bình hơn. Tác giả, một người thuộc thế hệ “đấu tranh” đã trải qua “mùa chính trị” tại sao lại chú ý đến thời kì này?

Nhà văn Murakami: Lịch sử tinh thần của thế hệ chúng tôi có một đại tiền đề. Văn hóa  phản kháng, cách mạng, chủ nghĩa Mác đã rất thịnh hành từ nửa cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70 và nó va đập với điều đó gây ra sự phân liệt. Phương hướng bạo lực và cực đoan như “Liên hợp hồng quân” hay tư tưởng công xã. Và rồi sau khi phong trào cách mạng bị sụp đổ bởi vụ án “Liên hợp hồng quân” thì lại đi tới  chuyện “Sinh thái học mới” và “Thời đại mới”. Tôi có nhận thức rằng chuyện sinh ra và hành động của “Liên hợp hồng quân” cũng giống như sự sinh ra và hành động của giáo phái Aum. Không phải việc tôi muốn khắc họa bản thân Aum mà tôi muốn khắc họa trong tiểu thuyết thế giới của Aum nơi đưa vào một hiện thực khác giống như “hộp trong hộp” của thế giới chúng ta đang sống.

PV: Trong “1Q84”, con người đến lúc nào đó sẽ chuyển sang thế giới của ngôi nhà “1Q84” . Và ở đó xuất hiện những tổ chức gợi nhắc đến “Liên hợp hồng quân” và Aum như “Akebono” và “Sakigake”.
Nhà văn Murakami: Đó là sự ngẫu nhiên. Aum lần đầu tiên mở đạo trường vào năm 1984. Thập niên 80 sau khi chủ nghĩ lý tưởng của nửa sau thâp niên 60 sụp đổ là thời đại nằm giữa cuộc khủng hoảng dầu mỏ và sự đổ vỡ kinh tế bong bóng. Tôi nghĩ rằng nó mang tính chất tượng trưng đậm nét. Ở đó quyền lực có ở nửa sau thập niên 60 đã nằm ở dưới lòng đất như mắc-ma và cuối cùng thì xuất hiện dưới hình thức như là bong bóng. Bong bóng cuối cùng đã làm sụp đổ thể chế hậu chiến bằng việc nổ tung. Thập niên 80 đã dần tiến về sự sụp đổ như thế. Sau khi chủ nghĩa lý tưởng sụp đổ người ta không biết sẽ lấy gì làm chỗ dựa tinh thần. Sự hỗn mang hiện nay thực ra cũng là kết quả của điều đó mà thôi.
PV: Sau khi phỏng vấn những người bị hại trong vụ án xả khí độc Sarin ở ga tàu điện ngầm năm 1995, ông đã viết các tác phẩm “non fiction” khác như “Underground”. Trong bài phát biểu tại lễ nhận giải thưởng văn học Israel vào tháng 2 năm nay ông cũng có nói về “hệ thống” đối lập với tinh thần của cá nhân con người?
Nhà văn Murakami:  Sự đối lập, xung khắc giữa cá nhân và hệ thống là chủ để quan trọng nhất đối với tôi. Mặc dù không thể không có hệ thống nhưng nó cũng làm cho con người phi nhân hóa ở nhiều phương diện. Đối với những người bị giết và bị thương trong vụ án khí độc Sarin thì hệ thống Aum là thứ làm cá nhân tổn thương. Đồng thời những kẻ phạm tội cũng bị áp bức trong hệ thống Aum. Tôi nghĩ rằng cấu tạo áp bức hai tầng đó thật đáng sợ. Chuyện bản thân tự do đến đâu là điều bất cứ khi nào cũng phải suy ngẫm.

PV: Cả tôn giáo và tư tưởng cách mạng đều có điểm chung là có thể tạo ra “hệ thống ác”?

Nhà văn Murakami: Trong xã hội hiện nay tính bất khoan dung ví dụ như chủ nghĩa lý tưởng mang tính tôn giáo, chủ nghĩa quốc gia giống như cựu Yugoslavia (chủ nghĩa khu vực) đã nổi lên thành vấn đề. Trong quá khứ đã có sự đối lập  trong cái khung lớn giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản, giữa phản đối chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân nhưng rồi dần dần nó trở thành thứ mang tính khu vực, phe phái và sinh ra tình trạng khó mà nhìn thấy tổng thể.

PV: Trong “1Q84” có xuất hiện nhân vật bí ẩn gọi là “Little People” có sức mạnh phá hoại. “Little People” là người như thế nào, thiện hay ác không rõ nhưng ở tình huống nọ thì là thứ có sức mạnh tạo ra câu chuyện ác. Mặc dù tôi nghĩ rằng “Little Peole” ở trong rừng sâu vượt qua thiện ác nhưng bằng việc có liên quan với mọi người đi ra từ rừng sâu thì cũng có trường hợp có sức mạnh tạo nên thất bại .Cho dẫu nói vậy thì thiện ác hay sự đối lập về giá trị quan không phải là thứ tương đối hóa một cách dễ dàng?

Nhà văn Murakami: Thứ mà tôi thực sự muốn khắc họa là sức mạnh tốt đẹp mà câu chuyện có. Việc con người bị trói buộc trong câu lạc bộ nhỏ hẹp đóng kín như Aum là quyền lực xấu xa của câu chuyện. Nó sẽ lôi kéo, dẫn dụ con người theo hướng sai lầm. Điều mà tiểu thuyết gia muốn làm là đưa lại cho mọi người câu chuyện có ý nghĩa rộng lớn trong đó tạo ra sự rung động tinh thần. Chỉ ra thứ gì là sai trái. Tôi tin vào sức mạnh tốt đẹp của câu chuyện như thế và tôi viết trường thiên tiểu thuyết và phạm vi câu chuyện rộng lớn là vì muốn tác động đến nhiều người dù là nhỏ bé. Nói thẳng ra tôi nghĩ rằng cần phải viết nên những câu chuyện có thể đối kháng với chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa lý tưởng một cách tối đa. Ở đó việc đầu tiên phải xác định cho được “Little People” là gì. Và đó là công việc của tôi.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Mainichi (Nhật Bản). Bài đã đăng ở đây

%d bloggers like this: