Archive

Archive for May, 2012

NHƯ CÁI TẢNG KÊ CỘT ĐÌNH (truyện ngắn của Xuân Chiều)

May 31, 2012 Leave a comment

NHƯ CÁI TẢNG KÊ CỘT ĐÌNH

 

Sau một tiếng đằng hắng, đội trưởng Lê Sâm vuốt lên mái tóc rồi úp hai bàn tay vào nhau đặt trước ngực trịnh trọng:

– Kính thưa các vị đại biểu, thưa bà con.

Trước khi bước sang phần hai của đại hội- phần bầu ra Ban chỉ huy đội mới, tôi trân trọng giới thiệu cùng bà con, Chủ tịch Hội nông dân ViệtNamcủa xã lên phát biểu cùng đại hội.

 

Sau loạt vỗ tay hội trường im phăng phắc. Từ hàng ghế Ba Lan danh dự kê ngay trước bàn chủ tọa, một người đàn ông tóc vuốt cánh gà, người thon nhỏ trong bộ y phục mùa hè, áo sơ mi cộc tay trắng, quần xẹc Lào màu xanh. Ông bước lên bàn chủ tọa với một vẻ nhanh nhẹn, khuôn mặt rạng rỡ nở một nụ cười, làm cho đôi mắt ti hí của ông như chỉ toàn lòng đen lóng lánh. Nom ông rõ ràng trẻ hơn cái tuổi bốn hai nhiều. Qua thái độ điềm tĩnh, cử chỉ thành thục của ông, mọi người chẳng ai bảo ai đều thầm nhận xét ông rất quen với cái việc diễn thuyết trước đám đông. Tên ông làMaiVăn Cơ chủ tịch Hội nông dân ViệtNamxã Đông Quan vừa nhậm chức sau Đại hội Đảng bộ tháng 8 năm 1989. Trong khi ông Cơ chỉnh lại cổ áo, dịch lại lọ hoa đặt sang một góc bàn và đưa tay phải rút quyển sổ ở túi quần đặt lên mặt bàn thì ở dưới đây đó vang lên những lời khiêu khích.

 

-Ông này là ông lợn ba đầu-một thanh niên chừng hai chín, ba mươi nói vậy.

 

Ông Chính, một cán bộ quân đội nghỉ hưu thật thà:

 

– Sao lại có lợn ba đầu?

 

–  À! ..ra thế, bác chưa hiểu thế nào hả? Ờ, bác mới về có thể không biết được. Rồi anh ta nhìn ông Chính  với một cử chỉ cười bằng mắt vừa như thăm dò, vừa như chế giễu rồi tiếp:

 

– Ông này mấy năm trước ông ấy nuôi một con lợn nó có ba cái đầu.

 

Ông Chính đang ngẩn tò te với dáng mơ hồ thì ở góc bên kia lại có bà nói bâng quơ cốt để ông Cơ nghe được:

 

– Tí nữa hỏi mượn ông ấy mấy cái bánh đà của đầu máy bơm.

 

Một chị nạ dòng ngồi ngay chính hàng ghế giữa lại hích chị bên cạnh nói một cách tự nhiên:

 

– Có thiếu ăn thì chốc nữa hỏi ông chủ tịch mà vay ít sắn.

 

Thấy không lịch sự chút nào đội trưởng Lê Sâm đứng lên. Anh xua xua tay:

 

– Thôi thôi! Tôi đề nghị bà con trật tự. Có gì để chiều ta phát biểu, bây giờ đa phần hết thời gian.

 

Lê Sâm quay về bàn chủ tọa.

 

– Xin mời anh Cơ tiếp tục.

 

Mùi xào rán của đội quân hậu cần ở bếp không xa xông lên ngào ngạt. Với cái ngửi lõi đời, chủ tịch Cơ phân biệt ngay được đâu là mùi của áp chảo, đâu là mùi kho tàu, đâu là thịt gà luộc rắc lá chanh, đâu là nem rán  và dường như còn phảng phất hương vị của lòng lợn húng láng, tiết canh nêm răm, mùi, thì là… Ngoài sân cái nắng của mùa hạ chói chang. Giàn mướp bên bờ giếng phơi những tán hoa vàng rực. Những con ong mật hoang dã to bằng ngón tay cái đen nhẫy, đang hăm hở tranh nhau chuyển từ hoa này sang hoa khác. Lũ gà choai con nào con ấy há mỏ, mở rộng đôi cánh thở gâm gấp đứng trong bóng mít góc vườn. Từ khi nghe được những lời bâng quơ ám chỉ,MaiVăn Cơ thấy trong người nóng ran, hai thái dương tự nhiên giật giật. Đặc biệt là hai tai như xoát dầu cù là. Nhưng ông vẫn điềm tĩnh như không có gì. Ông đảo mắt toàn hội trường một lượt thấy cũng đã im. Tuy vậy, tiếng quạt nan, quạt giấy đôi khi vẫn phát ra phành phạch. Trán ông cũng đã lấm tấm mồ hôi. Ông bắt đầu:

 

– Kính thưa đồng chí Hà thay mặt cho huyện ủy. Kính thưa đồng chí Tân chủ nhiệm. Thưa Ban chỉ huy đội cùng toàn thể bà con xã viên. Vì thời gian có hạn, khả năng của tôi cũng có hạn, một phần thì chủ nhiệm đã phát biểu rồi, hôm nay trời lại nóng, tôi chỉ phát biểu với bà con ba ý sau.

 

Ông liếc nhìn đồng hồ và tiếp.

 

– Xin bà con không quá ba mươi phút. Thứ nhất nói thêm về việc khoán mười ở đội ta. Thứ hai bà con cần đóng góp xây dựng cho Hội nông dân của xã. Thứ ba là có mấy điều tham khảo với Ban chỉ huy đội mới.

Sau đó ông lướt nhanh qua những thành tích của đội 5 như tiến hành chia lại ruộng đất, sắp xếp lại lao động, việc thu hoạch chiêm xuân với năng suất khá và cuối cùng ông đi sâu nhấn mạnh:

 

– Việc thu hồi đất theo chỉ thị 299 và 824 chưa tốt. Đội không quản lý nổi, hay nói một cách khác không thu được diện khai hoang, phục hóa. Không giải quyết được các trường hợp lấn thổ cư vào diện tích canh tác. Hiện tượng bất công bằng về tư liệu sản xuất trong xã viên vẫn còn. Từ đó gây nên mất đoàn kết.

 

Trong khi lý giải những trường hợp cụ thể mà ông nắm được, Chủ tịch nông dân bây giờ mới có đủ thì giờ quan sát thấy cuộc đại hội xã viên đội 5 hôm nay khá đông. Toàn đội có 113 hộ thì có lẽ không thiếu hộ nào. Hội trường bốn gian người ngồi đầy ắp hai hàng ghế nhà ga lại rải cả ra thềm và các xó xỉnh. Xen kẽ những xã viên cố hữu có những cán bộ hưu như: ông Chính, ông Quế, ông Nhiên. Chắc là chấp hành nghị quyết của chi bộ nên các vị đều có mặt. Đặc biệt ông Cơ nhìn thấy cả ông Kiên ngồi tận hàng ghế cuối trong chiếc áo gụ cộc tay. Một bạn học với ông Cơ từ ngày còn nhỏ. Hiện Kiên có hai bằng đại học trong tay. Cuộc đời chiến đấu vào sinh ra tử, cuộc đời một cán bộ pháp lý trầm lắng suy tư làm cho Kiên già nhiều so vớiCơ.Kiên hơn Cơ chừng hai, ba tuổi. Và có lẽ do thương binh loại 3 mà Kiên nghỉ hưu hơi sớm. Đối với Cơ, Kiên vừa là bạn lại là một đối thủ đáng gờm. Ông ta có trình độ bậc thầy màMaiVăn Cơ không thể địch nổi. Bấy lâu nayMaiVăn Cơ rất ngại tranh luận với những cán bộ hưu. Vì nếu so sánh thìMaiVăn Cơ thấy mình dẫu sao cũng chỉ là gà què ăn quẩn cối xay. Cuộc đời của mình cho dù hơn hai mươi năm công tác nhưng chỉ lên đến huyện lại về. Văn bằng chiếu chỉ cho dù trong tay – Cơ có giấy chứng nhận đã học đại học kinh tài nhưng thực chất chỉ là cái vỏ. Với một chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp loại thường vốn văn hóa lớp 7 huyện kéo lên ghép vào lớp đại học tại chức do huyện mở. Như một lão nông lần đầu ngồi cúp sau người lái lướt trong thành phố. Tuy nghe các giáo sư giảng hết năm này tháng khác nhưng thực chấtMaiVăn Cơ ù ù cạc cạc không biết mô tê gì. Ấy thế mà trong bạn bầy công tác cũng nhiều kẻ phục  lăn như bi. Tóm lại số đại biểu trong đại hội nàyMaiVăn Cơ phân chia thành ba thành phần. Một là ân nhân, một là trung gian vô thưởng vô phạt, quan tám cũng ư quan tư cũng gật. Số này đi họp cũng là để gỡ gạc tí chút. Nghề đời đã choMaiVăn Cơ nghiệm thấy nếu tổ chức hội nghị cứ có quả pháo éc dăm bảy chục ký treo cửa hội trường thì đông đáo để. Nếu không, cho dù có đốt đến năm bảy bánh pháo đùng số đại biểu cũng chỉ đếm đầu ngón tay. Còn một nữa là đối tượng. Trong đám đối tượng nàyMaiVăn Cơ còn nhìn rõ cả một lực lượng quần thâm đáng gờm. Đã có lần mấy cái mẹ nạ dòng kia làm choMaiVăn Cơ nay vẫn ớn tận xương sống. Không nhớ rõ vào năm nào nữa, từ ngày chưa có chế độ khoán, xã viên còn làm theo công điểm. Một buổi chiềuMaiVăn Cơ đi họp, khi đạp xe qua vìa làng Đồng Trung này (Đội 5 hôm nay) thấy một toán phụ nữ chẳng hiểu có bao nhiêu người ngồi mát quanh gốc đề đầu xóm.MaiVăn Cơ đon đả:

 

– Thế các bà cấy đâu thế này.

 

Tất cả nhao nhao đáp lại.MaiVăn Cơ nay còn nhớ những cái giọng phát ra từ những miệng có quai có mỏ.

 

– Chào chủ nhiệm

 

– Chúng em chào chủ nhiệm

 

Như một người đóng kịch, không để ý đến những lời phúc đápMaiVăn Cơ nhìn đồng hồ mà nửa đùa nửa thật nghiêm nghị:

 

– Chết! Các vị làm ăn thế này chẳng trách đói là phải. Đói đừng kêu nữa, bây giờ đã năm giờ kém còn ngồi mát.

 

Thế là tất cả bùng lên như ngọn lửa của ngọn đèn măng xông bị bốc.

 

– Đúng chúng tôi đói, đói không đi cấy được.

 

– Nắng chúng tôi chứ nắng gì các ông.

 

Dường nhưMaiVăn Cơ cũng bị kích thích, ông lên mặt bề trên gay gắt:

 

– Còn oan ư? Các người vẫn còn oan ư?

 

Thế là như những cái lò xo đang bị dồn nén tụt chốt hãm bật dậy, chủ nhiệm đủ nghe xói xỉa.

 

– Thời buổi này chỉ chết những đứa còng làm cho những thằng ngay ăn.

 

Lại có lời ví von mát mẻ:

 

– Xã viên làm việc bằng hai để cho chủ nhiệm mua đài mua xe. Xã viên làm việc bằng ba để cho quản trị xây nhà xây sân.

 

Trước tình huống không thể nấn ná mà thêm dại,MaiVăn Cơ đạp xe nhưng ông vẫn còn nghe mồn một. Có lẽ cái bà vừa kháy khỉa ban nãy kia, bà ta đứng lên lồng phách vỗ đến đách một cái vào cái của mình, miệng rít lên đay đổ:

 

– Bắt chước bà nào: Tiên sư bố nhà mày không biết đẻ ra cán bộ nên bà khổ thế này.

 

Và còn nhiều nhiều nữa. ..

 

Từ cú ấy chủ nhiệm Cơ rút kinh nghiệm xương máu. Chớ có ấm đầu mà can thiệp vào những chuyện không đâu. Ngay việc dự đại hội hôm nay cũng thế chủ tịch nông dân phải toan tính kỹ lưỡng mấy ngày về nội dung phát biểu bây giờ. Nói làm sao cho không đụng chạm, nói sao để tránh được hết những điểm vốn há miệng mắc quai của mình. Ở góc trái cuối hội trường, hai cái đầu một xanh một bạc luôn gật gù với nhau. Đó là anh thanh niên nói cái chuyện lợn ba đầu ban nãy. Anh tên là Đỗ Trung Lành. Còn cái đầu bạc chính là ông Chính  một thiếu tá về nghỉ hưu năm ngoái. Anh Lành vẫn xầm xì kể cho ông Chính  về con lợn kỳ quặc ấy.

 

– Cách đây chừng bốn, năm năm, à mà có lẽ đến năm, sáu năm cũng nên. Nghe đâu 1983 thì phải. Hồi đó ông Cơ làm chủ nhiệm, ông Hội làm kế toán trưởng.

 

Lành chậm rãi rít một hơi thuốc lào nhìn ông Chính  thăm dò rồi tiếp:

 

– Hồi làm chủ tịch xã lúc bấy giờ ấy.

 

Ông Chính mắt vẫn chăm chú nhìnMaiVăn Cơ nhưng ông nghe không sót một lời của anh Lành. Lành vẫn nỉ non nhỏ giọt:

 

– Không hiểu các ông ấy làm ăn thế nào mà ông Cơ cân cho nhà nước một con lợn 90 kg sau lại thành ba con lợn tức là thành 270 kg. Đó là thế này.

 

– Ông ấy được lợn nghĩa vụ cụ thể là thanh toán 30 kg giá ngoài nghĩa vụ và 60 kg giá trong.

 

– Ông ấy lại được lợn gia công lấy về 630 kg thóc tức là một cân lợn hơi được 7 kg thóc .

 

– Ông ấy lại đổi được lợn giống cụ thể là bắt cả ba lợi choai nhà ông Tận vừa tròn chín chục ký. Với lý do hợp tác sẽ trừ cho ông Tận số nợ ông hiện còn.

Như vậy chả phải là lợn ba đầu à. Nếu lấy đàn lợn ông Tận làm đơn vị thì con lợn đó còn thành ra chín đầu nữa là khác. Đỗ Trung Lành đưa tay cấu nhẹ vào đùi ông Chính và anh kết luôn:

 

– Thế đấy bác hiểu chưa?

 

Ông Chính nở một nụ cười hóm hỉnh gật gật.

 

– Ờ ờ rõ rồi! Rõ rồi! .

 

Lại ở hàng ghế bên kia, bà Đẻm tay cầm quạt giấy. Đôi môi tím sầm quết trầu của bà luôn mấp máy. Đội trưởng Lê Sâm cứ tưởng bà Đẻm đang nuốt từng lời diễn thuyết của chủ tịch nông dân, nào ngờ bà đang nhẩm tính số máy nước và máy phun sâu của hợp tác do ông chủ nhiệm Mai Văn Cơ đã bán vô tăm tích. Tổng cộng cả máy Ba Lan Trần Hưng Đạo và Bông Sen theo bà Đẻm tính đã lên đến con số bảy  chưa kể đến các phụ tùng và những vụ mất máy trong đêm chưa được phanh phui. Ở góc tận cùng của hội trường vang lên hơi rít của điếu cày. Người có cái đầu trắng như đụn bông, trắng hơn làn khói thuốc do chính ông vừa thở ra đo là ôngTrực.Một lão đồng chí đã gần bảy mươi xuân. Ông Trực rất băn khoăn không sao hiểu nổi là ông Cơ tham ô có, lợi dụng chức quyền chi tiêu trái nguyên tắc có, thanh tra của huyện đã làm ra rành rành. Ông ta không trúng cử đảng ủy, không trúng chủ nhiệm tại sao nay lại làm chủ tịch nông dân? Chợt thấy Lương Trọng Hà huyện ủy viên, người chỉ đạo trực tiếp của xã ra ngoài ông Trực ý tứ ra theo. Ở một góc sân sau vài ba câu chuyện đưa đà, ông Trực phỏng vấn ông huyện ủy viên những băn khoăn mà ông vương vấn. Dường như một vẻ xa xăm thận trọng nhưng nhẹ nhàng Lương Trọng Hà võ vai ông Trực:

 

– Thế này bố ạ. Theo quan điểm của Đảng ta thì đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người chạy lại. Mặt khác ở đường lối cán bộ thì ta thực hiện phương châm trị bệnh cứu người. Mặc dù đồng chí Cơ có khuyết điểm nhưng xét cho kỹ thì ông ta có công xây dựng địa phương mấy chục năm qua, chẳng lẽ bây giờ cho nghỉ hẳn thì thiệt cho ông ấy quá. Nên cũng đề nghị các bố giúp đỡ ông ấy vài năm nữa để ông đủ hưu như vậy vẹn cả đôi đường.

Ông Trực nghe Lương Trọng Hà nói cũng có lý, có tình. Ông gật gật đầu thỏa mãn. Và cả hai lại trở lại chỗ cũ.

 

Những xã viên ở thôn Bến Hạ- đội 4, nơi mà chủ tịch nông dân có nhà cửa vợ con ở đó họ lại phân tích khác. Họ bảo “Lương Trọng Hà là cái ô củaMaiVăn Cơ. Bởi trong mười mấy năm qua từ một cán bộ phái viên của huyện ủy nằm vùng nay lên đến huyện ủy viên phụ trách xã, Lương Trọng Hà đánh chén tại nhà chủ nhiệm Cơ mòn bát vạt đũa. Số xương gà và vỏ lạc chủ nhiệm Cơ, sau những cuộc thết Lương Trọng Hà chả to bằng cây rơm ngay sau mùa gặt. Có lần một khách một chủ cho bay hai cây bảy lăm. Chủ và khách bò tại chỗ. Lương Trọng Hà ăn rồi trả chủ. Trong lúc mộng du anh ta cho cái “vòi siêu” chảy lênh láng một vùng trong nhà. Sau vụ ấy lũ trẻ nhà ông Cơ cạch cái gian nhà ấy như lũ khỉ cạch mắm tôm.

 

Trên bàn chủ tọaMaiVăn Cơ đã chuyển sang ý thứ hai. Một điều làm ông phấn chấn là hội nghị không mất trật tự. Ông tự đánh giá với mình chắc là diễn thuyết của ông đã trúng lòng người. Ông đang chăm chú quan sát những phản ứng của người nghe thì cô gái phục vụ đặt cốc nước lên bàn.MaiVăn Cơ gật đầu cám ơn cô gái và đưa cốc nước lên nhậm một hớp nhỏ. Ông rút khăn mặt lau mồ hôi rồi lại tiếp. Ông động viên những hội viên của hội cố gắng đem nhiệt tình xây dựng hội có chiều sâu bề rộng. Với một người từng làm kế toán, chủ nhiệm bằng ấy nămMaiVăn Cơ thừa hiểu thời kỳ hoàng kim của mình đã hết. Cái ghế hiện tại chỉ là cái ghế bất đắc dĩ-một cái bậc cuối cùng trên dốc mà ông phải xuống. Tuy nhiên ông cũng phải khéo để cho bước đi trót lọt an toàn. Kể chẳng bổng lộc quyền hành gì những cũng còn  gỡ gạc chút đỉnh.MaiVăn Cơ tự tin ê kíp của ông vẫn còn : Lương Trọng Hà huyện ủy, Trần Thế Hội chủ tịch ủy ban nhân dân xã. Thời đại ngày nay làm việc mà  không có ê kíp tài mấy cũng là tong. Chẳng thế suýt nữa bị kỉ luật, bầu đảng ủy trúng ba phiếu trên hai trăm mười. Do tài dàn xếp của Hà, hội hôm nayMaiVăn Cơ vẫn có chỗ ngồi xứng đáng. Lên chức nữa là khác. Từ hợp tác lên xã chứ sao. Đời lắt léo thật. Nhiều khi vợ con mè nheo cắn rứt là thịt hết cả gà giống, hôm nayMaiVăn Cơ mới thấy cái nhìn tầm xa của ông lợi hại. Hiện nayMaiVăn Cơ rảnh rang không phải dính líu phức tạp như ngày làm chủ nhiệm. Giờ thắng ông được xơi nhưng thua ông cóc chịu. Cứ đầu bí thư, chủ tịch, chủ nhiệm ai muốn gõ gì thì gõ. Túm anh có tóc chứ túm gì thằng trọc đầu. Cái chức chủ tịch nông dân thực chất mới là danh dự. Quyền rơm nhưng không phải vạ đá. Cũng may vừa qua Ủy ban xây hội trường lấy ông vào ban xây dựng thì lại có công ăn việc làm bằng không thì ông uống nước vặt đến thủng đít. Dân làng Bến Hạ. Phải! Lại dân làng Bến Hạ họ nỉ non:

– Gớm chủ tịch xã  Trần Thế Hội, trưởng tài chính Hà Mạnh Trấn, chủ tịch nông dânMaiVăn Cơ là những nhà làm kinh tế giỏi. Mỗi người vừa tậu một mô kích mới cực.

 

Có thật. Mỗi vị có một Simson mô kích thật. Cũng chưa biết đầu cua tai nheo thế nào một xã viên nam hơi luống tuổi củ mỉ cù mì vốn chẳng nhiều lời của Bến Hạ cũng ngọt nhạt:

 

– Hà Mạnh Trấn một vợ ba con nhỏ, bố mới cho ở riêng hai năm. Vợ to bằng con nhái bén, anh ta công tác suốt ngày, nghe đâu vừa đánh bùn ao được vàng…

 

Chiếc đồng hồ báo thức để trên bàn trang trí, kiên nhẫn vô tư đẩy kim chỉ mười một giờ năm phút.MaiVăn Cơ cảm thấy mình nói đã hơi lâu khuynh tay nhìn đồng hồ. Chênh nhau một phút, đồng hồ ông nhanh hơn. Vậy đến giờ nghỉ còn những mười lăm phút nữa. Ông mới nói hết nửa thời gian đăng ký làm việc. Tuy vậy ông biết lúc này mà nói dài thành nói dại. Nay mới là đầu tháng 5 âm lịch mà nóng đáo để. Hội trường bây giờ như lộn xộn hơn. Tiếng điếu cày cũng rít liên hồi hơn. Một số thanh niên ngồi sát tường hậu, mặc dù ngay cửa sổ  đã phanh cúc ngực hết loạt. Những tín hiệu ấy thầm nhắcMaiVăn Cơ phải tăng tốc. Ông hắng giọng nhẹ một cái và tiếp tục. Ông khuyên những cán bộ của Ban chỉ huy đội mới phải hết lòng phục vụ dân, ông phê phán những tệ nạn quan liêu ức hiếp hội viên của hội nông dân. Ông nhắc nhở những ủy viên ban chấp hành của hội tại đội 5 phát huy tính độc lập, đấu tranh với những sai trái, với thói xấu của cán bộ đảm bảo cho được nguyên tắc: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

 

Ở hàng ghế đại biểu, chủ nhiệm hợp nhấtNgọcVăn Tân nhìn chủ tịch nông dân không chớp mắt.NgọcVăn Tân vừa nhìn cái miệng nói có duyên của chủ tịch vừa là để tìm kiếm xem trên khuôn mặt ấy có những đường nét nào đồng nhất với cái tâm địa gắp lửa bỏ tay người của ông ta không. Tân vừa được bữa no là chủ tịch nông dân cho ăn dưa cải khú. Của đáng tội khi biết không thể giữ chức chủ nhiệm được nữaMaiVăn Cơ không cần hô hào hộ xã viên chuyển gánh thuế nông nghiệp. Ông ta thúc luôn hai ô tô chuyển trên 200 tấn thóc bán trâu đổ thuế. Khi nhận bàn giao xong chủ nhiệm Tân mới ngã ngửa trên 200 tấn thóc ở kho còn đọng cả trong dân. Đi thu nợ quả là chẳng ngon lành. Thế mới thấy cái ngọt của con người cứ lặng lờ như trê đẻ. Trong lúc ấy mọi người cảm thấy đến đây ông Cơ có vẻ hăng hái hơn, khỏe hơn cũng dường như nói súc tích hơn. Phía Mai Văn Cơ ông lại phát hiện mặc dù trưa nhiều cái chi phối nhưng sự chú ý của người nghe vẫn tốt. Quả là điều chuẩn bị kĩ của ông không thừa.MaiVăn Cơ tự biết mình không còn mới mẻ gì với cái việc phát biểu ở hội nghị. Nhưng từ trước đến nay ông toàn nói nói về hoạt động kinh tế. Những buổi nói của ông nặng về trình bày một bản báo cáo, một phương án ăn chia hoặc thu chiêm làm mùa. Hôm nay ông phải nói chính trị. Một nét mới trong diễn thuyết của ông. Bởi thế thực sự ông trăn trở đã ba ngày ba đêm nay để cho ba mươi phút nói mà ông đang làm. Bề dầy công tác từ mấy chục năm qua đã choMaiVăn Cơ tự rút ra kết luận: Việc gì có công vun đắp thì cái đó thành công. Sự việc chả sờ sờ trước trước nhỡn tiền đấy sao.Năng lực của ông thật có hạn nhưng ông giữ được liên tục bằng ấy năm ở cái ghế chóp bu một hợp nhất đâu phải bỡn. Trong giới cán bộ nhất là những anh chàng hám địa vị vẫn thường thăm dò khám phá ở ông cái tài giữ ghế.MaiVăn Cơ thản nhiên trả lời một cách lý tưởng:

 

– Dân tín nhiệm, dân bầu, dân bỏ phiếu, thế thôi!

 

Cái bí quyết ấy ở chỗ trong hợp nhất có năm thôn làng tất cả. Làng Hậu Du-đội sản xuất số ba của hợp nhất có gần sáu trăm hộ. Một kho người chứa một lượng cán bộ và xã viên quá một phần hai trong toàn hợp nhất. Đó là nơi dung thân của chủ nhiệmMaiVăn Cơ cả một đoàn dài trên đường công tác. Mặc dù cha sinh mẹ đẻ ở làng Bến Hạ nhưng chủ nhiệm Cơ không hề thu vén gì cho nó. Để tỏ ra chí công vô tư không cục bộ, chủ nhiệm cho chuyển dần tất cả những thứ như: nhà mẫu giáo, nhà máy xát, nhà kho, nhà máy bơm về Hậu Du để xây dựng khu trung tâm hợp nhất. Người ta thấyMaiVăn Cơ quan tâm chăm chút bao nhiêu ở khu trung tâm thì ở Bến Hạ ông như câm như điếc bấy nhiêu. Nhờ bão bẻ măng những phần tử cơ hội ở Bến Hạ thả cửa hoành hành. Lấn đường, đào ao vào diện tích canh tác đổi trâu xấu cho tập thể lấy trâu đẹp làm của riêng. Nghe đâu những người khôn ngoan ấy lại là tông tích nhà chủ nhiệm. Ruộng của Bến Hạ cũng ngày một cắt dần sang Hậu Du cho liền khoảnh tiện vùng. Vỡ lòng không lớp học, mẫu giáo không nhà chơi. Trẻ con phải sang đội khác học nhờ… Những người có tâm huyết đề xuất vấn đề trên với chủ nhiệm thì ông bảo:

 

– Chủ nhiệm không lấn sân, đó thuộc quyền của đội.

 

Làng Hậu Du trên đà ấy cứ ngày một phất lớn. Làng xóm phong quang sạch đẹp. Trụ sở, kho tàng, trường lớp khang trang. Vài tuần lại thưởng thức vài ba buổi chiếu phim với danh nghĩa hợp tác xã đăng cai phục vụ.

 

Không phụ lòng chủ nhiệm dân Hậu Du hay xã viên đội ba coi chủ nhiệm như ân nhân của họ. Bởi thế bà con Bến Hạ cho hay:

– Vợ chủ nhiệm đẻ thiếu củi đun cũng có người Hậu Du đem đến. Chủ nhiệm làm nhà, đóng tủ người Hậu Du vác gỗ, thịt chó, nấu cơm. Những mùa thu nợ của xã viên còn thấy người làng Hậu Du lịch kịch kéo thóc, kéo sắn ban đêm đến cho chủ nhiệm.

 

Hay là thế mà cơ ngơi của chủ nhiệm hợp nhất hôm xưa chủ tịch nông dân ngày nay cứ giàu nhanh như mối rừng xây tổ. Cũng bởi có căn cứ địa ấy nên cho dù dông bão thế nào sau mối khóa bầu quản trị,MaiVăn Cơ vẫn cứ thắng phiếu bằng số bầu quá bán, trừ đợt mới rồi sự việc tham nhũng đã quả tang.

 

Vậy thế hôm nay cái phần thứ ba phát biểu với xã viên đội 5 này là phần thiết thực nhất đối vớiMaiVăn Cơ. Trong khi nói cho bà con ngheMaiVăn Cơ vẫn luôn cầm cương cho mình ăn cây nào phải biết rào cây ấy. Ừ thì đã đành trong chặng đường làm ăn có phải đâu toàn bở bùi, ngon ngọt tất, có lúc cũng đắng cay, hợm hĩnh nữa là khác. Cái chiến lược để tồn tại bấy lâu nay vẫn đượcMaiVăn Cơ duy trì thầm lặng như cá tính im ỉm của ông, có ai ngờ tai vách mạch rừng dân ở Bến Hạ họ tỏng tòng tong hết thảy. Họ phát hiện được hết các ngóc ngách trong mánh làm ăn ở trái tim bồ hóng của ông. Ở những cuộc sinh hoạt chi bộ Bến Hạ có đảng viên từng phân tích những việc làm củaMaiVăn Cơ không những không có lợi gì cho hợp tác nói chung và đội 4 Bến Hạ nói riêng. Hơn thế nữa họ nâng thành quan điểm rồi kết luận:

 

– Đó không phải khuyết điểm mà là một tội lớn. Tội cõng rắn cắn gà nhà. Tội mồ cha không khóc đi khóc tổ mối. Tội này cần phải được đưa ra trước vành móng ngựa.

 

MaiVăn Cơ chột dạ, đành rằng những ý kiến ấy chứa ít nhiều tính cục bộ. Ở cấp trên cũng thế không thiếu thằng đội lốt danh nghĩa đảng, nhà nước để hớt tay trên cấp dưới, miễn sao phồng mang trợn mắt. Ngày huyện thanh tra tài chính của hợp tác cũng do quá tay về ăn uống màMaiVăn Cơ thụt quỹ. Mặc dù đã hợp lý hóa nhưng với tay nghề bậc thầy, một cán bộ tài chính của huyện đã phát hiện chỗ bất hợp lý của chủ nhiệm. Anh ta mặt lạnh như tiền mặc choMaiVăn Cơ cuống cuồng kê đệm. Những tưởng anh ta là Bao Công nào ngờ khi cái bao tử đã đầy ự lên toàn thức ăn cao cấp và chất cay hảo hạng anh ta gọi chủ nhiệm ra một chỗ vắng cho điều kiện:

 

– Xin chủ nhiệm một đôi lợn giống. Mỗi con chừng hai lăm, ba mươi ký. Lợn giống mới! Thời gian không quá bốn ngày.

Không còn đường nào khác mười bảy giờ cùng ngày, chủ nhiệm cho dù xát a xít vào ruột gan đành phải bắt cả đôi lợn vợ con đang nuôi, nhờ thêm thằng cháu đem đến “cúng” cho ông cán bộ huyện kém mình chừng chục tuổi. Tức chứ. Tức hơn bò đá, tức lên đến cổ. Đau mà không kêu được…

 

Bởi thế mà nhân đây, nhân cái ghế ở giai đoạn chót này phải làm sao san lấp cho hết những gì còn là khoảng cách giữa mình với xung quanh. Mai Văn Cơ nghĩ thế. Trong khi cắt nghĩa những khía cạnh: người cán bộ có thực sự làm tốt công tác hay không còn phụ thuộc ở nhiều yếu tố: sức khỏe, trình độ hiểu biết về nhiều mặt, đạo đức. Tóm lại là năng lực. Ông chủ tịch nông dân khi thì đan chéo hai tay vào nhau lúc lại nhíu đôi lông mày lại. Rồi đột nhiên ông nghiêm sắc mặt:

 

– Nhất là vấn đề lấy dân làm gốc. Lấy dân làm gốc.

 

Mai Văn Cơ từng được nghe nhiều cán bộ ở nhiều cấp cao thấp khác nhau ví von. Mỗi một người ở mỗi cương vị lại có cách so sánh dẫn chứng riêng. Hồi nghe một cán bộ trung ương về thăm huyện ông ta cũng nói vấn đề lấy dân làm gốc. Ông cho hay trong Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã nói “bồi dưỡng sức dân là cái kế sâu gốc bền rễ”. Rồi ông ví cái cây, cành lá muốn xanh tốt thì gốc phải được chăm sóc, vun xới thường xuyên. Không những thế còn phải bắt sâu, bắt nhậy chữa bệnh cho nó. Đừng quan niệm là gốc như một cái gốc sung ven sông. Khi gốc sung ấy bị sóng vỗ hàng ngày, bộ rễ phải cố chết để níu lấy sự sống thì ta thản nhiên đem dao bập vô tội vạ vì cần nhựa. Một nhà tuyên huấn cấp tỉnh lại ví dân phải là trụ của một chiếc cầu. Vẫn vấn đề ấy một trưởng ban tuyên huấn cấp huyện lại ví dân như cái móng của một nếp nhà. Còn đến chủ tịch nông dân bậc xã như Mai Văn Cơ thì nói sao? Đây chính là cái mà ông day dứt đến khổ sở. Ông mất ăn, mất ngủ về việc này. Chẳng lẽ nói lại toàn bộ những điều người khác đã nói thì còn đâu là sáng kiến, là vận dụng linh hoạt nữa. Cái nghề nói chính trị này mà không biết chế biến xào rán thì người dùng khó tiêu. Đêm hôm qua một mình ông xoay xở đến buốt óc bên ngọn đèn hoa kỳ mà chưa tìm được đáp số “mĩ mãn”. Hy vọng ở những liều kích thích, ông xài có đến lạng chè búp cũng nên vẫn chưa cho phát minh thích đáng. Nhưng rồi ông sẽ tìm được cái mà ông muốn tìm. Một tí nữa thôi chắc phải có người thầm khen là ông dẫn chứng sinh động. Mai Văn Cơ chợt thấy anh thanh niên ý tứ đứng từ ngoài bờ giếng giơ tay làm động tác xem đồng hồ và hất hất hàm ra hiệu cho Lê Sâm. Đội trưởng Lê Sâm xòe và giơ mười ngón tay về phía anh ta. À còn mười phút nữa Mai Văn Cơ hiểu. Và ngay sau đó ông chỉ tay về phía ngôi đình cách không xa.

– Đấy bà con xem cái đình của ta theo tôi có lẽ trong ngoài năm, sáu thế kỉ nay nó vẫn tồn tại. Mặc dù trải qua biết bao nắng, mưa gió bão đến hôm nay đình vẫn uy nghi vững chãi như một điều chân lý được khẳng định. Sở dĩ nó vững được là  nhờ bộ tảng khổng lồ của nó. Vậy theo tôi dân chúng ta phải như những cái tảng kê cột đình.

 

Rồi ông kết thúc:

 

– Vâng như cái tảng kê cột đình.

 

Khi nán lại ít phút để đội trưởng hướng dẫn công việc ban chiều và sinh hoạt bữa trưa, nhiều người nhìn thấy hai lão đồng chí là ông Chính và ông Trực đứng sát lại với nhau. Ông Chính bấm vào tay ông Trực miệng lẩm bẩm nhắc lại:

 

– Dân như cái tảng kê cột đình

 

Tháng 3/1990

 

 

 

Advertisements

Diều

May 31, 2012 Leave a comment

Diều

Tác giả: Takehisashi Yumeji

Nguyễn Quốc Vương dịch


Các bạn nhỏ ơi,

Hãy thả cao cánh diều đỏ

 

Cao lên cao lên nữa

Đến tận tầng mây

 

 

Hãy nối thêm chỉ

Hãy nối dài thêm chỉ

 

Trên mây kia có gì?

 

Hãy thả cao diều đỏ

Đến tít tận mây.

 

ERMITA TRONG MƯA

May 26, 2012 Leave a comment
Ermita trong mưa

Tác giả: Angela Manalang Gloria (Philippines)
Nguyễn Quốc Vương dịch.

Không phải cơn mưa xanh xao
Nức nở chuyện mình băng qua vịnh
Không phải tiếng những cây keo thổn thức
Run run buồn trong xanh xám không gian

Không phải tiếng sóng lớn nỉ non
Những quần áo tả tơi quăng mình nơi bờ biển
Chính ảo ảnh tiếng nói của em
Làm anh mơ màng bên khung cửa.

 

NHỮNG NGÔI SAO CHẾT

May 20, 2012 Leave a comment
NHỮNG NGÔI SAO CHẾT

Tặng Paz Marquez Benitez
Tác giả: H.O. Santos (Philippines)
Nguyễn Quốc Vương dịch

Nếu vẫn nghĩ về nàng hôm nay
Tại sao không thổ lộ với nàng từ lâu trước đó?
Và như thế băn khoăn đâu cần nữa
Biết thế rồi lòng sẽ thấy bình yên

Giá học được đôi điều ẩn dụ
Trước khi nhìn ngẫm nghĩ những vì sao
Tôi có viết những vần thơ và biết
Bỏ qua sao Hỏa phụng thờ sao Kim?

Giả sử rằng mình biết làm thơ
Tôi liệu có phô bày khuôn mặt trần không nhỉ
Trái tim thiếu tự tin chăng? Đau khổ chính là tôi
Tôi đã lặng im và không bao giờ biết.

NÓI CHUYỆN VỚI QUỶ

May 20, 2012 Leave a comment

Nói chuyện với quỷ

Tác giả: Robinson

 

Gặp quỷ, quỷ hỏi: “túi có bao tiền?”

“Chẳng có xu nào ngoài thơ đang viết”

 

Gặp quỷ, quỷ hỏi: “Mi lãnh chức gì?”

“Chẳng lãnh chức gì. Làm người đã khó…”

 

Gặp quỷ, quỷ hỏi: “Mi đang nghĩ gì?

Trả lời cho nhanh không tao bắn bỏ”

 

“Đợi chút đã quỷ! Nghĩ thì rất nhiều

Mơ ước cả trăm cái này lãng mạn:

“Quỷ ơi buông  súng theo ta làm người”

 

18/5/2012.

Đâu chỉ là giấc mơ (Đọc Người đoán giấc mơ-tập truyện ngắn của Mai Phương)

May 16, 2012 Leave a comment

Người đoán giấc mơ (NXB Hội Nhà văn – 2012) là tập sách thứ tư của nữ tác giả trẻ Mai Phương (Hội VHNT Bắc Giang) gồm 14 truyện ngắn viết rải rác mấy năm gần đây. Điều dễ dàng nhận ra trong cuốn sách này là một Mai Phương đổi thay trong tư duy và lối viết. Một xu hướng truyện ngắn hiện nay của giới trẻ sinh sau 1975 là truyện không có cốt hoặc kết cấu lỏng, nghĩa là không kể một câu chuyện xảy ra từ đầu tới cuối với lớp lang đan cài, cũ mới đồng hiện mà chỉ trọng ý tưởng, ngôn từ trong một lát cắt hiện thực đời sống; nặng cảm xúc, kỷ niệm. Truyện ngắn của Mai Phương cũng nằm trong số đó.

14 truyện ngắn là 14 thân phận của những con người bé nhỏ, yếu ớt. Đó là bà Nhiều, bà Hinh, cô Huê ở xóm ngụ cư tù túng. Mỗi người một tính, một nỗi niềm nhưng đã sống gần gũi hơn, quan tâm nhau hơn sau cái chết của người đàn ông hiền lành, tử tế. Đó là cô Len, cô Thao kiếm tìm hạnh phúc, là ông thương binh Thản trước tiêu cực ở làng. Đó là niềm tin của người đàn bà mắc bệnh nặng, là mối tình của người vẽ tranh thuỷ mặc… Những nhân vật trong truyện hầu hết là phụ nữ, là những người bình thường mà chúng ta bắt gặp ở làng. Họ khát khao hạnh phúc. Hạnh phúc có thể là tình yêu chờ đợi, được yêu người mình yêu, là có một gia đình êm ấm, là được chăm chút yêu thương tới những người thương yêu nhất. Tuy vậy khát khao đó đâu dễ có được, nhiều khi rất mong manh, đổ vỡ. Viết về nỗi chua xót, đắng đót của những phụ nữ bất hạnh, Mai Phương có sự đồng cảm chân tình, một cái nhìn nhân hậu. Điều đó rất rõ trong các truyện Những mong manh, Bà Muối, Xóm ngụ cư…

Bên cạnh những truyện thực, tức là không gian thực ở làng ở phố, Mai Phương đã có số truyện ảo, thực – ảo hoặc giữa hai bờ hư thực. Tiêu biểu cho cách viết này là Người đoán giấc mơ. Ở truyện này, quá khứ, hiện tại đan xen nhau, ảo thực trộn lẫn. Những nhân vật tưởng như trong mộng mà lại là hiện tại, tưởng như không tồn tại lại tồn tại. Điều mà tác giả muốn nói tới ẩn ý qua những con người trong giấc mơ chính lại là giấc mơ có thật. Không phải dễ đọc ở truyện ngắn này khi chủ ý tác giả ẩn sau trong thế giới mộng mị mông lung. Hình ảnh bạch tuộc Paul nổi danh cùng cô gái ám ảnh người đọc. Lời tác giả ở đoạn kết thật ý nghĩa: “Mỗi đêm, khi là chính mình, nhắm đôi mắt khô không khốc không ngủ được tôi cay đắng nhận ra rằng, con người ta đau đớn và vô vị nhất là không có giấc mơ. Tôi bàng hoàng hoảng sợ nếu bạch tuộc Paul không sống trong lòng mình. Khi không có giấc mơ thì người đoán giấc mơ biết làm gì?”

Văn Mai Phương mềm mại, bồng bềnh, chau chuốt, giàu nhạc điệu. Và hình như đây là thế mạnh của nữ tác giả này, người khá thành công trong tản văn – rõ nhất trong tập Về miền ký ức. Lối viết ảo trong Người đoán giấc mơ là cách làm mới dù cách thức ấy đã hiện diện quá lâu trong các tác phẩm cổ kim, nhưng hình như phù hợp với sở trường của Mai Phương, đồng thời làm phong phú, đa dạng cho truyện ngắn Bắc Giang hôm nay, cho phong cách mỗi tác giả.

Từ những thành công bước đầu, Mai Phương với lao động cực nhọc và hạnh phúc có thể thực hiện khát vọng và giấc mơ có thật của mình là sáng tác những tác phẩm mà bất kỳ nhà văn đích thực nào cũng ao ước, những tác phẩm mà bạn đọc không thể lãng quên, những tác phẩm “có thể lay động đồng loại, thay đổi tâm tư hoặc số phận con người” như tác giả tự bạch trong cuốn sách mới đây.

Đỗ Nhật Minh

TÌM HIỂU VỀ “TƯ DUY LỊCH SỬ” VÀ “PHÁT TRIỂN TƯ DUY LỊCH SỬ” CHO HỌC SINH Ở NHẬT BẢN TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN NAY

May 15, 2012 1 comment

Phát triển tư duy cho học sinh trong học tập lịch sử là một trong những  vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn cuả các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản hiện đại. Sau tháng 8 năm 1945, khi cuộc cải cách giáo dục toàn diện nhằm xây dựng nước Nhật hòa bình, dân chủ bắt đầu, hình ảnh người công dân có tư duy độc lập đã trở thành nơi thể hiện tập trung triết lý mới của nền giáo dục[1]. Giáo dục lịch sử cùng với giáo dục địa lý, giáo dục công dân thể hiện tích hợp trong môn Nghiên cứu xã hội (Social Studies)-thường được gọi tắt là môn Xã hội-đã trở thành hạt nhân của công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến. Trong quá trình đổi mới sử học và cải cách giáo dục lịch sử, những vấn đề như “tư duy lịch sử là gì?”,  “làm thế nào để phát triển tư duy lịch sử cho học sinh?” đã trở thành các chủ đề tranh luận học thuật sôi nổi và  đã có  một số lượng lớn các “thực tiễn giáo dục[2] được tiến hành. Bài viết này sẽ điểm lại một vài nét chủ yếu về sự phát triển ở cả phương diện lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề tư duy lịch sử và phát triển tư duy lịch sử cho học sinh ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.

1.Quan niệm về tư duy lịch sử của các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, trong chương trình học tập ở các trường phổ thông Nhật Bản có tồn tại môn Quốc sử (Lịch sử Nhật Bản), tuy nhiên triết lý-mục tiêu giáo dục lúc bấy giờ là giáo dục nên những thần dân trung thành với thiên hoàng, vì thế chức năng của bộ môn lịch sử đơn thuần chỉ là cung cấp các sự kiện, nhân vật lịch sử được “chọn lọc” phù hợp với lợi ích của nhà nước chuyên chế. Vấn đề “tư duy lịch sử” và “phát triển tư duy lịch sử” không được các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên, từ sau tháng 8 năm 1945, trong bối cảnh làn sóng cải cách giáo dục diễn ra mạnh mẽ và triết lý giáo dục[3] thay đổi, vấn đề “tư duy lịch sử” đã được đặt ra và tranh luận sôi nổi. Các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản khi tranh luận về tư duy lịch sử đã đứng ở nhiều góc độ cũng như vận dụng nhiều học thuyết khác nhau vì vậy các ý kiến đưa ra  rất phong phú, đôi khi khác biệt và khó đi đến một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất. Tài liệu liên quan đến vấn đề này có số lượng khổng lồ tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ chỉ giới thiệu những ý kiến của các học giả Nhật Bản về tư duy lịch sử ở hai nhóm: nhóm nhìn nhận “tư duy lịch sử” trong mối quan hệ với “học lực” và nhóm  nhìn nhận tư duy lịch sử trong mối quan hệ với  ý thức lịch sử và nhận thức lịch sử.

1.1. Tư duy lịch sử trong mối quan hệ với “học lực”.

“Học lực” là một vấn đề quan trọng không thể thiếu trong việc đánh giá chất lượng giáo dục và hiệu quả giáo dục. Các nhà giáo dục Nhật Bản cho rằng  định nghĩa thế nào là “học lực” là việc làm rất khó khăn [2;tr.74]. Thêm nữa, phương thức tiếp cận “học lực” rất đa dạng nên trên thực tế ở Nhật Bản cho đến thời điểm hiện tại những tranh luận về về “học lực” vẫn chưa đi đến hồi kết. Trong số các ý kiến về học lực, đáng chú ý là ý kiến của  nhà giáo dục học Tanikawa Akihide. Ông cho rằng “học lực” bao gồm ba nội dung:

a. Học lực mục tiêu: học lực với tư cách là thứ hướng đến cần được hình thành và là thứ cần phải đạt được.

b. Học lực đo lường: học lực với tư cách là thứ đã học được, có thể tiến hành đo được.

c. Học lực tiềm tàng: học lực với tư cách là khả năng học tập trước các vấn đề mới[2;tr.74].

Các học giả Nhật cho rằng nếu tán thành nội dung trên thì “học lực mục tiêu” trong môn Xã hội khi xem xét ở phạm vi rộng sẽ trở thành “nhận thức xã hội” hay “phẩm chất công dân” hoặc cũng có thể là cả hai. Tương tự như thế, “học lực  đo lường” trong môn Xã hội được coi là các “tri thức, kĩ năng cơ bản” và “học lực tiềm tàng” tương ứng với “năng lực tư duy” (năng lực tư duy lịch sử, năng lực tư duy địa lý), năng lực sử dụng tư liệu… Ngoài ra “học lực” theo Tanikawa còn thể hiện ở “mối quan tâm, lòng mong muốn, thái độ” của học sinh.

Quan điểm về “học lực” và “năng lực tư duy” của Tanikawa được nhiều học giả khác tán đồng, tuy nhiên trong thực tế việc coi cả a, b, c có phải là “học lực” của môn Xã hội hay không và trong ba học lực trên thì học lực nào đóng vai trò trung tâm là vấn đề gây tranh cãi khó đi đến thống nhất. Có những ý kiến cho rằng “học lực” phải được tiếp cận từ góc độ xem xét cấu tạo bên trong của nó. Những đại diện tiêu biểu tán thành phương cách tiếp cận này là Hirooka Ryozo, Katsuta Shuichi, Nakauchi Toshio, Honda Koei… Trong đó đáng chú ý là ý kiến của Honda Koei[4]. Honda đã đưa ra cơ cấu học lực môn Xã hội  được hình thành từ “ý thức người làm chủ”. “Học lực” này liên quan mật thiết đến quá trình “hình thành con người” và “nhận thức xã hội một cách khoa học” xuất phát từ tri thức cơ bản về sự việc, sự vật, hiện tượng và hình thành khái niệm.

Bộ Giáo dục Nhật Bản trong “Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội[5] thì quan niệm “học lực” bao gồm “hiểu biết về cuộc sống xã hội” và “phẩm chất công dân cơ bản”. Hai thành phần này được Bộ Giáo dục Nhật Bản cụ thể hóa bằng 4 yếu tố: “mối quan tâm, lòng mong muốn, thái độ đối với hiện tượng xã hội”, “tư duy phê phán xã hội”, “kĩ năng quan sát, sử dụng tư liệu, trình bày”, “hiểu biết, tri thức về các hiện tượng xã hội”.

Như vậy chúng ta thấy rằng ở đây các học giả Nhật Bản ở một mức độ nào đó đã đưa ra cấu tạo, đặc điểm của tư duy nói chung và tư duy trong môn Xã hội (Lịch sử-Địa lý-Giáo dục công dân) nói riêng. Tuy nhiên,  ở đây vấn đề cụ thể “thế nào là tư duy lịch sử?”  vẫn chưa được chỉ rõ và trong nhiều trường hợp không tách bạch “tư duy” với “học lực”.

1.2. Tư duy lịch sử trong mối quan hệ với “ý thức lịch sử” và “nhận thức lịch sử”.

Khi đặt ra câu hỏi “tư duy lịch sử là gì?”, phần đông những người có liên quan đến giáo dục lịch sử ở Nhật Bản thường  cho rằng nó là “cách nhìn, cách suy nghĩ về lịch sử”. Ở đây “cách nhìn, cách  suy nghĩ” này có hai hàm nghĩa: nó chỉ “cách nhìn, cách nghĩ” với tư cách là sự hướng về quá khứ, nhận thức quá khứ của con người mặt khác cũng là “nhận thức hiện tại” nhằm đọc hiểu các hiện tượng hiện tại xuất phát từ cách nhìn nhận trong quá khứ. Trong tư duy đan cài, tương hỗ của nhận thức quá khứ và nhận thức hiện tại này, “cách nhìn, cách suy nghĩ về lịch sử” sẽ được làm sâu sắc thêm. Trong khi tán thành quan niệm phổ quát trên, các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản cho rằng “tư duy lịch sử” (năng lực tư duy lịch sử)[6]  là “tư duy so sánh quá khứ và hiện tại”, “tư duy về sự thay đổi và biến chuyển”, “tìm kiếm sự khởi nguyên của sự vật”, “tư duy về mối liên quan với các điều kiện xã hội”. Tức là vô số các thao tác của các dạng thức tư duy phong phú và nền tảng hoạt động của nó như “đọc hiểu sự thật lịch sử”, “đánh giá ý nghĩa sự thật lịch sử” và vận dụng vào cuộc sống hiện tại.

Các nhà giáo dục lịch sử Nhật cho rằng nếu nhìn từ quan điểm tư duy lịch sử là “cách nhìn, cách nghĩ về lịch sử” thì “sự thật lịch sử” là thứ chỉ “thực” với tư cách là sản phẩm của nhận thức đối với xã hội bản thân chúng ta. Theo đó thì sự thực tồn tại một cách tuyệt đối như “chân lý hiển nhiên” là không thể. Nhà giáo dục lịch sử Tanaka Masatoshi từng thừa nhận rằng “nhận thức” về “sự thực” của ông có giới hạn và ông “chỉ có thể nhận thức được cái cá biệt, một phần hiện tại hay chỉ là một mặt trong cái hiện thực toàn thể phong phú”[7]. Nói một cách ngắn gọn, theo Tanaka “sự thực lịch sử” chỉ là một bộ phận nhận thức của con người đối với hiện thực và con người cũng chỉ nhận thức hiện thực một cách tổng hợp, phức tạp thông qua trung gian là một bộ phận sự thực lịch sử tương tự. Lúc này, hiện thực vừa có nghĩa là hiện thực xã hội của một thời đại nhất định trong quá khứ, vừa có nghĩa là  hiện thực của hiện thực xã hội chúng ta đang sinh sống. Khi đó, tư duy về các vấn đề xã hội đang xảy ra trong hiện thực được coi trọng. Nói cụ thể hơn thì đó là việc “tư duy dưới góc độ lịch sử về hiện thực nhằm giải quyết các vấn đề đang đặt ra” [2; tr.156].

Xuất phát từ quan niệm trên, hiện nay ở Nhật Bản, các giờ học ở đó giáo viên hướng dẫn học sinh truy tìm mối quan hệ giữa “sự thực lịch sử” với “nhận thức hiện thực” thông qua bộ lọc cá nhân đang trở thành vấn đề quan trọng được quan tâm sâu sắc.

Cùng với việc xem xét tư duy lịch sử trong mối quan hệ với nhận thức lịch sử, các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản còn quan tâm đến mối quan hệ giữa ý thức lịch sử và tư duy lịch sử[8]. Đại diện tiêu biểu cho xu hướng này là Saito Hiroshi, người vốn được coi là học giả có nghiên cứu sớm nhất về ý thức lịch sử ở Nhật Bản[9]. Trong nghiên cứu ông đã sử dụng phương pháp tiên tiến thời bấy giờ là bảng hỏi để phỏng vấn 1.800 học sinh tiểu học, trung học cơ sở. Saito đã tiến hành điều tra dựa trên giả thiết đặt ra là ý thức lịch sử (được hiểu là đồng nghĩa với tư duy lịch sử) có cấu tạo 5 tầng và kết quả là ông đã định hình hóa được các giai đoạn phát triển ý thức lịch sử của học sinh từ tiểu học tới trung học cơ sở. Năm tầng bậc của ý thức lịch sử (tư duy lịch sử) được Saito chỉ ra là:

1. Ý thức về quá khứ

2. Ý thức về sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại

3. Sự hiểu biết về sự biến thiên và phát triển

4. Nắm được mối quan hệ nhân quả của lịch sử

5. Hiểu biết về sự phát triển của lịch sử.

Saito cũng phân tích cụ thể nội dung của từng tầng bậc tư duy lịch sử đã chỉ ra ở trên. “Ý thức về quá khứ” là sự suy nghĩ bằng thước đo thời gian về các hiện tượng của quá khứ. Ông cho rằng tư duy này sẽ được nâng cao ở học sinh lớp 3, lớp 4 trở đi. “Ý thức về sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại” là sự tư duy trong đó học sinh có thể so sánh động hướng của toàn thể xã hội quá khứ với hiện tại. Tư duy này được nâng cao từ lớp 4, lớp 5 cấp tiểu học. “Sự hiểu biết về sự biến thiên và phát triển” là khuynh hướng cố gắng nắm được  rằng các hiện tượng xã hội tiến triển trong mối tương quan lẫn nhau. Tư duy này được mở rộng từ cấp trung học cơ sở. “Nắm được mối quan hệ nhân quả của lịch sử” là khả năng tư duy đa diện, đa chiều trong mối liên quan giữa nguyên nhân  và kết quả của sự vật, hiện tượng. “Hiểu biết về sự phát triển của lịch sử” được hiểu là việc học sinh nắm được rằng các yếu tố chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa.. có liên quan mật thiết với nhau và phát triển một cách tổng hợp.

Sau Saito, các nghiên cứu tương tự cũng được chú trọng ở cấp trung học cơ sở và trình bày trong các hội thảo khoa học. Các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến loại hình của tư duy lịch sử và con đường phát triển tư duy. Tuy nhiên, từ thập niên 80 của thế kỉ XX trở đi, do chịu tác động từ những thay đổi về lý luận sử học xung quanh các vấn đề như “nghiên cứu về lịch sử xã hội của phái Annal-Pháp”, “cuộc tranh luận về sự hình thành quốc gia-dân tộc ở Nhật Bản”, “lý luận về hệ thống thế giới”.. năng lực “tư duy lịch sử thực tiễn nhằm giải quyết vấn đề” dần được coi trọng trong số các năng lực tư duy đã đề cập ở trên.

Gần đây, trong quá trình cải cách giáo dục nhằm thích ứng với xu hướng toàn cầu hóa và dân chủ hóa, các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản lại chú trọng nhiều hơn tới “tư duy lịch sử phê phán”. Ở đây, xin được giới thiệu khái quát về quan điểm của nhà giáo dục lịch sử Kodama Yasuhiro, một trong những  đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của “tư duy lịch sử phê phán”.

Kodama khẳng định năng lực tư duy lịch sử ở nghĩa rộng là hoạt động tinh thần và xét về bản chất nó là hoạt động tự do của mỗi cá nhân nên nó không phải là thứ có tính chất định hướng một cách cưỡng chế bởi người khác. Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh giáo dục trường học (giáo dục lịch sử trong môn Xã hội) sẽ đảm nhận nghĩa vụ cải tạo từng phần tư duy nói trên làm cho nó trở thành thứ “có hiệu quả, tác dụng hơn đối với bản thân người đó và những người khác sinh sống trong xã hội dân chủ” [1;tr.3]. Ông đưa ra kết luận đó vì ông cho rằng cũng giống như năng lực tính toán hay năng lực ngôn ngữ, với tư cách là năng lực, tư duy lịch sử là không thể thiếu và “giáo dục  năng lực tư duy lịch sử để học sinh có thể đóng vai trò chủ thể trong phê phán sự giải thích lịch sử nhất định” ngày nay đã trở thành yêu cầu đặt ra cấp thiết và yêu cầu này chỉ có thể được giải quyết dựa vào các môn học trong nhà trường. Kodama cho rằng xã hội ngày nay là xã hội đa nguyên hóa và các giá trị đa dạng cùng tồn tại vì thế đi kèm theo nó luôn là sự hiện hữu  của những sự giải thích lịch sử[10] khác nhau, đối lập nhau và va chạm với nhau. Đứng sau sự giải thích lịch sử trong phần lớn các trường hợp là các giá trị quan nhất định và sự đối lập trở thành hai đường thẳng song song. Theo ông, trong phần lớn các trường hợp người ta chỉ đưa ra các sự thực lịch sử có lợi và để cho sự đối lập nói trên không kết thúc một cách vô vị, nhạt nhẽo mà đem lại thứ hữu ích hơn, thú vị hơn, năng lực lý giải khách quan quan điểm lịch sử và sự giải thích lịch sử được đặt ra. Ông cho rằng sự giải phóng bản thân khỏi sự bó buộc bởi quan điểm lịch sử cùng  sự giải thích lịch sử nhất định và đưa đối thoại thướng tới tương lai thông qua lịch sử là năng lực cần thiết trong xã hội toàn cầu hóa.

Kodama đã khái quát mô hình mẫu về “tư duy lịch sử phê phán” với 4 mức độ như sau:

Mức độ 1: Tư duy mang tính sự thực = tư duy hiểu được sự giải thích.

– Sự thực lịch sử tại sao lại xảy ra? (tư duy về nguyên nhân, điều kiện, mục đích, lý do).

– Sự thực lịch sử đã xảy ra như thế nào, về sau nó ra sao? (tư duy về kết quả, ảnh hưởng, chức năng, ý nghĩa, phương hướng)

– Ý nghĩa, bản chất của sự thật lịch sử là gì? (tư duy về đặc điểm, bản chất, ý nghĩa lịch sử)

Mức độ 2: Tư duy “phản tỉnh” = tư duy xem xét một cách phê  phán sự giải thích

– Sự thực lịch sử đóng vai trò là căn cứ của giải thích là gì?

– Các căn cứ mang tính sự thực chứng minh cho giải thích có đầy đủ hay không? (tư duy về mối quan hệ tương hỗ giữa sự thật lịch sử và giải thích lịch sử: sự thực lịch sử và giải thích lịch sử phân chia một cách tương đối thành hai tầng, cái sau thuyết minh cho cái trước, cái trước là căn cứ của cái sau). 

– Sự giải thích đó hữu dụng đến mức nào? Nó có khả năng thuyết minh cho sự thực lịch sử khác hay sự triển khai về sau không? (tư duy về giới hạn trong năng lực thuyết minh của sự giải thích nhất định).

– Có sự thực nào bị coi nhẹ hay không được đưa ra với lý do không thể thuyết minh bằng giải thích đó hay không? (tư duy về việc khi chỉ dựa trên sự giải thích /lý luận nào đó thì các sự thực không bao hàm trong đó sẽ bị loại trừ).

– Có sự giải thích nào khác hay không? Nếu như có giải thích khác thì cái nào hữu dụng hơn (tư duy được rằng các sự thực trở thành nguyên liệu phản chứng đối với giải thích /lý luận nào đó sẽ trở thành nguyên liệu tạo thành giải thích khác).

Mức độ 3: Tư duy phân tích giá trị

– Sự quan tâm  vấn đề của người xây dựng giải thích đó là gì? Tình hình xã hội vây quanh anh ta như thế nào? Mối quan hệ của những thứ này với sự giải thích như thế nào?

– Tại sao cùng với sự thay đổi mối quan tâm đối với vấn đề hay thời đại mà sự giải thích cùng các sự thật được đưa lại cũng thay đổi theo? Sự thay đổi đó diễn ra như thế nào?

Mức độ 4: Tư duy mang tính lý luận

– Bằng việc nghiên cứu so sánh nhiều giải thích có thể hình thành nên giải thích mới như thế nào?

– Sức thuyết phục của giải thích mới có ở mức độ nào? Nó có hữu dụng đối với cả các sự thực ở khu vực khác hay thời đại khác hay không?

Để có được năng lực tư duy trên thực tế thì người học phải trải nghiệm tư duy thông qua bài học lịch sử cụ thể. Trên thực tế từ sau năm 1945 đến nay, giáo dục lịch sử Nhật Bản đã phát triển qua nhiều chặng đường và đạt được nhiều thành tựu trong đó có các thực tiễn chú trọng phát triển tư duy lịch sử cho học sinh. Ở phần tiếp theo, chúng tôi sẽ giới thiệu thực tiễn giáo dục của Kato Kimiaki như là ví dụ tiêu biểu.

2. Phát triển tư duy lịch sử cho học sinh trong  thực tiễn “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” của Kato Kimiaki

Katokimiaki sinh năm 1950, tốt nghiệp cao học trường Đại học Waseda năm 1976 và giảng dạy lịch sử Nhật Bản tại các trường trung học phổ thông tỉnh Chiba, Nhật Bản. Từ năm 2005 ông trở thành giảng viên thỉnh giảng trường Đại học Yamaguchi.

Kato trong giai đoạn đầu khoảng 7 năm mới vào nghề đã tiến hành giờ học lịch sử kiểu thuyết trình với trung tâm là nội dung sách giáo khoa, chú trọng truyền đạt thành tựu sử học tới học sinh. Tuy nhiên từ năm 1983, ông bắt đầu tiến hành cải cách giờ học lịch sử nhằm hướng tới giờ học ở đó học sinh sôi nổi học tập và tự mình hình thành năng lực của bản thân để trở thành người làm chủ xã hội. Thực tiễn giáo dục này được ông đặt tên là “Giờ học lịch sử Nhật Bản  bằng tư duy phê phán”[11].

Theo Kato, “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” là một loạt giờ học ở đó học sinh trung học phổ thông suy ngẫm về lịch sử trong tư cách là chủ thể, thông qua quá trình thảo luận, trao đổi ý kiến, giao lưu, phê phán lẫn nhau mà phát triển nhận thức lịch sử của bản thân, hình thành và nâng cao năng lực nhận thức lịch sử khoa học (tính thực chứng, tính lô-gíc, tính chủ thể) [7;tr.1].

Theo quan điểm của Kato thì đây không phải là giờ học giống như thông thường ở đó giáo viên giảng giải, thuyết minh các khái niệm, sự kiện thông sử một chiều, mà trước hết giáo viên sẽ sử dụng các sự thực lịch sử làm cho những tri thức lịch sử thông thường hay quan niệm lịch sử mà học sinh đang có dao động hoặc bị phủ định khiến cho học sinh đặt ra câu hỏi “tại sao lại thế?”, “thật sự thì điều đó là như thế nào?”. Tiếp nhận vấn đề đặt ra, từng học sinh sẽ tiến hành các hoạt động điều tra thông tin, nghiên cứu tư liệu, huy động tri thức sẵn có để tạo ra các câu trả lời của chính mình. Tiếp đó, kết quả này sẽ được mài sắc qua việc tranh luận trước lớp với trung tâm là việc phê phán lẫn nhau và nhờ đó nhận thức lịch sử của bản thân trở nên tổng hợp hơn, khoa học hơn.

Cở sở lý luận của giờ học kiểu này là việc Kato cho rằng: “Mục đích của giáo dục lịch sử là làm trưởng thành nhận thức lịch sử của học sinh với tư cách là chủ thể” và để đạt được mục đích này cần phải nâng cao “học lực lịch sử” của học sinh. Cụ thể hơn, Kato đã đưa ra định nghĩa về “học lực lịch sử” như sau: “Vậy thì học lực lịch sử là gì? Tôi cho rằng đó là năng lực tư duy đúng đắn về lịch sử tức là năng lực nhận thức lịch sử một cách khoa học. Một cách cụ thể có thể tóm tắt lại thành năng lực tư duy dựa trên các sự thực đã được kiểm chứng hay các nguồn sử liệu phong phú (tính thực chứng), năng lực tư duy thống nhất, lô-gíc (tính lô-gíc) và năng lực tư duy bằng chính cái đầu của mình sử dụng cảm tính và tri thức của bản thân chứ không phải là sự bắt chước người khác” [7; tr.1].

Ở đây ta thấy, Kato cũng xem xét tư duy lịch sử trong mối quan hệ với học lực lịch sử và nhận thức lịch sử giống như các học giả khác mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên.

Thông thường “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” có cấu trúc gồm 3 phần: 1.“giáo viên đề xướng vấn đề”, 2.“học sinh thiết lập giả thuyết và tiến hành thảo luận”, 3. hướng dẫn học sinh học tập sau thảo luận.

Theo Kato thì sự thành bại của “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” phụ thuộc phần lớn vào vấn đề được đề xướng. Theo ông một vấn đề hay, thích hợp phải đạt được 4 điều kiện cơ bản: 1. phải là vấn đề có sức cuốn hút, hấp dẫn khiến cho học sinh mong muốn suy nghĩ về nó. 2. phải là vấn đề mà càng suy nghĩ sâu sắc thì học sinh càng có được  nhận thức lịch sử đúng đắn; 3. phải là vấn đề mà học sinh có thể đứng trên nhiều lập trường để suy ngẫm, trước hết là lập trường của dân chúng; 4. phải là vấn đề có khả năng triển khai thành cuộc thảo luận sôi nổi với các ý kiến khác biệt nhau.

Trên cở sở lý luận nói trên, Kato đã tiến hành 3 kiểu giờ học thảo luận chủ yếu nhằm phát triển tư duy lịch sử (nhận thức lịch sử) cho học sinh:

      Kiểu 1: giờ học thảo luận sử dụng tranh ảnh lịch sử.

      Kiểu 2: giờ học thảo luận sử dụng tư liệu chữ viết

      Kiểu 3: giờ học thảo luận sử dụng kênh chữ trong sách giáo khoa

Dưới đây xin được tóm tắt thực tiễn giáo dục của Kato có tên “Tại sao chó lại được chôn ở ụ vỏ sò?”  để làm rõ các biện pháp phát triển tư duy lịch sử cho học sinh của Kato.

Giờ học được bắt đầu từ một bức ảnh. Đây là bức ảnh lấy từ cuốn “Lịch sử thành phố Chiba”. Tấm ảnh chụp bộ xương chó còn nguyên lành được phát quật ở di chỉ ụ vỏ sò Kasori. Đối với học sinh thì ụ vỏ sò luôn được xem như là nơi ném rác của người Jomon[12] vì thế việc phát hiện ra bộ xương chó còn nguyên vẹn trở thành sự thực ngoài sức tưởng tượng. Trong học sinh bắt đầu hình thành nên câu hỏi tại sao và học sinh rơi vào trạng thái mong muốn tự mình suy nghĩ tìm kiếm câu trả lời thỏa đáng.

Sau khi giáo viên  đề xướng vấn đề,  học sinh  sẽ xây dựng giả thuyết, phát biểu giả thuyết và tiến hành thảo luận. Khảo sát “hồ sơ giờ học”[13] của Kato cho thấy tùy theo năm học và các lớp mà có sự khác biệt nhưng nhìn chung học sinh đã tích cực giải quyết vấn đề được đưa ra. Ví dụ trong thực tiễn “Tại sao chó lại được chôn ở ụ vỏ sò?” (năm 1993), học sinh đã xây dựng nên 6 giả thuyết:

        1, “Con chó này là chó nuôi lấy thịt”

        2, “Con chó này là chó săn”

        3, “Con chó này là chó rừng”

        4, “Con chó này là chó giữ nhà”

        5, “Con chó này là đối tượng của tín ngưỡng” (chó thần)

        6, “Con chó này là vật nuôi làm cảnh”

Để thuyết minh hợp lý cho giả thuyết “tại sao con chó thời Jomon lại có  nguyên hình dạng ban đầu khi khai quật?”, học sinh đã xây dựng nên giả thuyết dựa trên chính kinh nghiệm, tri thức, hình ảnh (biểu tượng) về thời kỳ Jomon của bản thân. Tiếp đó, thông qua quá trình thảo luận nhóm và tranh luận ở cấp độ lớp, hình ảnh thời kỳ Jomon của học sinh sẽ tiến gần hơn đến sự thật lịch sử. Cuối cùng sau phần thảo luận ở vào thời điểm giờ học kết thúc sẽ có hoạt động bỏ phiếu để đánh giá các giả thuyết. Theo Kato, việc tiến hành bỏ phiếu ở đây không phải là để xác định từng giả thuyết đó đúng hay sai đối với vấn đề đặt ra. Tùy theo tình hình lớp học, phương thức triển khai thảo luận mà không phải khi nào giả thuyết thu được nhiều phiếu ủng hộ nhất cũng trùng khớp với thành quả nghiên cứu sử học mới nhất. Do đó ở giờ học thảo luận dạng này  thì phần kết luận cuối cùng luôn ở dạng mở.

Sau khi giờ học kết thúc, Kato thường đưa ra đề tài viết tiểu luận (báo cáo) cho học sinh. Việc yêu cầu viết tiểu luận này nhằm phát triển và làm sâu sắc thêm nhận thức lịch sử-tư duy lịch sử của học sinh. Trong quá trình đưa ra giả thuyết và thảo luận trên lớp sẽ có rất nhiều điểm tranh luận được đưa ra và đặt học sinh vào tình huống phải xem xét lại ý kiến của bản thân xem nó có đúng đắn, lô-gíc hay không.

Thực tiễn giáo dục “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” của Kato chú trọng phát triển tư duy lịch sử của học sinh tiến hành từ năm 1983 đến nay đã có  ảnh hưởng tích cực tới các giáo viên giảng dạy lịch sử ở trường phồ thông và có đóng góp quan trọng về lý luận. Đặc điểm nổi bật và cũng là đóng góp đáng kể của Kato là sự thừa nhận tính đa dạng của nhận thức lịch sử trong đó tư duy phê phán được coi trọng. Kato đã coi mục tiêu của giáo dục lịch sử là nâng cao năng lực nhận thức lịch sử (năng lực tư duy lịch sử) cho học sinh với tư cách là chủ thể của quá trình học tập từ đó tiến hành các biện pháp tổ chức, hướng dẫn học tập nhằm phát huy cao độ tư duy độc lập và năng lực tự học của học sinh.

Tất nhiên, thực tiễn của Kato cũng chỉ là một sự thử nghiệm, một lối đi riêng của ông. Ngoài “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” còn có nhiều các thực tiễn khác chú trọng phát triển tư duy lịch sử của học sinh được tiến hành ở Nhật Bản từ sau tháng 8 năm 1945 đến nay.

3. Kết luận

Sự thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã đặt ra câu hỏi nghiêm khắc về sự tồn tại của hệ thống giáo dục trước đó. Trong bối cảnh bị quân Đồng minh chiếm đóng và giám sát, Nhật Bản đã thực hiện thành công  công cuộc cải cách giáo dục toàn diện nhằm phục hưng, xây dựng nước Nhật Bản mới. Trong cuộc cải cách đó môn Xã hội (tích hợp địa lý, công dân, lịch sử) đã đóng vai trò trung tâm. Triết lý giáo dục mới nhằm xây dựng nước Nhật hòa bình, dân chủ, tôn trọng con người[14] đã được thể hiện tập trung ở hình ảnh người công dân có phẩm chất công dân và năng lực tư duy độc lập. Vì thế đương nhiên tư duy lịch sử đã trở thành vấn đề học thuật quan trọng được nghiên cứu, bàn luận sôi nổi suốt từ năm 1945 đến nay. Nền giáo dục hoạt động dựa trên mối quan hệ cân bằng giữa “chương trình khung” của Bộ Giáo dục và thực tiễn giáo dục phong phú[15] của giáo viên  đã tạo điều kiện và đảm bảo về mặt pháp lý cho những ứng dụng lý luận về tư duy lịch sử vào thực tiễn. Thực tiễn “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” của Kato Kimiaki là một trong những thử nghiệm như thế. Trong  giờ học của Kato học sinh không thụ động lắng nghe, ghi chép và ghi nhớ những giảng giải, thuyết minh một chiều của giáo viên mà chủ động tích cực khám phá chân lý (sự thực lịch sử), giải thích nó bằng kinh nghiệm, lý luận của mình và bảo vệ sự giải thích đó. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh đã có trải nghiệm giống như những nhà “sử học tí hon” trong việc phát hiện, tìm kiếm sự thực lịch sử và suy ngẫm về nó. Những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan đến tư duy lịch sử và phát triển tư duy lịch sử của Nhật Bản từ sau 1945 đến nay có thể sẽ chứa đựng những thông tin tham khảo cần thiết cho các nhà giáo dục lịch sử Việt Nam trong quá trình đổi mới sử học và giáo dục lịch sử trong bối cảnh toàn cầu hóa.

   Nguyễn Quốc Vương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đại học Hiroshima, Hiroshima daigaku fuzoku chutogakko no kenkyu kiyo, dai 47 go (Kỉ yếu nghiên cứu trường THCS-THPT trực thuộc Đại học Hiroshima, số 47), 2000.

2.Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Shakaika kyoiku jiten (Từ điển giáo dục môn Xã hội), Gyosei, 2000.

3. Kaigo Tomiaki (chủ biên), Kyoiku  kaikaku-Sengo Nihon no kyoiku kaikaku I (Cải cách giáo dục-Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến tập 1), Tokyodaigaku Shuppankai, 1975.

4. Kaigo Tomiaki (chủ biên), Kyoiku rinen-Sengo Nihon no kyoiku kaikaku II (Triết lý giáo dục- Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến tập 2), Tokyodaigaku Shuppankai, 1976

5. Kato Kimiaki, Wakuwaku ronso! Kangaeru Nihonshi jugyo (Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán), Chirekisha, 1991.

6. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi Jugyo 2 (Giờ học lịch sử Nhật Bản  bằng tư duy phê phán 2), Chirekisha, 1995.

7. Kato Kimiaki, Nihonshi toron jugyo no susume kata (Phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản), Nihon Shoseki, 1995.

8. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi jugyo 3 (Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán 3), Chirekisha, 2007.

 


[1] Người Nhật thường gọi nền giáo dục sau chiến tranh thế giới thứ hai là “giáo dục mới” hoặc “giáo dục dân chủ”.

[2] Thực tiễn giáo dục xét ở nghĩa hẹp không phải đơn thuần chỉ là giáo án hay nội dung bài giảng của giáo viên mà còn là toàn bộ những hoạt động  dạy-học diễn ra trên lớp, những tài liệu, dụng cụ sử dụng trong giờ học, những lời phát biểu, các câu hỏi đưa ra và phản hồi của học sinh trong và sau bài giảng. Sau năm 1945 Nhật Bản thực hiện một chương trình đào tạo có nhiều  bộ sách giáo khoa nên thực tiễn của giáo viên rất phong phú.

[3] Ở Nhật Bản “triết lý giáo dục” là cụm từ được dùng tương đối phổ biến. Trong loạt công trình tổng kết về cải cách giáo dục thời hậu chiến ở Nhật Bản do Đại học Tokyo thực hiện gồm 7 tập có riêng tập II dày 462 trang bàn về “triết lý giáo dục Nhật Bản” thời hậu chiến do Nhà xuất bản Đại hoc Tokyo xuất bản vào năm 1976.

[4] Xin tham khảo Honda Koei, Hình ảnh học lực môn Xã hội, Meiji Tosho, 1980 (tiếng Nhật).

[5] Tài liệu này do Bộ Giáo dục Nhật Bản  biên soạn và ban hành trong đó tóm lược về mục tiêu, nội dung, phương pháp hướng dẫn học sinh học tập trong các trường phổ thông. Cứ khoảng 10 năm bộ giáo dục Nhật Bản lại tiến hành sửa đổi bản hướng dẫn học tập một lần. Mỗi lần sửa đổi có thể coi là một cuộc cải cách giáo dục. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bản hướng dẫn học tập đầu tiên ban hành năm 1947 và bản hướng dẫn học tập mới nhất ban hành tháng 3 năm 2008.

[6] Các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản đôi khi không phân biệt thuật ngữ  “tư duy lịch sử” và “năng lực tư duy lịch sử”.

[7] Xem thêm Tanaka Masatoshi, Phương pháp lịch sử cận hiện đại Đông Á, Meichokangyokai, 1999 (tiếng Nhật).

[8] Ý thức lịch sử và nhận thức lịch sử là những thuật ngữ khó đạt được sự thống nhất trong tranh luận học thuật ở Nhật Bản. Chúng tôi sẽ tiếp tục bàn sâu thêm về vấn đề này ở một dịp khác.

[9] Để biết thêm về các công trình nghiên cứu của ông mời tham khảo: Saito Hiroshi “Sự phát triển ý thức địa lý, lịch sử”, Kỉ yếu nghiên cứu giáo dục Shinano, tập 19, 1953 (tiếng Nhật).

[10] Kodama Yasuhiro  quan niệm công việc của nhà sử học là “tìm kiếm, làm rõ các sự thực lịch sử” và “giải thích” nó.

[11] Để biết thêm chi tiết về thực tiễn giáo dục của Kato Kimiaki mời tham khảo bài viết “Hướng dẫn học sinh tự học trong “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán: của Kato Kimiaki” của Nguyễn Quốc Vương trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Nghiên cứu, giảng dạy lịch sử trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kỹ năng tự học cho học sinh, Bộ giáo dục và đào tạo-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2011 (trang 246-260)

[12]  Jomon là tên gọi một giai đoạn lịch sử Nhât Bản (13.000-300 tr.CN).

[13] Hồ sơ giờ học là những ghi chép toàn diện về giờ học đã thực hiện của giáo viên phục vụ cho công tác nghiên cứu. Trong hồ sơ giờ học có ghi đầy đủ và khách quan về giáo án, tài liệu, đồ dùng giảng dạy đã sử dụng, diễn biến giờ học, hoạt động thầy-trò, ý kiến của học sinh và đặc biệt là cảm tưởng, các ý kiến tranh  luận của học sinh.

[14] Hòa bình, dân chủ, tôn trộng con người là ba trụ cột cũng gọi là ba nguyên lý của Hiến pháp Nhật Bản 1947. Hiến pháp này còn được gọi là Hiến pháp hòa bình.

[15] Luật giáo dục trường học, Luật giáo dục cơ bản và các bộ luật giáo dục có liên quan đảm bảo cơ sở  pháp lý cho các sáng tạo của giáo viên trong các hoạt động thực tiễn giáo dục.

%d bloggers like this: