Archive

Archive for January, 2013

Nói với vua

January 31, 2013 Leave a comment

Nói với vua
tác giả: Nguyễn Quốc Vương

Này vua xuống đi
Ngai vàng ngồi mãi
Dân gian ta thán
Máu chảy nhiều rồi

Này vua thôi đi
Ăn chơi gì mãi
Ngân khố rỗng không
Xương phơi đầy bãi

Này vua tỉnh đi
Sao còn ngủ mãi.

Cảm tác khi đọc xong vài trang sách lịch sử
24/5/2011

Advertisements
Categories: Thơ Tags: , ,

Lục bát buồn

January 29, 2013 Leave a comment

  Lục Bát Buồn

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương

 

Ta đi tìm núi gặp sông

Tìm mưa gặp nắng cải ngồng trổ hoa

Tìm gần  gũi gặp cách xa

Những gì chân thật hóa là  dối gian

Rõ thau lại ngỡ  là vàng

Buồn đi tìm bóng gặp ngàn không cây

Muốn qua sông đã gãy cầu

Muốn về đã muộn mưa ngâu chặn rồi.

Tìm đường chỉ thấy chân trời

Ngồi thiền vẫn gặp  cõi người ngổn ngang.

5/4/2012

Categories: Thơ Tags: , ,

Thế giới trong cơn ác mộng

January 28, 2013 Leave a comment

Thế giới trong cơn ác mộng

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương    

       

Ở đây đắm say đã chết

Chỉ còn lại những héo tàn

Cây cối, cỏ hoa ủ rũ

Lâu đài, thành quách phế hoang

Phật, tiên rên trong cũi sắt

Quỷ ma vác giáo đi tuần

Vạc dầu lửa ngùn ngụt cháy

Cú kêu, quạ đập cánh vang

Bạch Tuyết áo xiêm rách rưới

Bị gậy sống cảnh ăn mày

Hoàng tử còng lưng đào đất

Lần hồi đắp đổi lắt lay

Hươu nai lưu đày biệt tích

Núi rừng chỉ tiếng muỗi kêu

Suối nguồn thôi không róc rách

Mưa giông lệ đỏ tuôn trào

Đi mãi người đâu chẳng thấy

Chốn  nào cũng gặp quỷ ma

Cà sa chen với  áo giấy

Phố gần cũng tựa rừng xa.

Cô đơn hành trình xa lắc

Xích xiềng cắn xé đôi chân

Trăng lặn quỷ bầy gào rú

Đêm đen kinh hãi muôn phần.

Giật mình nồi kê chưa chín

Ngoài song ngày mới chưa sang

Thế giới trong cơn ác mộng

Tỉnh rồi không dứt hoang mang

22/5/2011

Giáo dục đa văn hóa

January 28, 2013 Leave a comment


1. Bối cảnh

Sau chiến tranh, UNESCO tổ chức xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế vào năm 1974 đã đưa ra “Khuyến cáo về giáo dục hiểu biết, hợp tác quốc tế, giáo dục vì hòa bình và giáo dục nhân quyền, tự do cơ bản”. Trong bản khuyến cáo này,  với tư cách là một “nguyên tắc chỉ đạo”  vì hiểu biết quốc tế, UNESCO đã đưa ra “sự lý giải và tôn trọng đối với văn hóa, văn minh, giá trị cùng mô hình đời sống của  tất cả các dân tộc bao gồm cả văn hóa của dân tộc trong nước và văn hóa của nước khác”. Bằng sự chỉ ra này, người ta thay vì nhấn mạnh giáo dục hiểu biết quốc tế với tư cách là giáo dục “hiểu biết về nước khác” mà UNESCO đã xúc tiến, đã nhấn mạnh đến tính cần thiết của giáo dục hiểu biết quốc tế  với tư cách là giáo dục  “hiểu biết đa văn hóa”.

 

Lý do của việc thay đổi trọng tâm trong giáo dục hiểu biết quốc tế là do có nhận thức rằng  các nước trên thế giới ngày nay có tính đa nguyên, phức hợp về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa và trong hoàn cảnh đa văn hóa như vậy, thì cần đến sự hiểu biết tương hỗ giữa các nền văn hóa khác nhau ở mức độ thế giới bao gồm cả sự hiểu biết tương tác giữa các văn hóa khác nhau trong cùng một nước thay vì “hiểu biết về nước khác” giữa các quốc gia có chủ quyền một cách trừu tượng.

 

2. Định nghĩa.

 

Thông thường khi nói đến “Văn hóa” người ta thường liên tưởng đến những thứ mang tính truyền thống như văn học hay nghệ thuật. Tuy nhiên điều quan trọng trong hiểu biết đa văn hóa không phải là văn hóa “cao cấp” như thế. Mà nó là “văn hóa” thuộc đối tượng nghiên cứu của văn hóa nhân loại học. Tóm lại, đó là toàn bộ những gì mang tính phức hợp mà con người học tập được, sở hữu và lưu tuyền  như giá trị quan của cộng đồng, các mô hình cuộc sống như ăn, mặc, ở. Những thứ này là văn hóa “thường ngày” hình thành nên nền tảng tinh thần của mỗi cộng đồng người.

 

Ngày nay, để mọi người với văn hóa khác nhau cùng chung sống và hợp tác thì cần phải nhận thức về những điểm chung và khác biệt giữa các nền văn hóa ở ý nghĩa như trên, tiếp nhận dung hòa và tôn trọng  các giá trị quan và mô hình đời sống. Điều này được gọi chung là “hiểu biết đa văn hóa” và việc giáo dục các phẩm chất hướng tới điều đó được gọi là “giáo dục hiểu biết đa văn hóa”.

 

3. Sự cần thiết phải hiểu biết về “văn hóa bản thân”.

 

Thông thường khi nói giáo dục hiểu biết đa văn hóa thì người ta có xu hướng nghĩ tới việc học tập về văn hóa của “nước khác” ở bên ngoài Nhật Bản. Tuy nhiên để hiểu biết đúng đắn về đa văn hóa thì trước tiên cần phải hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về văn hóa của bản thân, nếu như làm sâu sắc hiểu biết về văn hóa của bản thân thì sự hiểu biết sâu sắc về đa văn hóa sẽ được tạo ra nhờ vào nghiên cứu giao tiếp giữa các nền văn hóa.

 

Với tư cách là cách nhìn của  người Nhật học về văn hóa Nhật Bản-văn hóa của bản thân, quan điểm “sự đa dạng mang tính khu vực” của văn hóa Nhật Bản đã được đưa ra. Theo thông lệ, trong trường hợp bàn luận về văn hóa Nhật Bản, đặc trưng đồng chất thường được nhấn mạnh và có xu hướng coi nhẹ tính đa dạng, phong phú của văn hóa Nhật Bản. Tuy nhiên, những năm gần đây việc đặt lại câu hỏi về tính đa dạng của nền tảng tạo nên văn hóa Nhật Bản đã được xúc tiến một cách tích cực trong các lĩnh vực như Lịch sử học, dân tục học, văn hóa nhân loại học… Sự đa dạng của văn hóa Nhật Bản-văn hóa bản thân và việc lý giải hiện thực cộng sinh của nó là tiền đề không thể thiếu của giáo dục hiểu biết đa văn hóa với  tư duy về tính đa dạng và cộng sinh của văn hóa.

 

4. Hiểu biết về “Đa văn hóa trong nước mình”.

 

Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới là các quốc gia đa dân tộc được tạo thành từ các cộng đồng đa dạng. Xu hướng đa dân tộc hóa như vậy đang gia tăng trong quá trình quốc tế hóa ngày nay. Nhật Bản cũng không phải là một ngoại lệ. Nhật Bản hiện nay (số liệu năm 1998) ngoài người Ainu bản xứ còn có 1,5 triệu người nước ngoài sinh sống chiếm khoảng 1,3 tổng dân số.

 

Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng sinh sống của những người có văn hóa khác biệt này thì sự khác biệt về mô hình cuộc sống, giá trị quan đã làm nảy sinh sự phức tạp ở nhiều phương diện và dẫn tới hình thành ý thức bài ngoại, phân biệt đối xử của người Nhật. Ý thức này đặc biệt rõ đối với những người châu Á nhất là những người thuộc thế giới thứ ba. Vấn đề là xu hướng hướng về Âu Mĩ coi thường châu Á tồn tại rất mạnh ở trong giới trẻ Nhật Bản. Nếu nói một trong những vấn đề lớn của thời đại toàn cầu hóa ngày nay là “các dân tộc cùng chung sống” thì ý nghĩa của giáo dục đa văn hóa nhắm tới sự hiểu biết và cùng sinh tồn của đa văn hóa trong lòng Nhật Bản và giáo dục “hiểu biết nước khác” có ý nghĩa lớn.

 

Một trong những mô hình tư duy về sự tồn tại của giáo dục hiểu biết đa văn hóa trong nước được gọi là “giáo dục đa văn hóa” (Multicultural education). Những năm gần đây, ngay cả ở Nhật Bản cuối cùng thì tính cần thiết của giáo dục đa văn hóa cũng đã được nhận thức, rất nhiều “phương châm giáo dục” (phương châm chỉ đạo), “tuyển tập thực tiễn” dành cho người nước ngoài sống ở Nhật đã được các Ủy ban giáo dục của cộng đồng tự trị địa phương biên soạn và dựa trên đó nhiều thực tiễn đã được tiến hành.

 

5. “Hiểu biết về nước khác” với tư cách là hiểu biết đa văn hóa

 

Trong “hiểu biết về nước khác” với tư cách là hiểu biết đa văn hóa thì bối cảnh của nền văn hóa đó, “sự hiểu biết về giá trị quan, tính dân tộc” quy định mô hình hành động, mô hình cuộc sống là thứ quan trọng đầu tiên. Nếu như hiểu được dù là chút ít về  giá trị quan và tính dân tộc của những người thuộc về nền văn hóa đó thì có thể giúp ích cho việc tránh hiểu nhầm hoặc có thiên kiến với họ.

 

Thứ hai là “hiểu biết về sự đa dạng mang tính khu vực và đa văn hóa mang tính dân tộc”. Trong hiểu biết đa văn hóa, cùng với hiểu biết về giá trị quan, mô hình cuộc sống chung của đất nước đó, dân tộc đó thì hiểu biết về sự đa dạng mang tính dân tộc, khu vực bên trong nước đó cũng cần được chú ý.

 

Thứ ba, là quan điểm “hiểu biết về sự tiếp biến văn hóa và quốc tế hóa văn hóa” do tiếp xúc văn hóa. Một nền văn hóa nào đó do tiếp xúc, giao lưu với văn hóa khác mà không ngừng biến đổi. Bằng quan điểm tiếp xúc, tiếp biến văn hóa, quốc tế hóa văn hóa người ta có thể nhìn thấy đa văn hóa và sợi dây liên hệ giữa văn hóa của bản thân với văn hóa bên ngoài.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

Giáo dục hiểu biết quốc tế

January 27, 2013 Leave a comment


1. Tên gọi “Giáo dục hiểu biết quốc tế”

Cụm từ “giáo dục hiểu biết quốc tế” ở nghĩa rộng được dùng để chỉ giáo dục  nhắm đến lĩnh vực quốc tế bao gồm giáo dục toàn cầu, giáo dục phát triển… và xét ở nghĩa hẹp nó được dùng để chỉ sự ứng phó của giáo dục Nhật Bản đối với trào lưu “giáo dục vì sự hiểu biết quốc tế”của UNESCO. Tuy nhiên ngay cả ở trường hợp sau cũng có nơi tuân thủ trung thành với khuyến cáo của Liên hợp quốc năm 1974 dưới tên gọi là Giáo dục quốc tế và cũng có những sự ứng phó đa dạng khác tùy theo người dùng vì vậy việc nắm chắc ý nghĩa thống nhất của thuật ngữ là điều khó khăn.

 

2. Sự ứng phó của UNESCO

 

Giống như trong lời nói đầu của Hiến chương UNESCO “Bởi vì chiến tranh là thứ sinh ra từ trái tim con người cho nên cần phải xây dựng thành trì hòa bình ngay trong trái tim con người. Việc không hiểu biết lẫn nhau về phong tục và cuộc sống là nguyên nhân chung làm nảy sinh  nghi ngờ và sự  bất tín giữa các dân tộc trên thế giới  trong suốt lịch sử nhân loại.  Do sự nghi ngờ và bất tín này mà  sự  bất đồng giữa các dân tộc đã làm cho chiến tranh thường xảy ra”, xuất phát từ sự phản tỉnh sâu sắc về sự lặp lại của chiến tranh thế giới,  dựa trên triết lý cơ bản  cho rằng để thực hiện được hòa bình thì giáo dục hiểu biết quốc tế là không thể thiếu, UNESCO sau Chiến tranh thế giới thứ II đã đảm nhận vai trò trung tâm trong việc xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế.

 

Ban đầu UNESCO gọi đó là “Giáo dục vì sự hiểu biết quốc tế” (Education for International Understanding) nhưng về sau tên gọi thay đổi liên tục và từ 1955 trở đi thì được đổi tên thành “Giáo dục vì hiểu biết và hợp tác quốc tế” (Education for International Understanding and Cooperation). Ở Nhật Bản nó được gọi tắt là “Giáo dục hiểu biết quốc tế”.

 

Năm 1952, UNESCO đã đưa ra quyết nghị thực thi hoạt động thực tiễn ở phạm vi cộng đồng quốc tế nhằm so sánh, xem xét sự thử nghiệm thực tế của giáo dục hiểu biết quốc tế và dựa trên cơ sở đó nó đã được tiến hành ở các trường THCS thuộc  liên minh 15 nước trong đó có Nhật Bản. Về sau nó được gọi là “Dự án trường học hợp tác UNESCO” (UNESCO Associated Schools Project) và ở Nhật Bản nó cũng được triển khai với trọng tâm từ giữa thập niên 50 đến  thập niên 60. Đương thời ba vấn đề  “nghiên cứu về nhân quyền”, “nghiên cứu về nước khác”, “nghiên cứu về Liên hợp quốc” đã trở thành trụ cột của giáo dục hiểu biết quốc tế và để lại thành quả nghiên cứu đáng quý nhưng không thấy triển khai rộng rãi tới các trường học thông thường.

 

Về sau, trong bối cảnh tình hình thế giới có sự thay đổi lớn, vào thập niên 70  trọng tâm đã được đặt vào mối quan hệ phụ thuộc tương hỗ mang tính quốc tế và  việc thu hẹp sự cách biệt giữa Nam-Bắc thay vì là  sự hiểu biết giữa các quốc gia. Trong Đại hội  lần thứ 18 năm 1974 UNESCO đã đưa ra “Khuyến cáo về giáo dục hiểu biết quốc tế, hợp tác, hòa bình và giáo dục vì nhân quyền và tự do cơ bản”, nhấn mạnh  tính tất yếu của sự liên kết và hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề  quy mô thế giới như quyền của các dân tộc, duy trì hòa bình, nhân quyền, phát triển, tài nguyên, môi trường …

 

2. Sự tiến hành ở Nhật Bản

 

Ở Nhật Bản vào năm 1974 (năm Showa 49), Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương đã đưa ra bản báo cáo “Về giao lưu giáo dục, học thuật, văn hóa quốc tế”, hướng đến “giáo dục người Nhật sống trong xã hội quốc tế”, công bố chính sách giáo dục ứng phó với quốc tế hóa với ba trụ cột là: 1. Giao lưu quốc tế, 2. Giáo dục ngoại ngữ, 3. Giáo dục trẻ em nữ trở về nước.

 

Bước vào thập niên 80, cùng với sự quốc tế hóa mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, trong bối cảnh nảy sinh sự cần thiết của việc ứng phó với sự quốc tế hóa ở cả phương diện đời thường, vấn đề “người Nhật trong lòng thế giới” đã được đưa ra bàn luận rộng rãi, Hội đồng giáo dục lâm thời (1984-1987) đã đưa ra “Ứng phó với sự biến đổi quốc tế hóa, thông tin hóa”. Năm 1987 (năm Showa 62) Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục đã nhấn mạnh: “Làm sâu sắc hiểu biết quốc tế, coi trọng giáo dục thái độ tôn trọng văn hóa và truyền thống của nước ta”, chỉ ra tính cần thiết của sự tự giác và trách nhiệm với tư cách là người Nhật sống trong xã hội quốc tế.

 

Thêm nữa, bằng  báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng giáo dục, giáo dục hiểu biết quốc tế đã được xúc tiến  và đưa ra 3 điểm: 1. Giáo dục năng lực cùng chung sống trong môi trường đa văn hóa, 2. Sự xác lập của bản thân với tư cách là cá nhân, 3. Giáo dục năng lực giao tiếp. Trong Bản hướng dẫn học tập năm 1999 (năm Heisei 11), “Thời gian học tập tổng hợp” đã được đưa ra với tư cách là mô hình mẫu, sự hiểu biết quốc tế trong  khóa trình giáo dục đã có được vị trí của mình và duy trì đến hiện tại.

 

3. Xu hướng giáo dục hiểu biết quốc tế mới.

 

Từ khoảng thập niên 80 trở đi xu hướng giáo dục hiểu biết quốc tế mới của Âu Mĩ đã được giới thiệu, du nhập vào Nhật Bản. Giáo dục toàn cầu đã được bắt đầu ở Mĩ từ thập niên 70, các vấn đề mở rộng ở quy mô toàn cầu như tranh chấp, vấn đề nhân quyền, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phát triển, môi trường… đã dần được tư duy từ lập trường “công dân toàn cầu” và ở Anh nó được được triển khai với tên gọi “World Studies”.

 

Thêm nữa, giáo dục phát triển từ sau thập niên 60 khi vấn đề Nam-Bắc trở nên trầm trọng đã nhắm đến giáo dục ý thức “công dân toàn cầu” nhắm giới việc lý giải nguyên nhân và tình hình của các nước đang phát triển, hướng tới giải quyết vấn đề Nam-Bắc.

 

Trái lại, giáo dục đa văn hóa đã ra đời từ trong phong trào đấu tranh đòi quyền công dân ở Mĩ thập niên 60.  Đây là phong trào tôn trọng tính quy thuộc của  văn hóa dân tộc  của dân tộc thiểu số và văn hóa di dân trong quốc gia đa dân tộc vì vậy Nhật Bản, với mục tiêu “Quốc tế hóa bên trong”,  đã tiến hành giải quyết vấn đề người nước ngoài sống trên đất Nhật Bản.

Từ lập trường xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế mới như trên, ở Nhật Bản người ta một mặt phê phán giáo dục Nhật Bản chỉ thu hẹp ở việc lấy trung tâm là giáo dục lý giải đa văn hóa trong khi tầm nhìn thế giới yếu, tuy nhiên nhiều người cũng bày tỏ mối nghi ngờ đối với bản thân khái niệm “công dân toàn cầu”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000).

 

Hỏi em

January 26, 2013 1 comment

Hỏi em

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương

Cuộc đời giống như sân khấu và mỗi người phải đóng nhiều vai

-Shakespeare-

 

Thế gian  thành màn kịch

Anh nên sắm vai gì?

Vua quan hay lính tráng

Sắm vai nào hay hơn?

 

Vua quan phải biết ác

Lính tráng chớ nghĩ nhiều

Hai điều anh không thể

Làm thế nào em ơi!

 

Nhật Bản ngày 4 tháng 5 năm 2008

Categories: Thơ Tags: ,

Thơ viết vào ngày 25 tuổi

January 25, 2013 Leave a comment

Thơ viết vào ngày 25 tuổi.

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương

25 tuổi anh thôi  sửng sốt

Khi thấy lũ chim vui vẻ hót trong lồng.

 

25 tuổi anh thôi buồn bã, tiếc thương

Những người bạn thích làm quan giờ trơ lì hơn đá

 

25 tuổi

Trong con mắt anh

Hiện thực xung quanh

Một màu buồn bã.

 

Nhật Bản 29 tháng 4 năm 2007.

 

%d bloggers like this: