Archive

Archive for March, 2013

Tại sao chúng ta mất nước (12)

March 31, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Tuy là quốc gia đã từng chiến thắng giặc ngoại xâm làm vang lừng lịch sử dân tộc, nhưng trong 30 năm kháng chiến, Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Vì sao vậy? Đó là một câu hỏi có vô số câu trả lời.

Thứ nhất phải kể đến sự suy yếu của nhà Nguyễn. Vua là một ngôi vị quan trọng trong sự mạnh yếu, hòa bình hay chiến tranh, độc lập hay bị cai trị của đất nước. Nhưng thật không may, thời đó có được mấy trung thần yêu nước. Ông vua đứng đầu sa đọa, ăn chơi, nhu nhược, hèn nhát thì sao có được một quốc gia hùng mạnh. Giặc vừa tới, quân sĩ đã run sợ (như trong lần Pháp tấn công đồn Thuận An) là do đâu? Đó là do trách nhiệm cảu vua. Vua là người đứng đầu trên tất cả mà còn như vậy thì quân sĩ không hèn nhát mới thật lạ. Sự suy sụp của Việt Nam có một phần trách nhiệm của vua Tự Đức. Bao lần triều đình chấp nhận kí các bản hiệp ước, dần chấp nhận sự cai trị của Pháp trên tổ quốc quê hương. Đó thật là một hành động bán nước không thể tha thứ của triều Nguyễn. Chính triều Nguyễn đã chấm dứt nền độc lập của Tổ quốc.

Song, không phải ai cũng nhu nhược, hèn nhát, không biết lo cho tương lai dân tộc. Như Nguyễn Tri Phương anh dũng chống trả nhưng thất bại; Hoàng Diệu bất khuất chống Pháp bảo vệ thành Hà Nội, và còn nhiều cuộc nổi dậy khác. Trong đó không thể không kể đến sự giúp sức mạnh mẽ của nhân dân (trong việc giết được Rivie). Nhưng rồi cũng là do triều đình Huế đã bỏ lỡ một cơ hội để đuổi Pháp ra khỏi Việt Nam vì không có biện pháp kiên quyết, tạo điều kiện cho Pháp tăng viện binh. Như vậy triều đình Huế không những bỏ đi nỗ lực của chính họ mà còn cả nỗ lực của nhân dân.

Mặt khác, trong thời gian kháng chiến lan rộng ra toàn quốc, triều Nguyễn vẫn từ chối cải cách và thi hành các chính sách đối nội, đối ngoại lỗi thời, không có tính đột phá, mở mang ra tầm quốc tế: ra sức vơ vét tiền của trong nhân dân để phục vụ cho cuộc sống xa hoa và bồi thường chiến phí cho Pháp dẫn đến các ngành kinh tế nông, công, thương nghiệp bị sa sút, đời sống nhân dân cơ cực. Trần Quốc Tuấn từng dạy phải biết đoàn kết toàn dân tộc trước giặc ngoại xâm. Nhưng triều Nguyễn không làm được vậy. Các quyết định (kí hiệp ước) của triều Nguyễn càng làm dân tộc ta bị chia ra, kẻ tham tiền theo Pháp, kẻ yêu nước nổi lên. Đất nước tan rã, mất đoàn kết là một lí do khá to lớn trong việc mất nước.
Trên là những lí do trong nước.

Thứ hai, về phía Pháp. Ta biết rằng Việt Nam là một đất nước đóng kín, không giao du, trao đổi với nước ngoài nên ta là một đất nước khá lạc hậu. Còn Pháp là một đất nước phát triển, hiện đại. Như vậy có thể biết rằng vũ khí chiến tranh của Pháp khác hoàn toàn so với Việt Nam ta: hiện đại hơn, tân tiến hơn và trên hết là sức công phá của chúng. Việt Nam ta còn phải sử dụng những vũ khí khá thô sơ. Tóm lại, Pháp có một lợi thế hơn hẳn so với nước ta.

Đó là những lí do chính trong việc thất bại của Việt Nam ta trong khoảng thời gian này.

(LPQ, nữ, học sinh lớp 8)

Advertisements

Tại sao chúng ta mất nước (11)

March 30, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Trong suốt gần 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước của nước ta, chúng ta luôn trở thành miếng mồi ngon cho rất nhiều nước trên thế giới đặc biệt là Trung Quốc. Có thể nói, đất nước chúng ta là một lò lửa chiến tranh cũng không sai. Lò lửa này đã tôi luyện được những vị tướng xuất sắc nhất mọi thời đại như Trần Hưng Đạo, Võ Nguyên Giáp… và cũng là nơi đã làm nhục mặt những Thoát Hoan, Đờ Các Tơ… Vậy mà vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến, chúng ta đã sụp đổ hoàn toàn và là thuộc địa của thực dân Pháp-quân đội không phải là mạnh nhất thế giới. Tại sao?

 

Nguyên nhân chính của cuộc thất bại là nằm ở triều đình. Thời điểm đó là sự trị vì của nhà Nguyễn sau khi đàn áp một cách tàn bạo quân Tây Sơn. Giai đoạn Pháp đến chính là  lúc suy sụp của nhà Nguyễn. Mỗi hiệp ước của nhà Nguyễn kí với Pháp đều cho thấy sự nhu nhược và hèn nhát của họ. Còn các vua của nhà Nguyễn trừ vua Duy Tân và Thành Thái tất cả từ Tự Đức cho đến Bảo Đại đều là những vua bù nhìn, ăn chơi sa đọa. Vua không dám “chơi” thì các tướng ở dưới dù có cố gắng đến mấy cũng bị Pháp đánh bại. Không ai giữ nổi thành  vì quân giặc quá mạnh hoặc là ta tự giơ tay đầu hàng. Các phong trào nhân dân cũng không thể thành công. Vì đấy chỉ là các trận đánh nhỏ lẻ, không thể liên kết giữa các nghĩa quân với nhau, tất cả đều dẫn đến một thất bại chung. Quay trở lại với triều đình Nguyễn, họ đã không có bất cứ một động thái nào để giữ nước. Như Nguyễn Xiển đã nói với vua Tự Đức: “Vua giả điếc để không nghe tiếng dân chửi, giả mù để không thấy quân địch ở ngoài kia, giả què để không xuất trận, và giả câm để không tuyên truyền đánh Pháp”. Trong khi các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ…liên tục đưa người ra nước ngoài học hay thuyết phục vua làm việc này. Nhưng ngài chẳng làm gì, đã vậy lại còn chia bè chia phái trong triều đình. Cùng thời điểm này, chúng ta hãy nhìn sang Nhật Bản, họ mở cửa với người Mĩ, giao du với người châu Âu cũng như tiếp nhận tư tưởng của phương Tây. Và họ đã mạnh hơn chúng ta rất nhiều.

Về vấn đề tôn giáo cũng rất nhức nhối, việc cấm không cho theo đạo Thiên chúa giáo, bắt và xử tử các giáo sĩ cả người Việt lẫn Tây đã gây chia rẽ sâu sắc trong nhân dân cũng như  làm tức giận quân Pháp. Vì vậy, nguyên nhân chính khiến Việt Nam thất bại chính là ở triều đình nhà Nguyễn cổ hủ, không chịu theo con đường phát triển của thế giới cũng như không chịu chiến đấu chống Pháp.

(Tr.Đ.D, nam, học sinh lớp 8)

Trận chiến trên sông Tràng An: 30 năm mới có một lần

March 30, 2013 Leave a comment

Năm Nhâm Thìn tháng 3 ngày 31, thuyền Rồng có Quốc Vương ngồi vi hành xuất phát ở bến Tràng An. Cận ngày giỗ tổ, dân chúng bốn phương tụ họp tranh cướp thuyền bè để du ngoạn gây nên thảm cảnh phiền lòng. Chẳng kể đến tiếng quát lác của chức dịch trên bến dân chúng chen lấn,  đạp cả  lên mặt nhau để xuống thuyền. Tướng hộ vệ Thông Minh tính nóng như Trương Phi muốn tuốt kém chém vài tên càn quấy thị uy nên đưa mắt nhìn trẫm. Trẫm lắc đầu. Ngày xuân vi hành không nên náo loạn.

 

Rất nhiều bậc bô lão phởn chí đầu xuân cũng giành giật cướp thuyền không nể gì con trẻ. Ngẫm ra mới thấy dù đấng quân vương đã ban chiếu giáo hóa dân chúng và  các quan Bộ Lễ, Bộ Hạ đã cố công chăn dắt nhưng xem ra ơn mưa móc chưa thấm vào đến đất.

 

Rồi vua tôi cũng giật được thuyền dong buồm ra khơi vãn cảnh.

 

Lái thuyền là một cô thôn nữ áo xanh chừng 40 tuổi.  Trẫm dò hỏi thì biết mỗi chuyến chở du khách đi vòng vèo trên sông qua 6 hang động mất chừng 3 tiếng đồng hồ với giá tiền công  80 ngàn đồng Đại Việt. Đôi khi có khách tốt bụng biếu thêm tiền. Mỗi ngày chừng 3 chuyến. Ngày vắng gác bến nằm co.

 

Trên thuyền ngoài Tả thị vệ Thông Minh còn có hữu thị vệ Mạnh Hoạch cùng Tổng quản “Hà Béo Hi Hi”, Sử quan Trí Phạm.

 

Qua động thứ nhất, phong cảnh mở ra thật hữu tình. Hai bên vách núi dựng đứng, bên bờ lau sậy um tùm. Bầu trời xanh ngăn ngắt rơi cả xuống dòng sông lặng. Nhìn phong cảnh trẫm chợt nhớ đến câu thơ của Cao Bá Quát “Sông dài như kiếm dựng trời xanh”. Đột nhiên, Tả thị vệ Mạnh Hoạnh kéo áo rồng: “Bẩm, có quân Nguyên Mông mai phục. Thần cảm thấy nguy cấp”.  Trẫm nhìn mặt Mạch Hoạch thấy trên khuôn mặt sắt dày dạn kinh nghiệm chiến trường lấm tấm mồ hôi.

 

Nhìn xung quanh. Thuyền quân địch kéo đến mỗi lúc một đông. Tiếng hò hét náo động. Trẫm vẫy tay hiệu cho cô lái đò tiếp tục chèo. Quân Nguyên Mông vẫn đuổi gấp. Khoảng cách mỗi lúc một gần. Đã thấy tiếng tên bay rơi xuống nước rào rào cũng tiếng Toa Đô, Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp thét: “Bắt lấy mấy tên giặc cỏ cho ta”.

 

Tình thế quá nguy cấp. Xung quanh vách núi dựng đứng thuyền không thể rẽ ngang lại sợ trên núi địch đặt phục binh. Hữu thị vệ Mạnh Hoạch lại rên lên: “Thần trúng tên vào bụng  rồi đau quá! Không thể chịu hơn được nữa. Bệ hạ có thương thần thì xin trổ tài cầu phong hô mưa gọi gió cho mưa xuống hoặc đạp thần xuống sông cho dễ chịu”.  Tả thị vệ Thông Minh cũng níu áo rồng: “Thần cũng vừa bị dính tên. Tên hình như có tẩm thuốc độc nên vết thương ngày càng trầm trọng. Bệ hạ nghĩ cách gì đi không thần chết mất”.

 

Hô phong hoán vũ sẽ làm vỡ chuyến vi hành ngắm cảnh thôi đành….

 

Phía sau quân địch vẫn đuổi gấp đã nhìn thấy những vệt mồ hôi trên mặt những tên lính giương cung, chèo thuyền hối hả. Trẫm vỗn là đệ tử của phái Thiền đã đạt đến “Vô Ngã” nhưng lúc này cũng thấy loạn tâm.

 

Không còn cách nào khác.

 

Phải tử chiến! Không đánh một trận không xong.

 

Trẫm lệnh cho cô lái đò chuyển vũ khí cho Đại tổng Quản “Hà Béo Hihi”. Từ giờ phút này Đại tổng quản sẽ kiêm luôn công việc hậu cần vận chuyển vũ khí.

 

Rất nguy cấp. Hữu thị vệ Mạnh Hoạch thở khò khè không cả nói được nữa. Vũ khí qua tay Tả thị vệ Thông Minh chuyển đến tay Mạnh Hoạch. Thời cơ đã đến. Thuyền đi vào động. Mây đen kéo đến. Đất trời tối sầm lại.

 

“Tấn công”-trẫm hạ mái chèo.

 

Mạnh Hoạch ráng sức bắn trả quân địch.

 

Thông Minh giật mái chèo trong lòng thuyền chèo vùn vụt. Nhất định sau trận chiến này nếu vua tôi toàn mạng trở về trẫm sẽ điều hắn từ Bộ Hành sang Bộ Tẩu.

 

Qua hết động lớn. Không gian mở ra bát ngát. Quân địch phần vì trúng tên độc của Mạnh Hoạch phần vì chèo không lại Thông Minh nên đã lùi xa. Sắc mặt Mạnh Hoạch đã tươi tỉnh trở lại . Hóa ra hắn tuy nhỏ con nhưng nội công thâm hậu dù chưa đạt đến “Vô Ngã” của trẫm.

 

Thuyền đi vùn vụt. Không thấy bóng Toa Đô đâu nữa. 10 phút sau thuyền ghé lên đền ở bến Đông Bộ Đầu gặp lại tướng gác cổng thành Hải Bùi bị đội nữ binh của địch bắt cóc nhưng nhờ may mắn dứt đứt xích mà trốn được. Vua tôi gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Tả thị vệ Thông Minh xúc động quá phi ngay vào bụi cây khóc rống lên: “Trời đất quỷ thần ơi! Thật là hạnh phúc”.

 

Thuyền về bến. Dân chúng tranh cướp thuyền lúc thanh bình nhưng khi nghe có quân Nguyên Mông đến thì bỏ chạy hết. Bến thuyền vắng lặng.

 

Cô lái đò bảo với trẫm 30 năm làm nghề chưa bao giờ gặp người lính nào can đảm như Mạnh Hoạch. 20 năm nay chưa thấy ai chèo thuyền nhanh như Thông Minh. 10 năm nay chưa thấy ai đạt đến trạng thái “Vô Ngã” trước hiểm nguy như trẫm và sự thản nhiên lạ lùng trước nguy cấp như Đại tổng quản “Hà Béo Hihi”.

 

Lên bến, tứ thơ vừa đến, vua tôi cảm khái ngâm rằng:

 

“Không đi không biết Tràng An

Đi rồi mới biết tí tan cả thuyền

May mà trời giúp tôi hiền

Nên về hoành tráng cả thuyền không sao”

 

Sử quan Trí Phạm cả trận chiến im lặng cầm bút lông ghi chép giờ quỳ xuống bến cẩn trọng ghi vào trang giấy  có tựa đề cực lớn:  “ TRẬN CHIẾN TRÊN SÔNG TRÀNG AN: 30 NĂM MỚI CÓ MỘT LẦN”

 

Thật là : “Qua động lớn đuổi được Toa Đô/Sông Tràng An giết tươi  Ô Mã”.

 

Robinson

 

                                1/4/2012

Tại sao chúng ta mất nước (10)

March 29, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam, một cường quốc đã thể hiện sự tài giỏi, tinh thần mạnh mẽ qua các cuộc chiến lừng lẫy, vẻ vang. Tuy nhiên, sau gần 30 năm kháng chiến, một quốc gia hùng mạnh đã trở thành thuộc địa của Pháp chỉ vì sự hèn nhát, yếu đuối của nhà Nguyễn và những chính sách bảo thủ, lạc hậu mà triều đình đặt ra.

 

Thật vậy! Các bạn hãy thử nghĩ mà xem! Vào năm 1858, Pháp đem quân tiến đánh ở cửa biển Đà Nẵng. Tuy đã chống trả quyết liệt nhưng quân đội triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy đã thất bại. Sau đó, Pháp chiếm được bán đảo Sơn Trà và một số tỉnh thành khác. Quá sợ hãi, triều đình đã buộc phải kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất. Sau khi chiếm Nam Kì, Pháp bắt tay tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, làm nhiều điều ác. Trong khi đó, triều đình lại sợ sệt, tìm cách vơ vét nhiều tiền của của dân chúng để ăn chơi sa đọa và cống nạp cho Pháp. Nhìn thấy đất nước của chính chúng ta bị phá mà không biết căm, không biết nhục. Khi Pháp tiến ra đánh chiếm Bắc Kì, nhân dân ta đã vùng lên mạnh chống trả và giữ vững Bắc Kì. Vậy mà triều đình lại giống như “Rùa rút đầu”, giải hòa với Pháp và kí tiếp hiệp ước Giáp Tuất (1874) :  “chia 6 tỉnh Nam Kì cho Pháp và Pháp phải rút khỏi Bắc Kì”. Chính vì vậy những cuộc khởi nghĩa của những người yêu nước bùng lên mạnh mẽ. Lợi dụng sự rối loạn nội bộ, sự lạc hậu trong nền kinh tế, Pháp một lần nữa lại tấn công Bắc Kì. Một lần nữa, cùng với tinh thần yêu nước, nhân dân đã hợp sức với triều đình chiến thắng Pháp và giết được tướng địch. Hoàn toàn có thể lợi dụng cơ hội đó để đánh đuổi quân Pháp ra khỏi nước nhưng vì không kiên quyết, triều đình đã tạo cơ hội giúp Pháp bổ sung lực lượng, chiếm được Bắc Kì. Bất chấp những thỏa hiệp vô lí, triều đình đã kí với Pháp hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884).

 

Một triều đình yếu hèn sẽ làm cho đất nước trở nên yếu hèn. Chính sự yếu hèn đó đã dẫn đến cảnh đất nước đau thương, khổ sở, phải làm nô lệ cho sự khát máu, tàn bạo, những chính sách cai trị ngang tàn của thực dân Pháp.

(NTD, nam, học sinh lớp 8)

Tại sao chúng ta mất nước (9)

March 29, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Có thể nói, bằng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Pháp đã đánh dấu một cuộc đụng độ, giao tranh giữa hai nền văn hóa khác biệt: phương Đông và phương Tây. Trong khi nền phong kiến phương Đông suy yếu và xuống dốc không phanh thì nền văn minh phương Tây lại phát triển mạnh mẽ, rực rỡ với những thành tựu khoa học quan trọng (mà trong đó phải kể đến khoa học quân sự). Vì thế cho nên đối với những người dân Việt Nam khi đó, một toán người da trắng với những khẩu đại bác trong tay, xuất hiện trên cửa biển Đà Nẵng là cả một sự hoảng sợ to lớn. Bởi lẽ khi đó, con người Việt Nam chỉ là những kẻ tin vào sách thánh hiền, luôn cho rằng những điều chuẩn mực được ghi trong sách, họ không biết đến sự tồn tại của những đế quốc mạnh mẽ ngoài kia hay những sáng chế, phát minh liên quan tới vũ trụ. Chính vì vậy, họ hoảng sợ tột độ trong cuộc xâm lược của Pháp.

Khác với những cuộc kháng chiến khác, khi đó nước ta ở thế chủ động, “biết mình biết ta” nên có khả năng giành được chiến thắng và đoàn kết lòng dân. Còn ở cuộc kháng chiến này, nước ta bị rơi vào thế bị động, không biết một chút thông tin nào về giặc dẫn tới toàn dân sợ hãi (từ kẻ cầm quyền tới người dân), sinh ra hoang tưởng về sức mạnh mà giặc có. Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới nhuệ khí của người dân Việt. Mặt khác, trong hoàn cảnh nền phong kiến đang bị suy thoái, lạc hậu thì nhà Nguyễn cũng trở nên suy kiệt, ngu hèn. Bọn họ thi hành chính sách “bảo thủ”, từ chối “mở cửa”, cải cách để tìm biện pháp giải cứu đất nước. Quan lại chỉ lo giữ lấy cái mạng của mình, ích kỉ, hèn nhát, tham ô, cấu kết với giặc. Vua nhà Nguyễn không còn tinh thần trách nhiệm, phản bội lợi ích dân tộc, tạo điều kiện cho quân Pháp lấn tới trên con đường xâm lược. Những hành vi sai trái của chúng được thể hiện thông qua các bản hiệp ước: Nhâm Tuất (5/6/1862)-thừa nhận bước đầu sự thất bại của nước ta trong công cuộc kháng chiến chống Pháp; Giáp Tuất (15/3/1874); Hác-măng (25/8/1883)-chấp nhận sự bảo hộ của Pháp tại Việt Nam; Pa-tơ-nốt (6/6/1884)-Việt Nam chính thức bị cai trị bởi Pháp. Vì triều đình và nhân dân không cùng chung chí hướng dẫn tới sự đoàn kết dân tộc bị lung lay. Trái ngược với sự yếu hèn của triều đình, nhân dân khắp nơi đã nổi dậy kháng chiến (phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Bãi Sậy…). Nhiều sĩ quan, văn thân, những kẻ có học thức đã tích cực dâng lên các đề nghị cải cách (Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Huy Tế…) mặc cho triều đình từ chối, họ vẫn không từ bỏ. Tuy nhiên tất cả các phong trào và khởi nghĩa đều thất bại do sự chênh lệch lực lượng lớn, cấp bậc vũ khí quá cách biệt. Đặc biệt là phải kể đến rất nhiều kẻ “bán nước cầu vinh” làm mất đi sự đoàn kết.

 

Tất cả những điều đó đã khiến cho Việt Nam thất bại sau gần 30 năm (1858-1884) chiến đấu chống giặc Pháp.

(NHT, nữ, học sinh lớp 8)

Môn Xã hội và giáo dục địa lý

March 28, 2013 Leave a comment


1. Giáo dục địa lý trước Chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Giáo dục địa lý được diễn ra trên toàn quốc bắt đầu từ năm 1872 (năm Minh Trị thứ 5) khi Học chế được công bố. Trong giáo dục địa lý thời kì Minh Trị, phương pháp giáo dục theo hình thức hỏi-đáp được sử dụng nhiều và người ta chỉ ra rằng địa lý đã trở thành môn giáo khoa ghi nhớ và mang tính chất truyền thống. Tuy nhiên, đối với môn địa lý lấy trung tâm là ghi nhớ đó thì  từ nửa sau những năm 1870 trở đi nó đã bị phê phán. Vào thời Minh Trị, phương pháp giảng dạy dựa trên trực quan sinh động vật thật bằng quan sát và thí nghiệm của học sinh theo lý thuyết của Pestalozi được đề xướng và  từ thời Taisho đến đầu thời Showa  đã bắt đầu diễn ra sự dò dẫm chuyển từ kiểu dạy học nhồi nhét tri thức với sự chủ đạo của giáo viên sang giáo dục địa lý kiểu điều tra thông tin với vai trò chủ thể của học sinh. Và như vậy, trong giáo dục địa lý, từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai  các giờ học theo kiểu học sinh là chủ thể coi trọng hoạt động điều tra đã được tìm kiếm.

2. Giáo dục địa lý thời điểm môn Xã hội ra đời.

 

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục địa lý được tiến hành trong môn Xã hội tổng hợp dựa trên học tập giải quyết vấn đề ở trường tiểu học và THCS. Tuy nhiên về  mối quan hệ giữa môn Xã hội và giáo dục địa lý vào thời điểm môn Xã hội ra đời  ở trường Trung học phổ thông hiện có 3 quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng lúc đó do tồn tại “địa lý nhân văn” với tư cách là môn học tự chọn nên môn Xã hội ở trường THPT phân hóa và không thể nói đó là môn Xã hội. Quan điểm  này tập trung vào chế độ và chương trình đồng thời cho rằng môn Xã hội là sự dung hợp của Địa lý-Lịch sử-Công dân.

Quan điểm thứ hai cho rằng “Địa lý nhân văn” của Trường THPT là thứ được cấu tạo từ các tangen (chủ đề) đảm bảo các nguyên tắc của môn Xã hội kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa dựa trên phương pháp luận của môn Xã hội. Trong ý kiến này, phương pháp luận của nội dung học tập được coi trọng, “Địa lý nhân văn” không phụ thuộc theo sự hệ thống hóa thành quả khoa học mà là nội dung học tập coi trọng phương pháp luận của môn Xã hội và được coi như là môn Xã hội. Việc coi trọng sự điều tra và tiến hành các hoạt động tìm kiếm thông tin của học sinh trong giáo dục địa lý là một khuynh hướng có từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai và sau chiến tranh thì nó không chỉ dừng lại ở cấp tiểu học, THCS mà phương pháp đó còn thẩm thấu vào tận cấp THPT.

Quan điểm thứ ba coi nó là sự kết hợp giữa luận điểm coi môn này là môn kết hợp địa lý truyền thống, lịch sử, công dân theo kiểu môn Xã hội phân hóa và luận điểm môn Xã hội tổng hợp chịu ảnh hưởng của Mĩ.

Mặc dù có các cách hiểu khác nhau do quan điểm khác nhau nhưng giáo dục địa lý ở cấp THPT đã được bắt đầu với đặc điểm về mặt hình thức là môn xã hội kiểu phân hóa, và về mặt nội dung là môn địa lý kiểu môn Xã hội phản ánh chủ nghĩa kinh nghiệm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa giáo dục địa lý kiểu môn Xã hội và giáo dục địa lý truyền thống rất lớn nên đã làm cho hiện trường giáo dục rối loạn. Về sau, giáo dục địa lý ở trường THCS và THPT  xét về mặt hình thức có xu hướng nghiêng về mô hình phân hóa của môn Xã hội.

3. Giáo dục địa lý kiểu môn Xã hội (nghiên cứu xã hội) và giáo dục địa lý kiểu môn Địa lý.

Giáo dục địa lý có thể được phân chia làm hai. Giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội và giáo dục địa lý kiểu môn Địa lý. Giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội còn có thể được phân nhỏ ra thành: chủ nghĩa giải quyết vấn đề, chủ nghĩa lý giải, chủ nghĩa nhận thức (môn địa lý xã hội theo chủ nghĩa Mark), chủ nghĩa thuyết minh (địa lý kiểu khoa học xã hội). Ở đây, ta sẽ bàn tới giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội và giáo dục địa lý kiểu môn địa lý ở phạm vi rộng. Hai kiểu giáo dục địa lý này có các điểm khác biệt sau. Giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội nhắm đến giáo dục học sinh hiểu biết về xã hội hòa bình, dân chủ, và những thái độ, năng lực-tức là phẩm chất công dân cần có với tư cách là  người xây dựng xã hội đó thông qua sử dụng nội dung và phương pháp địa lý. Trái lại giáo dục địa lý kiểu môn Địa lý lại nhắm đến mục đích trung tâm là giúp đỡ học sinh có được hình ảnh thế giới phong phú được xây dựng từ các trải nghiệm về địa điểm.

Ý kiến phê phán giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội cho rằng triết lý của nó thì cao nhưng sự chỉ đạo như phương pháp cụ thể thì bị coi nhẹ, và dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng. Ý kiến phê phán giáo dục địa lý kiểu môn Địa lý thì  cho rằng nó dễ rơi vào giáo dục thiên về tri thức với sự nhồi nhét của giáo viên do giáo viên làm chủ đạo và chẳng qua chỉ là sự cóp nhặt của địa lý học. Tuy nhiên nếu nhìn vào sự cống hiến của hai thứ trên, thì thấy giáo dục địa lý có đóng góp vào việc hình thành con người, và có điểm chung ở phương diện giáo dục và về sự phê phán có thể thấy vẫn còn có nhiều điểm còn thiếu trong sự hiểu biết lẫn nhau. Điểm khác biệt lớn giữa giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội và giáo dục địa lý kiểu khoa học địa lý là nằm ở sự khác biệt trong hình ảnh con người cần hình thành và nó biểu ra bên ngoài ở sự khác biệt của nội dung và phương pháp giáo dục. Tóm lại, giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội, nhấn mạnh hình thành con người với tư cách là người xây dựng nên “xã hội hòa bình, dân chủ” còn giáo dục địa lý kiểu môn địa lý thì nhấn mạnh hình thành con người có “thế giới quan nhiều tầng bậc”. Tuy nhiên khái niệm hình thành con người của cả hai không phải là  là thứ không thể hòa nhập. Giáo dục địa lý với tư cách là môn đảm nhận hình thành con người liệu có thể tác động đến đâu tới giá trị quan, thái độ và hành động là vấn đề đặt ra. Nói cách khác, đó là vấn đề nằm ở mối quan hệ cân bằng giữa triết lý và kĩ năng.

4. Mối quan hệ giữa giáo dục địa lý và môn Xã hội từ giờ về sau.

 

Trong bối cảnh tái cơ cấu các môn giáo khoa, môn tổng hợp ra đời ý nghĩa tồn tại  của giáo dục địa lý với mong muốn có được hiện tượng không gian một cách tổng hợp hiện đang đặt ra. Ở nước ta “năng lực sống” được nhấn mạnh và trong giáo dục thì không phải là tri thức mà là năng lực phán đoán hợp lý, quyết định ý chí, hành động sinh ra từ việc sử dụng các tri thức đó là những thứ đang được đòi hỏi. Giáo dục địa lý cũng phải trả lời cho câu hỏi đó. Và đó là đòi hỏi chung cho dù là giáo dục địa lý kiểu nghiên cứu xã hội hay giáo dục địa lý kiểu khoa học địa lý. Để làm được điều đó thì cần phải nghiên cứu thảo luận chỉ ra hình ảnh con người nào cần xây dựng, kĩ năng địa lý nào cần phải giáo dục. Từ giờ về sau, để tính hữu dụng của giáo dục địa lý được công nhận, cần phải nhấn mạnh thêm nữa sự phê phán hợp lý và ý chí quyết định trong giáo dục địa lý.

Nguyễn Quốc Vương dịch, “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Tại sao chúng ta mất nước (8)

March 28, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Tuy Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp vì nhiều lí do khác nhau.

Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) do triều đình Huế kí với Pháp đã cho ta thấy sự suy yếu và nhu nhược của triều đình. Với khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo, quân Pháp đã thất điên bát đảo. Nhưng vì chênh lệch lực lượng và tay sai dẫn đường, quân Pháp đã tấn công nghĩa quân. Bị thương nặng, Trương Định tự sát để bảo toàn khí tiết. Số quân còn lại tỏa đi xây dựng căn cứ khác. Sáu tỉnh Nam Kì nổi lên chống Pháp với các lãnh tụ nổi tiếng như Trương Quyền, Phan Tôm, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân… Ở Bắc Kì cũng nổi lên các cuộc khởi nghĩa lớn như của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu,… Hai vị chủ tướng này đã hi sinh để giữ khí tiết, nhưng triều đình Huế thì không bận tâm mà tiếp tục kí với Pháp hiệp ước Giáp Tuất để bảo vệ triều đình, cho thấy sự hèn nhát của triều đình. Chiến thắng Cầu Giấy lần 2 đã khiến cho Pháp toan bỏ chạy nhưng triều đình Huế đã thương lượng với Pháp. Nhân vua Tự Đức qua đời, quân Pháp lại mang quân tấn công vào Thuận An, cửa ngõ kinh thành Huế. Bị tấn công ác liệt, quân triều đình xin đình chiến. Quân Pháp bắt triều đình kí Hiệp ước Hác-măng (1883). Nhưng bản Hiệp ước không làm nhụt chí quân ta mà càng đẩy mạnh phong trào kháng chiến. Do chiến sự tiếp tục kéo dài ở Bắc Kì, thực dân Pháp buộc phải tổ chức những cuộc tấn công nhằm tiêu diệt các trung tâm kháng chiến còn sót lại. Sau khi chiếm giữ các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang….

Làm chủ được tình thế, quân Pháp bắt triều đình kí bản hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), nội dung chỉ sửa lại ranh giới khu vực Trung Kì còn lại giống hiệp ước Hác-măng. Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửa phong kiến, kéo dài đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngoài ra là sự mưu mô của thực dân Pháp khi lấy lí do để xâm chiếm Việt Nam. Các cải cách được gửi lên triều đình, đặc biệt Nguyễn Trường Tộ đã gửi 30 bản triều trần nhưng đều bị triều đình không chấp nhận. Các lí do trên đã cho thấy sự thất bại trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nước ta.

(VMH, nam, học sinh lớp 8)

%d bloggers like this: