Archive

Archive for July, 2013

Nhật Bản: Chiến tranh và trẻ em

July 31, 2013 Leave a comment

 

 

Sách giáo khoa lịch sử lớp 6 Nhật Bản (NXB giáo dục) in tư liệu “Nhặt hạt dẻ” dưới đây về Chiến tranh thế giới thứ II.

 

Năm 1941, các trường tiểu học được đổi thành trường Quốc dân và giáo dục nhằm phục vụ chiến tranh được xúc tiến. Ở một trường tiểu học của thành phố Hiratsuka có tờ rơi được phân phát vào thời đó còn lưu lại với nội dung sau:

 

 

“Nhặt hạt dẻ

 

Các tiểu quốc dân!

Hãy thu thập hạt dẻ.

Năm ngoái chúng tôi đã nhận được rất nhiều hạt dẻ do các bạn nhặt và thu thập và nó thật có ích đối với đất nước. Trong cuộc chiến tranh vĩ đại này, để chiến thắng, chiến thắng và chiến thắng xây dựng nên Đại Đông Á, Nhật Bản cần rất nhiều vật phẩm.

 

Những hạt dẻ lăn tròn trên núi và ngoài đồng rất quan trọng  giống như viên đạn đối với người lính. Hãy nghĩ đó là viên đạn và nhặt lấy dù chỉ là một hạt.

 

Hạt dẻ và chiến tranh

                                 

Từ hạt dẻ có thể thu được dầu.

Dầu được sử dụng rất nhiều cho vũ khí và dụng cụ dùng cho ngựa. Rất cần cho để thuộc da.

Từ hạt dẻ có thể làm ra cồn hoặc rượu. Cồn có thể được sử dụng cho máy bay, xe tăng, xe ô tô thay cho xăng.

Cồn cũng là nguyên liệu của nhiều loại thuốc. Cồn cũng có thể thành rượu gửi cho những người đang hết mình vì đất nước.

Hạt dẻ có thể làm thức ăn cho gia súc.

Hãy nuôi thật nhiều lợn và gà để trở thành người mạnh mẽ.

 

Chú ý : Hạt dẻ bị côn trùng ăn hay bị thối không có tác dụng. Không được rửa hạt dẻ bằng nước mà hãy phơi kĩ dưới mặt trời. Muốn biết cụ thể hãy hỏi các giáo viên.

 

Tháng 9 năm Showa 19

Tài đoàn pháp nhân Hội liên hiệp công đoàn lâm nghiệp toàn quốc.”

(SGK Lịch sử lớp 6, trang 90-91)

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

Bạn nào muốn tìm hiểu thêm về mối quan hệ “chiến tranh và trẻ em” ở Nhật Bản thì đọc bài này

 

Advertisements

Nhật Bản: Chiến tranh và trách nhiệm chiến tranh trong SGK lịch sử lớp 6

July 29, 2013 Leave a comment

Sau năm 1945, khi nhìn nhận lại các cuộc chiến Tranh, người Nhật bàng hoàng nhận ra một sự thật: có quá ít người Nhật phản đối chiến tranh! Không phải chỉ có Thiên hoàng và các tướng lĩnh lục quân, hải quân, cả dân tộc Nhật đã hân hoan chào đón chiến tranh. Vì vậy khi luận về “trách nhiệm chiến tranh” xu hướng “toàn bộ quốc dân Nhật Bản đều là thủ phạm” có luận cứ rất mạnh mẽ.

Dưới đây là phần viết về hai cuộc chiến tranh Nhật- Thanh (1894-1895) và Nhật-Nga (1904-1905) trong SGK Lịch sử lớp 6 của Nhật (ở Nhật thực hiện chế độ Kiểm định SGK với nhiều bộ SGK khác nhau do các nhà xuất bản tư nhân biên soạn phát hành sau khi có giấy phép thẩm định từ Bộ giáo dục).

Chiến tranh Nhật-Thanh, Nhật-Nga

Năm 1894 (năm Minh Trị thứ 27), ở Triều Tiên diễn ra cải cách đòi loại bỏ thế lực của ngoại quốc ở Triều Tiên và nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nổ ra. Chính phủ Triều Tiên đã cầu cứu viện binh từ Trung Quốc (nhà Thanh) và khi nhà Thanh phái binh tới, Nhật Bản cũng ngay lập tức đưa quân đội đến Triều Tiên và chiến tranh Nhật-Thanh bắt đầu.

Vào thời gian này, Nhật Bản đã ép Triều Tiên kí hiệp ước bất bình đẳng và muốn mở rộng thế lực ở Triều Tiên. Vì vậy, sự đối lập với Thanh vốn đang có thế lực tại Triều Tiên trở nên sâu sắc. Trong cuộc chiến tranh này, Nhật Bản đánh bại Thanh, chiếm Đài Loan làm lãnh thổ, kiếm được số tiền bồi thường khoảng 300 triệu yên gần gấp 3 lần dự toán ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, Nhật ép Thanh phải công nhận nền độc lập của Triều Tiên.

Nhật Bản sau khi áp chế được ảnh hưởng của Thanh và mở rộng thế lực vào Triều Tiên đã tiếp tục nhắm đến Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc) và trở nên đối lập với Nga. Vì thế năm 1904, chiến tranh Nhật-Nga bắt đầu với chiến trường chính là Mãn Châu.

Trong trận đánh tại Lữ Thuận, Nhật Bản đưa đến 13 vạn lính nhưng có đến một nửa bị tử thương. Trong trận chiến trên biển, hạm đội do Togohei Hachiro chỉ huy đã đánh bại hạm đội của Nga. Tuy nhiên ở Nhật Bản năng lực cung cấp nhân lực, vật lực đã đến mức tối đa và ở nước Nga cũng diễn ra cách mạng vì vậy hai nước đã kí hiệp ước hòa bình.

Bóng đen chiến tranh và sáp nhập Triều Tiên

Khi chiến tranh Nhật Nga trở nên ác liệt, từ trong nước rất nhiều người bị đẩy ra chiến trường. Nhà thơ Yosano Akiko đã công bố bài thơ về người em trai ở chiến trường bày tỏ thái độ phản đối chiến tranh. Ý kiến phản đối chiến tranh cũng có đăng trên mặt báo nhưng số lượng rất ít. Phần đông quốc dân đều vui mừng với thắng lợi ở Lữ Thuận và hải chiến trên biển Nhật Bản.
Tuy nhiên, ở trong nước trong thời chiến tranh thuế đã tăng hai lần, giá cả leo thang và cuộc sống của người dân trở nên khó khăn. Trong hiệp ước hòa bình, Nhật Bản có được một nửa phái nam Xakhalin (Karafuto) và quyền lợi về đường sắt, mỏ khoáng ở nam Mãn Châu nhưng không có tiền bồi thường vì vậy ở khắp các địa phương diễn ra các đại hội phản đối hiệp ước hòa bình.

Người Trung Quốc và Triều Tiên sống ở nơi biến thành chiến trường trong hai cuộc chiến tranh đã bị tước đoạt sinh mạng, nhà cửa bị đốt cháy và gánh chịu thiệt hại nặng nề. Thêm nữa, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của người Triều Tiên, Nhật Bản đã sáp nhập Triều Tiên (Hàn Quốc) vào Nhật Bản năm 1910 (năm Minh Trị thứ 43) và biến nó thành thuộc địa.

Ở Triều Tiên, nơi bị biến thành thuộc địa, nhiều người đã mất ruộng đất bởi cuộc điều tra ruộng đất do Nhật Bản tiến hành. Vì vậy người Triều Tiên phải làm việc dưới tay người Nhật như là những tiểu nông, phải đi đến Nhật hoặc Mãn Châu (vùng đông bắc Trung Quốc) làm việc trong điều kiện khắc nghiệt ở các mỏ khoáng sản. Bên cạnh đó ở trường học Triều Tiên, giáo dục nhằm biến người Triều Tiên thành quốc dân Nhật Bản cũng được tiến hành, học sinh phải học tiếng Nhật, lịch sử, địa lý Nhật Bản. Trước sự cai trị nhằm tước đoạt lòng tự hào dân tộc của Nhật Bản, năm 1919 (năm Taisho thứ người Triều Tiên đã đứng dậy trong phong trào giành độc lập. Phong trào có cả sự tham gia của học sinh trung học, học sinh nữ và lan rộng khắp toàn quốc.
Mặt khác, từ khoảng thời gian này, suy nghĩ phân biệt đối xử sai trái và khinh miệt người Triều Tiên, Trung Quốc cũng trở nên mạnh mẽ.

( Nguyễn Quốc Vương dịch từ SGK Lịch sử lớp 6, quyển thượng, NXB Kyoiku, năm Heisei 13, trang 70-73)

Về số phận của người Triều Tiên, Trung Quốc các bạn có thể đọc thêm bài này

Nỗi Buồn

July 24, 2013 Leave a comment

Nỗi Buồn
tác giả: Nguyễn Quốc Vương

Có nỗi buồn quên ngủ biếng ăn
Mong cải tạo thế giới

Có nỗi buồn từng tế bào rệu rã
Bí mật của nỗi buồn
Người mang không nắm giữ

23-7-2013

Categories: Thơ Tags: , ,

“THỜI GIAN HỌC TẬP TỔNG HỢP” TRONG BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” NĂM 2008 CỦA BỘ GIÁO DỤC NHẬT BẢN

July 20, 2013 Leave a comment

 

Lời giới thiệu của người dịch.  

“Thời gian học tập tổng hợp” là tên gọi khoảng thời gian dành cho học sinh tự chủ tiến hành học tập các vấn đề tổng hợp, phổ quát ở trường học Nhật Bản. “Thời gian học tập tổng hợp” chính thức được đưa ra lần đầu tiên trong bản “Hướng dẫn học tập” năm 1998. “Hướng dẫn học tập” là văn bản thể hiện chỉ đạo của Bộ giáo dục đối với hệ thống các trường phổ thông về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. Văn bản này lần đầu tiên ra đời năm 1947 và cứ khoảng 10 năm lại sửa đổi một lần. Dưới đây là bản dịch toàn bộ phần chỉ đạo về “Thời gian học tập tổng hợp” của Bộ giáo dục Nhật Bản đối với cấp Trung học cơ sở trong bản “Hướng dẫn học tập” mới nhất hiện nay (ban hành năm 2008). Những thông tin về “thời gian học tập tổng hợp” sẽ gợi mở nhiều điều cho dạy học theo kiểu tích hợp, liên môn đang được xúc tiến ở Việt Nam.

Chương 4. Thời gian học tập tổng hợp

Phần 1. Mục tiêu

Thông qua học tập các nội dung có tính chất chung, tổng hợp và học tập tìm kiếm mà giáo dục cho học sinh phẩm chất và năng lực tự mình phát hiện vấn đề, tự mình học tập, suy nghĩ, phán đoán một cách chủ thể và giải quyết vấn đề một cách tốt hơn; đồng thời trang bị cho học sinh cách học, cách tư duy, giáo dục thái độ giải quyết vấn đề và hoạt động tìm kiếm một cách chủ thể, sáng tạo và hợp tác, làm cho học sinh có thể suy ngẫm về cách sống của bản thân mình.

Phần 2. Mục tiêu và nội dung được xác định ở các trường học.

1. Mục tiêu

Ở từng trường học căn cứ vào mục tiêu ở phần 1 nói trên mà xác lập mục tiêu của giờ học tổng hợp.

2. Nội dung

Các trường căn cứ trên mục tiêu ở phần 1 mà xác định nội dung của giờ học tổng hợp của mình.

Phần 3. Chế tác kế hoạch chỉ đạo và khai thác nội dung

1. Khi chế tác kế hoạch chỉ đạo, cần chú ý các điểm sau:

(1) Khi chế tác kế hoạch chỉ đạo toàn thể và kế hoạch chỉ đạo cho cả năm cần chỉ ra mục tiêu, nội dung, năng lực, thái độ, phẩm chất muốn giáo dục học sinh, hoạt động học tập, phương pháp và thể chế chỉ đạo, kế hoạch đánh giá học tập trong mối liên quan với toàn bộ hoạt động giáo dục của trường học. Khi đó cần dựa trên việc tiến hành giờ học tổng hợp ở trường tiểu học.

(2) Tiến hành các hoạt động giáo dục một cách công phu sáng tạo dựa trên học tập tổng hợp, học tập các vấn đề chung vượt qua cái khung của từng môn học, học tập tìm kiếm, dựa trên mối quan tâm, hứng thú của địa phương, phù hợp với tình hình  thực tế của địa phương, trường học và học sinh.

(3) Về mục tiêu và nội dung được xác lập ở từng trường học ở phần 2 cần coi trọng mối quan hệ giữa đời sống thường ngày và xã hội.

(4) Về  phẩm chất, năng lực, thái độ cần giáo dục, cần dựa trên quan điểm về những vấn đề như những gì liên quan đến phương pháp học tập, những gì liên quan đến bản thân học sinh, những gì liên quan đến mối quan hệ với người khác và xã hội.

(5) Về hoạt động học tập, tùy theo tình hình thực tế của trường học mà tiến hành các hoạt động học tập liên quan đến nghề nghiệp, tương lai của bản thân học sinh như hiểu biết quốc tế, thông tin, môi trường, sức khỏe-phúc lợi-những chủ đề học tập có tính chất tổng hợp, chung, các hoạt động học tập dựa trên mối quan tâm, hứng thú của học sinh, các chủ đề tương ứng với đặc trưng của địa phương, trường học.

(6) Tạo ra mối liên quan tương hỗ với các tri thức, kĩ năng… được trang bị ở từng môn học, trong giáo dục đạo đức và hoạt động đặc biệt, phát huy chúng trong học tập và cuộc sống làm cho chúng hoạt động một cách tổng hợp.

(7) Vừa chú ý đến sự khác biệt về mục tiêu và nội dung của từng môn học, trong giáo dục đạo đức và hoạt động đặc biệt vừa tiến hành hoạt động học tập thích hợp dựa trên mục tiêu ở phần 1 và mục tiêu cùng nội dung được xác định trong phần 2 của từng trường học.

(8) Về tên gọi của thời gian học tập tổng hợp ở từng trường học thì tùy theo trường mà xác định sao cho thích hợp.

(9) Về nội dung được chỉ ra trong phần 2 của chương 3 “Đạo đức” thì  dựa trên  phần 1 và 2 của chương 1 “Tổng quy” và mục tiêu của giáo dục đạo đức được chỉ ra ở phần 1 “Đạo đức” của chương 3, vừa cân nhắc đến mối liên quan với thời gian đạo đức vừa tiến hành chỉ đạo thích hợp tương ứng với đặc trưng của thời gian học tập tổng hợp.

2. Về sử dụng nội dung của phần 2, cần phải chú ý các điểm sau:

(1) Dựa trên mục tiêu và nội dung được xác định ở từng trường của phần 2, giáo viên tiến hành chỉ đạo thích hợp tương ứng với tình hình học tập của học sinh.

(2) Trong quá trình giải quyết vấn đề hay hoạt động tìm kiếm, cần tiến hành các hoạt động hợp tác với người khác để giải quyết vấn đề, tiến hành hoạt động học tập như phân tích bằng ngôn ngữ và trình bày…

(3) Cần tích cực đưa vào trải nghiệm thiên nhiên, trải nghiệm xã hội như hoạt động trải nghiệm nơi làm việc, hoạt động tình nguyện, hoạt động trải nghiệm chế tạo đồ vật, hoạt động sản xuất, hoạt động học tập như quan sát-thí nghiệm, tham quan học tập-điều tra, phát biểu-thảo luận…

(4) Về hoạt động trải nghiệm: dựa trên cơ sở mục tiêu của phần 1 và mục tiêu, nội dung ở phần 2 của từng trường học, cần đảm bảo cho hoạt động này có vị trí thích hợp trong quá trình giải quyết vấn đề và học tập tìm kiếm.

(5) Tiến hành một cách công phu các hình thái học tập đa dạng như  học tập theo nhóm, học tập theo tập thể gồm các lứa tuổi khác nhau, các thể chế chỉ đạo như vừa tiếp nhận sự hợp tác của người dân ở địa phương vừa có sự phối hợp chặt chẽ của toàn thể giáo viên.

(6) Sử dụng thư viện trường, liên kết với các trường học khác, liên kết với các cơ sở giáo dục xã hội như Kominkan (tòa nhà là nơi sinh hoạt văn hóa, xã hội chung của dân địa phương-ND), thư viện, bảo tàng và các loại đoàn thể  liên quan tới giáo dục xã hội, tiến hành một cách công phu việc sử dụng các giáo tài địa phương, sử dụng tích cực môi trường học tập.

(7) Khi tiến hành học tập liên quan đến nghề nghiệp hoặc tương lai của bản thân, thông qua việc tiến hành giải quyết vấn đề và hoạt động tìm kiếm, cần tiến hành các hoạt động học tập như lý giải bản thân, suy ngẫm về cách sống trong tương lai.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật

 

HỌC TẬP ĐỊA CHÍ-HỌC TẬP HỆ THỐNG

July 14, 2013 Leave a comment

1. Học tập địa lý

 

Giáo tài của học tập địa lý là các hiện tượng liên quan đến  tự nhiên và xã hội nhìn thấy ở Nhật Bản hoặc thế giới vì vậy việc nhắm đến tìm kiếm đặc trưng không gian của chúng là học tập địa lý.

 

Đặc trưng không gian này không phải là thành quả nghiên cứu của các môn khoa học mà là thứ được làm rõ nhờ vào thành quả học thuật của nghiên cứu địa lý học. Vì vậy với tư cách là học tập địa lý và là phương pháp chỉ đạo học tập nhằm làm cho học sinh lý giải được đặc trưng không gian của các hiện tượng mà phương pháp nghiên cứu địa lý học đã được sử dụng. Phương pháp này gồm phương pháp địa lý học hệ thống và  phương pháp địa chí học.

Thêm nữa, khi xây dựng cấu tạo giáo tài địa lý thì cũng có các quan điểm khác biệt như coi trọng tài liệu khách quan  về các hiện tượng và địa phương, lấy bối cảnh là địa lý học thực chứng chủ nghĩa hay coi trọng việc con người tri giác không gian địa phương như thế nào và hình thành trật tự đó thế nào lấy bối cảnh là địa lý học nhân văn chủ nghĩa?

 

2. Học tập hệ thống

 

Học tập hệ thống được nói tới ở đây là phương pháp nghiên cứu địa lý học hệ thống và nội dung học tập được tổ chức dựa trên nó. Phương pháp này chỉ việc tìm kiếm sự khác biệt có tính địa phương (khu vực) của các hiện tượng trong số các hiện tượng trên trái đất và nguyên nhân của chúng. Dựa vào các hiện tượng được đưa ra mà chia thành Địa lý học tự nhiên và Địa lý học nhân văn.  Địa lý học tự nhiên được chia thành Địa hình học, Khí hậu học, Thủy văn học…; Địa lý học nhân văn chia thành Địa lý học dân số, Địa lý học kinh tế  xã hội, Địa lý học lịch sử…

 

Trong số đó, Địa lý học lịch sử được cho là một dạng Địa lý học có tính hệ thống đặc biệt. Trong Địa lý học hệ thống có đặc trưng là các hiện tượng được cấu tạo phức hợp với tư cách là đặc trưng của địa phương được đưa ra phân tích. Tức là phương pháp xem xét xem các hiện tượng cấu thành nên địa phương phân bố như thế nào, có điểm gì chung và khác biệt mang tính địa phương không, thêm nữa tìm kiếm mối liên quan giữa các địa phương, làm rõ tính quy luật và tính phổ quát của chúng.

 

3. Học tập địa chí

Học tập địa chí dùng để chỉ phương pháp nghiên cứu địa chí học-một phương pháp của nghiên cứu địa lý học và nội dung học tập được tổ chức dựa trên phương pháp đó.

Phương pháp này lấy địa phương (khu vực) nhất định làm đối tượng và truy tìm đặc trưng tổng hợp của địa phương đó (còn gọi là tính địa phương). Trong trường hợp đó, sẽ phân  các hiện tượng sự vật của địa phương thành  các nội dung như tự nhiên (khí hâu, địa hình…), nhân văn (nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, khai khoáng, giao thông liên lạc, văn hóa, chính trị…), mối quan hệ với các địa phương khác, bối cảnh lịch sử và làm rõ đặc trưng của địa phương bằng việc ghi chép một cách hệ thống và khoa học về chúng.  Đây thường được gọi là Địa chí kiểu tĩnh. Học tập địa chí dựa trên phương pháp này thường gây nên sự hiểu lầm rằng nó  mang tính chất la liệt, kiểu từ điển bách khoa và học sinh phải ghi nhớ dịa danh sản vật…

 

Đối nghịch với nó, là địa chí kiểu động vừa đề cập đến đặc trưng và sự biến đổi của địa phương, mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng vừa tiến hành ghi chép. Kiểu này hiện nay đang là dòng chảy chủ lưu.

 

4. Sự triển khai học tập địa chí và học tập hệ thống

 

Trong giáo dục trường học học tập địa chí và học tập hệ thống được tiến hành ở nhiều cơ hội khác nhau. Ví dụ trong kế hoạch chỉ đạo đi dã ngoại của nhà trường thì việc học tập trước đó về nơi đến là một loại học tập địa chí.

Ở các lớp bậc thấp tiểu học, môn Đời sống đã thay cho môn Xã hội. Ở đó các trải nghiệm khám phá các công trình trong nhà trường hay thám hiểm khu vực xung quanh trường học thường được tiến hành và đó cũng là một dạng của học tập địa chí.

 

Từ các lớp bậc trung tiểu học học tập môn Xã hội được bắt đầu và việc tiến hành học tập về địa phương, công nghiệp ở đó không phải là học tập địa chí hay học tập hệ thống. Tuy nhiên ở môn Xã hội cấp trung học cơ sở thì nó đã trở thành phân môn Địa lý và tính chất địa lý mạnh lên, ở trung học phổ thông trong môn Lịch sử-Địa lý học tập địa lý được thực thi vì vậy từ trung học cơ sở trở lên tính chất địa lý được thể hiện mạnh mẽ.

 

Học tập môn  Xã hội ở các lớp bậc trung tiểu học là học tập địa phương (khu vực) vì vậy mà có thể thấy tính chất địa chí học rất mạnh mẽ. Địa phương được mở rộng từ khu phố, thôn làng, thành phố gần gũi thành tỉnh và các sự vật, hiện tượng được đưa ra cùng những mối quan hệ giữa chúng trở nên phức tạp.  Ở đây người ta từ việc làm cho học sinh lý giải  cuộc sống của con người từ địa hình và tổ chức của địa phương, địa hình, sản xuất, mối quan hệ với các địa phương khác và nước ngoài mà làm sâu sắc tình hình thực tế của địa phương.

 

Ở lớp 5, học sinh được học về các đặc trưng của sản xuất và tự nhiên như sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thông tin liên lạc và tính chất học tập hệ thống trở nên mạnh mẽ. Tuy nhiên, các sự vật hiện tượng đưa ra là địa phương sản xuất và địa phương tự nhiên vì vậy nó mang cả tính chất học tập địa chí.

 

Học tập về nước ngoài ở lớp 6 có tính chất học tập địa chí.

 

Trong phân môn (lĩnh vực) Địa lý  ở trung học cơ sở, nhận thức về lãnh thổ là mục đích chủ yếu vì vậy nó có cấu tạo là từ học tập các khu vực trên thế giới tới học tập các địa phương của Nhật Bản. Ở từng khu vực sẽ tìm hiểu về 5 mặt là vị trí và bối cảnh lịch sử, đặc trưng tự nhiên, dân cư và đời sống, tài nguyên và công nghiệp, sự biến đổi của khu vực tức là học tập về tính khu vực. Nói cách khác, tính chất học tập địa chí mạnh. Tuy nhiên, trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998, việc học tập về Nhật Bản được tiến hành với tư cách như là một khu vực và việc học tập được tiến hành bằng phương pháp hệ thống về tự nhiên, dân số, tài nguyên, sản xuất…

 

Ở trung học phổ thông từ khi “Địa lý nhân văn” được khởi xướng, tính chất học tập hệ thống rất mạnh. Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1968, tương ứng với hai phương pháp nghiên cứu địa lý học là hai môn học được đặt ra là “Đại lý A” (học tập hệ thống) và “Địa lý B” (học tập địa chí). Tuy nhiên trong bản Hướng dẫn học tập năm 1977 hai môn học này lại được tổng hợp lại và trở thành học tập nhằm “làm sâu sắc nhận thức địa lý về thế giới hiện đại). Vì vậy, 2/3 là học tập hệ thống còn lại là học tập địa chí.

 

Đến bản Hướng dẫn học tập năm 1989 thì có sự chuyển hướng coi học tập hệ thống là trung tâm, coi trọng cách nhìn, cách tư duy địa lý. Phương hướng này cũng được tăng cường trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998 và ở phần nội dung học tập thì đề cập đến hai phương pháp lớn của nghiên cứu địa lý học là “khảo sát địa lý hệ thống” và “khảo sát địa chí”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Phan Bội Châu và phong trào Đông Du (31)

July 14, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Đầu thế kỉ XX, trong bối cảnh triều đình Huế đã kí hiệp ước đầu hàng và phong trào Cần Vương bị đàn áp đẫm máu, nhà yêu nước Phan Bội Châu cùng những người đồng chí hướng đã lập ra Hội Duy tân (1904) và khởi xướng phong trào Đông Du. Hưởng ứng phong trào, hàng trăm thanh niên đương thời đã tình nguyện lên đường sang Nhật du học. Em hãy đóng vai là một trong những người thanh niên ấy để gửi thư cho nhà yêu nước Phan Bội Châu bày tỏ rõ lý do hưởng ứng cùng những dự định của bản thân khi học tập ở Nhật và sau khi tốt nghiệp về nước.

Bài Làm

 

Huế thân thương

Ngày X tháng Y năm 1904

Kính gửi Phan Bội Châu tiêu sinh!

Cháu tên Mã Tiêu, hiện nay cháu 16 tuổi. Cha cháu hiện làm việc giữ ngựa trong triều còn mẹ cháu hàng sáng đều đi bán chiếu. Tuy gia đình cháu không có nhiều tiền, bố mẹ cháu phải bỏ học từ nhỏ nhưng họ luôn đóng tiền cho cháu đi học đầy đủ. Cháu đã theo học ông Tư, hiện là ông đồ gần nhà được 2 năm nên cháu cũng đã khá thành thạo được Hán học.

Khoảng vào cuối thế kỉ XIX, cha cháu do một lần nghe lén được thông tin trong triều nên tối đó, ông đã nói cho ông Tư nghe khi hai người đang thưởng rượu. Cháu ngồi học gần đó nên đã nghe được hầu hết toàn bộ câu chuyện. Triều đình Huế đã bắt tay kí hiệp ước đầu hàng với Pháp và phong trào Cần Vương sau dó đã bị dập tắt đẫm máu. Rất nhiều người đã phải đổ máu trong cuộc chiến này. Vua Hàm Nghi đã bị bắt và bị bọn chúng đưa đi đày. Thực dân Pháp nhân lúc đất nước ta loạn lạc mà thường đi cướp bóc và cho lính đi đàn áp những cuộc khởi nghĩa mà nhân ta nổi dậy. Tuy cháu chưa làm được gì cho đất nước nhưng khi chính mắt cháu nhìn thấy cảnh người dân bị giết dã man thì cháu không thể nhịn được nỗi căm tức và lòng oán hận đối với bọn thực dân Pháp. Cháu luôn ấp ủ một hi vọng nhỏ nhoi rằng một ngày nào đó sẽ có người đứng ra làm thủ lĩnh, đấu tranh cho đất nước.

Thế rồi chính cụ đã là người viết ra “Khuyến quốc dân tư trợ du học văn” . Cháu đã nghe được và mong muốn được đi Nhật để có thể học thêm những kiến thức, những bài học để cứu nước. Bây giờ, khi đang đi trên xe lửa cháu cảm thấy tự hào và tràn đầy ý chí hơn bao giờ hết. Cháu cảm thấy rằng đây mới là số phận của cháu và cháu sẽ không hối hận khi sang Nhật du học.

Cuộc sống mới sẽ đón chào cháu vào mấy tiếng nữa. Xin tiên sinh hãy thanh thản mà nghĩ tiếp những kế để đánh đuổi quân thù ra khỏi đất nước.
Mã Tiêu

(ĐVHA, nữ, học sinh lớp 8)

Phan Bội Châu và phong trào Đông Du (30)

July 14, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Đầu thế kỉ XX, trong bối cảnh triều đình Huế đã kí hiệp ước đầu hàng và phong trào Cần Vương bị đàn áp đẫm máu, nhà yêu nước Phan Bội Châu cùng những người đồng chí hướng đã lập ra Hội Duy tân (1904) và khởi xướng phong trào Đông Du. Hưởng ứng phong trào, hàng trăm thanh niên đương thời đã tình nguyện lên đường sang Nhật du học. Em hãy đóng vai là một trong những người thanh niên ấy để gửi thư cho nhà yêu nước Phan Bội Châu bày tỏ rõ lý do hưởng ứng cùng những dự định của bản thân khi học tập ở Nhật và sau khi tốt nghiệp về nước.

Bài Làm

 

Hưng Yên, ngày 19 tháng 6 năm 1906

Gửi bác Phan Bội Châu!

Cháu là một người rất muốn đất nước ta giành lại độc lập. Mới đây, cháu đã được đọc lời kêu gọi thanh niên đi du học của bác. Với tư cách là một người con yêu nước và ham học hỏi, cháu cũng muốn tham gia vào phong trào Đông Du này.

Cháu được biết, người Nhật chỉ hứa đào tạo cán bộ để thực hiện cuộc bạo động vũ trang sau này. Vì vậy, chỉ có cách đi học thì người Nhật mới giúp ta. Đồng thời, đi học bên Nhật cháu cũng được học hỏi và tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa cũng như sự phát triển của nước bạn. Hơn thế, Nhật lại là đất nước có cùng màu da, cùng văn hóa Hán học với nước ta nên cháu cũng dễ dàng thích nghi với cuộc sống của nước ấy hơn. Không chỉ thế, Nhật còn là một nước đi theo con đường tư bản ở châu Âu nên cháu nghĩ có thể học tập nước ấy được ít nhiều. Cháu nghĩ Pháp cũng là một nước châu Âu nên nếu ta hiểu được một chút văn hóa của châu Âu thì có lẽ sẽ có cách giúp đất nước thoát khỏi ách đô hộ này. Đây cũng là cách dễ dàng, thông minh và ít đổ máu nhất. Cháu vừa được học tập, lại vừa có thể góp phần nhỏ giải phóng dân tộc. Cháu không biết liệu mình có thể học tập được theo văn hóa và cách học của người Nhật không nhưng cháu tin rằng mình có thể làm được. Cháu cùng những người bạn nơi đây cũng có thể cùng nhau ngồi thảo luận cách để cứu nước bởi ở nơi đây, chúng cháu không lo đến sự xuất hiện của người Pháp. Cháu biết bác đã ở bên Nhật nhiều lần nên cháu tin tưởng Nhật là một môi trường tốt để học tập. Sau khi học tập xong, cháu nghĩ mình sẽ trở lại nước và tham gia vào Hội Duy tân. Cháu nghĩ thời gian ở bên Nhật học tập sẽ giúp cháu và Hội Duy tân được ít nhiều.

Đó là những suy nghĩ và mong muốn đi du học-tham gia vào phong trào Đông Du của cháu. Cháu nghĩ đó cũng là mục đích và suy nghĩ của bác khi lập ra phong trào Đông Du. Cháu cảm ơn bác vì bác đã đọc thư cháu

 

(NMT, học sinh lớp 8)

 

%d bloggers like this: