Archive

Archive for June, 2012

Sau tiếng súng nổ

June 28, 2012 Leave a comment

Sau tiếng súng nổ

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương

 

Sau tiếng súng nổ

Tiếng thân người đổ

Gọi thảm thiết: “mẹ ơi !”.

Máu

Và tiếng đạn rít

Điên cuồng.

 

Sau tiếng súng nổ

Những người lính đôi mươi

Già đi

Khắc khổ.

 

Trong rừng già tối đen.

Sau tiếng súng nổ cha cặm cụi viết

Những bài thơ chỉ viết cho mình

 

Sau tiếng súng nổ

Hòa bình không đến

Với những người lính

Đã cầm bút trước khi cầm súng.

 

18/6/2012

 

 

 

Advertisements

Giữa đường gặp mưa

June 25, 2012 Leave a comment

Mưa rơi làm ta lạnh

Gió thổi khiến ta sầu

Áo dày không thấy ấm

Rượu vào chỉ thấy đau.

22-6-2012

(Đi đường tối gặp mưa chém tí cho đỡ sầu các bác ạ)

 

Categories: Chém gió cho mát

Năm bài thơ của nhà thơ Takehisashi Yumeji.

June 19, 2012 2 comments


 

Takehisashi Yumeji (1884-1934) là nhà thơ, họa sĩ nổi tiếng người Nhật Bản. Ông tên thật là Takehisa Mojiro.  Nhà thơ sinh ra ở tỉnh Okayama, tự học vẽ và khởi nghiệp bằng công việc vẽ tranh minh họa cho các tờ báo và tạp chí. Năm 1909 Takehisashi Yumeji  xuất bản cuốn sách đầu tiên tập hợp các bức tranh ông vẽ  sau đó liên tiếp  cho ra đời các tập thơ có tranh minh họa và nhanh chóng nổi tiếng. Ông qua đời ngày 1 tháng 9 năm 1934 để lại nhiều tác phẩm thơ và họa được công chúng yêu mến. Những bài thơ được dịch từ tiếng Nhật dưới đây được rút ra từ “Tuyển tập 100 bài thơ của Takeshisashi Yumeji” do NXB Miyaobi ấn hành năm 2011.

 

Tĩnh Vật

 

Từ ngày ấy

Lặng im không động nữa

Kim đồng hồ và nỗi buồn đau

 

 

Chiều Tà

 

Không hẹn ước

Không báo trước

Chuông ngân

 

Không hẹn ước

Không báo trước

Nước mắt chảy ròng

 

 

Nụ Hôn Đầu

 

Tháng năm

Hoa nở

Nhưng

Đó không phải là hoa năm ngoái

 

Con người

Cho dẫu yêu bao lần đi nữa

Nụ hôn đầu

Không bao giờ trở lại

 

 

Khuôn mặt không quên

 

Trên con đường vắng

Thiếu nữ lơ đãng nhìn trời

Vào ngày tôi đi

Kẻ lữ hành buồn bã.

 

 

Lá thư

 

Lá thư bằng mực đỏ

Lá thư gửi cho em

Lá thư không thể cho ai xem

Nếu đọc lá thư sẽ rách

Nhưng

Đó là lá thư anh không hề muốn xé

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật

Cùng đọc lại “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” của Phan Bội Châu.

June 16, 2012 Leave a comment

Cụ Phan Bội Châu viết “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” cách đây hơn trăm năm nhưng giờ đọc lại những dòng này những ai còn có chút trí tuệ, lương tâm không khỏi chau mày, rơi lệ.

 

 

Lưu Cầu huyết lệ tân thư

(Bức thư viết bằng máu và nước mắt từ đảo Lưu Cầu mới gửi về).

 

Theo học thuyết của Quản Trọng, nước có bốn “Duy” (bốn mối lớn). Nói ngược lại thì quốc duy tức là duy quốc (giữ nước). Giữ nước trước hết là giữ quốc thể. Nhưng giữ quốc thể ngày nay thật cũng khó giữ lắm. Vì sao? Quyền bính của nước ta là ở quan lại, nhân dân, tài sản. Nước có quan lại, tức là vị đứng đầu nước (nguyên thủ) có tay chân. Quan lại có nhân dân cũng như tay chân có ngón có đốt. Còn tài sản là huyết mạch của nước, huyết  mạch phải lưu thông trong tay chân ngón đốt, không thể một khắc gián đoạn. Thế mà quan lại ngày nay không phải tự ta truất trắc được. Tài sản ngày nay không phải tự ta vận dụng được. Đại thế sụp đổ khó lòng cứu vãn. Mọi việc đều bị xâm lăng lấn át, ngày càng thêm nặng, dầu muốn vớt vát cũng khó khăn muôn phần.

 

 

Nhưng nghĩ cho kỹ thì vẫn có cách làm được. Câu Tiễn đã từng mất nước, vẫn lấy việc thờ Ngô mà diệt Ngô. Nhật Bản là nước nhỏ hèn, vẫn lấy việc chịu lún Anh mà chống Anh. Lão tử nói: “Muốn thu lại, cần trương ra, muốn lấy được cần cho trước”. Binh thư Tá thiên nói: “Mình không đương được, mượn tay người khác, chẳng cần tự mình làm mà vẫn được việc”.Hợp hai thuyết ấy không phải không có cách làm.

 

Từ ngày nước mất đến nay, sự thế đổi khác, thực là tôi tớ mà danh là chủ nhân. Nói về cục thế, thì là một sự kỳ lạ, từ xưa chưa hề xảy ra. Nói về biến đổi, thì là một điều hổ nhục, từ xưa chưa hề mắc phải. Bọn chúng làm con hổ, nhỏ nước bọt thèm thuồng, người mình làm con cá, vẩy đuôi trốn lui. Động có yêu cầu việc gì thì cho là tốn kém hàng vạn. Bớt điều chúng thích, tiêu việc ta cần, chúng có vui đâu. Sở dĩ chúng còn để ta sống là vì chúng không dám giết chết đó thôi. Bên ngoài để che tai mắt nước khác, bên trong để lừa nhân dân nước ta. Chúng tạm cho ta cái danh giả để chúng giành lấy cái lợi thực.

 

Nay ta may còn được như thế này thì cũng nên lo tính việc giữ nước (duy quốc), dầu mất bò rồi mới sửa chuồng cũng chưa phải là muộn. Chúng ta nên mưu kín nghĩ xa, rán sức nhọc lòng, ngoài thì cố làm cái việc Câu Tiễn thờ Ngô, trong thì nuôi cái mưu Nhật Bản chịu lún Anh. Khi chưa sinh sự thì phải tự nhún mình nén khí để mua chuộc lòng chúng, phải qua lại thân mật để che tai mắt chúng, tìm trăm cách để lừa dối chúng, hễ chưa nuốt được gan chúng là chưa thôi. Khi đã sinh sự thì viện công pháp quốc tế mà yêu cầu, viện luật lệ nước ta mà tranh chấp, cả trăm miệng đều bẻ lại chúng, hễ chưa chặn được mưu chúng là chưa thôi. Lấy trí khôn và giúp khí mạnh thì dầu phải nhẫn nhục đến đâu cũng nấn ná mà làm; lấy khí mạnh mà đỡ trí khôn thì dầu biện biễn lễ có găng cũng mạnh dạn mà nói. Chúng thấy ta rất đỗi quyết lòng thì cũng phải chiều lòng; chúng thấy ta quả quyết giành thế thì chúng cũng phải nhượng thế. Lòng quyết được thì quyền bính mặc nhiên chuyển về ta, chúng không thể ngăn cản, thế giành được thì quyền bính hiển nhiên trả lại ta, chúng không dám lừa dối. Vua tôi đồng lòng, trăm người một bụng, dầu chúng ngoan cố cũng phải thua ta.

 

Quyền bính thu về dần thì quan lại lại là quan lại của ta, nhân dân là nhân dân của ta. Do đó, tài sản cũng không thể không phải là tài sản của ta. Rồi thì ta giảm bớt những thứ phù phí vô ích để tiêu vào việc cần kíp; bỏ bớt nhưng hư phí vô dụng để làm những việc thực dụng. Học thuật đổi được thì ta đổi dần, nhân dân nuôi được thì ta nuôi dần, dân khí chấn được thì ta chấn dần. Làm được ba điều ấy, tức là giữ được quốc thể đó vậy.

 

Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là trước hết. Nhân tài từ nhân dân mà ra, dân khí chấn rồi thì mới nuôi nhân tài được. Học thuật cốt nhân dân noi theo, dân khí chấn rồi học thuật mới đổi được. Sao lại nói đổi học thuật tất phải chấn dân khí đã? Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dẫu có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết và mặt trời (2). Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản àm không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại, ngu thật là ngu!

 

Gần đây phong hội ngày mở mang, thời cuộc ngày thay đổi, gặp cảnh đau lòng khổ tứ mà vẫn không bổ ích cho nỗi thua kém của mình. Các nước Thái tây đâu có hạng người gỗ đá như thế! U mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế! Phỏng khiến thoắt chốc thay đổi học thuật lập ra qui chế mới thì không khỏi làm cho họ khiếp thấy ngại nghe, sinh ra nhiên nhiễu. Mở mang trí tuệ, họ cho là hiếu kỳ, sửa đổi cho hợp thời, họ cho là trái cổ. Bọn giàu có tài giỏi đã không muốn làm thì những người nghèo dốt trông cậy sao được. Cho nên nói rằng dân khí chưa chấn thì học thuật khó lòng sử đổi.

 

Muốn chấn dân khí  phải làm thế nào? Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ, bớt lệnh áp bức để cổ võ khi cương cường. Hiện nay thói tốt đã mất, việc hối lộ công hành. Lúc đầu chỉ mới mon men lén lút, dần dần thần tiền trở nên vững mạnh, muốn thêm một cấp là được một cấp, muốn thăng một bậc là được một bậc, đồng bạc ném vào, luật nào cũng phá. Cho đến khoa mục là việc to lớn như trời mà người ta cũng dùng tiền chạy chọt, không chút kiêng dè. Người ta chỉ chú trọng việc làm quan và thi đậu, nhờ bất liêm mà được thì còn biết xấu hổ là gì nữa! Huống hồ người dầu non nớt đã có tiền làm cho thành giỏi giang, người dầu dốt kém đã có tiền làm cho thành thông thạo, như thế cần gì phải chịu khó học để cố gắng tiến lên! Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được.

 

Các nước Thái tây cho dân có quyền tự do, người trên có lỗi, dân được phép bắt lỗi, người trên chống dân thì dân được chống lại. Các vua thời trước muốn cùng dân tính việc. Sách Chu Lễ nói: “Hỏi khắp muôn dân” là có ý muốn khuyến khích lòng trung dũng của nhân dân, thấu hiểu việc lớn nhỏ trong thôn xóm. Quan dân như nhau thì dân cần gì phải luồn cúi. Ngày nay giữa quan và dân xa cách như trời với đất. Người bình dân thấy bọn lại thuộc hơn thấy hùm sói, người bách tính đến chốn nha môn khiếp sợ hơn cả con rệp ở khe giường, dầu có oan uổng cũng không chỗ kêu van. Nếu có vài người cứng cổ thì khác nào dùng cái “mâu” đâm vào cái “thuẫn”, thu được cái khí một chút thì mất ngay cái liêm, như thế muốn dân không tự ti sao được! Ôi! Núi sông chưa đổi, quỉ thần còn thiêng, nếu biết đồng bào là ruột thịt thì sao nỡ không thu hút họ để họ phải chạy tới kêu xin nơi cửa người ngoài, khác nào tự ta đuổi cá về vực sâu, sao mà khờ dại đến thế! Nay nên thành thực mở lối kêu van, dứt đường cầu cạnh, thắt chặt tình trên dưới, mở rộng đường thẳng ngay, làm cho công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim, búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được. Quan dưới như thế, quan trên tất phải theo. Quan trên như thế, người ngoài tất phải chiều. Lẽ phải rõ rệt, không ai mạnh ai hèn, dân chúng lâu ngày sẽ cho là thường, dẫu muốn bắt họ quì lụy luồn cúi cũng không thể được…

 

Còn muốn thay đổi đầy đủ hơn nữa thì phải dùng những ký thuật: Thuật thứ nhất là mở mang công dịch. Xét ra dân ta mà trí khéo không nẩy nở ra được, nào có phải bản chất họ không thông minh đâu, chẳng qua chỉ vì cái khí ươn hèn lười biếng. Hiện nay cầu sắt, đường sắt và các sở nhà máy có thể thuê dân làm. Nếu quả muốn mở mang công dịch thì nên trả công thuê khá cao để người nghèo đói được nhờ. Nghiêm mệnh lệnh làm công, rộng điều lệ làm công, bắt bọn nhà giàu cũng phải làm, không được trốn tránh. Lại cần nghiêm sức những người thừa hành phải lấy công tâm mà làm việc, không được ăn bớt tiền thuê nhân công bỏ túi cho đầy, không được viện lệ vu vơ câu nệ mà làm khó dễ. Có thế thì người nghèo tập quen thói cần cù và người giàu cũng sinh lòng phẫn nộ. Tập cần cù thì khí được luyện, sinh phẫn nộ thì khí được trương. Đã luyện và trương tất không chịu lún người khác.

 

Kỹ thuật thứ hai là nắn sửa cái hại của phép đánh thuế. Thuế nào có hại cho dân nghèo thì giảm và giảm thêm mãi. Như các loại chè, muối, cá, rau, dân nghèo không có đủ thì đánh thuế nhẹ để đỡ sức dân. Thuế nào có hại cho nhà giàu thì tăng lên và tăng thêm mãi. Như các loại nha phiến, lò rượu,  vốn đặt lãi, nhà cho thuê, chỉ nhà giàu mới có, thu thuế nặng tất họ phải oán, mà họ oán thì qui lỗi cho người ngoài (tức thực dân thống trị) và gợi lên lời chê phiền nhiễu độc ác. Đỡ sức dân thì có lợi cho ta và do đó dân quen theo ta. Gợi lời chê (người ngoài) thì có thiện cảm với ta và do đó ta được thêm thuận lợi.

 

Những kỹ thuật nói trên là nhằm mục đích mượn tay người ngoài làm để ta thu kết quả. Bọn người ngoài chỉ cầu lợi. Dân nghèo muốn thu ít thì bớt thu, nhà giàu ghét thu nhiều thì tăng thu, chúng nghe lấy làm thích mà ta thì đạt được cái trí. Việc gây thù oán của bọn phú hào, việc luyện khả năng cho đám dân nghèo ấy là một cách thừa cơ mà lợi dụng, chắc chắn làm được. Các thày thuốc thường nói: “Khai thông cái muốn thông, ủng tắc cái muốn tắc” ấy là thượng sách.

 

Như thế là chấn được dân khí, mà dân khí có chấn thì mới tuyển được những người tài giỏi để dạy cho họ cái học hữu dụng và bỏ cái học hư văn, vẫn tôn trọng cái tốt của sách thánh hiền phải phụ thêm việc học học của Thái tây. Việc thi cử lập qui chế mới, chứ không thi văn suông. Việc chọn nhân tài thì nghiêm phòng cái lối chạy ngoài mà không câu nệ lời khen tục sáo. Học thuật đã tiến thì bỏ bớt thường lệ để bạt dụng những người tài năng ở miền thảo dã, phớt qua cấm lệ để thu hút những người kỳ tài ở nơi núi rừng. Cấp học bổng xuất dương du học thật hậu để giúp thành công; tìm tài ngoại giao cho tinh để khuyên cố gắng. Như thế là nhân tài được nuôi dưỡng. Những người nay đang ở thấp là nhân tài tương lai, những người nay đã lên cao là nhân tài hiện tại. Nhờ có họ giúp sức thì mới thực hiện được những điều nói trên.

Trong khoảng trời xanh bát ngát, bể thẳm mênh mông (tức là trong nước), chắc chắn cũng có những người gánh được cái việc tối đại của nghìn muôn đời, lập nên được cái công tối gian khổ của nghìn muôn năm và đương lấy được cái nhục tối hiếm tối lạ của nghìn muôn thuở. Có được những người ấy thì quyền bính sẽ thu về được, quan lại sẽ truất trắc được dân dân sẽ sử linh được, tài sản sẽ vận dụng được. Lúc bấy giờ, muốn chấn dân khí thì dân khí ngày càng cao vọt, muốn nuôi nhân tài thì nhân tài ngày càng thịnh đạt. Cái thành công của Câu Tiễn, Nhật Bản chỉ ngẩng đầu mà đợi. Nhờ vậy có thể nói chắc rằng, huyết mạch sẽ đầy đủ, tay chân ngón đốt sẽ béo mập và vị đứng đầu nước sẽ vững vàng như núi Thái Sơn. Bằng không làm theo lời bàn trên thì chẳng khác đem cho nhà người ngoài cư trú, làm tôi tớ cho người ngoài sai khiến, hiến tài sản cho người ngoài tiêu dùng, hơn thế nữa, đem thê thiếp và con gái cho người ngoài làm vợ, còn trách gì được ai! Còn trách gì được ai!…

 

(1903)

 

Lê Thước dịch

Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 33 tháng 10 năm 1957.

 

 

Khám phá thế giới tinh thần của nhà thơ Takehisashi Yumeji

June 14, 2012 Leave a comment

 

Takehisashi Yumeji (1884-1934) là nhà thơ, họa sĩ nổi tiếng người Nhật Bản. Ông tên thật là Takehisa Mojiro.  Nhà thơ sinh ra ở tỉnh Okayama, tự học vẽ và bắt đầu khởi nghiệp bằng công việc vẽ tranh minh họa cho các tờ báo và tạp chí. Năm 1909 Takehisashi Yumeji  xuất bản cuốn sách đầu tiên tập hợp các bức tranh ông vẽ  sau đó liên tiếp  cho ra đời các tập thơ có tranh minh họa và nhanh chóng nổi tiếng. Ông qua đời ngày 1 tháng 9 năm 1934 để lại nhiều tác phẩm thơ và họa được công chúng yêu mến. Những bài thơ được dịch từ tiếng Nhật dưới đây được rút ra từ “Tuyển tập 100 bài thơ của Takeshisashi Yumeji” do NXB Miyaobi ấn hành năm 2011.

Tôi sẽ lần lượt giới thiệu các bài thơ do tôi dịch từ tập thơ nói trên. Mời các bạn thưởng thức bài thứ nhất.

 

Âm thanh khổng lồ

 

Nếu tất cả nước trong thế giới này

Hợp thành một biển

Biển ấy sẽ lớn đến bao nhiêu?

 

Nếu tất cả cây trên thế giới này

Hợp lại một cây

Sẽ thành cây lớn biết bao nhiêu?

 

Nếu rìu trên thế giới này

Hợp lại thành một rìu duy nhất

Lưỡi rìu ấy  sẽ lớn đến thế nào?

 

Nếu mọi người trong thế giới này

Thành một người duy nhất

Ái chà! Cao lớn biết bao nhiêu?

 

Và rồi nếu người khổng lồ ấy

Chặt cây gỗ lớn

Ném xuống biển

Âm thanh sẽ lớn đến bao nhiêu?

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật.

 

 

CHẾT VÌ THAM ĂN DƯA BỞ

June 10, 2012 Leave a comment

Xưa nay thiên hạ thi nhau chửi bới Tần Thủy Hoàng là kẻ bạo chúa vì đã ra tay “đốt sách chôn học trò”. Mình cũng thế, ghét kẻ họ Tần lắm nên hễ có dịp là lại lôi họ Tần ra chửi bằng thích. Nào ngờ hôm nay đọc trước tác của cụ Phan Bội Châu thấy cụ không chửi vua Tần mà mắng bọn học trò đáng chết. Mình phục cụ Phan nên cụ bảo đúng mình cũng tin là đúng. Nhờ cụ mình mới biết bọn học trò đâu có chết vì lưỡi gươm của họ Tần. Họ chết vì dưa…bở.

Dưới đây là chỉ giáo của của cụ Phan:

Tần Hoàng khanh nho

Tội Tần thiên cổ thuyết khanh nho,
Ngã thuyết Tần Khanh danh lợi đồ.
Lang tự bất tham qua tự thực
Phục Thân tằng nhập thử khanh vô?
(trước 1898)

Dịch nghĩa:

Tần Thủy Hoàng chôn học trò

Xưa nay vẫn nói tội lớn của Tần là chôn học trò
Nhưng tôi nói: Tần chỉ chôn bọn danh lợi
Nếu như bọn người ấy không tham loại dưa ngon thì sao mà chết ? (1)
Còn ông Phục, ông Thân (2) không đến đấy thì có bị chôn đâu?

(Chương Thâu dịch)

(1) Tần Thủy Hoàng đánh lừa bọn nhà Nho rằng: ở trong cái hầm ấy (hầm chôn người) có loại dưa ăn rất ngon.

(2) ông Phục và ông Thân không đến hầm đó để ăn dưa nên vẫn sống. Sau này, chính nhờ hai ông này thuộc Kinh Dịch và Kinh Thư nên hai Kinh này còn được truyền lại về sau. Chú thích 1 và 2 của cụ Nguyễn Mộng Lý.

(Phan Bội Châu toàn tập tập I, NXB Thuận Hóa, 1990, tr.185-186)

Nhớ lại hồi mới được hải quân Anh đưa trở lại châu Phi sau nhiều năm xa cách đi đâu Robinson cũng thấy người ta xúm xít tranh giành cãi vã om sòm. Không rõ chuyện gì Robinson có hỏi vài đồng bào thì thấy họ hoặc là lườm nguýt hoặc là mặt lạnh băng nhìn Robinson như kẻ thực dân đến cướp vàng và hương liệu.

Giờ thì rõ! Hóa ra thiên hạ đang tranh nhau đoạt dưa. Chỉ có điều khác rằng khí hậu ở châu Phi thuận lợi hơn xứ Tần nên thiên hạ đồn dưa ngon hơn, thơm hơn cũng vì thế mà hội tranh dưa ngày đêm náo nhiệt.

Robinson về nhà tra sách của cổ nhân thấy ghi đó là loại dưa bở đặc sản của châu Phi, loài dưa mà ở Âu-Mĩ đã tuyệt chủng từ khi ông tổ của Robinson chập chững dong buồm trên biển.

Categories: Nhìn ra thế giới

Hạnh phúc như đồng năm nghìn

June 8, 2012 Leave a comment

Sáng tỉnh dậy bụng đói cồn cào.

Mở ví, ví rỗng không.

Chạy vào bếp. Bếp không còn gì khả dĩ có thể gọi là thức ăn.

Trời mới sáng mờ mờ. Cũng khó có thể vay ai 5 nghìn giữa thành phố gần 10 triệu dân này. Nhà nào cũng kín cổng, cao tường và nuôi chó dữ.

Tìm mãi tìm mãi khắp các xó xỉnh cuối cùng cũng thấy một đồng 5 nghìn nhăn nheo trong túi áo lẫn mấy tấm vé xe bus đã dùng.

Chạy ra ngoài mua hai chiếc bánh mì. Chao ôi! Bánh mì sao mà ngon.

Vừa ăn vừa ngẫm nghĩ về hạnh phúc.

Bất kể bạn là ai già hay trẻ, sang hay hèn có lẽ hơn một lần trong đời trong đầu bạn vụt hiện ra câu hỏi: “Hạnh phúc là gì?”

Với tôi, hạnh phúc giống như đồng năm nghìn tôi vừa tìm thấy trong túi áo.

Đồng năm nghìn ấy không tự nhiên có. Tôi không thể ăn cắp hay ăn cướp để có được. Đồng năm nghìn ấy đẫm mồ hôi.

Hạnh phúc vốn giản dị và ở thật gần. Con người thông minh nhưng cũng ngu ngốc. Con  người chỉ nhận ra hạnh phúc và giá trị của vật gì đó khi nó đã tuột khỏi tay hoặc gần như sắp mất.

Nếu bạn đang giữ trong tay đồng 5 nghìn. Bạn có thể để quên trong túi áo hay kẹp nơi trang sách.

Nhưng

Xin bạn đừng để rơi hay ném bỏ.

Hạnh phúc như đồng năm nghìn ướt đẫm mồ hôi.

Robinson

Categories: Tản văn-ghi chép
%d bloggers like this: