Archive

Archive for April, 2012

Mùa Thu Cho Anh

April 30, 2012 Leave a comment

Mùa Thu Cho Anh

Mai Phương

Em lại ngồi với chiều thu và viết
Bông cỏ may theo gió đã đi rồi
Trời lạnh thế, triền đê loang nắng vội
Thu đến nửa vời, xa cách mãi thôi…

Anh nhóm bếp một mình nơi ấy
Đêm có vơi đi cái lạnh hao gầy
Nhìn trăng  khuyết chắc là anh nhớ
Tóc em buồn chải suốt heo may

Tuổi thơ ùa về thắc thỏm trên tay
Kỷ niệm về nhau rắc đầy lối cũ
Hoa cúc mỏng manh giấu lời nhắn nhủ
Trang viết phập phồng thức ngủ cùng đêm

Lá gọi mùa về, nỗi nhớ dày thêm
Buốt nhức cỏ may những ngày dông gió
Vườn của ta xưa đong đầy trăng tỏ
Anh đừng buồn, em vẫn đợi thu qua.

Advertisements

Thơ viết cho một người con gái

April 26, 2012 Leave a comment

THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI CON GÁI

Nguyễn Quốc Vương

 

Trong thế giới phù hoa và đảo điên này

Anh dựng một căn lều cỏ

Để gió mưa đi qua vầng trăng ở lại

Thiên hạ chế giễu

Em mỉm cười

Anh thương cảm thế gian

 

24/4/2012

Nhầm xe hay chuyện nhầm đường

April 21, 2012 Leave a comment

Vội đi làm, đãng trí thế nào lên nhầm xe bus. Lại can tội  vừa đi vừa ngủ nên lúc tàn canh mới biết.

Vừa mất 3000VNĐ vừa mất thời gian. Bực và sầu!

Để giải sầu trong lúc chờ xe trở lại liền làm…thơ cho đỡ…tức!

 

NHẦM XE

 

Sáng nay ngủ gật nhầm xe bus

03 lại cứ  ngỡ 34

Tỉnh mộng thấy mình nơi xa lạ

Ngựa xe nườm nượp chảy như sông

Chợt ngẫm việc đời dường cũng thế

Sai đường đi mãi cũng bằng không

 

Và khi viết xong thì tôi  “phổ” luôn ra thể lục bát cho nó …dân tộc:

 

Sáng nay ngủ gật nhầm xe

34 muốn cưỡi ai dè 03

Tỉnh mộng chợt thấy xót xa

Nhầm đường đi mãi vẫn là số không

 

P/S: Sau khi đọc cho một vài người bạn nghe thì họ bảo rất giống…thơ đề. Trong bối cảnh nhà nhà đánh quả, người người trông chờ trúng số này gợi ý trên là một ý tưởng hay về nghề nghiệp!

GIỚI THIỆU HIẾN PHÁP NHẬT BẢN 1946

April 14, 2012 Leave a comment


Bản hiến pháp này được công bố vào ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947  trong bối cảnh Nhật Bản bị quân Liên hợp quốc (quân đội Mĩ) chiếm đóng. Bản hiến pháp với  ba nguyên lý : “hòa bình”, “dân chủ” và “tôn trọng con người” đã đặt nền tảng quan trọng để dân chủ hóa và phi quân sự hóa Nhật Bản. Bản Hiến pháp này là sự phủ nhận đồng thời là sự thay thế Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản công bố năm 1889 – hiến pháp xác nhận thiên hoàng có quyền lực tuyệt đối và thống trị Nhật Bản ngàn đời.

Điều 9-Hiến pháp Nhật Bản

Dưới đây là phần trích giới thiệu  bản Hiến Pháp Nhật Bản 1946  trong sách giáo khoa Lịch sử THPT “Lịch sử Nhật Bản B” (Nhà xuất bản Yamakawa, 2002. trang 332). Nhật Bản sau năm 1945 thực hiện chế độ kiểm định sách giáo khoa. Theo chế độ này các nhà xuất bản tư nhân có quyền tự chủ lựa chọn tác giả, tổ chức biên soạn sách giáo khoa theo chương trình khung của Bộ giáo dục (thông thường cứ 10 năm thay đổi một lần). Sách biên soạn xong sẽ được trình lên Hội đồng kiểm định sách giáo khoa của Bộ giáo dục thẩm định. Nếu được hội đồng thông qua, cuốn sách sẽ chính thức được trở thành sách giáo khoa. Lựa chọn và sử dụng cuốn sách nào trong trường học sẽ do Ủy ban giáo dục địa phương đó và hiệu trưởng trường học quyết định. Các cuốn sách giáo khoa dạng này  được gọi là “sách giáo khoa kiểm định”. Ở Nhật trước đó cũng đã từng tồn tại chế độ “sách giáo khoa quốc định” kể từ giữa thời Minh Trị trở đi. Trong chế độ này nhà nước (bộ giáo dục) nắm độc quyền từ biên soạn chương trình cho tới tổ chức biên soạn và phát hành sách giáo khoa. Tất cả các trường học trên toàn quốc đều chỉ dùng một bộ sách giáo khoa duy nhất của bộ giáo dục.

Trên thế giới ngoài chế độ sách giáo khoa quốc định, kiểm định nói trên còn có nhiều nước thực hiện chế độ tự do hóa sách giáo khoa như ở Bắc Âu .

Có lẽ ở Việt Nam tôi là người đầu tiên dùng các từ “Sách giáo khoa kiểm định”, “Sách giáo khoa quốc định” chuyển ngữ từ tiếng Nhật. Trong tương lai rất có thể các cụm từ này sẽ xuất hiện dày đặc khi nói đến giáo dục và cải cách giáo dục ở Việt Nam. Trước kia ở Nhật các từ như  “dân chủ”, “hiến pháp”, “triết học”, “nhân quyền”… không hề tồn tại nhưng dần dần chúng trở thành các từ khóa vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa Nhật Bản. Có nên đến Cục sở hữu trí tuệ đăng kí bản quyền không nhỉ?!

                                                                          HIẾN PHÁP NHẬT BẢN

Lời nói đầu

Quốc dân Nhật Bản hành động thông qua những người đại biểu trong quốc hội được lựa chọn bằng bầu cử một cách chính đáng, vì chúng ta và con cháu chúng ta, để đảm bảo thành quả có được từ sự hợp tác hòa bình giữa các dân tộc và lợi ích đem lại từ tự do trên khắp lãnh thổ nước ta, (chúng ta) quyết định  sẽ không để thảm cảnh chiến tranh do hành vi của chính phủ diễn ra lần nữa, tuyên bố rằng chủ quyền thuộc về quốc dân và chế định hiến pháp này.

Quốc dân Nhật Bản mong muốn hòa bình vĩnh cửu, tự giác sâu sắc lý tưởng cao cả bao trùm quan hệ tương hỗ giữa con người với con người vì vậy tin tưởng vào công lý và sự trung thực của các dân tộc yêu hòa bình và quyết chí duy trì sự an toàn và sinh tồn của chúng ta….

Điều 1: Thiên hoàng là biểu tượng của Nhật Bản và là biểu tượng thống nhất quốc dân Nhật Bản, địa vị này là dựa trên sự đồng ý của quốc dân Nhật Bản nắm chủ quyền.

Điều 9: Quốc dân Nhật Bản thành thực theo đuổi hòa bình quốc tế dựa trên nền tảng trật tự và chính nghĩa, từ bỏ vĩnh viễn chiến tranh nhà nước phát động và sự đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực với tư cách là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế.

Để thực hiện được mục đích của mục trước, Nhật Bản sẽ không duy trì hải lục không quân và các chiến lực khác. Không công nhận quyền giao chiến của nhà nước.

Điều 11: Quốc dân có quyền thụ hưởng tất cả các quyền con người căn bản. Những quyền con người cơ bản của quốc dân được hiến pháp này đảm bảo  sẽ được đem đến cho quốc dân hiện tại và tương lai với tư cách là quyền lợi vĩnh viễn không thể xâm phạm

Điều 25: Tất cả quốc dân đều có quyền sống cuộc sống văn hóa, khỏe mạnh ở mức độ tối thiểu

Nhà nước phải nỗ lực xúc tiến, nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và vệ sinh công cộng ở tất cả các phương diện của cuộc sống

Điều 28: Đảm bảo quyền đoàn kết, quyền thương thuyết tập thể và các hành động tập thể khác của người lao động.

Nguyễn Quốc Vương dịch và giới thiệu.

 

Bà Muối (truyện ngắn của Mai Phương)

April 13, 2012 Leave a comment

Cái nhà cũ kêu rọt rẹt trước mỗi trận gió bấc cuồng nộ. Mấy ngày nay, trời bỗng gió rét khác thường. Đồi núi, rừng cây và cả những cánh đồng khô nứt nẻ chừng như lặng câm mặc gió hoành hành. Cái lạnh tê tái hơn những mùa đông khác. Bà Muối ngồi trong căn bếp hẹp lộn xộn, đồ đạc đen kít bồ hóng vừa sưởi vừa cời than nướng mấy con ốc nhồi.

Con cú mèo thằng Máy bắt được trong Khe Táy đem về nuôi đã quen với cảnh sinh hoạt của con người. Nó đậu trên búi cỏ khô xó bếp mắt thao láo nhìn bà lão. Thi thoảng nó lại “chẹp chẹp”, “ríc ríc” một hồi. Chắc nó làm thế cho bà Muối đỡ cô đơn. Ngày nào bà chẳng ngồi trong  căn bếp này từ sáng đến trưa, từ chiều đến tối. Con cháu bà người thì đi làm ruộng, đứa thì đi học xa hết cả, làm gì có ai trò chuyện với bà cho được. Mà bà cũng không thích nói chuyện với đám cháu chắt của mình. Chúng suốt ngày bàn đến mua điện thoại đời mới, quần áo mốt này mốt khác, nên làm tóc xoăn hay tóc thẳng. Làm gì có đứa nào biết được bà đang rất buồn, rất nhớ cái làng Cống xa xưa của mình với những nóc nhà yên ấm. Bà nhớ người bạn đi cấy rất thân của mình tên Nụ hát hay, răng đen nhưng nhức mà đời thì bạc bẽo. Bây giờ, bà ngồi ăn cùng con cháu bên mâm cỗ đầy trong căn nhà sang trọng bỗng lại thấy xa lạ và tủi tủi thế nào ấy.

Làng Cống từ ngày có con đường nhựa liên huyện chạy qua đã hoàn toàn đổi khác. Đất ruộng vườn làm đường được đền bù khá nhiều tiền. Người làng chen nhau ra ở sát mép đường, đua nhau đập mấy gian nhà ngói cũ kỹ của cha ông đi để xây nhà ống cho hiện đại. Tiếng là nhà có bếp nhưng không ấm vì đun bằng thứ lửa xanh lét. Bà sợ mùi ga. Ông Đình con trai cả của bà cũng xây một cái nhà to uỵch như thế. Con cháu bà định phá bếp cũ đi xây cái nhà tắm nóng lạnh nhưng bà không đồng ý. Bà bảo, nếu muốn bà sống hãy để lại căn bếp ấy. Và đó là lý do tại sao mà còn cái bếp đầy bồ hóng dưới gốc mít bên ngôi nhà láng coóng mới xây. Xó bếp lỉnh kỉnh đủ thứ, nào khoai lang, bí đỏ, cà chua, hành tỏi, nào là chum đựng đậu đỗ, bu nhốt gà, bao đựng trấu xay…Có cả cái chạn bát bằng tre bóng lên màu cánh gián đêm đêm rúc rích chuột. Bà Muối chít khăn nhung đen, mặc quần lụa ta, áo bông, đi đôi tông cổ lỗ ngồi bó gối trong không gian ấy thật hợp lý.

– Bà ơi, mẹ cháu đâu ạ? – Tiếng cái Lý, cháu nội của bà gọi vống lên.
– Bà không biết. Có việc gì? Bà Muối bình thản quay mặt nhìn ra.
– Chú Cầu bị tai nạn rồi, cháu tìm mẹ lấy tiền mang ra thị trấn.
Bà Muối giật mình hoảng hốt làm rơi cả con ốc đang xèo xèo nước trên tay:
– Tai nạn gì? Nó mới đi làm ba hôm nay chứ mấy?
– Ôi giời, tai nạn  thì mấy, bà thật lẩm cẩm, chú ấy bị ngã giàn giáo gãy chân rồi.
– Trời đất ơi, con ơi là con- Bà khẽ rên lên rồi nói:
– Đây, tiền đây, cầm tạm đi, mẹ mày lên xã nộp sổ đỏ vay mượn gì đó rồi.

Bà Muối lần trong thắt lưng, dễ chừng cũng đến cả xấp tiền, rất nhiều giấy 10 ngàn đồng, chắc là tiền mừng tuổi của con cháu nhân dịp Tết. Cái Lý cầm vội nắm tiền rồi lên xe vù đi, quên cả chào bà. Lòng bà Muối như có ai kéo rào đi qua.

Bà góa chồng từ khi 30 tuổi, mấy chục năm nay nuôi 5 đứa con Đình, Cầu, Tự, May, Mắn. Cái làng Cống xưa kia rừng rậm rạp nay chỉ còn leo pheo ít bụi hóp sát bờ sông. Khu đất hoang rìa làng ngày trước chỉ để cho trẻ con buộc trâu bò và chơi trò đánh khăng đánh đáo nay biến thành san sát nhà tầng. Làng thay đổi nhanh chưa từng thấy trong cơn lốc kinh tế thị trường. Bà còn nhớ những năm bao cấp, tháng ba ngày tám phải đào củ chuối về nấu ăn thay cơm, chẳng bù cho lũ cháu chắt bà bây giờ không thèm ăn cơm trắng, chúng đòi ăn những thứ gỉ, thứ gì đó cơ. Bà quanh quẩn trong mấy gian bếp chẳng muốn đi đâu. Những ngôi nhà lát gạch men phải bỏ dép ở ngoài bà thấy khó chịu.  Cái bồn rửa mặt bé tẹo sao bằng múc nước dưới giếng lên rồi ào ào vỗ vào mặt cơ chứ.  Bà lẩn mẩn nghĩ đến chuyện sao con trai bà bị tai nạn được. “Thằng Cầu số lận đận”- bà lẩm bẩm thế. Chú Cầu quanh năm đi phu hồ theo đám thợ xây trong làng. Ruộng ngày càng hẹp, còn độ một sào rau thì vợ chú quanh quẩn làm. Chú Cầu và bao nhiêu trai tráng thành người nhàn rỗi, đành kéo nhau đi làm ăn xa. Nghe nói, giờ chú đi nấu ăn cho thợ, không biết trèo lên giàn giáo làm gì mà ngã. Thằng Quán con trai chú mới mười lăm, mười sáu đã phải đi làm thuê kiếm tiền cho cái Giang đi học. Năm ngoái nó về mang theo cái ngón tay băng lù lù. Thì ra nó bị máy xén gỗ nghiến mất một ngón tay khi đang làm công. Sự kiếm tiền trở thành quá ư mệt nhọc và lam lũ, không phải như người làng Cống xưa chỉ việc trồng rau cấy lúa mang bán là xong. Chú Tự là người được học hành trong nhà nên đi  thoát ly làm công nhân ở mãi Hải Phòng thi thoảng mới về. Chú cũng bật cười khăng khắc trước ngôi bếp của bà Muối. Thằng Máy con trai chú Đình vừa lấy vợ và mở cái quán bé xíu rìa làng bán mấy thứ cà muối, tương, mắm, lòng lợn, măng chua… Chiều nào cũng khối người mua mấy thứ đó. Xem ra, hàng rẻ tiền muôn đời  được người ta chuộng. Chú Mắn đang nuôi giấc mơ làm giàu ở xứ người. Cả nhà đang dồn tiền và vay mượn lấy vài trăm triệu cho chú đi Hàn Quốc. Bà Muối phấp phỏng không ngủ được khi thấy các con cháu tối tối rì rầm bàn tính. Nhưng bà biết gì mà tham gia. “Bà già rồi cứ ngồi im đấy cho con nhờ”- chú Cầu lại gắt lên như thế. Bà ỉu xìu quay về căn bếp riêng tư nướng ốc ăn cho qua ngày. Hóa ra, bà thành người thừa thãi trong cuộc sống của con cháu mất rồi. Nhiều người cho rằng bà dở người, nhà cao cửa rộng chẳng ở lại cứ thích ngồi suốt ngày ở xó bếp cũ kỹ. Nhưng với bà thì khác.

Ở đó là một thế giới riêng tư thuộc về bà, nơi để mấy cái nơm kia đã từng là nơi bà lót ổ rơm cho chồng bà ngủ. Ngày ấy làm gì có điện, chỉ biết đến ánh trăng. Bà và bà Nụ hay đi xem hát chèo bên kia cánh đồng làng. Nụ trốn mẹ để đóng vai Thị Màu lẳng lơ trong vở chèo làng bên về bị mẹ đánh cho một trận nhớ đời. Rồi Nụ đâm ra yêu thầm con trai ông chủ gánh chèo.  Nụ đã trốn làng ra đi vào một đêm mờ mờ trăng suông. Bà Muối can ngăn không được bèn lẻn đi giấu giếm cho Nụ mấy đồng hào lẻ và quay về. Trên đường về, bà đã gặp chồng bà sau này- người đàn ông vâm váp chuyên đi cày thuê cho cả làng. Bà lấy chồng sau một đêm ngủ quên trong ổ rơm nơi góc bếp bên hơi ấm người đàn  ông lạ lẫm khi bố mẹ vắng nhà. Sau đận ấy, bố mẹ bà hầu như không lấy gì của chồng bà ngoài cái nhìn đe nẹt: “Chúng mày liệu mà sống”…

Bà còn nhớ ngày lúa làm đòng phơi phới tháng ba, cả làng hong hóng đợi đêm hát chèo diễn ở sân đình. Bà mong thầm, nhỡ đâu may ra gặp Nụ. Mà gặp thật, Nụ không xuất hiện trong gánh hát mà tất tả tay nải bên vai cùng cái bụng kềnh càng lội tắt qua đầm lầy về phía nhà bà Muối. Không kịp nói gì, Nụ đổ gục bên đống rơm và khóc nức nở. Thì ra, cuộc sống không ngọt ngào như tiếng hát đêm đêm trên sân khấu. Chàng trai con ông chủ gánh chèo đã chán Nụ rồi, khi mà cô thôn nữ mang thai lếch thếch theo đoàn chỉ để nấu cơm. Nụ bất chấp mọi tủi hổ trở về. Bà Muối còn nhớ trận đòn kinh thiên động địa cha Nụ đã dành cho Nụ. Rồi bao nhiêu lời đàm tiếu xì xèo của người  làng. Nụ sinh con và sống trong căn nhà vốn là cái chuồng lợn cũ. Hầu như gã đàn ông rỗi hơi nào đi qua nhà cũng buông lời chọc ghẹo Nụ. Thằng Được lớn lên buồn thiu cùng những lời đồn thổi về mẹ. Trưa ấy nắng lắm. Nụ tóc tai rũ rượi ngồi ở sân điếm, nửa khóc nửa cười như người lên cơn dại. Xung quanh, người làng xúm đen xúm đỏ. “Trả con cho tôi!”…Tiếng Nụ gào khóc xé lòng. Thì ra thằng Được ở nhà đun cám lợn bị một người đàn ông đến xưng là bố đón đi. Ai đến gần đều bị Nụ cầm nắm rạ ném vào mặt. Bà Muối ngồi lặng lẽ nhìn căn nhà Nụ xiêu vẹo mà xót xa như chính mình bị người ta lừa gạt vậy. Đến đêm thì người ta không thấy Nụ đâu nữa. Bà Muối thức giấc và hình như thấy có bóng người vụt qua cái cổng làng, xiêu vẹo đi trong ánh trăng. Ai như là Nụ? Bóng người đàn bà mờ ảo như ánh trăng tan ra trên đê rồi mất hút phía sau con sông già nua. Nụ biệt tăm tích từ ngày ấy…

Bà Muối thở hổn hển khi kéo cái nồi đồng cũ trong xó bếp ra, bà định bán cho con bé đồng nát. Từ ngày làng đổi mới, phố xóm chẳng có mấy ngày không có tiếng rao “ai đồng, nhôm sắt vụn bán đê…”. Mấy thằng choai choai không có việc làm tụ tập ở quán nước đầu làng tán gẫu, đánh đề và làm đủ trò chướng mắt. Tự dưng mọc lên cái quán Karaoke thư giãn ngay lối vào làng làm cho không khí trong làng lúc nào cũng ì xèo. Cãi vã, chửi bới có cả, đánh ghen, tranh giành khách có cả. Bà Muối sợ đám thanh niên ấy trộm mất cái nồi đồng nên mang ra để bán. Bà đưa tay sờ vòng quanh miệng nồi vẻ tiếc rẻ, xa xót lắm. “Bây giờ làm gì có ai dùng đến cái nồi ấy mà bà giữ làm gì?”. Đứa cháu dâu ngay bên hàng xóm nói vậy. Bà Muối giật mình. Bà cũng đâm ra nghi ngại chính mình, chẳng lẽ người ta đúng, cái gì xưa cũ đều lạc hậu, cái mới đều tốt cả? Bà không nghĩ thế, chính đám con cháu luôn cho bà là lỗi thời, là không nhìn ra thời cuộc mới là đám người nông nổi. Có ông cán bộ xã vào đưa cho mẫu tờ khai đi xuất khẩu lao động. Bà Muối cầm giấu tiệt đi. Mẹ con Lý từ bệnh viện trở về thì bà Muối cũng sửa soạn xong đồ đạc, tư trang. Bà gọi con dâu vào dặn: “Đi gọi thằng Mắn về cho u, không đi nước ngoài nữa, đưa tao lên thăm thằng Cầu”. Cả nhà không ai đồng ý, nhưng bà Muối găng lên, cái Lý đành đèo bà đi. Mấy hôm nay bà Muối có điều gì băn khoăn, nhấp nhổm, không bình thường. Sau khi từ bệnh viện trở về, bà Muối dặn con dâu không được bán mấy cái ruộng phần trăm cuối làng cho người khác, nếu bán, bà sẽ chết, để đấy rồi có việc. Ăn cơm xong bà gọi vợ chồng chú Đình lại rồi khép cửa, dáng điệu khác lạ. Bà lôi ra từ xó bếp một cái lọ thuỷ tinh cũ, đổ ra cả một nắm vàng ta. Chao ôi, cả vợ chồng chú Đình sững người. Bà Muối vuốt thẳng mảnh giấy nhàu nát trong lọ đưa cho ông Đình cùng một số vàng và dặn: “Ba ngày nữa không thấy ta về thì bố con Lý xuống tìm theo địa chỉ này. Thằng Được bao nhiêu năm không biết đến tình mẹ con, thấy bảo nó đã tìm được mẹ”. Chú Đình ớ người, thì ra, mọi đêm bà tỉ mẩn nghe đài, bắt con Lý ghi ghi chép chép khi chương trình “tìm người thân” phát đi. Bà Muối đã nghĩ quá nhiều trong những năm tháng làng đổi thay thành phố. Bà lo lắng cho tương lai đám cháu bà. Lo mất đi cái làng Cống cổ xưa. Và trên hết là tình thương với Nụ, với thằng Được côi cút nơi nào. Cuộc họp gia đình diễn ra chóng vánh, chú Đình vội vã nghe theo…

Bấy nhiêu mùa đông trong căn bếp cũ, bà Muối vẫn định đi tìm cậu con trai thơ bé của bà Nụ, tìm người bạn thời con gái dại dột thuở nào. Lần này, bà Muối quyết định ra đi, bởi bà biết chắc chắn, nơi bà đến, mọi đau khổ đã qua. Rõ ràng là đã muộn để rời bỏ những kìm kẹp cổ lỗ để đi tìm thằng Được. Nhưng muộn vẫn hơn không, bởi bà rất tin vào thuyết nhân duyên của Phật. Nếu có cơ duyên, bà sẽ mang được nó về lại ngôi làng của mẹ nó xưa kia. Nhưng mang nó về để rồi nó sẽ làm gì trong cái làng Cống ngày càng thay đổi thì bà không nghĩ được. Nhưng ít nhất bà Nụ có thể sống cùng bà, làm lụng trên đám ruộng cha ông, và sẽ được chết nơi đã sinh ra. Bà quyết định rời bỏ cái bếp cũ để đi.

 Và mới tơ mơ sáng một ngày đầu tháng trong sương lạnh, đã có người nhìn thấy bà tay nải gió đưa… Lạ một điều, ngay hôm sau bà đi vắng, đám con cháu bà đã họp lại kiểm điểm nhau, xem chừng đã ngẫm nghĩ những lời bà nói.

Mai Phương

Sông Thương – Về thăm mẹ

April 11, 2012 Leave a comment

Sông Thương

Nguyễn Quốc Vương

 

Sông Thương bây giờ cạn đến đớn đau

Buồm nâu chỉ còn trôi trong ký ức

Không xóa được hết

Kỉ niệm làm ta buồn

Khát vọng làm ta hàng đêm mất ngủ

 

Quê nhà 18/3/2012

 

Về  Thăm Mẹ

 

Lại nằm nghe tiếng ếch kêu

Lại nghe trên mái mưa đều đều  rơi

Thời gian như chớp mắt trôi

Mẹ giờ tóc bạc da mồi đợi con

 

Quê nhà 18/3/2012.

Categories: Thơ Tags: , ,

Tập truyện ngắn “Người đoán giấc mơ” của Mai Phương

April 8, 2012 Leave a comment

Tập truyện ngắn “Người đoán giấc mơ” của chị Mai Phương gồm 14 truyện ngắn vừa được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành. Đây là cuốn sách thứ tư của chị  sau: “Mùa chim ngói bay về”  (Tập truyện thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2003), “Ở bên kia cơn mưa” (Tập truyện ngắn, NXB Lao Động, 2008), “Về miền ký ức” (Tập tản văn, NXB Văn học, 2011). Xin chúc mừng chị và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.

Dưới đây là truyện ngắn “Dòng sông cuối chân trời” nằm trong tập truyện và được giới thiệu trên tạp chí Văn nghệ quân đội.

 

Tôi quay về quê cũ tìm chị vì cơ công tác. Chị tiếp tôi cùng những câu chuyện chẳng đầu chẳng cuối. Tôi biết chắc chị đang có nỗi niềm gì. Chị ngồi trong lòng thuyền giơ lên một tấm ảnh cũ trầm tư. Dưới ánh đèn, tôi nhìn thấy hai người con gái. “Chị và ai đây?” – Tôi hỏi. “Mua đấy, nom ngố nhỉ”- Chị đáp. Tôi khoả tay xuống nước bảo: “Chị quý Mua nhỉ, lúc nào cho em gặp cô ấy nhé”. “Được thôi, chuyện của nó viết tiểu thuyết được”. “Em tưởng câu nói đó phải dành cho chị chứ”. “Em nghĩ thế à, chữ đẹp không?” – Chị lật phía sau tấm ảnh chìa về phía tôi. Dòng chữ  tặng em nắn nót thật đẹp. Chữ đàn ông. “Ai chụp cho chị vậy, hay…?”. “Ừ, vậy mà như mơ ấy, người đã đi rồi…”. “Có điều gì quan trọng lắm phải không chị?”. “Đúng, chị đã không thể lấy ai vì sự già cỗi của lòng mình…”.

Gió bắt đầu tung hê cho lời kể của chị. Tôi ngồi mơ màng chép lại từng mảnh tâm trạng chị trong trí tưởng tượng và rất nhiều liên tưởng.

“…Tôi đã đứng đó ngóng về nơi những ngọn sóng giận dỗi đang tung mình vào phía bờ bên lở. Con sóng xòe ra đám bọt trắng tinh rồi tan biến vào mặt nước lắm u uẩn. Mấy cái vẩy lân tinh lấp loáng. Có bóng thuyền nào đó đi ra từ nơi tịch mịch như trong sương khói. Không một tiếng động, nước chỉ khẽ kéo thành một vệt dài trôi trong ánh trăng. Thuyền ma. Tôi thoáng chột dạ.

Con thuyền thật kỳ lạ trôi đi như giễu cợt đôi mắt vốn đã buồn của tôi. Tôi đã không hiểu nổi cả chính mình và càng không hiểu nổi cái vẻ lặng tờ của con thuyền cô đơn kia. Nó dường như không bận tâm gì đến cảnh vật, đến dòng sông cồn cào đổ sóng. Một bóng người nhòe nhòe đi như chân không chạm đáy thuyền trong khoang. Mà hình như là người không có đầu. Tôi bủn rủn. Đúng là ma không đầu rồi.

Người làng vẫn kể về những con ma không đầu đêm đêm lượn lờ đi lại trong cái điếm canh đê bỏ hoang với giọng sợ sệt và kỳ bí. Tuyệt nhiên không ai dám đến ngôi điếm canh đó vào lúc đêm khuya thanh vắng. Nếu không vì em chắc tôi cũng không đứng đây vào giờ này để run lên trong hơi thở bập bõm như mình không chính thức còn thở nữa.

Làn da tôi sắp thành lớp vẩy bóng nhẫy ánh trăng. Và rồi tôi sẽ trườn đi trong đêm tối, nơi mà ánh trăng không ngự trị để yêu anh bằng tình yêu của những con rắn thành tinh trong huyền thoại. Tôi ngờ những thứ người đời gọi là hạnh phúc lứa đôi trong những gia đình này nọ chỉ là giả tạo. Anh đã chẳng cồn cào trong mớ bòng bong của đời mình mà vùi chôn những khao khát, những hoài bão của mình đấy thôi.

Nhưng tôi mơ hồ hoảng sợ nghĩ đến em. Em đã biến đi đâu mất khỏi ngôi làng này mấy hôm nay. Hay em thành sóng rồi, hay em là bóng người mờ tỏ phía xa kia, hay… đầu em bị biến mất rồi ư? Tôi không cho phép mình nghĩ thêm nữa. Em đã ngồi lặng lẽ bên tôi suốt buổi mà không nói một lời nào. Nhưng tôi hiểu em đang hồi tưởng về những gì của cuộc sống vợ chồng ngắn ngủi. Em chưa kịp trở thành cô gái thật sự thì đã đi về một bờ bến khác khắc nghiệt hơn, ồn ã hơn, dối trá hơn. Em thành đàn bà khi còn quá trẻ  Em đi với nỗi buồn của em, nỗi buồn không thể nói ra.

 
 Minh họa: Quốc Thắng

Còn tôi đứng đó mà chứng kiến chân mình bắt đầu mềm nhũn rồi tan chảy một cách từ từ. Những ngón tay, ngón chân dài dần rồi tan thành nước bò xuống mặt sông. Tôi đã thành một con rắn mềm oặt, ướt nhẫy ánh trăng. Cả người tôi run lên vì lạnh. Cảm giác ấy hệt như cảm giác của sự từ bỏ tội lỗi. Tôi thấy mình phải có trách nhiệm với em hơn bao giờ hết.

Tôi nghe rõ nhịp tim mình đập y như khi tôi rất gần anh. Nụ hôn của anh cũng ướt và mềm như cơ thể tôi lúc này. Toàn thân tôi chạm xuống cỏ. Một cảm giác đau đớn lan toả. Chợt nhớ ra mình vừa mới lột xác, những chiếc vảy rắn bong ra cắm vào ý nghĩ. Tôi chợt thấy rõ mình có linh hồn. Một linh hồn con người hẳn hoi.

Còn nhớ những ngày ốm nặng, tôi đã ngủ thiếp đi mất hai ngày trời. Trong giấc ngủ ấy, tôi thấy linh hồn mình bay lên khỏi cơ thể, lượn qua lượn lại thành khói mỏng rồi bay ra ngoài. Tôi đã ngồi trên chiếc thuyền độc mộc kỳ lạ cùng với người lái thuyền lướt đi êm ru không một tiếng động trên dòng sông xanh dương. Hai bên bờ sông là những hàng dương liễu im như tờ. Rồi tôi đến nơi dành cho mình toàn là huyệt mộ.

Tôi đã tìm mọi cách trốn thoát trở về vì tôi còn có bố mẹ, có anh và cả em nữa cùng nhiều người mình yêu quý khác. Một cuộc vật lộn trong tâm tưởng xảy ra. Cuối cùng tôi đã chiến thắng. Mẹ bảo tôi đã tỉnh lại sau hai ngày ngủ như chết, tay chân lạnh ngắt, chỉ thoi thóp thở. Chính vì thế mà tôi sợ em đã đi mất sau những con sóng mờ ảo kia.

Con thuyền ma lúc nãy đã đi về phía nào tôi cũng không biết nữa. Lạ một nỗi, trong ánh trăng, thân hình tôi như phát sáng và nóng rừng rực. Tôi ý thức rất rõ sự mất mát. Từng sợi dây cảm giác căng lên trong ngực. Hai bầu vú tôi biến mất, thay vào đó là trái tim con rắn non đầy rẫy tổn thương.

Tôi đã chết trong một giấc mơ của mình nên rất hiểu cảm giác cái chết nó ngột ngạt, bẩn thỉu thế nào. Nhưng tôi cũng ngây thơ mà tin rằng trên đời này có thứ tình yêu đích thực và cao thượng khác xa những đam mê thân xác bình thường. Tôi tin vào những con sóng ngoài xa đang xô vào chính nó nhưng lại cho người khác sự an ủi tuyệt đối. Dòng sông dường như cũng thở phập phồng trong ánh trăng.

Em ở đâu? Làm gì có con đường nào lại bình yên bằng con đường của làng mình em nhỉ! Không có ai bỡn cợt hay bắt nạt. Mẹ lại ở gần, mẹ sẽ hiểu những điều em nói. Nhưng tình yêu của em không đâm chồi trên bãi phù sa làng mình mà trổ hoa trên sự khờ khạo của em ở một nơi xa lạ. Chị nghĩ rằng em cũng đã khóc, nhưng em sẽ không nghĩ ra cách ngồi ngắm sóng  để bớt đi ưu phiền đúng không?

Ngay cả tôi cũng thế, ngóng em và đâu đây là những mong nhớ về anh đã làm tôi tan chảy vào đêm cùng những lâu đài cảm giác hoang đường nhất. Tôi muốn hoá thân vào cát và những gì nhỏ nhất để có đủ can đảm lìa xa anh. Anh đã nói về những giấc mơ và ngồi đốt thuốc. Mỗi ngọn khói loang ra hệt như một lát cắt quá khứ nhiều đau khổ…

Nhà chú Cảo ở chon von trên quả đồi sỏi cơm cằn cỗi xưa trồng toàn lim ngoảnh mặt xuống cánh đồng. Ngôi nhà gỗ ba gian có những kèo, cột bằng thứ gỗ bạch đàn cong veo đã cũ kỹ lắm rồi. Mái ngói võng hẳn xuống. Tường nhà trát vữa vẫn còn lồi lõm. Vệt vôi loang lổ trên nó tạo thành những hình thù kỳ dị. Chỗ bàn uống nước chi chít giấy khen cấp tiểu học của cái Sim.

Nhà nghèo nhưng Sim học rất giỏi. Chị đi lấy chồng rồi còn lại Sim và thằng út nên ngoài thời gian trên lớp Sim lại lao vào làm hùng hục giúp mẹ. Mà những đứa trẻ thôn quê như Sim làm gì biết đến ăn uống bồi dưỡng cho có sức khoẻ cơ chứ. Bây giờ Sim học lớp chín rồi, hiểu cặn kẽ mọi chuyện trong gia đình mình. Có lẽ nó cũng bắt đầu hiểu tại sao chị Mua nó lại có nỗi buồn cố hữu trên gương mặt như thế.

Sim ngồi chống gối trên thềm nhìn ra cánh đồng phía bãi sông ngóng cái dáng mảnh mai của chị Mua nó. Bố Sim chắc được cánh thuyền cát mời cơm vì mùa này là mùa làm ăn của những người đi thuyền hút cát dưới đáy sông. Chú Cảo học ít, quanh năm cày cấy, rỗi lại đi làm cửu vạn đội cát ngoài bãi sông để kiếm tiền. Người ta xúc cho chú những thúng cát to đầy tràn, lèn chặt đến nỗi chú phải oằn người xuống mới cất được nó lên vai.

Miếng cơm, manh áo đè nặng lên vai người đàn ông thấp lùn đen đủi ấy khiến chú như ngày một lùn thêm. Mỗi thuyền cát chừng vài chục khối người ta trả cho chú khoảng ba mươi ngàn đồng. Với nhà khá giả đủ mua một cân thịt ba chỉ, còn nhà chú sẽ tằn tiện ăn rau mắm đến cả tuần. Cô Xíu vợ chú khôn ngoan hơn chồng nhưng cũng chỉ rành làm đồng. Mua lớn lên hiền như cây sắn trong vườn.

 
 Ảnh: Skychapter

Mua vừa lớn lên thì được mai mối lấy chồng. Mọi người xung quanh em ngờ rằng, có khi chính em không hiểu được đến nhà một người đàn ông khác ở quan trọng thế nào. Người ta không nghĩ em ngơ ngác, hiền lành thế lại biết cởi những chiếc khuy áo của người đàn ông bên mình trong đêm tân hôn. Mọi người bàn tán, ì xèo khá lâu về em. Chị thì lại nghĩ về bố mẹ em, những người nông dân chất phác, nghĩ thật giản đơn con gái lớn thì lấy chồng. Chồng Mua hình như đã có một đời vợ thì phải. Mua làm sao thoát được sự bủa vây của anh chàng từng trải ấy…

Ngày tôi mở căn quán nhỏ cho thuê truyện và sách báo để kiếm sống, Mua đã gặp tôi và bảo: “Sao chị lại mở quán cho thuê truyện, ai cũng như em thì ai đọc cơ chứ?”. “Rồi em xem, sẽ đông khách đấy, thỉnh thoảng Mua cũng đến đây mà đọc”. “Đọc gì hả chị, em thì biết gì đâu”. “Đọc truyện tình yêu chẳng hạn, để biết yêu mà lấy chồng cho chị ăn cỗ ”. “Còn chị đã ngoài ba mươi rồi, sao chị không lấy chồng đi, à, chân chị còn đau không?” – Giọng Mua chùng lại khi nhìn thấy chân tôi bên cao bên thấp. Tôi xếp đống truyện lên giá gỗ rồi yên lặng cùng Mua trôi về ngày đó.

…Bến đá trưa nào cũng đông đúc người tắm giặt, rửa rau rửa cỏ. Tôi nghỉ hè sau kỳ thực tập của trường trung cấp thư viện nên cũng ra bến giặt giũ. Tôi đã bơi ra giữa sông để thả những cánh hoa bí ngô vàng rực theo dòng nước rồi nằm lim dim trên mặt nước mặc cho thân mình trôi dập dềnh. Mua giặt gần những tảng đá kê sát bờ. Bỗng nó kêu lên thất thanh, hình như có con gì cắn thì phải.

Tôi hốt hoảng bơi lại. Chân Mua sụt xuống bị kẹt giữa khe của hai tảng đá.  Hình như có con vật nào ở bên dưới khe đá đó, rất đáng sợ. Tôi vội kéo Mua lên. Bọt nước sủi đỏ ngầu.  Tôi vừa kéo được Mua ra thì mắt tối sầm, đau điếng. Một tảng đá lớn phía trên sụt xuống đè xuống đúng gióng chân tôi. Mua hốt hoảng chạy lại kêu thất thanh: “Chết rồi! Có ai không, cứu chị Quỳnh với! Đá đè vào chân rồi!”.

Tôi lơ mơ thấy máu loang đỏ trên mặt nước. Sự đau đớn chạy dọc sống lưng. Không thể cất lời. Mua lấy hết sức đẩy tảng đá ra, vừa làm vừa gào khóc. Mấy phút sau thì mọi người kịp đến. Sau đó là một tháng trời nằm viện.

Tôi nếm đủ mọi sự buồn tẻ, đau đớn và cả vô tích sự của kẻ phải để mọi người chăm lo. Ra viện, chân tôi bên thấp, bên cao. Tôi thành người đi xập xềnh. Có kẻ nào đó gán cho tôi cái tên Quỳnh thọt nữa. Nghe mãi thành quen, tôi cũng chẳng tự ti. Cầm bằng tốt nghiệp đi xin việc một vài nơi. Ở đâu họ cũng để ý cái dáng đi không bình thường của tôi mà nản lòng. Chẳng thiết đi xin việc nữa.

Tôi xin bố mẹ bày ra cái quán nhỏ này để được đọc sách, điều mà tôi thích thú từ nhỏ. Mua đã gắn với cuộc đời tôi như thế nên tôi không thể không nghĩ đến em. Đặc biệt hơn khi chuyện tình duyên của Mua càng là cái cớ để tôi ngẫm chuyện của mình. Tôi cũng tự xếp mình vào những cô thôn nữ thật thà cả tin ấy. Chẳng biết đường chúng tôi đi có đến chân trời?

Một tối, Mua sang nhà tôi thủ thỉ:

– Chị Quỳnh này, làm sao mà biết được con trai họ nói thật hay không?

– Nói thật à, khó nhỉ, em đọc một đoạn truyện vậy, chị không thể trả lời được.

Tôi đã đưa cho em nó quyển sách viết về chàng Đông Gioăng lãng tử mà hời hợt, bạc tình. Đến giờ tôi vẫn ân hận về điều đó. Biết đâu những dự cảm vớ vẩn ấy lại ám vào số phận của em. Ngày em bị chồng đèo về trả cho bố mẹ vì lý do “đần – không biết làm ăn” đã khiến tôi càng nghĩ mình có lỗi ở một góc nào đấy.

Đâu phải mình em có thứ cảm giác hẫng hụt đó. Những chàng si mê tôi một thuở, từ khi tôi thành tật, họ đã ra đi không một lời từ biệt đấy thôi. Trước đó, những trang nhật ký, những trang thư còn dày đặc những dòng đại loại “Anh sẽ yêu em mãi mãi đến khi nào anh không còn nữa”… Và ở một góc khuất nào đấy, có thể ngay làng trên xóm dưới, họ đang sống với một cô vợ được gọi là mối tình đầu trong trắng cũng nên…

Mà thôi, tôi an phận. Âu cũng là hạnh mình nó vậy. Cho đến ngày gặp anh. Những năng lượng ngủ quên trong sâu thẳm trái tim tôi vùng dậy không thể nào kiểm soát. Một buổi chiều giông bão, tôi dọn quán về sớm thì thấy chiếc ô tô con đi về phía mình rồi dừng lại. Người đàn ông bước vào quán hỏi:

– Cô gái, làm ơn có gừng không, cho tôi xin một ít?

Tôi đi lấy gừng cho khách. Người lái xe cuống quýt mượn cối giã gừng rồi lọc lấy nước đưa cho người đàn ông tóc đã hoa râm uống. “Xin lỗi, tôi bị trúng gió” – người đàn ông nói vậy rồi ngồi rất lâu trên ghế. Tôi nhìn họ uống nước rồi cũng ngồi im lặng. “Ở làng quê nghèo mà cũng có cái quán sách như thế này, thích thật. Đông người thuê truyện không cô?”.

– Dạ, cũng ít thôi ạ.

– Mỗi ngày được bao nhiêu tiền?

– Vài nghìn thôi ạ…

Ông khách đã tặng tôi một cuốn sách do chính tay ông viết. Tôi thầm  đoán ông là một trí thức thành đạt.

– Làm sách, gặp người mến sách, đọc sách là quý lắm, tôi tặng cô một cuốn để cảm ơn và cũng để làm kỷ niệm.

Tôi đón lấy cuốn sách của một người không quen mà thấy vui vui. Lâu lắm rồi mới có người tặng quà cho mình. Những ngón tay đều và mềm thật đẹp, da bàn tay rất hồng. Tôi không có ý định ngắm nó, nhưng quả thật tôi ít nhìn thấy ai có đôi bàn tay như vậy. Bàn tay của người thành đạt và nhân hậu.

Sau này khi yêu anh tôi càng ngộ ra, đôi bàn tay có những đường vân mạch lạc ấy đã nắm được trái tim mình trọn vẹn. Sau những chuyến đi công tác, hay có việc gì đi qua, ông đều ghé lại thăm tôi, cho vài cuốn sách mới và dăm ba câu chuyện. Hai người ngồi đối diện nói về một cuốn sách nào đó. Những đồng cảm. Những khoảng lặng. Những suy tư chen chật vào khoảng cách ghế ngồi.

Chúng tôi nói về số phận những trang viết, về nhân vật. Và về cả những nỗi buồn riêng. Mắt gặp mắt và dừng lại. Tôi đã để người đàn ông ấy hôn mình. Trong cái nắng đầy rơm rạ của làng quê, những vòng tay kéo siết dường như là thứ ngôn ngữ hợp lý hơn tất cả.

 
Ảnh: Skychapter

“Rồi mai này anh lại quên em ngay thôi”. “Em nghĩ thế à? Chắc là ngược lại”. “Em không tin”. “Rồi em sẽ hiểu, có những tình cảm mà người ta không nói đựợc bằng lời”. “Nhưng em lấy chồng thì sao?”. “Ừ, cũng nên như thế, anh xin lỗi, nhưng mà…”. Gió đồng quê xoá nhoà ranh giới tuổi tác, địa vị, và những nhiêu khê của thói đời trần tục.

Càng gặp anh tôi càng thấy dường như trời đã sinh ra anh và tôi để yêu nhau thì phải. Tôi đã yêu anh trong những say mê rung động tuyệt vời, anh cũng dành cho tôi những tình cảm thật lớn lao… Nhưng những dằn vặt luôn luôn thức dậy mỗi khi có điều kiện. Phía sau anh là gia đình, là bao nhiêu yên ổn. Và tôi không muốn mình là kẻ không ra gì. Nhưng thật lòng thì tôi không thể quên được…”

– Em vẫn nghe đấy  chứ? – Chị Quỳnh thoáng dừng lại chải tóc. Đôi mắt chị vụt sáng thứ ánh sáng nội tâm. “Vâng, em vẫn nghe, lại nhớ có một lần chị đã ngồi trong bóng tối im lặng làm em sợ chết đi được, lúc ấy hai người vẫn yêu nhau đúng không?” . “Ừ, thế đấy…”. Giọng kể ma mị của chị lại bắt đầu:

“…Tôi đã ngồi im trong bóng tối và suy nghĩ. Tự thấy mình không thể cắt nghĩa được điều đó. Tôi đã điên cuồng trong say mê với anh mà không hề suy xét, tính toán. Trong những giấc ngủ mơ, tôi thấy căn nhà của mình cháy ngùn ngụt. Lửa vây kín tôi và anh. Anh chạy thoát. Còn tôi đã chết rụi vì lửa, vì sự buông thả.

Thể xác và tâm hồn rách nát, tổn thương tột độ. Vậy mà hình như ý nghĩ vẫn tồn tại. Và tôi đã khóc. Những giọt nước mắt của tôi giống vị của máu. Không thể làm lại những gì mình đã đi qua. Không thể tìm thấy người thứ hai như anh trên đời này. Nhưng tôi lại không thể vượt qua chính mình, vượt qua muôn trùng dị nghị, rào cản của cuộc đời.

Không có anh không biết tôi sẽ vui buồn cho ai? Ai sẽ hiểu tôi những lúc cô đơn nhất? Lặng im. Tôi đã chọn cách đó. Giống như bao nhiêu ngày tháng trước khi tôi chưa gặp anh. Tôi sẽ không nhìn vào mắt của bất cứ người đàn ông nào. Tôi sẽ sống cuộc sống của áo cơm đơn điệu.  Tâm hồn tôi sẽ héo khô. Tôi biết chắc sẽ là như thế. Và nhiều ngày tôi nằm im, nhìn vào bức tường sát cửa sổ, ăn uống vớ vẩn. Chỉ miên man nghĩ. Nước mắt rỉ ra khi nhìn chỗ anh đã yêu tôi trên chiếc giường quanh năm cô độc. Hóa ra cũng là bi kịch.

Tôi và anh ngồi vắt vẻo ở hai đầu tấn bi kịch trớ trêu ấy. Tôi đã phát phiền khi nhận ra mình yêu một người chẳng còn tuổi trẻ. Chuỗi thời gian ngày đêm không ngủ khiến nhan sắc tôi xấu đi, vết sẹo trong lòng nhấm nhói đau. Phải lìa xa những say đắm điên rồ… Rồi tôi quyết định ra đi.

Trước ngày ra đi, tôi mơ được gặp bà. Bà đã đón tôi ở một rừng hoa đào tuyệt đẹp bên sông. Tôi chạy ào đến và thấy mình nhẹ bẫng bay vút lên. Bà đưa tôi đến một nơi toàn sương khói mờ ảo và thơm nức. Tôi thành tiên nữ lộng lẫy xiêm y, quên bẵng buồn khổ, cô đơn. Một tiên nữ thánh thiện không hề có tình yêu trai gái…

Lại một đêm vắng nữa. Mưa rả rích ngoài kia cùng cái lạnh thấu xương. Tôi nghe lòng mình vỡ ra. Từng mảnh ý nghĩ trôi theo tiếng mưa rớt ngoài hiên. Trên cao nhất những âm thanh ấy lại là anh. Tôi nhớ anh đã đọc thơ cho tôi nghe trong lúc mà lẽ ra người ta chỉ có thở và tận hưởng những gì êm ái nhất. Hóa ra không phải bắt người ta quên được điều gì đó là có thể làm được.

Mua đến, ngồi rất lâu trên chiếc ghế cũ. Nhà chú Cảo cũng quen với sự có mặt  mà như không của em thường ngày nên chẳng ai để ý. Im lặng. Tôi ngồi yên trên giường nhìn những cử động nhỏ của Mua nhưng không nói gì. Mua bắt đầu nói toàn chuyện linh tinh hệt như sắp xa tôi đi đâu đó thì phải.  Mua hỏi vay tiền. Kỳ lạ thật, em cần tiền làm gì? Hay là…?

Tôi không dám nghĩ đến cảnh Mua lang thang ở một nơi nào đó. Cạm bẫy chẳng thiếu gì. Ngày hôm sau, khi Mua đã biến mất, tôi ra ngoài bãi sông, trèo lên cầu ngồi đó mà thiền tịnh. Tôi quyết không gặp anh nữa, tôi trả anh về với cuộc sống đủ thứ trách nhiệm của anh. Tôi sẽ sống yên ổn với cái quán nhỏ, những trang sách và hằng hà sa số nỗi nhớ nhung. Nhớ cũng không thể làm người ta chết được. Tôi đã nghiệm ra như vậy.

Tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên thuyền của người đánh cá. Khuôn mặt lo lắng của cụ già râu tóc bạc trắng hiện ra. Tôi lờ mờ hiểu, mình đã không chết. “Một ngày một đêm rồi mới tỉnh con ơi, sao con dại thế, trẻ thế mà chết ư?”. Ông lão lập cập vỗ vào má tôi. Nước mắt tôi giàn giụa. Tôi chỉ còn nhớ tôi đã bay xuống từ lan can chiếc cầu trên sông.

Tôi là kẻ mộng du trong thực ảo lẫn lộn. Tôi đã u mê đi mà rơi xuống chứ chưa bao giờ muốn chết. Hơn một lần trong mơ tôi đã chết rồi. Sóng đã đưa tôi đi gặp bà. Hơn một ngày xa cuộc đời đã cho tôi ít nhiều thanh thản. Ông lão cho tôi ăn cháo, đến chiều tối thì tôi tỉnh hẳn. Vậy mà người đầu tiên tôi nghĩ đến lại là anh. Hình ảnh anh đã bám rễ sinh sôi trong ký ức tôi. Tôi sẽ không còn mong điều đó.

Người thứ hai tôi nhớ là em. Tôi đã vô trách nhiệm bỏ quên em. Giờ thì tôi hiểu cảm giác của sự lìa bỏ và thương em hơn lúc nào hết… Đó cũng là lý do mà tôi xin phép ông cụ đi từ căn nhà gỗ nhỏ ra bờ sông ngóng đợi em. Cụ thừa hiểu tôi không bao giờ có ý định chết nữa. Tôi khác trước rồi, nhất là từ khi được gặp bà.

Dòng sông trước mặt bỗng như ồn lên, sương bắt đầu loãng ra. Chân tôi lún trong cát ấm. Tôi nghĩ thoáng đến ngôi điếm canh và những bóng ma. Cái sợ vèo qua đầu. Tôi nhớ đến hình ảnh bà lão bán tằm đã chết ngồi trên một bậc thềm, lũ tằm từ giỏ xách lổm ngổm bò khắp cơ thể bà. Dần dần bà biến thành con tằm khổng lồ nhả ra những sợi tơ vàng buông khắp sân. Không gian rực lên thứ ánh sáng kỳ lạ chưa từng thấy.

Người ta bảo bà đã hóa trên nền đất tổ tiên xưa trồng dâu nuôi tằm. Bà chúa tơ đã trở nên bất tử trong người dân làng tôi. Lúc này hình ảnh về bà lại cho tôi cảm giác muốn được sống đến cùng  với những ước nguyện của mình. Tôi và anh đã vô tình vướng vào sợi tơ của kiếp trước thì phải. Muốn thoát ra mà vô cùng khó khăn.

Tôi chợt tỉnh táo hẳn khi phía sau ngôi miếu hình như có vệt nước đang khẽ lay động. Một chiếc thuyền to, hình như là thuyền hút cát hiện ra và tiến về phía tôi.  Tôi thoáng chột dạ nghĩ xem điều gì đang đến. Một bóng người vụt lên mui thuyền. Giật mình. Tôi đưa tay véo xem đùi mình có còn đau không. Đau. Bóng người rõ dần, tiến về phía tôi đang đứng.

Ôi, hình như là em, đúng là Mua. Mua khua khua tay. Một người đàn ông từ trong nhà thuyền chui ra chống sào đẩy thuyền vào bờ. Thuyền cập bến. Mua nhảy phắt lên bờ ôm chầm lấy tôi. “Chị tưởng em chết à? Không đâu, em đi mua thuyền dưới Quảng Ninh đấy, mua thuyền về làm cát cho bố đỡ khổ. Cái Sim sẽ có số phận khác hẳn em”. “Ai kia?”. “Chị biết là ai không, bố em và người lái thuyền em đã thuê đấy”. Thì ra vậy, em đã trút được gánh nặng mà vươn lên.

“Chị đợi em à? Ông ấy có tìm chị nữa không?”. “Chị không bao giờ gặp lại ông ấy nữa, chị quyết định rồi, chị sẽ học tập em, sẽ làm một việc gì đó để sống. Phải sống em ạ” . “Nhưng ông ấy cũng bất hạnh lắm, hình như ông ấy rất cô đơn”. “Chẳng sao cả”. Tôi nói cơ hồ như để rút mình ra cái vỏ rắn đầy yếu đuối, nông nổi. Anh sẽ mãi là nỗi đau, niềm hạnh phúc, là ngọn lửa âm ỉ cháy trong lòng tôi. Tôi không bao giờ gặp anh nữa, nhưng sẽ không bao giờ thôi yêu anh.

Tôi ngoái nhìn những con sóng phía chân trời lần cuối cùng rồi cùng Mua bước lên bờ trở về nhà. Tôi biết rằng, mỗi ngày mới đến, những con sóng sẽ tái sinh trong từng trang sách trên cái giá gỗ nhỏ. Giường ngủ và nơi đọc sách của tôi kê gần nơi đó, nơi rất nhiều ánh sáng sẽ đi qua…”.

Hạnh phúc của chị đơn giản thế thôi, em hiểu chưa…?

Chị thở rất khẽ, giọng kể bắt đầu loãng ra rồi ngủ. Tôi mơ thấy mình biến thành dòng sông mờ xa trong câu chuyện của chị. Dòng sông hiếm hoi còn lại cuối chân trời.

MAI PHƯƠNG

%d bloggers like this: