Archive

Archive for August, 2013

Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (III)

August 31, 2013 1 comment

Chính sách dưới triều vua Yung-lo (Vĩnh Lạc).

Người sáng lập vương triều đã đặt xuống cái khung chính sách đối ngoại cho những người kế vị và đã định rõ chi tiết những việc họ phải làm để tiến hành các mối quan hệ đối ngoại mong muốn gắn chặt với những lời chỉ dạy của ông nhưng điều này đã không xảy ra. Người kế vị hoàng đế đầu tiên và là cháu ông ta là hoàng đế Kiến Văn (Chien-wen) đã bị chú lật đổ.  Hoàng đế Vĩnh Lạc, một kẻ tiếm quyền,  đã cảm thấy cần thiết phải hợp pháp hóa sự lên ngôi triệt để như là cha ông đã từng có bao gồm cả việc thi hành chính sách đối ngoại hiếu chiến đối với tất cả các phía. Những chính sách phân biệt sắc tộc của ông ta có liên quan tới mối quan hệ với Đông Nam Á và các quốc gia lân cận ở Ấn Độ Dương.  Chính sách nổi tiếng nhất của ông ta là  tiến hành các cuộc viễn chinh trên biển đầy xuất sắc dưới sự chỉ huy của đô đốc hoạn quan Trịnh Hòa.  Trong suốt triều vua Vĩnh Lạc, mối quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Champa bị lu mờ bởi sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thậm chí mối quan hệ với các nước Shan-Lao-Tai phía nam của Vân Nam cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách hiếu chiến nhằm thống trị Việt Nam  của triều đình trong khi tất cả các mối quan hệ với các nước khác bị lu mờ bởi các sứ thần xuất chúng tới Biển Tây. Những sự phát triển xảy ra trong triều vua này có thể được hiểu rõ nhất bằng việc quan tâm trước hết tới cuộc xâm lược Việt Nam và sau đó là các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa và ảnh hưởng lan rộng của chúng.

Xét trên bề mặt, hoàng đế Vĩnh Lạc chỉ đơn giản xác nhận lại chính sách của cha mình: không liên lạc tư nhân với người nước ngoài, không buôn bán tư nhân, và không buôn bán,  quan hệ với nước ngoài ngoại trừ hệ thống triều cống được quy định cẩn thận. Trong phong tục này, ông ta đã đòi hỏi khắt khe hơn, hiếu chiến hơn và nhiều tham vọng hơn cha ông trong việc can thiệp và đe dọa một khi mọi người (cả các nhà thám hiểm Trung Quốc hay các ông vua nước ngoài) không làm những gì ông ta mong đợi. Tình trạng giao tranh có lẽ là kết quả của sự thiếu tự tin của ông ta đối với các nước lân bang của triều đình do ông là một kẻ tiếm quyền vẫn mang trong mình mặc cảm. Nó cũng có thể đến từ thái độ ưa dùng bạo lực của ông. Ông là một người lính vĩ đại và tin rằng nhiều vấn đề có thể được giải quyết bằng quân sự. Mối quan hệ của ông với Việt Nam minh chứng rất tốt điều này. Khi vua mới của Việt Nam, người đã thất bại trong việc tìm kiếm sự công nhận từ cháu của hoàng đế Vĩnh Lạc năm 1400, tiếp tục cầu phong và muốn được công nhận như là người thừa kế hợp pháp của nhà Trần, hoàng đế đã đáp lại bằng lời quở trách. Cha ông ta đã không bằng lòng với hàng loạt các cuộc tiếm quyền xảy ra từ năm 1370, không một ông vua nào kể từ đó đáp ứng được các yêu cầu của viên chức nhà Minh về tính hợp pháp của họ.

Việt Nam

Hoàng đế Vĩnh Lạc (Yung-lo) theo sau chính sách của cha mình trong việc tìm kiếm xác nhận tính hợp pháp của vua Việt Nam. Khi viên chức của ông ta quả quyết với ông ta rằng ông vua đó là họ hàng của nhà Trần, người đã được chọn để làm vua mới, ông đã bằng lòng công nhận ông ta là “vua” của An-nam. Sau đó một vài tháng, ông vô cùng tức giận khi biết rằng người đàn ông đó thực ra là một kẻ tiếm ngôi và phạm tội giết vua. Điều tương tự đã xảy ra 30 năm trước đó khi cha ông ta bị đánh lừa và bị điều khiển trong mối quan tâm tới chính trị triều đình Việt Nam. Hoàng đế Vĩnh Lạc cũng khăng khăng xác minh lại sự đòi hỏi của vua mới ở Việt Nam và lại bị lừa lần nữa. Hậu duệ duy nhất của dòng dõi nhà Trần được tìm thấy và được đưa trở về Việt Nam để làm vua nhưng bị giết chết trên đường tới Việt Nam. Hoàng đế Vĩnh Lạc trước đó  đã thề ủng hộ nhà Trần đã mất. Sự xúc phạm gây ra bởi kẻ phản bội tiếm quyền ở Việt Nam đối với ông là quá lớn đến độ ngay lập tức ông ra lệnh tiến hành một cuộc tổng tiến công xâm lược Việt Nam. Ông hoàn toàn nhận thức được rằng Việt Nam nằm trong danh sách những nước “không bao giờ bị xâm lược” của cha ông ta nhưng ông ta tin rằng sự khiêu khích nói trên đã đủ để vượt ra khỏi Huấn từ của tổ tiên (Ancestral Injunctions). Đơn giản là kẻ tiếm quyền không thể không bị trừng phạt. Có lẽ ông ta cũng nhận thức được rằng vẫn có những câu hỏi về tính hợp pháp về chính ngôi vị của ông ta. Chắc chắn ông ta không thể cho phép sự việc đó nói lên rằng ông ta không đủ mạnh để ủng hộ vương triều hợp pháp.

Một đội quân viễn chinh lớn bao gồm các đơn vị từ hơn 10 tỉnh được phái tới Việt Nam. Cuộc viễn chinh này có thể so sánh với những đội quân do bố hoàng đế Vĩnh Lạc phái tới Vân Nam 25 năm trước. Đội quân chính  băng qua Quảng Tây, một đội quân xuôi xuống sông Hồng từ Vân Nam và những đơn vị khác  được phái đi bằng đường biển. Những thành công ban đầu của chiến dịch đã đến rất nhanh. Sự khác biệt chủ yếu giữa sự xâm chiếm Vân Nam và chiến dịch này là việc Việt Nam trong khoảng thời gian này đã trở thành một nhà nước tương đối thống nhất với hệ thống quản lý phức tạp dựa trên mô hình Trung Quốc. Việt Nam có bản sắc văn hóa khác biệt và nguồn lực để chống lại sự sáp nhập vào đế chế Trung Hoa15.

Sự tương đồng ở bề mặt bên ngoài giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khiến cho hoàng đế đưa ra một quyết định đầy rủi ro.  Không chấp nhận việc lật đổ kẻ tiếm quyền, ông ta quyết định rằng Việt Nam có đủ điều kiện thích hợp để được Trung Quốc công nhận như là một tỉnh của Trung Quốc. Nhà Trần đã không có nguyên đơn hợp pháp và hoàng đế Trung Hoa nghĩ ông ta có thể thiết lập chủ quyền lãnh thổ lịch sử dựa trên nền tảng đường biên giới được tạo ra dưới triều Hán cách đó  gần 1500 năm trước. Do vậy ông ta đã đi đến quyết định định mệnh là tiêu diệt vương quốc này và quản lý nó từ trung tâm Nam Kinh.

Một lý do khác đằng sau chính sách này là việc Việt Nam tuyên bố rằng họ là đế chế ngang bằng với Minh. Khi kinh đô của Việt Nam bị chiếm và các tư liệu, sổ sách của “hoàng đế” Việt Nam được tìm thấy, chúng đã được lấy đi như là bằng chứng chi tiết về sự ngạo mạn và sự ăn ở hai lòng của Việt Nam. Trong khi hoàng đế Vĩnh Lạc hài lòng vì tin rằng người Việt Nam đã quen với sự cai trị kiểu hoàng đế Trung Quốc, ông ta đã sai lầm khi nhận ra rằng những giả định văn hóa của ông đã bị đối chọi bởi thứ giống như là chủ nghĩa dân tộc về văn hóa. Thực tế việc diễn đạt chủ nghĩa dân tộc này bằng các khái niệm văn hóa Trung Hoa đã gây ra nhiều ngộ nhận lầm lạc.

Chiến tranh ở Việt Nam đã thất bại sau 20 năm chiến trận và chiếm đóng.  Sự thành công đáng kinh ngạc của sách lược chiến tranh du kích của Lê Lợi đã hoàn toàn thuộc về lịch sử  Trung Quốc và Việt Nam và chúng ta không cần phải quan tâm chi tiết ở đây16. Những gì liên quan là sự thất bại của Trung Quốc ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối với mối quan hệ của nó với các nước khác ở Đông Nam Á. Hai quốc gia lân bang của Việt Nam đã bị lôi kéo vào cuộc chiến. Champa, kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam và là một đồng minh trung thành của Trung Quốc vốn dựa vào Trung Quốc để nắm giữ phía sau Việt Nam,  đã nhận ra rằng việc có Minh-Trung Quốc như một láng giềng thậm chí còn khó chịu hơn nhiều so với việc có một vương quốc người Việt nhỏ hơn làm hàng xóm. Các vua Chăm bị ép gửi quân đội và cung cấp lương thực ủng hộ sự chiếm đóng của quân Minh nhưng họ sớm nhận ra rằng các viên chức Minh khăng khăng đưa ra những đòi hỏi với Việt Nam cũng  giống như những gì họ đưa ra với Champa. Một khi Minh chiếm được lãnh thổ thì Champa sẽ không có đường lui.

Điều ấn tượng hơn nữa là kết quả cuối cùng của chiến tranh. Trước khi hoàng đế Vĩnh Lạc ra lệnh xâm lược Việt Nam, nhà chức trách Trung Quốc được hậu thuẫn bởi một lực lượng quân đội lớn, điều mà người Việt không hề mong muốn. Sự nhắc nhở từ hoàng đế nhà Minh là  một sự ngăn chặn hữu ích.  Nhưng sau khi chiến tranh trở nên tồi tệ sau những chiến thắng ban đầu và khi quân đội Minh liên tiếp thất bại trong việc tiêu diệt “quân phiến loạn” người Việt, nhà chức trách Trung Quốc đã mất đi lực lượng ngăn chặn của mình. Champa đã rơi vào thế cùng bởi ba diễn biến: sự tức giận của chính họ đối với sự tham lam của binh lính và viên chức Trung Quốc, sự kính trọng dành cho cuộc kháng chiến của Lê Lợi ngày càng tăng và cuối cùng là sự báo động về thất bại của Trung Quốc và sự trỗi dậy của quốc gia Việt Nam thống nhất và hùng mạnh hơn. Kết quả cuối cùng, sự suy yếu của nhà chức trách Minh ở Việt Nam trong việc duy trì vương triều đã đóng dấu chấm hết cho số phận của Champa. Những nỗ lực của Champa để duy trì tình trạng khi trước, khi nó có sức mạnh ngang bằng Việt Nam, thật là bất hạnh và không có một ai ở triều Minh hô hào ngăn chặn Việt Nam khi cơ hội tiêu diệt Champa đến ở thời điểm một vài thập kỉ sau đó17.

Sự xâm lược Việt Nam cũng  đã có ảnh hưởng tới các dân tộc khác ở Đông Nam Á lục địa. Người Chăm, được khuyến khích bởi sự xâm lược và chiếm đóng của Trung Quốc đối với cựu thù của họ là Việt Nam, đã tấn công Cam-pu-chia. Cam-pu-chia trong cùng một thời gian đã bị đe dọa từ hai mặt bởi vì Ayuthia (Xiêm) ở phía tây cũng  tiếp tục mở rộng bằng vũ lực. Và duy nhất trong thời gian dưới triều Minh, Cam-pu-chia đã thành công trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ của Trung Quốc để ngăn chặn người Chăm. Nhưng sau khi người Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã ngăn chặn và cuối cùng tiêu diệt Champa.

Thú vị hơn là vai trò của Lào trong thời gian Minh chiếm đóng Việt Nam. Nó là một trong số rất nhiều các công quốc Shan-Lao-Tai tương tự ở phía nam Vân Nam và vua của nó là viên khâm sai bình định trung thành, người đã được hoàng đế Vĩnh Lạc xác nhận vị trí. Lào đã nổi lên như là kết quả của những cố gắng của người Khmer duy trì các  tù trưởng Thái trong chia rẽ để ngăn chặn sự bành trướng của Ayuthia. Chính sách của Minh, do nhiều lý do khác nhau, đã hậu thuẫn sự vỡ ra từng mảnh dọc theo biên giới tây nam của đế chế và triều Minh đã công nhận Lào trong cách thức tương tự mà nó đã làm để công nhận Ch’e-li (Sibsong Banna), Pa-pai (Chiengmai), Lu-ch’uan (the Maw Shans) và nhiều công quốc khác.

Lào chấp nhận sống sót thông qua ngoại giao, đối phó với Cam-pu-chia ở phía Nam, Việt Nam ở phía tây và Trung Quốc ở xa và xa hơn là các liên minh bộ lạc thiểu số ở phía bắc. Nhưng khi Việt Nam nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc, vị trí của Lào trở nên thiếu an toàn. Lực lượng người Việt bị đánh bại do không muốn trốn xuống phía Nam để tìm kiếm sự giúp đỡ từ kẻ thù truyền kiếp ở Champa nên đã sơ tán sang Lào. Vua ở Lào chưa hề chuẩn bị cho việc đứng về phe nào trong cuộc chiến. Ông ta không hề mong muốn có hàng xóm là nhà Minh và có lẽ đã thông cảm với lòng căm thù lan rộng của người Việt nhắm vào sự cai trị của Trung Quốc. Đồng thời ông ta cũng không muốn chọc giận triều Minh. Do đó khi bị yêu cầu không được giúp đỡ người Việt, ông ta đã ngăn cản “những kẻ phiến loạn” người Việt biến Lào thành căn cứ kháng Minh nhưng có lẽ ông ta cũng thấy trước được rằng quốc gia của ông ta sẽ phải sống lâu dài với người Việt vì thế mà ông ta đã không thức dậy lòng căm thù của người Việt đối với Lào.

Tất cả các nhà nước có đường biên giới với Vân Nam đều cảm thấy ảnh hưởng của cuộc xâm lược Việt Nam. Tỉnh này cung cấp một lực lượng quân đội lớn cho chiến dịch, không chỉ cho cuộc xâm lược ban đầu mà còn cho các cố gắng tiêu diệt cuộc kháng chiến của người Việt. Khoảng năm 1428, cuộc phản công của người Việt ngược sông  Hồng tới biên giới Vân Nam đã chỉ rõ hạn chế của sức mạnh Trung Quốc ở đông nam Vân Nam. Một số lượng nhỏ các thành viên bộ lạc trong vùng đó  khiếp hãi bởi cả hai lực lượng và đã qui phục bất cứ ai mạnh hơn trong vùng lân cận của họ. Nhưng cả hai công quốc lớn (Lào và Sibsong Banna) vốn có chung đường biên giới với những người giữ vai chính tác động tới tương lai của họ giữa những quyền lực và đặc biệt quan tâm tới việc duy trì quyền lực của mình. Chắc chắc chừng nào hoàng đế Vĩnh Lạc còn tại vị và bày tỏ mong muốn dùng sức mạnh thì tất cả các nhà nước lân bang ở Vân Nam nhận ra rằng họ cần phải sáng suốt để duy trì nền hòa bình của mình.

Tất nhiên hoàng đế Vĩnh Lạc không hoàn toàn dựa vào sự đe dọa và lực lượng quân đội. Ông ta đã tiếp tục một cách có hệ thống chính sách của người tiền nhiệm trong việc làm  tan vỡ những nhà nước có khả năng hùng mạnh ở phía tây nam và  chỉ định ít nhất là 5 khâm sai bình định, chủ yếu là để bẻ gãy sức mạnh của Maw Shans ở Lu-chuan và kiểm soát sự lớn mạnh trong tương lai của quyền lực người Miến. Và ông ta đã theo đuổi hai chính sách khác nhau đối với Aythia (Xiêm): trên biển, ông ta kiềm chế sự bành trướng xuống phía nam tới bán đảo Malay rồi Malacca; tuy nhiên trên bộ ông ta không phản đối các hành động quân sự hướng tới phía bắc đánh các nhà nước người Miến, Cam-pu-chia và Shan-Lao-Tai. Tóm lại cuộc xâm lược Việt Nam cảnh báo tất cả các nhà nước tiếp giáp với biên giới phía nam nhà Minh Trung Quốc rằng Trung Quốc đã sẵn sàng sử dụng vũ lực. Nhưng có lẽ quan trọng hơn về lâu dài, nó chỉ ra rằng Trung Quốc không có mong muốn hay không có khả năng chiếm đóng và duy trì lãnh thổ phía nam. Sự thất bại của Trung Quốc ở Việt Nam và kĩ năng ngoại giao của nhà Lê đã ngăn chặn Trung Quốc và đó là bài học dành cho tất cả các nước khác ở Đông Nam Á lục địa. Trường hợp của Việt Nam chứng minh rằng Việt Nam có khả năng làm hài lòng sự tự tôn của người Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được độc lập về chính trị.

Nguyễn Quốc Vương dịch


15 Wang Gungwu, “China and Southeast Asia,  1402-1424”, trong Jerome Chen  và Nicolas Tarling, Studies in the Social History of China and Southeast Asia: essays in Memory of Victor Purcell (Cambridge, 1970), trang 381-383; Wang Gungwu, “Chang Fu” và “Huang Fu” trong DMB, trang 64-67, 653-656. Đồng thời xem thêm C.P FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People (New York, 1972), về sự bàn luận sâu hơn đối với bản sắc dân tộc Việt Nam trong sự đối sánh với các dân tộc của Nanchao và Đại Lí ở Vân Nam.

 

16 Xem John K. Whitmore, Vietnam, Hồ Quý Ly and the Ming (1371-1421) (New Heaven, 1985) và  The Cambridge History of China, Vol.7. part I, trang 229-31, 289-91.

 

17 Về lịch sử Champa, xem G.Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928), đồng thời xem MS, 324, trang 8383-8339.

 

Advertisements

Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (II)

August 31, 2013 Leave a comment

Nhà Minh từ chối công nhận Nghệ Tông. Khi Nghệ Tông từ bỏ vương miện hai năm sau đó và nhường cho em trai là Duệ Tông, quan hệ triều cống được tái lập. Những mối quan hệ này giữ nguyên tốt đẹp chừng nào Nghệ Tông (Nghe-ton) nắm quyền phía sau bức màn và Duệ Tông (Due-ton) hay con trai ông ta là Phế Đế (Phe-de) tìm kiếm sắc phong từ tay hoàng đế nhà Minh. Khi Phế Đế bị đảo chính và bị giết bởi cậu là Lê Quý Ly, hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã trở nên ngờ  vực và thù địch. Khoảng năm 1393, ông ta đã lại từ chối sứ đoàn triều cống do triều đình Việt Nam phái tới. Những tranh chấp dọc biên giới đế chế với Việt Nam dẫn tới sự  tái tiếp tục các mối quan hệ ngoại giao trong ba năm cuối của triều vua Hồng Vũ (1396-98) và những mối quan hệ này cách rất xa sự thân thiện. Những gì hoàng đế tức giận nhất là việc một loạt sự tiếm quyền đã cười nhạo hành động công nhận và sắc phong của ông, thứ ông coi như là nền tảng đảm bảo mối quan hệ. Như ông đã sắp đặt, khi được thông báo về cái chết của Nghệ Tông vào năm 1396, hơn một năm sau sự kiện:

 Nếu chúng ta gửi đi một sứ đoàn để chỉ ra rằng chúng ta  chia sẻ sự mất mát người thân, điều đó sẽ ủng hộ các cuộc nổi loạn và thừa nhận những kẻ làm loạn. Khi những kẻ khác nghe được điều này sau đó,  họ sẽ làm theo ông ta và  sẽ có nhan nhản những tội ác phải không? Điều này không thích hợp với các nguyên tắc của Trung Quốc trong hành xử với nước ngoài6 .

Sự tái khởi động đơn phương mối quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1395 minh họa cho sự sẵn sàng của hoàng đế đầu tiên của triều Minh trong việc ứng phó nhanh chóng với những vấn đề biên giới. Khi những thành viên bộ lạc Lung-chou nổi loạn dọc biên giới phía nam của tỉnh Quảng Tây, hai sứ đoàn do các sứ giả cao tuổi dẫn đầu đã được phái tới Việt Nam. Nghi thức cầu kì của triều cống được bỏ qua một bên khi vấn đề được nhìn nhận là nghiêm trọng. Trái lại, một sự tranh chấp  trước đó năm 1381 dọc theo biên giới nói trên kém nghiêm trọng hơn; hoàng đế tức giận yêu cầu các nhà chức trách ở tỉnh Quảng Tây gửi trả lại tất cả các sứ đoàn của Việt Nam trong tương lai nhưng trên thực tế có một đoàn được chấp nhận và năm tiếp theo7.

Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh phân biệt rõ giữa sự cảnh báo về an ninh biên giới và sự can dự vào những rắc rối của các quốc gia láng giềng. Quan hệ của triều đình liên quan đến các cuộc tấn công và phản công giữa Việt Nam và Champa thật thú vị. Hoàng đế miễn cưỡng phải can dự vào cuộc tranh chấp cay đắng này, đã năm lần trong những năm 1370 ông ta kêu gọi cả hai bên ngừng chiến. Thậm chí khi Việt Nam đã nằm ngoài sự quý mến và Champa đã có sự tiếp cận thường xuyên đối với triều Minh, hoàng đế chưa bao giờ thay đổi nguyên tắc công bằng nghiêm khắc nói trên. Tuy nhiên, khi sự an toàn của đế chế được lưu tâm thì sự ứng phó lại khác. Khi quân nhà Minh cần ngũ cốc cung cấp cho chiến dịch ở Vân Nam năm 1384,  Việt Nam đã được trông đợi để cung cấp ngược theo sông Hồng lên biên giới. Và khi nguồn cung cấp lại trở nên cần thiết để  đập tan quân nổi loạn Lung-chou ở biên giới Quảng Tây năm 1395, Việt Nam được trông đợi cung cấp cho quân Minh đồn trú ở nơi gần nhất. Việt Nam không thể duy trì sự trung lập khi triều Minh tham gia vào các cuộc bình định ở vùng gần với biên giới Việt Nam.

Thậm chí nhạy cảm hơn là câu hỏi về mối quan hệ giữa các ông vua nước ngoài và các viên chức nhà Minh. Hai ví dụ sẽ  đủ để minh họa mối quan tâm của hoàng đế về chủ đề này. Ví dụ thứ nhất có liên quan đến Việt Nam, nơi một thời gian dài tỏ ra ngang ngạnh khi khẳng định quyền của mình ngang hàng với Trung Quốc và cũng là nơi tự hào vì thành tích chống lại được sự áp bức của người Mông Cổ. Trận đánh về ý chí được xác lập lúc ban đầu với việc hoàng đế nhà Minh quyết đình đòi sự ưu việt của mình và không cho phép bất cứ một sự thách thức nào đối với vị trí tối cao của ông ta trong vũ trụ hay mối quan hệ tôn ti thứ bậc mà ông ta có bổn phận phải duy trì.  Bản dự thảo hiệp ước nghiêm khắc nhất được khăng khăng duy trì. Khi viên chức được gửi tới để sắc phong cho vua Việt Nam nhận ra rằng nhà vua vừa qua đời, ông ta đã từ chối vào Việt Nam để sắc phong cho người thừa kế ông vua đã chết. Người Việt Nam buộc phải thông báo cái chết của vua và yêu cầu sự công nhận chính thức từ chính hoàng đế nhà Minh.

Sau khi có Việt Nam ở đúng vị trí, hoàng đế đã không tiếc lời ca ngợi các sứ giả nhà Minh, những người đã từ chối nhận bất cứ món quà nào từ vua Việt Nam, cho dù có nguy cơ xúc phạm ông ta. Việc này vừa  nhấn mạnh nguyên tắc rằng hoàng đế chứ không phải viên chức của ông ta điều hành các mối quan hệ đối ngoại vừa minh họa địa vị thấp kém hơn của Việt Nam, nơi chỉ có thể thực thi triều cống chứ không  phải là tặng quà cho dù là tặng cho các sứ giả của Trung Quốc. Thực vậy, sự quả quyết của Việt Nam trong việc khẳng định sự ngang bằng ở mức độ nào đó trong quan hệ đối ngoại là nguồn cơn căng thẳng với Trung Quốc trong các thập kỉ tiếp theo. Bộ Lễ đã đặt ra các nghi lễ cầu kì chưa từng có trong việc tiếp đón các sứ giả triều cống của Việt Nam tại triều Minh và đón tiếp sứ giả nhà Minh được phái tới Việt Nam. Việc này đã lên tới đỉnh điểm khi hoàng đế nhà Minh phải ngăn bộ Lễ không được đi quá xa. Cùng thời gian đó, Việt Nam bị ép buộc từ bỏ triều cống hàng năm mà tuân theo lệ triều cống 3 năm một lần giống như Champa, Campuchia và Xiêm.  Những tín hiệu về sự ghét bỏ của triều đình khác có thể được tìm thấy trong quyết định được đưa ra năm 1383 với nội dung gửi các thẻ bài chính thức được dùng để lập nên các quốc thư của sứ giả nhà Minh tới Champa, Cam-pu-chia nhưng không có Việt Nam8.

Ví dụ nổi tiếng thứ hai liên quan đến mối quan hệ với San-fo-ch’ikuo (Srivijaya) hay thế giới Malay xung quanh vùng phía đông và trung tâm Sumatra và bán đảo Malay. Giáo sư O. W. Wolters đã kiểm tra  bối cảnh đối với mối liên hệ  Malay này và đưa ra một sự giải thích mới về các sự kiện trong những năm 1370 và cuối những năm 1390, những sự kiện đã có ảnh hưởng tới mối quan hệ của nhà Minh với người Malay9. Sự giải thích của ông nhấn mạnh sự không quan tâm và sự thiếu quan tâm của hoàng đế đầu tiên nhà Minh đối với những điểm cầu kì trong chính trị ở Đông Nam Á trên biển. Nó cũng nhấn mạnh sự phức tạp của mối quan hệ giữa các tôn chủ và chư hầu trong khu vực, thứ triều Minh đã thất bại trong việc đánh giá đúng. Các cuộc đấu tranh địa phương tranh giành thương mại và tính hợp pháp này đã liên quan như thế nào đến các viên chức nhà Minh và việc chúng đã khiến cho hoàng đế đầu tiên của nhà Minh mắc sai lầm nhục nhã và gây ra cái chết của các sứ giả Minh như thế nào dưới tay người Java đã được giải thích một cách thuyết phục. Thậm chí cho dù các viên chức của nhà Minh không âm mưu với các ông vua nước ngoài đi nữa thì thất bại của họ trong việc bảo vệ hoàng đế tránh khỏi sai lầm đã làm tăng thêm mối nghi ngờ của ông ta đối với họ. Hoàng đế đặc biệt nghi ngờ tể tướng đầy quyền lực Hồ Duy Dung (Hu Wei-yung), người sau đó bị buộc tội đã có quan hệ bí mật với người Nhật và trách nhiệm trong việc để xảy ra nạn hải tặc dọc miền duyên hải Trung Quốc. Số phận của viên chỉ huy Ninh Ba Lin Hsien, bị buộc tội đóng vai trò liên lạc giữa Hồ Duy Dung và người Nhật xác nhận rằng sự nghi ngờ của hoàng đế đối với sự can dự của các viên chức trong quan hệ với nước ngoài. Những mối quan hệ với nước ngoài đã bị kiểm soát hoàn toàn chính thức và chặt chẽ10.

Rõ ràng từ con mắt của hoàng đế, mối quan hệ triều cống được tiến hành không phải là vì lợi nhuận. Những gì cần được nhấn mạnh là chính sách dứt khoát của hoàng đế trong việc kiềm chế chiến tranh với nước ngoài. Điều này tạo nên đặc trưng của  chính sách phòng thủ toàn diện  đối với các quốc gia phương nam và phía đông không cần phải quá nhấn mạnh. Nó không chỉ xác nhận phong tục cũ của đế chế Hán, Đường, Tống và từ chối các phong tục của  hoàng đế Mông Cổ Khubilai mà còn thiết lập một học thuyết quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhà Minh.

Ấn tượng hơn là thực tế rằng chính sách này đã được đề ra năm 1371 và sau đó được thể hiện trong Tsu hsun lu( huấn từ của tổ tiên) của hoàng đế ban bố năm 1373 và sau khi sửa đổi được tái xác nhận chi tiết trong phiên bản cuối cùng của Huang Ming Tsu hsun vào cuối triều đại của ông ta. Nó là một trong số ít chính sách cơ bản mà hoàng đế nhà Minh không bao giờ đi trệch ra khỏi nó. Sự tuyên bố đặc biệt về chính sách xứng đáng được trích dẫn đầy đủ. Đoạn chủ yếu được tìm thấy trong phiên bản năm 1373 trong phần huấn thị của ông đối với hậu duệ như sau:

 

  Các nước ngoài như An-nan (Việt Nam), Champa, Triều Tiên, Xiêm, Liu-ch’iu (quần đảo Lưu Cầu), các nước ở Biển Tây (Nam Ấn Độ) và Biển Đông (Nhật Bản) và rất nhiều các quốc gia nhỏ Nam Man (những người dã man) tách rời chúng ta bởi núi, biển và ở nơi rất xa. Đất đai của họ không đủ để sản xuất cho chúng ta duy trì chúng, người dân của họ sẽ không phụng sự chúng ta một cách hữu ích nếu sáp nhập (vào đế chế). Nếu họ không chân thật và làm kinh động biên giới của ta, đó sẽ là điều bất hạnh đối với họ. Nếu họ không gây rắc rối gì cho ta và chúng ta đưa quân tới đánh họ một cách không cần thiết thì đó sẽ là điều bất hạnh đối với chúng ta. Ta lo ngại rằng các thế hệ tương lai có thể sẽ lạm dụng sự giàu có và sức mạnh của Trung Quốc và sự khát khao  giây phút chiến thắng của quân đội để vô cớ đưa quân ra chiến trường và gây nên tổn thất. Họ phải ghi nhớ rằng đây là điều cấm kị. Về phần  những người dã man Hu và Jung, những người đe dọa Trung Quốc từ phía bắc, họ luôn là mối nguy hiểm dọc theo biên giới của ta. Thế hệ tiếp sau phải được tuyển lựa và quân lính phải được huấn luyện để phòng bị thận trọng chống lại họ11.

 

Đoạn văn trong phần mở đầu của Huấn từ của tổ tiên (Ancestral Injuntions) được giữ lại trong phiên bản cuối cùng năm 1395. Sự bổ sung và thay đổi đối với phiên bản sau đó của văn bản này rất thú vị và quan trọng. Trong các phiên bản trước đó, đoạn văn này nằm ở phần cuối trong khi ở phiên bản cuối cùng nó lại được đưa lên trước thuộc vị trí của lời huấn thị quan trọng thứ 4.

Thêm nữa, 15 quốc gia đã được chỉ định là quốc gia “không bị  xâm lược”. Cùng với  ba quốc gia ở Đông Nam Á được liệt kê phía trên, 7 quốc gia khác cũng được thêm vào là Cam-pu-chia, Samudra-Pasai (bắc Sumatra), Java, Pahang, Pai-hua (Battak hay tây Java), San-fo-ch’I (Srivijaya hay Palembang ở trung tâm và nam Sumatra) và Brunei (Borneo). Sự bao gồm bốn quốc gia cuối cùng rất ấn tượng. Tất cả bốn quốc gia này có lẽ đều là chư hầu của đế chế Majapahit của Java. Điều thú vị là việc hoàng đế đã nhận thức từ năm 1371 rằng Bru-nây là chư hầu của Java và có lẽ từ năm 1378 cả Srivjaya cũng thế. Nhưng ông ta khăng khăng giữ cả hai vương quốc trong danh sách tới tận năm 1395 và  không công khai thừa nhận Srivijaya như là chư hầu của Java tới tận năm 1397.

Ở phiên bản về sau, hoàng đế cũng phân biệt giữa các quốc gia này và diễn đạt rằng chỉ có Cam-pu-chia và Xiêm đã có mối quan hệ lành mạnh với đế chế Minh. Việt Nam không được sủng ái và bị giới hạn triều cống 3 năm một lần. Champa và các quốc gia phương nam còn lại đã lừa hoàng đế bằng việc chứa chấp những thương nhân cướp biển trong sứ đoàn triều cống của họ. Các sứ đoàn này đã nhiều lần  bị nhắc nhở chấm dứt những trò lừa đảo như vậy từ năm 1375 tới 1379 trước khi tục lệ chấm dứt. Rõ ràng là hoàng đế nhận thức được rằng thương mại là mục đích chính ẩn đằng sau việc phái các sứ đoàn tới Trung Quốc nhưng ông muốn các ông vua nước ngoài thận trọng về điều đó. Cuối cùng sự ám chỉ đặc biệt tới các quốc gia “nước ngoài” và sự đề cập đến “các quốc gia nhỏ Nam man” đã bị lơ là. Trong việc lập danh sách theo tên 15 quốc gia không bị xâm lược, phiên bản cuối cùng này tỉ mỉ hơn phiên bản trước đó mặc dù không cần thiết phải chính xác hơn trong việc phản ánh thực tế chính trị trong khu vực. Cũng không chắc sự bỏ sót “nước ngoài” là cố ý hay không nhưng sự bỏ sót này đã cho phép Triều Tiên và Việt Nam nằm trong danh sách và hoàng đế chắc chắn đã nhận thức được rằng cả hai quốc gia đều có thể bị xâm lược bằng đường bộ.

Triều Minh cũng thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia ở phía nam nơi có thể tiếp cận bằng đường bộ. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã biết về các quốc gia nước ngoài phía sau Vân Nam từ các tư liệu của nhà Nguyên. Năm 1371 khi ông ta gửi các sứ đoàn đi mọi ngả, có lẽ ông ta đã gửi một sứ đoàn tới Burma đi qua Việt Nam. Sứ đoàn này bị tắc giữa đường bởi cuộc tấn công xâm lược Champa của Việt Nam và không tới được Burma sau khi mất đến hơn hai năm ở Việt Nam. Trong thời gian này 3 trong số 4 sứ giả đã chết. Năm 1373, người sống sót duy nhất đã trở về12. Kết quả là không có cố gắng nào tiếp theo được tạo ra nhằm liên lạc với Burma cho dù hoàng đế nghĩ rằng Burma là quốc gia quyền lực nhất sau Việt Nam và có lẽ ông ta đã mong muốn kết đồng minh với Burma để chống lại người Mông Cổ khi ấy vẫn kiểm soát Vân Nam. Khó mà biết được liệu hoàng đế đầu tiên của nhà Minh có ý định sáp nhập Vân Nam vào đế chế  nếu nó không thuộc quyền kiểm soát của hoàng tử Mông Cổ ngang ngạnh hay không. Chắc chắn một điều rằng trên thực tế Vân Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của người Mông Cổ và điều đó thúc giục hoàng đế sớm hay muộn cũng tấn công nó. Sau thành công của cuộc tấn công xâm lược năm 1382, chính sách chỉ định các viên chức trung ương tới cai trị các nhóm người thiểu số ở trong vùng của nhà Nguyên đã được sửa đổi. Hệ thống cơ quan thổ dân (T’u-ssu) được mở rộng sát đến biên giới đế chế và các ông vua địa phương hay các tù trưởng được công nhận như là người được ủy nhiệm của triều đình ở nhiều cấp độ để  thay mặt hoàng đế cai trị trên danh nghĩa. Bằng cách này, một hệ thống bổ nhiệm được xây dựng. Nó làm mờ đi sự khác biệt giữa chư hầu nước ngoài và khu vực tự trị, nơi cách xa sự kiểm soát trực tiếp của hoàng đế. Do đó, việc tạo ra một số lượng lớn các khu vực Shan-Lao-Tai đã dẫn tới tình hình kì lạ của việc có ông vua của Hsien-lo (Ayuthia hay Xiêm) được công nhận như là vua (kuo wang) nhưng không có bất kì ông vua nào của Shan-Lao-Tai, Burma hay Mon. Các tộc người này chủ yếu được trao danh hiệu quân sự như khâm sai bình định và được coi như là thuộc cấp trực tiếp của vua Minh13.

Sự thay đổi ấn tượng nhất trong chính sách đối ngoại trong thời kì này là quyết định của nhà Minh không công nhận Burma như là một vương quốc (kuo). Quyết định này là kết quả từ chính sách của nhà Minh khuyến khích sự cai trị gian tiếp, trong khi vẫn tiếp tục thu hẹp địa vị của các ông vua địa phương ở tây nam Trung Quốc. Sau khi xâm chiếm Vân Nam, chính sách này cũng được xác nhận đối với các lãnh thổ xa hơn ở phía nam. Năm 1393 sau khi liên lạc cuối cùng cũng được tái xác lập thông qua  công quốc Chiengmai (trên danh nghĩa là sự bình định của nhà Minh), Burma đã gửi một sứ giả tới Trung Quốc. Năm 1394 vua ở Ava được chỉ định làm khâm sai bình định trong lãnh thổ của ông ta. Không hề có sự bàn luận nào về việc tái lập Burma trở lại địa vị của một vương quốc. Triều Minh nhận ra rằng kể từ khi người Mông Cổ phá hủy vương quốc người Miến ở Pagan, nhiều nhà nước Shan đã được thành lập (thậm chí vương quốc Ava bị cai trị bởi một nhánh của hoàng gia Shan) và vương quốc vĩ đại của người Miến đã vỡ ra từng mảnh.

Triều Minh tiếp tục chính sách duy trì các nước này trong tình trạng yếu và bị chia rẽ. Như hoàng đế nhà Minh đã thấy, nhà nước Maw Shan của Lu-ch’uan là mạnh nhất và đáng sợ nhất trong số các công quốc này14. Nó nằm ở nơi cách xa Đại Lí và  kiểm soát những dải đất rộng lớn của vùng đất trên lưu vực sông Salween. Nó cũng đang cố gắng tiêu diệt Ava và thống nhất các nhà nước Shan khác dưới sự lãnh đạo của mình. Về sau, một vài năm sau khi xâm chiếm Vân Nam, hoàng đế đã hành động để kiềm chế nhà nước này và đập tan sức mạnh của nó. Triều Minh cũng đã thiết lập 3 Hội đồng bình định Shan-Tai, hai hội đồng kia là Ch’e-li (Sipsong Banna và các vùng ở Vân Nam, Burma và Lào cùng vùng xung quanh) và Chiengmai (Pa-pai). Chiengmai đã cung cấp  mối liên hệ ngoại giao đầu tiên với triều đình Burma tại Ava. Việc trao tặng danh hiệu cho vua Shan của Ava là một bước đi khác trong chính sách kiềm chế nhà nước Maw Shan. Sau năm 1402, công việc được dành cho con trai của hoàng đế, hoàng đế Vĩnh Lạc, để hoàn thành việc xé nhỏ vương quốc của người Miến cũ bằng việc nâng hai nhà nước Shan có đường biên giới với Lu-ch’uan lên địa vị là Hội đồng bình định. Nhưng hoàng đế Vĩnh Lạc lại là kiến trúc sư của chính sách hiếu chiến hơn điều mà cha ông ta đã không chấp nhận.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch


6  MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 244.

7 MS, 321, trang 8309-8311; xem thêm Chiu Ling-yeong et al, Ming shih-lu chung chih Tung-nan-ya shih-liao, vol.I(Hong Kong, 1968), trang 3, 7, 15, 17, 25, 28, 30, 35, 41, 48, 50-51, 56, 60-64.

 

8  Cái nhìn của nhà Minh về mối quan hệ được phác họa từ MSL và MS (xem chú thích 7 ở trên). Thật thú vị khi so sánh nó với cái nhìn của Việt Nam có mặt trong Đai Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Chen Ching-ho biên tập (Tokyo, 1984) Vol I, trang 436-470. Đồng thời xem John K. Whitmore, Vietnam, Hồ Quý Ly, and the Ming (1371-1421), Yale Southeast Asia Series, New Haven, 1985, trang 16-36.

9 Xem O.W. Wolters, The fall of Srivijaya in Malay History (Ithaca, 1970) và Early Indonesian Commerce: A study of the Origins ò Srivijaya (Ithaca, N.Y., 1967).

 

10 Về âm mưu của Hu Wei-yung, xem J.Langlois, “The Hung-Wu reign, 1368-1398” trong F.U. Mote và D.C.Twitchett (biên soạn), The Cambridge History of China, Vol. 7, The Ming Dynasty, Part 1 (Cambridge, 1988), trang 137-42.

 

11 Ming Tai-tsu, Huang Ming Tsu-hsun lu (1373), in lại trong Ming-ch’ao k’ai-kuo wen-hsien, III, trang 1686-1687. Phiên bản cuối cùng chỉnh sửa năm 1395, Tsu-hsun, III, trang 1588-1591. Chính sách  dứt khoát về “ các nước ngoài Man và Di ở trên biển tách khỏi chung ta bởi núi và biển và ở nơi rất xa” lần đầu tiên được nói ra vào ngày 30 tháng 10 năm 1371 (Hsin-wei vào tháng 9). Xem Tai-tsu pao-hsun ( lời giới thiệu năm 1418), được thu thập trong  Huang Ming pao-hsun do Lu Pen và những người khác biên soạn năm 1602, chương 6 “Yu I Ti”.

 

12 MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 86; Chiu Ling-yeong et al , Ming shih-lu chung  chih Tung-nan-ya shih-liao, vol. I. p.18.

 

13  MS, 313-315, chương về t’su-ssu vủa Vân Nam. Mặc dù ông vua tại Ava trở nên “khâm sai bình định Mien-tien” vào năm 1394, Ming T’ai-tsu, T’ai-tsu shih-lu, 242 và 244 vẫn nói về vua Mien, “vua của Miến” trong các năm 1395 và 1396. Trong tất cả các Shih-lu sau, Burma được gọi là “Miến Điện” và không bao giờ được coi là vương quốc.

 

14 Xem Chien Ku-hsun, Pai I Chuan,  được chú thích bởi Chiang Ying-liang (Côn Minh, 1980) cung cấp hồ sơ đầy đủ về nhà nước Maw Shan. Một phiên bẳn ngắn nằm trong MS, 314, trang 8111-8114.

 

Trung Quốc và Người Trung Quốc ở nước ngoài (I)

August 31, 2013 Leave a comment

Tác giả: Wang Gungwu

Times Academic Press, 1991

Nguyễn Quốc Vương dịch

Chương 3.  Quan hệ ngoại giao của nhà Minh- Đông Nam Á

Các hoàng đế của nhà Minh Trung Quốc đã không công nhận khu vực ngày nay được biết tới như là Đông Nam Á (Xem bản đồ trang 72). Họ coi quần đảo phía đông của Bru-nây (thời hiện đại là Borneo) là một phần của Biển Đông trong khi tất cả các nhà nước duyên hải khác được coi là một phần của Biển Tây, nơi trong một thời gian dài bao gồm cả các quốc gia có đường biên giới với Ấn Độ Dương. Những nước nơi bao gồm Miến Điện, Lào và bắc Thái Lan  ngày nay được coi là một nhóm tương đối khác với phần còn lại.

Tất nhiên, cái nhìn từ kinh đô Nam Kinh hay Bắc Kinh luôn luôn là thứ lấy Trung Quốc làm trung tâm. Các quốc gia nước ngoài không có sự tồn tại có ý nghĩa nào trừ phi các ông vua ở đó có mối quan hệ với hoàng đế của Trung Quốc. Những nhân tố như khoảng cách giữa quốc gia với kinh đô, quốc gia đó có chung đường biên giới với đế chế hay không, nó có quan trọng đối với việc phòng thủ đế chế hay không cũng được đánh giá cao. Cũng có sự khác nhau mang tính kĩ thuật: những quốc gia gửi sứ đoàn tới Tuyền Châu ở Phúc Kiến được phân biệt khác với các quốc gia đi vào qua Quảng Đông và các sứ đoàn đi trên bộ qua các tỉnh như Quảng Tây và Vân Nam cũng có sự khác biệt. Mặc dù triều đình Trung Hoa liên tục nhấn mạnh những nguyên tắc chung của các mối quan hệ đối ngoại, những gì còn lại quan trọng nhất trong việc xác định chính sách ngoại giao đối với Đông Nam Á là tình hình chính trị, thứ đã thịnh hành tại nhiều thời điểm khác nhau trong suốt vương triều.

Trong suốt 60 năm đầu dưới triều nhà Minh, những bài học và tiền đề học từ chính sách của nhà Nguyên là quyết định trong việc hình thành chính sách đối ngoại; nó thể hiện thái độ và sự lo ngại của những kẻ cai trị Trung Nguyên, những người đã lập nên triều Minh, đặc biệt là sự dè chừng đối với Mông Cổ. Dọc theo bờ biển, những rắc rối liên quan đến cướp biển và buôn bán trên biển đã dẫn tới lệnh cấm đi lại. Cũng có những rắc rối đối với Việt Nam và Champa cũng như mối quan hệ giữa hai quốc gia này. Sự xâm chiếm Vân Nam (cho tới năm 1382 nó vẫn nằm dưới sự kiểm soát của hoàng tử Mông Cổ Liang)[1] và tình trạng lộn xộn dọc biên giới tây nam với Burma và Lào cũng góp phần định hình chính sách đối ngoại. Cuối cùng là các cuộc viễn chinh của viên đô đốc hoạn quan Trịnh Hòa (1371-1433) và ảnh hưởng mà chúng tạo ra đối với Đông Nam Á. Sau khoảng năm 1435, triều đình dần dần mất đi mối quan tâm đối với phía nam. Khi kinh đô được chuyển tới Bắc Kinh vào đầu thế kỉ 15, những mối liên hệ với các quốc gia ở Đông Nam Á và xa hơn đã trở nên hiếm hoi. Ngoại trừ một vài thập kỉ trong thế kỉ 16 khi người Nhật, với sự giúp sức của hải tặc Trung Quốc, cướp bóc dọc vùng duyên hải phía nam Trung Quốc, sự tập trung của chính sách đối ngoại hoàn toàn dành cho việc phòng thủ phía bắc. Sự xuất hiện của người châu Âu đã thêm vào một khía cạnh mới đối với thương mại biển nhưng nó ít tạo ra sự thay đổi thái độ đối với mối quan hệ đối ngoại dành cho các quốc gia ở phía  nam.

Các tư liệu nhà Minh phản ánh rất rõ sự tập trung của triều đình vào những mối quan hệ với Đông Nam Á cho tới giữa thế kỉ 15. Triều vua đầu tiên đã nhìn thấy sự  khích lệ của mối quan hệ triều cống chính thức nhưng cũng cố gắng giới hạn sự mở rộng liên lạc với nước ngoài. Tuy nhiên, dưới triều vua Vĩnh Lạc, một loạt các hoạt động mới đã được ghi lại. Văn học phái sinh cũng củng cố bức tranh này.

Học thuật hiện đại vào 60 năm đầu của vương triều đã được làm phong phú bởi mối quan tâm gần như là phổ biến đối với các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa xuyên qua Đông Nam Á tới duyên hải Ấn Độ Dương. Thêm nữa sự xâm lược và kiểm soát của nhà Minh ở Việt Nam trong 20 năm đã tạo ra thêm nhiều tư liệu gốc và văn học phái sinh. Tuy nhiên,  sau những năm 1430, nguồn tư liệu gốc hầu như là không viết gì về mối quan hệ với các vương quốc phương nam. Các nhà buôn và thương nhân ở bờ biển Trung Quốc đã tìm kiếm đối tác ở Quảng Đông và Phúc Kiến nhưng những liên lạc này chỉ thi thoảng được ghi lại khi họ đưa ra yêu sách lợi ích bất công bằng hay xâm phạm chính sách đã được đặt ra.

Các chính sách đầu triều Minh.

Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đặc biệt quan tâm tới những bài học học được từ chính sách của nhà Nguyên. Người Mông Cổ đã tấn công  vương quốc ở tây nam Đại Lí từ đông Tây Tạng và đã đe dọa Việt Nam như là một phần của công cuộc chuẩn bị xâm lược Nam Tống. Sau khi xâm chiếm Nam Tống, họ yêu cầu sự thần phục từ các vua của Việt Nam, Burma, Shan-Lao-Tai[2], Champa và thậm chí cả Java. Khi những ông vua này không đáp lời bằng  sự kính trọng, người Mông Cổ xâm lược quốc gia của họ. Mặc dù các chính sách hiếu chiến này bị từ bỏ sau cái chết của hoàng đế Khubilai (1260-94), chính sách khuyến khích thương mại biển của nhà Nguyên đã không hấp dẫn người sáng lập triều Minh. Thương mại tư nhân không bị kiểm soát và hòa trộn với thương mại triều cống của triều đình. Điều này, theo quan điểm của ông ta đã tạo ra sự hỗn loạn và không ổn định dọc theo biên giới duyên hải nơi ông thừa kế cùng vương miện.

Chính sách của nhà Nguyên đối với các vương quốc phía nam là dựa vào giả định rằng vương triều không phải đối mặt với mối đe dọa nào từ biên giới phía bắc. Các vua Nguyên không thể tiến hành đe dọa các ông vua ở phía nam và mở rộng quyền lực của mình chừng nào điều đó là khả thi. Ông vua sáng lập nhà Minh đã nhận ra bản thân ông đang ở vào vị trí ngược lại: ông phải đối mặt với mối nguy hiểm từ phía bắc. Ông ta cần phải đảm bảo an ninh phía nam và biên giới duyên hải để có thể tập trung vào việc bình định liên minh lớn Mông Cổ-Thổ Nhĩ Kì ở phía bắc và phòng thủ đường biên giới dài phía bắc giữa tây Mãn Châu và đông Tây Tạng. Ông ta không thể đồng thời tiến hành chiến tranh với các nước lân cận phía nam.

Từ quan điểm này, vị trí chiến lược của triều Minh có thể sánh được với triều Hán, Đường và Tống. Các cố vấn của hoàng đế đầu tiên nhà Minh khuyên ông xem xét các tư liệu lịch sử của các triều đại trước để tìm ra giải pháp. Ông đã bị thuyết phục để tìm kiếm quá khứ phục vụ cho hiện tại trong phần lớn các khía cạnh xây dựng đế chế của mình và chính sách của ông đối với phương nam cũng không phải là ngoại lệ. Ông đã làm sống lại thuật hùng biện coi Trung Quốc là trung tâm trước đó trong quan hệ đối ngoại và rất nhiều các nghi thức cổ mà  các vua Hán, Đường, Tống  trước kia đã dùng để tiếp đãi các sứ đoàn triều cống đến từ các nước chư hầu. Chính sách của ông rất khác so với chính sách của nhà Nguyên khi ông tránh phô bày vũ lực, yêu cầu thần phục và cố gắng khẳng định sự kiểm soát gián tiếp đối với các nước chư hầu. Sự nhấn mạnh của ông ta,  sự thừa nhận mang tính biểu tượng đối với vị trí trung tâm vũ trụ của Trung Quốc và sự kế vị phù hợp của ông ta đối với quyền lực.

Tuy nhiên, có một nhận thức rõ ràng rằng tình hình dưới triều Minh đã khác với tình hình ở các triều đại trước đó. Không giống như hoàng đế Cao Tổ (206-195 TCN) và Vũ Đế (140-87 TCN), hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã thừa kế nam Trung Quốc  nơi đã  trở nên đông dân và đang gặp phải những rắc rối trong phòng thủ bờ biển. Không giống như hoàng đế đầu tiên của triều Đường và con ông ta là Thái Tông (626-649), hoàng đế đầu tiên của triều Minh không phải là một võ sĩ chuyên nghiệp có dòng dõi quý tộc từ  vùng tây bắc, người di chuyển dễ dàng và đầy tự tin giữa những người đàn ông du mục từ đồng cỏ này tới đồng cỏ khác. Đối với ông ta đồng cỏ duy trì  sự xa lạ và thù địch. Và không giống như người thành lập vương triều Tống, ông ta đã kiểm soát được toàn bộ Vạn Lý Trường Thành. Triều Minh chưa bao giờ bị bất lợi như triều Tống đã từng nhờ vào việc kẻ địch đã bị ngăn lại trước lãnh thổ Trung Quốc. Do đó hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã không phụ thuộc hoàn toàn vào các mô hình cũ và đã phải đổi mới trong kế hoạch phòng thủ và chính sách đối ngoại thậm chí đối với cả vùng phía nam thanh bình của ông ta. Ông ta đã phải đánh giá phần lớn từ các nguyên tắc đầu tiên  làm thế nào để đối phó với các nước láng giềng trên bộ ở phía nam dưới Quảng Tây, Vân Nam và các quốc gia trên biển vốn có thuyền vào các cảng Quảng Đông và Phúc Kiến.

Sự liên lạc đầu tiên của ông ta với các vương quốc phương nam được tiến hành vào đầu năm 1369 và về cơ bản là các bản thông cáo về chiến thắng của ông ta đối với người Mông Cổ và về sự thành lập hợp pháp của vương triều4.  Điều đáng chú ý là tuyên bố này được gửi tới Triều Tiên và Việt Nam vào cùng một ngày và sau đó được gửi tới Champa, Java, Nam Ấn Độ và Nhật Bản một tháng sau đó. Vào thời gian đó, Champa đã phái sứ đoàn đầu tiên tới Trung Quốc và trở thành nhà nước đầu tiên ở Đông Nam Á làm như thế. Và nữa người ta cũng khám phá ra rằng sứ giả Nhật Bản cuối cùng  tới triều đình nhà Nguyên vẫn còn đang  ở Phúc Kiến khi nhà Nguyên sụp đổ và sứ giả nhà Minh tới Java đã hộ tống ông ta trở lại nhà. Việt Nam trả lời nhanh chóng nhưng vua của Việt Nam chết chẳng bao lâu sau khi cử sứ đoàn tới triều Minh. Hoàng đế rất quan tâm và sau khi quan sát lễ tang đã xác nhận cháu của ông vua qua đời làm người kế nhiệm.

Trong tất cả các trường hợp, sự căng thẳng là truyền thống và mối quan hệ bình thường được tái lập  sau một thế kỉ lầm lạc dưới sự cai trị của triều Mông-Nguyên. Đặc điểm quan trọng của chính sách đối ngoại của nhà Minh trong thời kì này là việc sử dụng sự tu từ mang tính quy ước và sự phục hồi các nghi thức thích hợp: những điều này bao gồm cả việc tặng quà triều cống và trao quà của hoàng đế đáp lại, sắc phong cho các ông vua nước ngoài và thậm chí là tặng cho họ các cuốn lịch của nhà Minh. Các nghi thức rất phức tạp nhưng không đòi hỏi sự thần phục thực sự đối với sự kiểm soát của triều đình. Mức độ của sự thần phục mang tính biểu tượng sau đó sẽ được miêu tả chi tiết nhưng các văn bản này chủ yếu cũng chỉ tập trung vào các quy định tiếp nhận và phái đi các đoàn sứ thần. Nhưng ít nhất cũng có một đặc điểm mới đi xa hơn phong tục của Đường, Tống ở Đông Nam Á. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã đưa phong tục đăng kí các con sông, ngọn núi của Việt Nam và Champa (cùng với sông núi ở Triều Tiên) và thờ cúng thần linh của chúng cùng với thần linh của những con sông, ngọn núi ở Trung Quốc và phong tục này sau đó đã được mở rộng xa hơn tới vùng phía nam của Đông Nam Á và sau đó tới phía tây tận Srilanka. Mặc dù  nó mang tính biểu tượng và được dùng để thể hiện sự nhân từ trong việc cầu chúc cho sự trường thọ và an toàn của các vị vua,  sự thịnh vượng của vùng đất của họ, sự đăng kí và cầu cúng này có ngụ ý như một phương tiện diễn đạt sự tuyên bố trách nhiệm của triều đình đối với toàn bộ đất đai trong thiên hạ, thứ chưa bao giờ được tuyên bố rõ ràng trước đó5.

Tuy nhiên đằng sau các nghi thức là sự thực khác biệt với thuật tu từ hùng biện về sư hòa thuận và thịnh vượng.  Vẫn tiếp tục có cuộc chiến giữa Việt Nam và Champa, vẫn có sự cai trị của hoàng tử Mông cổ đối với Vân Nam và sự căng thẳng đáng kể giữa  các công quốc bộ lạc dọc theo biên giới của nó và vẫn có  các cuộc chính biến giữa các quốc gia trong vùng biển Java và eo biển Malacca. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh nhanh chóng khám phá ra rằng ông ta đã trở nên có can dự vào cuộc chiến thứ nhất và thứ hai trong số các cuộc chiến này đế chế của ông cuối cùng đã bị phân chia bởi cuộc chiến thứ ba.

Quả thật, trong phần còn lại của thời nhà Minh, khu vực hiện nay được gọi là Đông Nam Á đã đặt ra ít nhất bốn vấn đề khác nhau đối với triều Minh, mỗi vấn đề trong số đó đã xác định các khía cạnh nhất định của mối quan hệ giữa triều đình với các nước ở phương nam. Chúng có thể được tóm tắt ở dưới đây.

Trước hết, mối quan hệ giữa Việt Nam và Champa, thứ kết thúc bằng việc Việt Nam xâm chiếm Champa, đã phát triển thành mối quan hệ thù địch với Cam-pu-chia và sau đó là sự kình định với Thái Lan. Mặc dù các cuộc tranh chấp diễn ra rất xa khỏi biên giới Việt Nam-Trung Quốc nhưng nó đã có ảnh hưởng tới chính sách của triều Minh đối với nước ngoài.

Thứ hai, có các vấn đề đặc biệt trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Những vấn đề này có liên quan đến vấn đề thứ nhất nhưng phần lớn là liên quan đến biên giới giữa hai quốc gia cũng như chính sách của Việt Nam đối với các lãnh thổ bộ tộc ở phía tây Việt Nam và phía nam của nhà Minh. Thất bại trong việc hấp thụ Việt Nam vào đế chế là sự kiện ấn tượng nhất trong lịch sử Đông Nam Á lục địa.

Thứ ba, các hoạt động trên biển của đế chế Minh, cả quân sự và thương mại có liên quan đến các nhà nước duyên hải ở biển Nam Trung Hoa từ Luzon tới Thái Lan và các cảng Champa, nhưng chúng cũng có  liên quan tới các quốc gia xa hơn eo biển Malacca và trong một thời gian ngắn trong thế kỉ 15, nó đã đem các nhà nước có đường biên giới với Ấn Độ Dương  và xa hơn tới Ả Rập và Đông Phi vào mối liên lạc gần gũi. Sự kết nối này cũng mang các thương nhân Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư tới Trung Quốc như là một phần của các sứ đoàn chính thức và sau đó đã mở ra con đường cho các hoạt động thương mại và chính trị mới của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan dọc theo bờ biển phía nam.

Thứ tư, triều đình nhà Minh tuyên bố cai trị các nhà nước phía tây nam mà ngày nay là Miến Điện và Lào khi họ cai quản tỉnh Vân Nam thông qua các cơ quan bản xứ (Tu-ssu). Hệ thống cai trị này là một di sản của triều Nguyên, thứ được thành lập khi người Mông Cổ sáp nhập vương quốc Nam Chiếu ( Nanchao) của Đại Lí vào đế chế của họ như là một tỉnh của đế chế. Một sự phát triển đã xảy ra ngay trước khi triều Minh được thành lập rất ấn tượng. Cùng với Việt Nam và Burma, tổ tiên của người Thái hiện đại đã mở rộng xuống phía nam. Vương quốc Ayuthia được thành lập năm 1350. Nó mở rộng xuống thung lũng Menam và kết hợp nhà nước Hsien (Syam hay Sukhbothai) ở phía bắc với nhà nước Lo-ho (Lopburi) ở phía nam để lập ra vương quốc được biết đến dưới cái tên Hsien-lo trong các tư liệu của Trung Quốc.

Khu vực Đông Nam Á chỉ trở thành đối tượng của chính sách đế quốc ở Trung Quốc theo sau các cuộc viễn chinh của hoàng đế Mông Cổ Khubilai đánh Đại Lí, Burma, Việt Nam, Champa và Java. Một loạt các sự kiện kịch tính này đã để lại cho vùng những trải nghiệm sắc nhọn với người hàng xóm Trung Quốc đầy sức mạnh và hiếu chiến. Do đó một hoàng đế mới của Trung Quốc như người sáng lập triều Minh, người có thể đánh bại người Mông Cổ, trở thành người được đối xử với sự kính trọng. Trong bối cảnh đó thì điều này là việc các lá thư của hoàng đế đầu tiên của nhà Minh gửi tới các vua Đông Nam Á đã được đọc.

Những sáng kiến của hoàng đế đầu tiên nhà Minh nhằm tìm kiếm sự thừa nhận của các nước láng giềng về sự hợp pháp của mình có thể  là sự đối lập với tham vọng của ông ta trong việc giới hạn nghiêm ngặt các mối liên lạc với nước ngoài.

Những giới hạn đặt ra được bào chữa bằng các khái niệm Nho giáo nhưng lý do thực tế thì quan trọng hơn. Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh tin vào   sự kiểm soát từ trung ương đối với tất cả các vấn đề đi liền với các mối quan hệ phía biên giới đế chế. Trong khi mối quan tâm chủ yếu của ông ta là đảm bảo vương triều và đế chế của mình, ông ta  cũng quan tâm tới kiểm soát tất cả ngoại thương nhằm đảm bảo rằng thương mại dọc theo các đường biên giới nhạy cảm sẽ không kinh động luật lệ và trật tự vương quốc của ông ta. Mặt khác  ông nhấn mạnh  tính ưu việt của  mối quan hệ chính thức với các ông vua nước ngoài và cấm đoán thương mại tư nhân. Chính sách này không có nghĩa rằng buôn bán ở nước ngoài là không thể, nó đơn giản biến các hoạt động đó thành bất hợp pháp, bí mật và phần lớn không được ghi lại. Các khía cạnh thương mại  của các mối quan hệ đối ngoại không cần phải đề cập ở đây. Chương này sẽ tập trung vào  sự hoạt động của hệ thống triều đình nhà Minh khi nó được áp ụng vào các quốc gia láng giềng Đông Nam Á.

Mục đích trực tiếp đằng sau việc gửi  sứ giả triều đính tới Đông Nam Á với tin tức về sự lên ngôi  hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã lọc ra một cách nhanh chóng những nước nào muốn có mối quan hệ gần gũi với nhà Minh và nước nào không, nước nào là phụ thuộc và thân thiện và nước nào là kẻ địch tiềm ẩn. Nó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng không giống như các ông vua Mông Cổ ban đầu của triều Nguyên, hoàng đế đầu tiên của nhà Minh ít quan tâm tới sự thần phục nghi thức đối với Thiên tử hơn là đối với sự thừa nhận chính thức đối với vương triều mới của  ông ta. Ông ta tập trung cố gắng vào phạm vi tương đối nhỏ liên quan tới ảnh hưởng và duy trì giới hạn số lượng các sứ đoàn triều cống bằng cách trung thành với ý tưởng cổ điển rằng cứ ba năm sứ đoàn đến một lần đối với các quốc gia láng giềng và mỗi thế hệ một lần đối với các nước còn lại. Ông ta khuyến khích sự chú ý đối với ba khía cạnh của những mối quan hệ như thế: sự nhạy cảm đối với nhu cầu thể hiện sự tôn trọng thích hợp đối với Thiên tử, sự nhanh chóng trong việc ứng phó với các vấn đề biên giới,  và nhận thức về bất cứ mối liên hệ nào giữa các quyền lực nước ngoài và chính trị trong nước. Ở hai khía cạnh khác của mối quan hệ đối ngoại, ông đã đặt ra những chính sách dứt khoát: Không tấn công các quốc gia trên biển và mối quan hệ triều cống không được tiến hành vì lợi nhuận và không được nhập làm một với thương mại tư nhân.

Trong tất cả các chính sách này, hoàng đế đã đổi mới và quả thật đã đặt nền móng cho mối quan hệ Trung Quốc-Đông Nam Á trong 5 thế kỉ tiếp theo. Khía cạnh đổi mới trong chính sách đối ngoại của ông ta cần phải được giải thích.  Sự nhạy cảm của ông về sự tôn kính đối với Thiên tử xuất hiện như quy ước nhưng  những hành động của ông ta không phải là tục lệ hay là các nghi thức. Cảm giác về đạo đức và mục đích chính trị  đã được đặt đằng sau các sứ đoàn tới Trung Quốc và từ Trung Quốc gửi đi.  Cảm thức mục đích đạo đức này được chứng minh rõ ràng nhất trong rất nhiều các sứ đoàn được phái tới Việt Nam, một quốc gia mà bản thân nó rất nhạy cảm đối với câu hỏi về nền độc lập và sự tự tôn sau một thế kỉ có mối quan hệ tế nhị với các vua Mông Cổ của triều Nguyên. Thời gian cai trị của vị vua đầu tiên của nhà Minh đã trùng khớp với những thập kỉ đầy rắc rối của nhà Trần. Hai sứ đoàn đầu tiên ông ta phái tới Việt Nam năm 1369 đã đến nơi khi bạo lực xảy ra liên tiếp. Hoàng đế nhà Trần là Dụ Tông vừa chết và con của người anh cả đã chết  được chọn là người kế vị ngai vàng. Bằng sự quan tâm lớn và nghi thức phức tạp, triều đình nhà Minh chính thức công nhận người kế vị này. Chưa đầy một năm sau, vị vua mới được sắp đặt này bị phế truất và xử tử. Triều đình nhà Minh không được thông báo về việc đó. Thay vào đó, vua mới là Nghệ Tông đã cố gắng đánh lừa vị vua đầu tiên của nhà Minh, người đã nổi điên khi sự thật cuối cùng được tiết lộ.


[1] Để biết sự xâm chiếm của nhà Minh đối với Vân Nam, xem Langlois “The Hung-wu reign”, The Cambridge History of China, vol 7, trang 143-146.

[2] Tôi đã sử dụng các nhà nước Shan-Lao-Tai để miêu tả các vương quốc hoặc lãnh thổ bộ lạc ở Burma, Lào, bắc Thái Lan và Vân Nam những nơi không nằm dưới sự kiểm soát của Ayuthia (đó là Hsien-lo hoặc Xiêm). Đối với các ông vua Ayuthia, tôi đã dùng Tai hoặc Siamese. Nói một cách chặt chẽ thì Tai được dùng đối với những người  nói ngôn ngữ Thái ở Vân Nam nhưng dưới thời nhà Minh ranh giới giữa Shan, Lao, Tai là không rõ lắm. Tuy nhiên nó sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu tôi chỉ dùng Thai cho những người cai trị Ayuthia hoặc bị cai trị bởi Ayuthia.

4 MSL, T’ai-tsu shi-lu, trang 36-47.

5 MSL, T’ai-tsu shih-lu, trang 47,48.

Trung Quốc và Đông Nam Á 1402-1424

August 30, 2013 Leave a comment

 

Tác giả: Wang Gungwu.

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

 

 

 

Trong một vài thập kỉ trước, một sự chú mục lớn đã được đặt vào mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Châu Á khác và có lẽ  vấn đề thuộc các mối quan hệ truyền thống của Trung Quốc thường được thảo luận nhất là  các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương trong giai đoạn 1405-33. Bởi sự nổi trội của các cuộc viễn chinh này, chúng thường được nhìn nhận như là đặc trưng nổi bật duy nhất của mối quan hệ giữa Trung Quốc với Đông Nam Á trong thời kì này. Bài báo này sẽ cố gắng chứng minh rằng có những câu hỏi khác quan trọng hơn về mối quan hệ Trung Quốc-Đông Nam Á vốn bị bỏ qua trong quá khứ. Bài báo cũng cố gắng so sánh chính sách của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á với những hoạt động của nó ở nơi khác và đi tới một vài đánh giá về tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc. Để đạt mục đích này tôi đã chọn triều vua Vĩnh Lạc (1402-24),vị hoàng đế đã phái Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương 6 lần và cũng là người tiếp nhận sứ đoàn từ rất nhiều các dân tộc, quốc gia bên ngoài hơn bất cứ một hoàng đế nào trong lịch sử Trung Quốc. Bằng khái niệm “Đông Nam Á” tôi muốn nói tới vùng ngày nay được gọi bằng cái tên như vậy bao gồm cả các quốc gia lục địa và các quốc gia trên biển.

Tuy nhiên, cũng cần phải ghi nhớ rằng có nhiều mức độ về mối quan hệ giữa người Trung Quốc và vô số nhóm người ở Đông Nam Á đã được phát triển trong nhiều thế kỉ trước triều Minh (1368-1644). Vào khoảng thời Đường (618-906), người Trung Quốc đã nhận ra các trung tâm thương mại to lớn ở bờ biển vịnh Thái Lan và biển Java. Các sứ đoàn từ những vùng này tới Trung Quốc trong suốt thế kỉ 7 và 8 và có nhiều hơn trong thời Nam Tống (960-1126), đặc biệt trong nửa sau của thế kỉ thứ 10 và nửa đầu của thế kỉ 11. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của triều Nam Tống, có rất ít các đoàn sứ thần được tiếp nhận cho tới sau khi người Mông Cổ chiếm đóng phái nam Trung Quốc năm 1276. Những người kế nhiệm ngôi vua Mông Cổ, những ông vua Trung Quốc của triều Minh sau đó đã thừa hưởng truyền thống quan hệ ngày càng gần gũi với Đông Nam Á. Nhưng vào trước triều Minh, những mối quan hệ như vậy phần lớn là không chính thức hoặc bán chính thức và chỉ giới hạn ở các trung tâm kinh tế ở phía nam Trung Quốc. Sự tham gia của triều đình vào thương mại hay thậm chí là triều cống là không đều và tùy thời. Hiếm khi sự chủ động bắt nguồn từ các ông vua Trung Quốc. Các hoàng đế tiếp nhận các đoàn sứ thần của nước ngoài và sau đó đáp lễ nhiều hay ít phụ thuộc vào lời khuyên của các đại thần.

Do đó trong nhiều thế kỉ từ đầu triều Đường sẽ không có mấy ý nghĩa khi bàn thảo về mối quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á dưới một triều vua riêng. Chỉ có cuộc xâm lược lớn nhằm vào Java dưới triều Kubilai Khan năm 1292 và các sứ đoàn được phái tới khu vực này bởi Hồng Vũ (1368-98), hoàng đế đầu tiên của nhà Minh là có thể được xác định có sự tham gia đặc biệt của hoàng đế và không có cái nào trong số đó có thể thể so sánh với những cố gắng của hoàng đế Vĩnh Lạc nhằm duy trì mối quan hệ với Châu Á rộng mở và có ý nghĩa. Trên thực tế, Vĩnh Lạc là hoàng đế Trung Quốc đầu tiên cho phép chú mục nhiều như vậy tới Đông Nam Á và chủ động trong việc xác định mô hình và bản chất của mối quan hệ của Trung Quốc với các nước trong vùng. Điều này rất ấn tượng bởi vì sự chủ động của triều đình đã từng là  quyết định trong mối hệ với nước ngoài trong một thời gian dài, do đó sự vắng mặt của các bước tích cực nhằm khuyến khích mối quan hệ chính thức với Đông Nam Á trước khi hoàng đế Vĩnh Lạc vạch ra sự quan trọng của bản thân ông ta như là một nhân vân trung tâm trong sự phát triển phi thường của thế kỉ 15. Do lý do này, có một sự biện hộ đặc biệt dành cho nghiên cứu về một triều vua trong tiểu luận này. Như tôi sẽ chỉ ra dưới đây, Sự can dự của Trung Quốc vào lịch sử Đông Nam Á trong suốt thời kì 1402-24 phần lớn là sản phẩm của mối quan tâm của cá nhân nhà vua.

Các sử gia Nho giáo luôn luôn nhân mạnh vai trò và nguyên mẫu của hoàng đế  và tránh những điều gây tổn hại cho hoàng đế hay không chính thống. Bức tranh rõ ràng về từng hoàng đế như một con người, một kẻ chuyên quyền, một bạo chúa, hoặc thậm chí như một người yếu ớt hay một tay chơi bời là rất hiếm. Điều này đặc biệt đúng khi hoàng đế là người sáng lập vương triều và sử gia phải viết dưới thời cai trị của con, cháu ông ta. Mặc dù hoàng đế Vĩnh Lạc không phải là người sáng lập nhà Minh, sự đoạt ngôi của ông ta vào năm 1402 từ tay người cháu (con trai của anh trai ông ta) đã dẫn tới sự thành lập nhánh các hoàng đế thuộc dòng của ông ta. Miếu hiệu thành tổ của ông ta đã nhấn mạnh mức độ ngang bằng với bố ông ta như là người sáng lập ra vương triều. Do đó lịch sử chính thức về Vĩnh Lạc  phần lớn là một hoàng đế có tính cách dũng cảm, một chiến binh lão luyện và mưu lược, nghiêm khắc và lạnh lùng và yêu thương dân chúng. Có những ví dụ về lòng nhân từ của ông ta về trí tuệ của ông và sự thành công của ông ta trong việc cất nhắc các đại thần hay tướng lĩnh. Nhưng chỉ có giữa những dòng khô khan và thận trọng đó  chúng ta  mới có thể có thể nhìn thấy sự chuyên quyền của ông ta, sự bồn chồn và sự ngông cuồng, bản chất đáng ngờ của ông ta và những mánh khóe chính trị của ông ta .

Triều đại của ông ta là triều đại biến động nhất nhưng các tư liệu đã thành công trong việc làm cho nó kém ấn tượng đi hơn bản thân nó thế. Triều đại ông ta là sự cai trị mạnh mẽ và trực tiếp của cá nhân nhưng sẽ rất khó để chỉ ra những sự kiện ở đó chúng ta biết được đầy đủ cảm xúc và sự tính toán của ông ta. Chúng ta được giới thiệu với một chuỗi các ghi chép dài nhưng nó không chỉ ra cho ta biết được ccs quyết định đã được tạo ra như thế nào. Chúng ta biết rằng thứ bậc cao của giới quan liêu đã trở nên yếu đi sau những vụ hành hình, trừng phạt và từ nhiệm quy mô lớn theo sau sự tiếm ngôi của Vĩnh Lạc, nhưng chúng ta không được nói cho biết ông ta đã sử dụng lực lượng trí thức và hoạn quan những người do chính ông ta lựa chọn như thế nào để giúp ông ta cai trị đế chế. Cáu tiết hơn hết là chúng ta có danh sách của vô số các đoàn sứ thần tới triều đình của ông ta và các ghi chép về nhiều quyết định về việc làm gì với họ, nhưng chúng ta không bao giờ được nhận các chi tiết về ấn tượng của họ với Trung Quốc, đối với vương triều hoặc đối với bản thân Vĩnh Lạc.

Với nền tảng này trong đầu chúng ta có thể hiểu được tại sao các sự kiện của vương triều ông ta , đặc biệt là các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa đã làm khó các sử gia. Tất cả những sự suy đoán về những gì họ (chúng) muốn nói đã bị gây cản trở bởi  sự thiếu vắng của các phát biểu rõ ràng về mục đích của chúng. Tuy nhiên, rất nhiều cố gắng giải thích chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á và ác quốc gia ở Ấn Độ Dương giới hạn trong tư tưởng của Vĩnh Lạc về chủ nghĩa bành trướng và đế quốc Trung Hoa, và về sự mở rộng tự nhiên của trật tự thế giới Trung Hoa. Không một sự giải thích nào trong số đó là thỏa đáng trong bối cảnh thời đại của những chính sách hướng ra bên ngoài và sự rút lui vào chủ nghĩa biệt lập sau năm 1435. Thật ấn tượng rằng các chính sách của hoàng đế Vĩnh Lạc đối với các liên minh của người Mông Cổ, với Tây Tạng, với các bộ tộc Nữ Chân (Jurchen), với Triều Tiên và Nhật Bản, với các tộc người khác nhau ở vùng phía tây nam Trung Quốc, Miến Điện và Lào cùng các quốc gia Đông Nam Á đã không được các sử gia hiện đại, những người đã viết về các chuyến đi vĩ đại của hạm đội Trịnh Hòa tới bờ biển Đông Phi nghiên cứu nghiêm túc. Thay vào đó, các học giả-những người đã cường điệu các cuộc viễn chinh thường liên hệ chúng với chủ nghĩa đế quốc của phương tây trên biển ở các thế kỉ tiếp theo. Tuy nhiên có xu hướng diễn giải các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa như là điềm báo trước những gì người Trung Hoa sẽ làm ở Đông Nam Á.

Nhưng các sự thực đã không ủng hộ sự diễn giải như thế và chúng ta cần phải nhớ rằng một bức tranh chân thực hơn về mối quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á trong thế kỉ 15 là điều có thể. Điều này có thể đạt được bằng việc thẩm tra vương triều Vĩnh Lạc kĩ càng hơn. Bằng cách này, chúng ta có thể  biết được những gì Vĩnh Lạc thực sự muốn làm hiểu được bối cảnh ông ta phái Trịnh Hòa và các đoàn sứ thần khác tới Đông Nam Á, những gì đã khiến ông ta phải lo lắng, nhưng gì ông ta đã thực sự ra lệnh tiến hành đối với các nước Đông Nam Á và ít nhất chúng ta cũng biết được các quyết định của Vĩnh Lạc tiêu biểu như thế nào trong bối cảnh  lịch sử Trung Quốc.

Xin được bắt đầu bằng những điểm nhấn của vương triều Vĩnh Lạc1. Ông ta đã bắt đầu một cách không may mắn. Khi bị cha làm ngơ vào năm 1398 ông ta đã từ chối chấp nhận ngôi vua của người cháu. Trong những tháng người cháu lên ngôi, ông ta đã chống lại thẩm quyền của tân hoàng đế và bắt đầu một cuộc nội chiến. Trong 3 năm từ giữa năm 1399 tới giữa năm 1402, cuộc nội chiến đã chiếm vị trí nổi bật hơn tất cả các sự kiện khác. Sau đó vào ngày 17 tháng 7 năm 1402, sau khi đánh bại quân đội của người cháu và chiếm được kinh đô Nam Kinh, ông ta đã lên ngôi vua. Cho dù điều này không mấy may mắn vì thi thể của người cháu không được tìm thấy và có quá nhiều lời đồn đoán khắp đế chế rằng cháu ông ta, vị hoàng đế hợp pháp, đã trốn thoát và đang lẩn trốn. Hậu quả của việc tiếm ngôi của ông ta là rất lớn. Triều đình mất đi một vài viên quan đại thần và không ai được ông ta thực sự tin tưởng ngoại trừ các tướng lĩnh quân đội trung thành và những viên hoạn quan của ông ta. Chính quyền đã lại được tái lập.

Hành động đầu tiên của ông ta là tái xác nhận chính sách của cha ông và biện luận rằng các quân sư của cháu ông ta đã xuyên tạc các chính sách này. Ông thăng thưởng cho các viên quan còn lại và chỉ định nững người mới để giám sát họ cũng như là các tỉnh và cac khu vực quân sự ở biên giới. Ông tự tay chọn lấy 7 học giả trẻ làm thư kí riêng của mình và với sự giúp đỡ của họ ông đã có khả năng cai trị trực tiếp. Sau đó ông đã ban thưởng cho tất cả những người đã ủng hộ ông  bằng tước vị quý tộc, thăng chức, phần thưởng và tiền mặt.2

Vào ngày 22 tháng 8, 5 tuần sau khi ông ta lên ngôi, ông ta đã đón nhận đoàn sứ thần đầu tiên từ một tù trưởng thiểu số ở Vân Nam phía nam Trung Quốc. Một tuần sau, khi sự kháng cự cuối cùng chống lại ông ta bị đập tan tại tỉnh Sơn Đông, ông ta đã phái đoàn sứ thần đầu tiên ra nước ngoài. Đoàn sứ thần này được phái sang Triều Tiên để thông báo về sự lên ngôi của ông ta. Sáu ngày sau vào ngày 4 tháng 9, ông ta đã phái một nhà sư với chỉ dụ lên ngôi của ông ta với Tây Tạng cùng rất nhiều quà tặng. Khoảng 3 tuần sau, ông ta đã gửi một đoàn sứ thần tới các thủ lĩnh người Mông Cổ3. Sau đó vào ngày 3 tháng 10, ông ta đã lệnh cho các sứ giả đi tới các quốc gia sau:

 

An Nam

Hsien-lo (Siam)

Chao-wa (Java)

Jih-pen (Japan)

His-yang (Nam Ấn)

Liu-ch’iu (Ryukyu)

Su-men-ta-la (Samudra)

Chan-ch’eng (Champa)

 

Đặc biệt, ông ta dành sự hướng dẫn chính sách cho bộ Lễ đối với các quốc gia nước ngoài này như sau:

 

Dưới triều vua Thái Tổ, khi nhiều nước bên ngoài phái sứ giả đến họ đã được đối xử bằng sự thành thật. Những ai đến với các hàng hóa bản xứ dành để buôn bán cũng được phép làm vậy; và những ai làm ngơ rồi vi phạm luật lệ đều được rộng lượng tha thứ- tất cả điều này nhằm chăm sóc những người đến từ xa. Giờ đây khi tứ hải giai huynh đệ chính là thời điểm để chứng tỏ không có sự chia cắt bên ngoài (shih wu-wai). Hãy cho phép những đoàn sứ giả chân thành đến triều cống tự do. Các ngươi nên giải thích điều này với họ để họ biết mong muốn của ta4.

 

Ngày tiếp theo, Vĩnh Lạc đã cơ hội lần nữa để đưa ra chính sách về nước ngoài. Đây là việc có liên quan đến sự trở về của các sứ giả Trung Quốc trở về từ các hòn đảo ở “Đông Nam”, có lẽ đã được phái đi dưới triều đại cháu ông ta, những người báo cáo rằng những nhà thám hiểm người Trung Quốc đang cộng tác với những người bản xứ ở đó để hoạt động cướp biển. Vĩnh Lạc ngay lập tức ra lệnh cho một sứ đoàn tới đó lần nước mang theo chỉ dụ sau:

 

Yêu điều thiện ghét điều ác là bản tính chung của con người. Làm điều xấu do bị người khác ép buộc không có nghĩa bản chất của người đó xấu. Trong quá khứ các ngươi đã chạy trốn bởi các ngươi lo sợ bị trừng phạt hoặc do nghèo đói mà phải sống với những người nước ngoài và cùng họ tham gia cướp bóc để đảm bảo cuộc sống. Lực lượng phòng thủ bờ biển đã không chỉ vô dụng và không có lòng cảm thông mà còn đối xử với các ngươi rất lỗ mãng. Mặc dù có thể các ngươi thấy ân hận (về những gì các ngươi đã làm) nhưng các người không thể bày tỏ điều đó. Ta rất quan tâm tới điều đó.

Ta đặc phái vài người mang theo chỉ dụ của ta tới thông báo cho các ngươi biết điều đó. Những người nước ngoài đó nên trở về vùng đất tôn kính của họ, nhưng ai mong muốn đi tới triều đình sẽ được đối xử hào phóng và gửi trả lại nhà. Những người Trung Quốc đã trốn chạy và lẩn trốn ở những vùng đất của nước ngoài tất cả sẽ được tha thứ cho tất cả những điều sai trái trong quá khứ và cho phép họ trở lại nghê cũ và trở thành những người trung thành lần nữa. Nếu như họ vẫn ngoan cố và từ chối thay đổi do họ dựa vào khoảng cách xa xôi, sau đó ta sẽ lệnh cho quân đội tới để xử trí họ. Lúc đó thì đã quá muộn để hối hận.5

Sau đó, Vĩnh Lạc đã gửi các sứ giả tới Urianghai ở Tây Mãn Châu, và các bộ tộc Mông Cổ khác mời gọi buôn bán và tới tận một nhà nước Hồi giáo xa xôi ở Samarkand. Vào đầu năm 1403, có các sứ đoàn nữa đã được phái tới Triều Tiên và Xiêm cũng như Tây Tạng và vào ngày 4 tháng 3, sứ đoàn quan trọng đầu tiên để mở ra mối quan hệ “ngoại giao” với liên minh Mông Cổ quyền lực nhất dưới thời Khan Tarta vĩ đại. 6

Như vậy chỉ trong 6 tháng lên ngôi Vĩnh Lạc đã phái đi liên tiếp các đoàn sứ thần tới tất cả các quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với đế chế của ông ta. Nhưng có một sự khác biệt quan trọng giữa những sứ đoàn ông ta gửi tới các quốc gia trên đất liền và các sứ đoàn  phái tới các quốc gia trên biển. Lý do đối với các mối quan hệ trên đất liền là rõ ràng và không cần đến sự giải thích. Chỉ có các sứ đoàn gửi đi tới các nước trên biển mới nhận được lời hướng dẫn nhân mạnh giá trị của mối quan hệ thương mại thân thiện và cũng có đề cập đến yêu cầu về việc ngăn chặn người Trung Quốc tham gia vào các hoạt động cướp biển. không có gì là ngạc nhiên rằng trong suốt một vài tháng tiếp theo, một kế hoạch toàn diện vận tải ngũ cốc bằng đường biển tới Bắc Kinh và Mãn Châu được lập ra và ở đó xuất hiện rất nhiều các tài liệu tham khảo về đóng thuyền, về cướp biển giữa cửa Dương Tử và Phúc Kiến, về tình hình của các cảng ở sông Dương Tử, về sự thành lập Cơ quan phụ trách thương mại biển và thậm chí là về một cơn bão ở gần Quảng Châu.7

Tôi đã từng bàn luận ở những nơi khác về các sự kiện dẫn tới các sứ đoàn quan trọng tới Malacca và Ấn Độ Dương vào ngày 25 tháng 8, ngày 1 tháng 10 và ngày 28 tháng 10 năm 1403.8 Rằng họ là sự tiếp theo của của những quyết định cuối năm 1402 và đầu năm 1403 liên quan đến mối quan hệ với nước ngoài và điều đó không có gì phải nghi ngờ. Những gì cần phải được thêm vào ở đây là việc các sự kiện này phải được xem xét trong bối cảnh của một loạt các quyết định về mối quan hệ đối ngoại ở tất cả các phương hướng, cả trên bộ và trên biển. Những vùng hoàng đế Vĩnh Lạc bận tâm là các trung tâm của người Mông Cổ, các vùng biên giới phía tây và tây nam như Tây Tạng, Vân Nam, Burma, Lào và An Nam và toàn bộ bờ biển phái nam và phía đông nơi thương mại và cướp biển trở nên khó phân biệt kể từ cuộc nổi loạn của Fang Kuo-chen năm 1348.

Điều này đã đem chúng ta hiện nay tới một sự phát triển quan trọng nhất thứ liên quan đến Trung quôc với những gì chúng ta goij là Đông Nam Á trong suốt những năm đầu của triều vua Vĩnh Lạc. Tôi ám chỉ ddenses sự xung đột của Trung Quốc trong các sự kiện của An Nam (miền bắc Việt Nam hiện nay). 9Điều này đã bắt đầu bằng việc Vĩnh Lạc phái sứ giả tới An Nam vào ngày 3 tháng 10 năm 1402 và An Nam trả lời bằng đoàn sứ giả ngày 21 tháng 4 năm 1403. Nghi ngờ rằng đã có một cuộc tiếm ngôi xảy ra trong 4 năm trước khi triều Trần chấm dứt, Bộ Lễ đã kêu gọi điều tra và ngày 5 tháng 5 năm 1403 một sứ giả đặc biệt đã được phái tới để báo cáo về người kế vị An Nam.

Một cuộc điều tra như thế đã dựa trên những nền tảng nào đây? Vĩnh Lạc có quyền gì khi đặt ra câu hỏi về lá thư của nhà vua mới của An Nam gửi tới ông ta? Chúng tôi quan sát được rằng vị vua mới đã tự gọi mình là Người cai trị tạm thời (chuan-li kuo-shih) và ghi nhớ rằng ông ta được công nhận với một tước bị được ban (feng-chueh). Có phải điều này có nghĩa rằng bản thân An Nam thành thật coi nó là một nước chư hầu ( hoặc thần phục Trung Quốc) và chấp nhận hoàng đế Vĩnh Lạc có quyền điều tra sự hợp pháp của vị vua mới?

Cuộc điều tra hóa ra mất rất nhiều thời gian ở đó hoàng đế Vĩnh Lạc trước tiên đã công nhận vị vua mới và sau đó rút lại sự công nhận khi một người thừa kế của nhà Trần giải thích rằng có một sự tiếm ngôi đã diễn ra. Ông đã tha thức cho kẻ tiếm quyền và trả lại vương miện cho người thừa kế hợp pháp và khi người thừa kế này bị giết nó đã chuyển thành sự xung đột với An Nam. Trong ba năm từ tháng 4 năm 1403 tới tháng 4 năm 1406, sự thương thuyết tỉ mỉ về sự kế vị đã diễn ra.  Và cuối cùng nó đã đổ vỡ và chuyển thành sự chuẩn bị cho cuộc chiến tranh bắt đầu vào tháng 5. Vào khoảng tháng 11, chiến dịch đầu tiên được tiến hành ở An Nam. 12 tội chính của kẻ tiếm quyền được liệt kê ra như là lý do của chiến dịch. Thật thú vị khi liệt kê chúng ra ở đây”

(1) Đã giết chết vua Trần người được Trung Quốc công nhận hợp pháp.

(2) Đã thảm sát dòng họ nhà Trần

(3) Đã không sử dụng lịch Trung Quốc và sử dụng niên hiệu của chính mình.

(4) Đối xử tệ với dân An Nam (có chi tiết đi kèm)

(5) Đã thay đổi họ của mình từ Lê sang Hồ

(6) Đã đánh lừa hoàng đế Minh về sự tiếm quyền của mình

(7) Đã lừa gạt hoàng đế Minh và ngăn cản sứ giả nhà Minh

(8) Đã giết chết người thừa kế hợp pháp của nhà Trần

(9) Đã chiếm lãnh thổ bộ tộc của Trung Quốc ở châu Ning-Yuan

(10) Đã giết chết con rể tù trưởng và các phạm các tội khác có liên quan.

(11)  Đã làm kinh động nền hòa bình của các bộ tộc ở biên giới

(12) Đã lấy lãnh thổ Ssu-ming fu và chỉ trả lại có một phần.

(13) Đã xúi giục các bộ tộc ở châu His-ping chống lại hoàng đế.

(14) Đã xâm lược lãnh thổ Champa trong thời kì nhà vua có tang

(15) Đã lấy 4 châu của Champa và cướp bóc họ

(16) Đã lấy hơn 100 con voi từ Champa và vài vùng lãnh thổ

(17) Đã ép buộc Champa , một chư hầu của Trung Quốc, sử dụng con dấu và trang phục nghi lễ của An Nam thay vì của Trung Quốc

(18) Đã xâm lược Champa do Champa công nhận Trung Quốc mà không công nhận An Nam.

(19) Đã bắt giữ sứ giả Trung Quốc và Champa tại cảng của Champa.

(20) Đã sỉ nhục Trung Quốc khi cử sứ giả là một tội phạm10

 

Một trong những từ khóa của lời tuyên bố chiến tranh là là từ gọi An Nam là mi-mi hay “liên quan rất gần gũi”. Điều đó có nghĩa rằng trong bối cảnh này những tội ác đó được xem là cực kì tàn ác. Tôi đã liệt kê đầy đủ chúng để chỉ ra những gì lệ thuộc vào Trung Quốc ở thời điểm đó. 8 cái đầu tiên có thể được miêu tả như là các vấn đề về đạo đức và tư tưởng, 5 cái tiếp theo là vấn đề về an ninh, 5 cái tiếp theo nữa là sự hiếu chiến của An Nam đối với nước chư hầu khác và hai cái cuối cùng là sự xúc phạm tới cá nhân hoàng đế.

Như vậy có đến 4 nhóm vấn đề đã khuấy động khiến cho Vĩnh Lạc phải hành động. Từ cái nhìn của ông ta, nó có thể là sự biện luận thích hợp rằng chúng là sự cực kì khiêu khích. Từ quan điểm của quốc gia bị tấn công danh sách này đã tiết lộ phạm vi Trung Quốc tuyên bố quyền  bá chủ của mình. Người ta cũng có thể đặt ra câu hỏi rằng liệu các tội danh nói trên cũng có thể áp dụng cho các nước châu Á khác hay không.

Trước khi tôi cố gắng trả lời câu hỏi đó, hãy cho phép tôi trở lại những chính sách của Vĩnh Lạc đối với nước ngoài ở những phần còn lại của châu Á. An Nam chắc chắn là  một trong những vấn đề chủ yếu trong thời ông ta trị vì. Thậm chí ngay cả sau khi kẻ tiếm quyền bị loại bỏ, các nhà lãnh đạo quốc gia đã nổi lên người nọ tiếp người kia thử thách sự thống trị của Trung Quốc. Điều này gây rắc rối cho Vĩnh Lạc suốt vương triều của ông ta và quốc gia này cuối cùng đã bị từ bỏ vào năm 1428  rơi vào tay người anh hùng vĩ đại người An Nam Lê Lợi, người đã chiến đấu 10 năm cho nền độc lập của quốc gia. Ba vấn đề bên ngoài quan trọng khác là sự quấy rối của cướp biển Wako vào bờ biển Trung Quốc từ bán đảo Liaotung và Sơn Đông xuống tới các tỉnh phía nam như Phúc Kiến và Quảng Đông; các cuộc viễn chinh trên biển của Trịnh Hòa tới Ấn Độ dương, và sự sống sót của nhà nước Mông Cổ ở phía bắc. Trong số ba vấn đề này thì điều thú vị cần phải chỉ ra là hai trong số đó phải được giải quyết với các vấn đề thuộc về phòng thủ biển và chỉ có một là vấn đề trên bộ. Nhưng cũng là quá  sớm để Vĩnh Lạc nhận ra rằng trong khi các cuộc tấn công của Wako thường xuyên diễn ra và các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa quá đắt đỏ thì những vấn đề thực sự của ông lại nằm ở phía bắc. Chính nơi đó là nơi đế chế dễ bị tấn công và đó cũng chính là lí do ông ta đi lên phía bắc vào các năm 1409-1410, 1413-16 và lần thứ 3 năm 1417 và không bao giờ trở lại Nam Kinh. Vào năm mới năm 1421, kinh đô được chuyến tới Bắc Kinh vĩnh viễn.11

Rất nhiều các sử gia đã nhấn mạnh việc di chuyển kinh đô này và hậu quả của nó đối với mối quan tâm của người Trung Quốc tới Đông Nam Á bao gồm cả An Nam. Mặt khác cũng có những lí do địa lý và lịch sử tốt đẹp khác để di chuyển xuống phương nam. Hơn nữa  bản thân hoàng đế Vĩnh Lạc  ở nhà ở Bắc Kinh nhiều hơn khi ông còn trai trẻ trong hơn 20 năm trước khi lên ngôi. Tại Nam Kinh, ông cảm thấy lạ lẫm và vô dụng. Tại Bắc Kinh ông là một hoàng đế thiện chiến, dẫn đầu quân đội tiến bước săn tìm quân Mông Cổ và trở về nhà trong chiến thắng và sự hài lòng. Và hiển nhiên rằng không giống như phần lớn người Trung Quốc ở biên giới, người Mông Cổ không bao giờ chấp nhận trật tự thế giới Trung Hoa, tuy nhiên  thật thú vị là trật tự đã được sắp xếp. Họ thừa nhận duy nhất quân đội như là người quyết định các sự kiện. Vĩnh Lạc cần phải giữ cho Mông Cổ bị phân tán và chia rẽ họ bất cứ khi một một nhà lãnh đạo mới xuất hiện và do đó ở gần Vạn Lí Trường Thành để cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu, hối lộ và phỉnh phờ họ để làm họ suy yếu. Kể từ khi lên làm hoàng đế, Vĩnh Lạc đã thân chinh tiến hành các chiến dịch ở Mông Cổ trong 5 tháng vào năm 1410, 6 tháng trong năm 1414, 5 tháng trong năm 1422, 4 tháng trong năm 1423 và trong chiến dịch lần thứ 5 năm 1424 ông ta chết tại Yu-mu ở độ tuổi 64. Trong 3 chiến dịch trong số các chiến dịch nói trên, ông ta có được những chiến thắng lẫy lừng nhưng không có trận nào mang tính quyết định.12 Mông cổ duy trì địa vị là kẻ địch hàng đầu trong 180 năm tiếp theo.

Ghi nhớ điều này chúng ta có thể hình dung ra vị trí của biển trong những tính toán của Vĩnh Lạc. Cướp biển Wako không hải là sự đe dọa nghiêm trọng đối với đế chế nhưng sự tấn công của chúng làm gián đoạn giao thông vận chuyển ngũ cốc bằng đường biển từ Dương tử tới các trung tâm quân sự  ở Bắc Kinh và Mãn Châu. Do đó kiềm chế wako là một phần của việc phòng thủ biên giới phía bắc. Tương tự tăng cường hạm đội cũng phát huy chắc năng phòng thủ đế chế từ hướng bắc. Mặc dù các hạm đội mạnh đến nỗi phần lớn các con thuyền có thể lên đường viễn chinh mà không làm nguy hại gì tới việc phòng thủ bờ biển, các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa có thể được xem như là một sự bành trướng trên biển cần thiết cho việc đảm bảo an ninh của đế chế. Nhưng chính trong bản thân sự bành trướng đó quyền lực đó đã trở thành nhân tố chính trong mối quan hệ của Trung Quốc với các nước bên ngoài.

Trong cuộc đời của Vĩnh Lạc, các cuộc viễn chinh được tiến hành 6 lần trong các năm 1405-7, 1407-9, 1409-11, 1413-15, 1417-19 và 1421-24 (bản thân Trịnh Hòa trở lại trong năm 1422).13Tầm quan trọng của chúng đối với những mối quan hệ với Đông Nam Á là không thể nghi ngờ. Điều này quả thật đã chứng tỏ một cách ấn tượng sức mạnh tại thời điểm  không có quyền lực nào đứng lên cạnh tranh. Nhưng rõ ràng rằng các cuộc viễn chinh này không hướng thẳng đến Đông Nam Á. Chúng đã được gửi đi với các chức năng ngoại giao và thương mại tới các quốc gia xa hơn về phía tây và đi qua eo Mallaca tới đó. Chỉ có ba phần của khu vực bị tác động trực tiếp, các cảng duyên hải phía bắc của Java, cảng Malacca mới thành lập và vương quốc Samudra ở cực bắc của đảo Sumatra. Một cách gián tiếp, cảng Palembang nơi có người Trung Quốc chiếm ưu thế đã sống sót trong một khoảng thời gian như là một tiền đồn của những mối quan tâm thương mại của người Trung Quốc nhưng nó không quan trọng lắm đối với các hạm đội của Trịnh Hòa vốn đã tìm được bến cảng an toàn hơn ở Malacca để đợi sự thay đổi gió mùa.

Tôi đã từng chỉ ra ở nơi khác rằng các cuộc viễn chinh là quan trọng đối với mối quan hệ của Trung Quốc với Malacca và Sumadra và rằng  phần lớn các sứ đoàn từ hai quốc gia này tới Trung Quốc được cử đi  để đáp lại sự tiên phong của người Trung Quốc. 12 sứ đoàn từ Malacca tới Trung Quốc trong so sánh với 10 sứ đoàn từ Trung Quốc băng qua Malacca và một sứ đoàn đặc biệt tới Malacca và 11 sứ đoàn từ Samudra khi so sánh với 11 đoàn dừng chân tại Samudra và chỉ có một ngoại lệ-một sứ đoàn của Trung Quốc trên đường tới Ấn Độ Dương. Mặt khác, hầu như không có sự tương quan giữa các hạm đội lớn và 21 sứ đoàn từ Xiêm và 17 sứ đoàn từ Java trong cùng thời gian. Cả Cam-pu-chia và Champa đã có các mối quan hệ với Trung Quốc vì nhiều lí do và dựa trên những nền tảng khác nhau. Hơn nữa có các mối quan hệ khác biệt giữa Trung Quốc và các vương quốc ở quần đảo phía đông như Bru-nây và Sulu, nơi đã không có gì đẻ làm với hạm đội đội của Trịnh Hòa hay với mối quan tâm của người Trung Quốc đối với phần đất liền Đông Dương.14

Các hạm đội của Trịnh Hòa và những cuộc hành trình của họ do đó cung cấp cho chúng ta phương tiện để thấy được sự khác nhau giữa các phần của Đông Nam Á. Mặc dù quan trọng trong ảnh hưởng của học đối với các quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé nhưng chúng không có liên quan trực tiếp với mối quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á và có thể nhắc nhở chúng ta rằng đối với người Trung Quốc ở thời kì đó và với nhiều người khác cho tới tận ngày nay rằng không có khái niệm Đông Nam Á như là toàn bộ. Nói tóm lại, cần thiết phải nhìn vô số các phần và các mối quan hệ với Trung Quốc trước khi chúng ta có thể tiến tới bức tranh chung về những mối quan hệ của Trung Quốc với khu vực này.

Tôi đã vừa chỉ ra rằng các mối quan tâm đối với nước ngoài của Vĩnh Lạc là sự quan tâm tới An Nam, Wako, các hạm đội ở Ấn Độ Dương và người Mông Cổ. Trong số đó người Mông Cổ bị khinh miệt trong ngoại giao và An Nam bị sáp nhập như là một tỉnh của Trung Quốc. Cả An Nam và Mông Cổ đều không thể được dùng như là hình mẫu của những mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên hai nước khác có liên hệ trực tiếp và gián tiếp tới những mối quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á và chúng tôi có thể bắt đầu hữu ích với chúng.

Wako đe dọa toàn bộ bờ biển Trung Quốc và chắc chắn đã gây quan ngại đối với tất cả các con thuyền đi tới Trung Quốc, nơi không được bảo vệ bởi các hạm đội có vũ trang. Chúng cũng có liên quan tới Nhật Bản trong những tính toán của Vĩnh Lạc và những hành động của chúng đã đưa đến keets quả trong lời văn khắc và những bài thơ của Vĩnh Lạc về nước ngoài. Điều này thật là thú vị bởi vì hai hai bài văn, thơ khác đã được gửi tới các ông vua ở Đông Nam Á trong khi bài thứ tư là dành cho vua Cochin ở tây nam Ấn Độ. Mặc dù chúng được viết ở các thời điểm khác nhau nhưng hai bài có liên hệ gần gũi với các hạm đội của Trịnh Hòa, một tới Malacca và một tới Cochin và một tới Bru-nây tại cực đông nam của thế giới được biết đến. Sự so sánh bốn tác phẩm trên sẽ chỉ ra sự giống và khác nhau.

Niên đại của các bài văn và thơ được chỉ ra dưới đây.

(1) Malacca, ngày 11 tháng 11 năm 1405; (2) Nhật, ngày 6 tháng 3 năm 1406; (3) Bru-nây, 20 tháng 12 năm 1408; (4) Cochin, 28 tháng 12 năm 1416. Trước hết, Vĩnh Lạc  đã làm điều chưa có tiền lệ khi tự mình viết. Có lẽ ông ta tin rằng Malacca thực sự tìm kiếm một mối quan hệ đặc biệt bởi vì điều này là lần đầu tiene khi nó xảy ra với một quốc gia nằm bên ngoài quỹ đạo văn hóa Trung Hoa.


*  In trong J.Chen và N Tarling (eds), Social History of China and Southeast Asia, (Cambridge UP, 1970).

 

1  Ming T’ai-tsung shih-lu (hay Yung-lo shih-lu), Bản in li-tô, Đài Bắc, 1962, từ dưới đây trở đi được viết tắt là YLSL, từ tập 9 tới 14; Ming-shi (từ đây về sau MS), chuan 5-7; Ming t’ung-chien (Bắc Kinh, 1959), chuan14-18.

2 YLSL, chuan 9B-12A; Ming t’ung-chien trang 590-611.

 

3 YLSL, chuan 10B, 5a-11, 8b.

4 YLSL, 12A, 7a.

5 YLSL, 12A, 9a-b, Ff. Hung-wu’policy of prohibiting private overseas travel, which Yung-lo re-affirmed on 30 July 1402.

6 MS, 5, 8a-b; 6, 1a-b

7 YLSL, chuan 18-27.

8 Wang Gungwu, “The Opening of relations between China and Malacca, 1403-5” trong J. Bastin và R.Roolvink (eds), Malayan and Indonesian Studies (Oxford, 1964), trang 87-104.

9 Ming-shih chi-shih pen-mo, chuan 22; đồng thời xem Li  Cheng-fu, Chun-hsien shih-tai chih An-nam (Shanghai, 1945), trang 142-6, cung cấp một số chi tiết ngắn gọn. Chi tiết được tìm thấy trong YLSL, chuan 20A-53.

10 YLSL, 60, 1b-4a.

11 MS, 6-7b-10a; 6, 12a-7, 3b; 7, 4b và 7a.

 

12 MS, chuan 6 và 7.

 

13 Cuộc viễn chinh 1407-9, 1409-11 đã được tái hiện cẩn thận bởi H.L.Duyvendak trong Toung Pao, đồng thời xem Cheng Ho-sheng, Cheng ho i-shih lupine, Thượng Hải 1948. Cả hai tác giả đã kiểm tra sự nhầm lẫn về ngày tháng của của viễn chinh 1421-24 trong YLSL.

 

14 Wang Gungwu, “Early Ming Relations with Southeast Asia; a background essay” trong J.K. Fairbank (ed), The Chinese World Order (Cambridge, Mass, 1968), trang 34-62.

 

Quan hệ triều cống Trung-Xiêm (IV)

August 30, 2013 Leave a comment

Các quy định và phong tục tiếp đón sứ giả tại triều đình Xiêm.

Cả phong tục của Ấn Độ và Trung Hoa đều có ảnh hưởng tới sự ra đời và phát triển của các lễ nghi của triều đình Xiêm trong đón tiếp sứ giả nước ngoài. Ban đầu, các nghi lễ triều đình bị ảnh hưởng nặng bởi văn minh Ấn Độ. Về sau, sự trao đổi sứ giả giữa Xiêm và Trung Quốc sau thời kì Sukhothai dần dần đã ảnh hưởng đến lề lối và phong cách đón tiếp sứ giả, một thực tế thú vị sẽ được đề cập đến ở phần sau[1].

Ngay khi sứ giả nước ngoài tới cửa sông Cawphraja (Menam), ông ta phải neo thuyền ở đó[2]. Sau đó ông ta phải thông báo cho các quan chức Xiêm về mục đích của mình và chờ đợi câu trả lời từ kinh đô, thứ thường mất nhiều ngày. Nếu đi cùng ông ta có sứ giả của Xiêm trở về từ nước ngoài thì sứ giả Xiêm này sẽ phải thông báo tới vua sự trở về của họ trước sau đó mới tâu lên chuyện sứ giả  nước ngoài[3]. Thêm nữa, họ buộc phải giải giáp tất cả các khẩu đại bác trên tàu và trong vài trường hợp họ còn phải rời bỏ các khẩu súng nhỏ và đạn dược nữa[4].  Biện pháp này nhằm mục đích đảm bảo an ninh của quốc gia.

Sau  khi nhận được sự cho phép từ nhà vua, sứ giả nước ngoài có thể ngược sông lên kinh đô. Tuy nhiên, trên đường tới kinh đô, ông ta phải dừng lại lần nữa tại nhà hải quan đầu tiên (khanqn), được đặt tại nơi mà ngày nay là Bangkok[5]. Ông ta cũng bị yêu cầu phải khai toàn bộ hàng hóa nếu có và danh sách các món quà dành cho vua để kiểm tra. Lá thư của hoàng gia cũng sẽ được dịch. Đồng thời, tại kinh đô Ayuthaya của Xiêm, sự chuẩn bị tiếp đón sứ giả được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Khi mọi thứ sẵn sàng, sứ giả sẽ được phép tiếp tục tiến lên. H.G.Q. Wales miêu tả cách thức đón tiếp của người Xiêm như sau:

Một đoàn thuyền rồng của quốc gia được gửi tới để đón nhận lá thư* và sứ giả. Lá thư của hoàng gia được đặt trong một chiếc đế vàng** và được đặt trên đầu của một người Xiêm như là dấu hiệu của sự kính trọng; sau đó nó được chuyển đi dưới tán lọng hoàng gia tới thuyền rồng có ngai vàng và được lắp vào vật hình tháp chóp. Các sứ giả đi theo sau trên những chiếc thuyền rồng kém lộng lẫy hơn…[6].

 

Thông thường, trong thời kì Ayutthaya sứ giả nước ngoài lên bờ tại cảng sông có tên Pratu Chaj (Khải hoàn môn) nằm đối diện ngay tu viện có tên Phudthajsawan. Chiếc đế đựng lá thư hoàng gia được chuyển tới chiếc xe ngựa hoàng gia; sứ giả ngồi trên kiệu hoặc trên ngựa tùy theo thứ bậc của ông ta[7].

Trong thời gian ông ta ở Xiêm, sứ giả sẽ nhận được những gì tốt nhất mà Xiêm có thể đáp ứng như nhà trọ,  thức ăn, phương tiện đi lại…Chỉ sau khi trình quốc thư lên vua và truyền đạt thông điệp của nhà vua, sứ giả mới được tham gia vào các hoạt động thương mại[8].  Trước khi tiếp kiến hoàng gia, sứ giả bị yêu cầu trình lên quốc thư và trình bày về mục đích của chuyến đi tới Phra Khlang tại dinh thự của ông ta. Cuộc gặp với Phra Khlang diễn ra nhiều lần trước khi sứ giả được phép yết kiến vua. Các cuộc gặp này thường được tổ chức tại dinh thự của Phra Khlang bởi vì  nghi thức không cho phép Phra Khlang gặp sứ giả nước ngoài trước khi có phép của hoàng gia. Tuy nhiên, sứ giả bị nghiêm cấm đi tới bất cứ nơi nào ở kinh đô cho tới  khi tiếp kiến hoàng gia.

Theo N. Gervaise, sự đón tiếp của người Xiêm dành cho lá thư của hoàng gia nước ngoài có hai kiểu khác nhau tùy thuộc vào việc nó được gửi tới bởi chính thể có thứ bậc tương đương hay được gửi tới bởi nước chư hầu.  Các lá thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư được tiếp đón với “nghi lễ long trọng hơn nhiều” so với những lá thư đến từ các nước chư hầu. Trong trường hợp thư đến từ các nước chư hầu, Gervaise nói với chúng ta rằng:

… Ông ta (vua Xiêm) đối xử với họ kém trang trọng hơn và mặc dù ông ta không tạo ra lý do gì khiến cho sứ giả phàn nàn, ông ta vẫn làm cho họ cảm thấy sự khác biệt tồn tại giữa vua của Xiêm và những ông vua cử họ tới. Trước khi được ban đặc ân tiếp kiến nhà vua,  họ buộc phải  đặt lá thư lên tay của Barcalon và trình bày với ông ta những vấn đề mà sứ đoàn đã được trao, chúng được kiểm tra và nhà vua đưa ra tuyên bố về các vấn đề đó đồng thời đồng ý tiếp họ hay không. Vào ngày tiếp kiến lá thư, một bản đã được dịch ra tiếng Xiêm, được đưa tới một ngôi nhà nhỏ  xây bên ngoài kinh thành có dạng kim tự tháp. Nó được giữ ở đó cho tới khi nhà vua ủy nhiệm cho vài viên quan lớn chấp thuận nó với sự trang trọng giống như dành cho bản thân nhà vua người đã viết ra nó. Họ cầm lá thư một cách trang trọng dưới chiếc lọng lộng lẫy cắm trên một trong số những chiếc thuyền rồng quốc gia và khi đến cung điện họ trình lá thư lên nhà vua, người sẽ đọc nó và sau đó trả lại cho họ để đặt nó vào văn khố của vương quốc nơi lưu trữ  cẩn thận tất cả các lá thư nhận được từ các ông vua nước ngoài từ trước tới nay. Một chiếc thuyền rồng quốc gia khác đồng thời được phái đi  để đưa sứ giả tới vị vua mà ông ta được phép tiếp kiến. Sứ giả tới đó mà không có tùy tùng nào theo ngoài những người đồng hương đã đi theo ông ta trong chuyến hành trình hoặc những người đã sống ở Xiêm. Nhà vua tiếp đón sứ giả ở một căn phòng bên ngoài cung điện và đôi khi là ở ngoài sân điện nơi gần dinh thự của vua nhất; đối với người Xiêm họ thường có một câu cách ngôn cửa miệng rằng: các ông vua láng giềng không xứng đáng đặt đầu của họ vào nơi vua Xiêm nghỉ chân. Nhưng sứ giả tội nghiệp này bị bắt buộc để chân trần  giống như một công dân thông thường khi ông ta tiến tới cánh cửa đầu tiên của sân triều và tiến lên phía trước một mình để yết kiến theo sự hướng dẫn của một vài viên quan. Ngay khi nhà vua xuất hiện, ông ta chào nhà vua như những người khác với ba lần phủ phục thật sâu và trình bày với Barcalon, thông qua sự phiên dịch của ông ta, mục đích của sứ đoàn và  công việc mà nhà vua giao phó muốn được trình lên vua Xiêm. Barcalon sau đó nhắc lại điều này tới vua Xiêm và nói lại với sứ giả câu trả lời của vua Xiêm. Ngay khi sứ giả nhận được câu trả lời qua miệng Barcalon, ông ta  phủ phục hơn ba lần để cảm ơn nhà vua. Sau đó ông ta được tặng trầu đựng trong cơi bằng vàng, một chiếc áo khoác hay những thứ quý hiếm khác và ông ta sẽ phải từ biệt vua ngay từ lần tiếp kiến đầu tiên bởi vì nó hiếm và trên thực tế nó sẽ trở thành vấn đề rất khó khăn nếu như nhà vua không thể kết thúc nó và điều rất quan trọng là nhà vua sẽ cho phép tiếp kiến lần thứ hai[9].

Trái lại,các sứ giả  mang theo thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư, những nơi được coi như có thứ bậc ngang bằng với vua Xiêm lại nhận được sự tiếp đãi rất khác. N. Gervaise miêu tả điều này trong cuốn sách của ông:

Ông ta (vua Xiêm) không đối xử bằng cung cách tương tự  đối với các sứ giả của các hoàng đế đứng ngang hàng với nhà vua. Ngay khi biết được họ đã tới vương quốc, vài chiếc thuyền rồng của quốc gia được phái tới để gặp họ. Họ sẽ tự mình mang thư  tới cung điện và đưa cho Barcalon với sự có mặt của vua để trình nó lên nhà vua. Những con đường dọc theo nơi họ đi qua được xếp hàng bởi những người lính gác có vũ trang và những thớt voi cùng những chiếc lọng lộng lẫy và một số lượng lớn các quan lại mặc những bộ quần áo đẹp nhất có các nô lệ đi theo hầu, họ đi trước các sứ giả và đi cùng với họ đến nơi tiếp kiến. Nhà vua tiếp sứ giả tại cung điện của mình,  ở đó nhà vua tiếp đãi họ rất vương giả và không bao giờ nhà vua tiễn họ khi chưa tặng họ những món quà lộng lẫy – thứ đủ để cho họ hiểu sự tôn kính cao thể hiện bằng sự vĩ đại và tráng lệ…[10]

Thủ tục được dẫn ra ở trên được dùng trong buổi đón tiếp  các sứ giả Pháp Chevallier  de Chaumont và Simon de La Loubere vào cuối thế kỉ 17 dưới triều vua Naraj. Trái lại, sứ giả John Crawfurd của Anh đến Bangkok dưới triều vua Rama II (1809-1824) đã được đón tiếp giống như là sứ giả của nước chư hầu. Trên thực tế lá thư của ông ta thậm chí còn “không được đưa ra trong buổi tiếp kiến và chỉ có bản dịch của nó được đọc và những người phiên dịch thuộc sứ đoàn cũng không được phép làm việc này”[11]. Lý do chính của sự đối xử khác biệt này nằm ở thực tế các lá thư của nước Pháp được gửi tới  từ vua Louis XIV trong khi lá thư mà Crawfurd mang tới là lấy từ Thống đốc Anh ở Ấn Độ.

Ngay khi sứ giả tới sân triều đầu tiên, ông ta phải tháo giày ra. Trước khi bước vào khoảng sân thứ hai, ông ta phải đặt tất cả vũ khí xuống. Luật lệ này không hề được xóa bỏ cho tới triều vua Rama IV khi ông cho phép các viên chức trong sứ đoàn của John Bowring đeo gươm. Tuy nhiên, không có thành viên tùy tùng nào của sứ giả được phép bước vào nơi tiếp kiến.

Theo La Loubere, phòng tiếp kiến tại Ayutthaya được mô phỏng theo mô hình của Trung Quốc*. Nhà vua tiếp sứ giả qua một cửa sổ đối mặt với tòa nhà và cao khoảng 9 feet so với sàn nhà[12].  Với kiểu bố trí như vậy, không ai có thể nhìn thấy vương miện và vào lúc cuối buổi tiếp kiến nó được “kéo kín bởi bàn tay vô hình và cánh cửa đóng lại”[13].  Trong thời kì Bangkok, phòng tiếp kiến là sự mô phỏng phòng tiếp kiến ở Ayutthaya ngoại trừ rèm cửa và vương miện mạ vàng được thêm vào dưới triều vua Rama II[14]. Đối với những sự sắp xếp khác bên trong phòng và nghi thức tại buổi tiếp kiến H.G.Q Wales đã miêu tả như sau:

       Ở mỗi bên cánh cửa tiếp kiến có đặt một chiếc lọng bảy tầng và bên trên nó được xếp thành chín tầng bậc. Các viên quan của Xiêm được sắp xếp nghiêm ngặt trong phòng tiếp kiến sao cho phù hợp với thứ bậc của họ, người gần nhất cách cửa sổ khoảng 20 bước chân và tất nhiên tất cả bọn họ đều quỳ phủ phục trong suốt quá trình tiếp kiến. Những sứ giả, trong thế kỉ 17 những nhà truyền giáo người Pháp – những người cũng được phép có mặt để đóng vai trò như là những người phiên dịch, được bố trí vào bất cứ nơi nào mà nhà vua nghĩ là thích hợp với thứ bậc của họ và họ được phép ngồi hoặc đứng tùy theo sự  nới lỏng của luật lệ mà nhà vua đã bị thuyết phục để cho phép nhưng phải ở  vị trí đặc biệt để giữ chân và phần dưới thân thể họ dấu kín. Khi nhà vua xuất hiện, tất cả bày tỏ sự tôn kính bằng việc chắp tay và cúi đầu ba lần cho tới khi trán chạm đất nhưng cử chỉ cúi đầu này không nhất thiết phải áp dụng cho người châu Âu. Sự chào hỏi tương tự cũng sẽ kết thúc thủ tục này[15].

Tài liệu của La Loubere miêu tả sự sắp xếp phòng tiếp kiến khá thú vị. Ông đã phác thảo sơ đồ của căn phòng và giải thích chi tiết*. Ông viết:

 A. Ba bậc thang** được đặt dưới cửa sổ nơi vua Xiêm có mặt giúp nâng tôi đủ cao để đưa lá thư của vua tới tay ông ta.

B. Có ba chiếc lọng

C. Có hai cầu thang dẫn vào cung điện nơi vua Xiêm ngự.

D. Có hai chiếc bàn phủ thảm thêu, trên đó có đặt quà tặng của vua.

E. Con trai của ông Ceberet đứng và cầm lá thư của nhà vua đựng trong một chiếc đế bằng vàng ba tầng.

F. có hai chiếc bàn vuông nhỏ và ghế thấp, mỗi chiếc đều được phủ thảm để cho sứ giả ngồi. Monsieur de Chaumont có một chiếc như thế.

G. Giám mục xứ Metellopolis là Apostolick Vicar ngồi bắt chéo chân.

H. Monsieur Constance phủ phục ở phía tay phải tôi ở phía sau để làm người phiên dịch cho tôi.

I. Cha Tachart ngồi bắt chéo chân.

K. 50 vị quan quỳ phủ phục.

L. Các quý ông người Pháp đều ngồi bắt chéo chân.

M. Có một đôi cầu thang nhỏ làm bằng gạch dẫn lên phòng tiếp kiến.

N. Hai cầu thang này được cố định vào bức tường[16].

Một cuộc tiếp kiến hoàng gia thường ngắn và trang trọng. Trước tiên, một viên thư lại quỳ phủ phục sẽ đọc danh sách các món quà tặng của vương triều nước ngoài dâng lên vua. Một vài món nhỏ được đặt lên chiếc bàn trước cửa sổ (xem hình vẽ trang 35.D). Sau đó đến màn trình lên lá thư đã được miêu tả. Phra Khlang đọc bản dịch lá thư cho vua nghe, sau đó sự trao đổi sẽ diễn ra qua phiên dịch. Thông thường nhà vua sẽ hỏi sứ giả những câu hỏi sau:

Vua và hoàng gia có khỏe không? Sứ giả đã có một chuyến đi thú vị hay không? Chuyến đi kéo dài bao lâu? Sứ giả có vừa lòng với những trận mưa rào vào mùa mưa ở quốc gia này hay không và dân chúng có giàu có hay không?[17].

Nhà vua sau đó sẽ yêu cầu sứ giả trả lời qua Phra Khlang. Câu trả lời phải ngắn gọn vì câu trả lời mà càng dài thì sứ giả càng ít nhận được sự trọng vọng. Lý do ông ta chỉ là người đưa tin vì thế không nên nói những điều không được hỏi. Sau câu trả lời của sứ giả, nhà vua tặng ông ta một món quà nhỏ là cơi trầu[18]. Trong thời gian sứ giả ở kinh đô, người  ta mong đợi sứ giả mặc trang phục kiểu Thái, một sự đòi hỏi có lẽ chịu ảnh hưởng từ phong tục Trung Hoa, vì vậy một tấm vải Thái và một chiếc ô được cấp cho sứ giả. Buổi tiếp kiến kết thúc bằng ba lần quỳ lạy và sau đó nhà vua rút lui vào trong phòng riêng của mình. Về sau, có thể có nhiều cuộc gặp riêng và không trang trọng được dành cho sứ giả và sứ giả được dẫn đi thưởng ngoạn cảnh đẹp xung quanh kinh thành. Cuối cùng, một buổi tiếp kiến trang trọng của hoàng gia sẽ được tiến hành nhằm đánh dấu sự kết thúc tất cả các công việc của cả hai bên. Sau buổi tiếp kiến cuối cùng này sứ giả lại bị đặt trong sự cách ly nghiêm ngặt và người ta mong sứ giả lên đường càng sớm càng tốt[19].

Từ tất cả các quy định, thủ tục của nghi thức ngoại giao người Xiêm nói trên, kết luận chung có thể rút ra là tất cả chúng ban đầu là nhắm tới phục vụ mối quan hệ với Ấn Độ và Trung Quốc bao gồm cả những quốc gia lân bang chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, Trung Quốc hoặc là cả hai. Về phần mình, các sứ giả châu Âu nhận thấy rằng phong tục của Xiêm rất khó hiểu và  rắc rối giống như các quốc gia khác ở phương Đông.  Họ cảm thấy bực mình vì sự buồn tẻ và thiếu vắng sự giao tiếp. Cũng cần phải nói thêm rằng vua Xiêm cũng giống như các vương triều phương Đông khác coi việc đón tiếp sứ giả nước ngoài như một sự danh giá lớn. Càng tiếp đón nhiều sứ giả nước ngoài, vương triều càng có uy tín lớn. Tuy nhiên đối với việc gửi sứ giả ra nước ngoài thì Xiêm lại cố gắng hạn chế ở mức ít nhất có thể. Do đó, số lượng sứ giả  của Xiêm được nước ngoài đón tiếp ít nhiều phản ánh mức độ mối quan hệ của nước đó với Xiêm.

Sự diễn giải mối quan hệ của Xiêm với Trung Quốc.

Hiểu được bản chất thực sự của các sứ đoàn triều cống Trung Quốc từ nhiều quốc gia không phải là chuyện dễ dàng do sự thiếu vắng thông tin. Một số tư liệu ngắn ngủi về các sứ đoàn này được ghi lại trong lịch sử các vương triều Trung Quốc thường không đầy đủ và không đáp ứng được mong đợi. Xuất phát từ thực tế rằng Trung Quốc luôn tuyên bố tất cả các sứ giả từ nước ngoài đều là những người thực thi triều cống, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu mục đích chính của các sứ đoàn này. Xiêm, nơi bị Trung Quốc xếp vào hạng các nước chư hầu sẽ cho chúng ta một “case study” thú vị. Bất chấp thực tế rằng Xiêm gửi sứ giả tới Trung Quốc một cách đều đặn, Xiêm luôn phủ nhận lời tuyên bố về cương vị chúa tể của Trung Quốc. Cần phải ghi nhớ rằng ở Đông Á những ông vua có quyền lực hơn thường có xu hướng tuyên bố sự phụ thuộc của các ông vua nhỏ hơn, thậm chí cả trong trường hợp các ông vua lớn này không hề kiểm soát hay có thẩm quyền gì đối với các nước nhỏ hơn. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là theo mô hình này. Các sử gia, những người có sự quan tâm về mặt giả thuyết chịu ảnh hưởng bởi sự nhấn mạnh truyền thống về vai trò nổi trội của Trung Quốc ở châu Á đã chia sẻ ý kiến rằng Xiêm là nhà nước triều cống Trung Quốc. Họ đã không mấy cố gắng, nếu có, để tìm ra quan điểm của Xiêm về mối quan hệ này. Quá nhấn mạnh về một phía của câu chuyện có thể sẽ dẫn tới lầm lạc hoặc ít nhất cũng đem lại cho người đọc một sự miêu tả thiên lệch. Việc kết luận các món quà gửi tới Trung Quốc là “triều cống” và các sứ giả là “người triều cống” là quá dễ dãi bởi vì thậm chí tư tưởng của Trung Quốc về hệ thống triều cống theo lời của John K. Fairbank là “không chính xác như những gì nó có”[20]. Bản thân hệ thống này có liên quan đến cả ngoại giao và thương mại quốc tế, thứ được tiến hành trong cùng một cái khung. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm chắc chắn chưa được định nghĩa rõ ràng. Nó cũng nhập nhằng như bản chất của các sứ đoàn đến từ các nước khác. Việc phân biệt và phân ly động cơ kinh tế khỏi động cơ chính trị là điều không thể. Ở bất cứ tỉ lệ nào thật dễ dàng để rút ra kết luận rằng các sứ giả được gửi tới Trung Quốc đều mang theo hai mục đích là kinh tế và chính trị. Và tất nhiên những sứ giả  xuất phát từ Xiêm cũng không phải là ngoại lệ. Câu hỏi còn lại là quyết định gửi sứ giả đi của Xiêm  với những món quà thích hợp cho dù được phía Trung Quốc diễn dịch là triều cống để đổi lại những lợi ích về kinh tế và chính trị có phải là sự chuyển đổi từ một nước độc lập sang một nước phụ thuộc hay không. Do đó cần thiết phải đưa ra và thảo luận một vài tư liệu tiếng Xiêm – thứ có thể soi rọi đặc điểm đích thực của mối quan hệ Trung-Xiêm.

Xuyên suốt các tư liệu lịch sử tiếng Xiêm, sự tuyên bố của Trung Quốc về quyền bá chủ đối với Xiêm chưa bao giờ được đề cập một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, chúng ta biết được từ nguồn tương tự rằng các sứ giả  được gửi tương đối đều đặn tới Trung Quốc. Những sứ đoàn này, trong quan điểm của Xiêm, nhằm mục đích lấy lòng Trung Quốc và do đó tạo ra các phương tiện phục vụ buôn bán đặc biệt là đối với những món đem lại lợi nhuận.

Mặc dù chúng ta không tìm thấy nhiều bằng chứng tiếng Xiêm, thứ có thể bị phá hủy khi Ayutthaya sụp đổ bởi người Miến Điện vào năm 1767, việc quan tâm tới sự diễn giải của Xiêm trong mối quan hệ của nó với Trung Quốc trong thời kì Sukhothai và Ayutthaya lại cho chúng ta khả năng tái cấu trúc lại quan điểm của Xiêm từ các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao diễn ra giữa hai quốc gia trong thời gian đó. Thêm nữa, cả nguồn tư liệu tiếng Trung ghi chép về các sứ giả  Xiêm và biên niên sử tiếng Xiêm sẽ cung cấp đủ thông tin cho chúng ta trong việc khám phá động cơ của Xiêm trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc. Đối với thời kì Bangkok nguồn tư liệu tiếng Xiêm về vấn đề này có đầy đủ hơn.

Có đầy đủ bằng chứng để nói rằng vương quốc Sukhothai và Ayutthaya không coi việc gửi các sứ đoàn tới Trung Quốc như là biểu tượng của nhà nước chư hầu. Luận cứ này được củng cố bởi thực tế rằng Trung Quốc chưa bao giờ tấn công Xiêm bằng quân sự. Mặc dù Trung Quốc đã thể hiện sự đe dọa bằng quân sự vào đầu thời Sukhothai khi quân đội Khubilai đang tiến hành chiến dịch tại Miến Điện và Annam, nó không thể hiện chút tham vọng nào trong việc xâm lược Sukhothai. Trong sự vắng mặt của mối nguy cơ về quân sự thực sự từ Trung Quốc, thứ có mặt trong trường hợp của Miến Điện (Burma), Annam, Triều Tiên,  tại sao Xiêm lại tự coi mình như là một nước chư hầu của Trung Quốc? Sứ giả Sukhothai đầu tiên được gửi đến triều Nguyên bởi vua Rama Khamhaeng vào năm 1292 được bố trí chủ yếu để nghe ngóng động thái của Khubilai đối với Sukhothai[21]. Khi nó trở nên rõ ràng hơn rằng Khubilai không có ý định tấn công Khukhothai, Rama Khamhaeng tiếp tục chính sách bành trướng xuống phía nam. Mối quan hệ của Sukhothai với nhà Nguyên Trung Quốc do đó là mối quan hệ ngoại giao. Từ thời gian này về sau, Xiêm không hề có một khoảnh khắc nào phải lo sợ về sự xâm lấn bằng quân sự từ phía Trung Quốc. Một nhân tố giúp Xiêm tránh khỏi sự đe dọa của Trung Quốc là lợi thế về địa lý. Không giống như Miến Điện, Annam và Triều Tiên, Xiêm không có đường biên giới với Trung Quốc. Do đó Trung Quốc không có lý do gì để lo lắng về Xiêm. Bởi thế, sự hiển diện của đe dọa bằng quân đội thứ trong phần lớn trường hợp nhằm ép buộc các quốc gia nhỏ phục tùng nước lớn không có trong trường hợp của Xiêm và không phải là nhân tố trong mối quan hệ Trung-Xiêm.

Một phần chính quan trọng khác của bằng chứng minh họa sự quả quyết của Xiêm trong sự tự trị của mình là thực tế rằng tất cả những sự giao tiếp với Trung Quốc đều đặt dưới sự phán quyết của Bộ trưởng bộ tài chính-ngân khố: Phra Khlang, người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Điều này có nghĩa rằng mối quan hệ với Trung Quốc trong cái nhìn của Xiêm là nhằm mục đích thương mại.

Từ lập trường văn hóa, Xiêm – nơi chịu ảnh hưởng nặng bởi tư tưởng Ấn Độ – đã không chia sẻ những tư tưởng cơ bản của Nho giáo Trung Hoa. Kết quả là Xiêm diễn giải mối quan hệ của mình với Trung Quốc khác với quan điểm Nho giáo[22]. Trong khi Trung Quốc coi sứ giả Xiêm như là biểu tượng của thần phục thì ngược lại Xiêm coi đó là sự viếng thăm lịch sự xã giao để đạt được những đặc quyền về kinh tế.

Trong suốt thời kì Bangkok, nguồn tư liệu về sự diễn giải của Xiêm đối với mối quan hệ của nó với Trung Quốc đầy đủ hơn. Người đầu tiên bảo vệ chủ quyền của Xiêm là vua Mongkut hay Rama IV (1851-1868) của vương triều Cagkri. Ông đã đưa ra hai lí do chủ yếu để bác bỏ sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc đối với Xiêm[23]. Trước tiên ông biện luận rằng Xiêm đã duy trì mối quan hệ với Trung Quốc trong nhiều thế kỉ chủ yếu là vì những lợi ích thương mại. Thứ hai, những trở ngại về giao tiếp đã gây ra sự hiểu lầm liên quan đến nội dung của của các bức thông điệp của hoàng gia. Về điểm này vua Mongkut giải thích rằng người Xiêm và người Trung Quốc đều chẳng biết gì về ngôn ngữ của nhau  vì thế phải phụ thuộc vào các thương nhân Trung Quốc những người buôn bán với Xiêm và coi họ – những người chắc chắn đã nhìn nhận mối quan hệ Xiêm – Trung theo quan điểm Khổng giáo như người phiên dịch. Do đó, những người phiên dịch này đã dịch thông điệp của hoàng gia Xiêm bằng cách sử dụng từ Hán như “triều cống” (kung-cống) cho từ “tặng” trong tiếng Xiêm. Thêm nữa, vua Mongkut nghi nghờ rằng những phiên dịch viên người Trung Quốc này cố ý tạo ra ấn tượng rằng sứ đoàn Xiêm tới triều cống Trung Quốc vì thế mà họ được ban các đặc quyền thương mại từ hoàng đế Trung Hoa dựa trên sự cho rằng các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc là thể hiện sự phục tùng của Xiêm.

Vua Mongkut đã ngày một quan tâm tới sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc. Tin rằng uy tín và chủ quyền của Xiêm phải được tôn trọng, ông đã có một hành động quyết liệt để xóa bỏ sự hiểu lầm này. Việc chấm dứt các sứ đoàn là cách hiệu quả duy nhất để làm mất uy tín sự tuyên bố của Trung Quốc. Kết quả là không có sứ đoàn triều cống nào tới Trung Quốc trong thời gian ông trị vì[24].

Hoàng tử Damrong Rajanubhab, được biết đến rộng rãi như là một sử gia và chính khách Xiêm, đã ủng hộ sự diễn giải và phản ứng của vua Mongkut một cách mạnh mẽ. Ông đã giải thích sâu hơn rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm  luôn luôn thân thiện và hoàn toàn khác mối quan hệ xuất phát từ Miến Điện và Annam. Trung Quốc đã xâm chiếm cả hai nước này và buộc họ phải triều cống theo lịch trình cố định, một thực tế không được áp dụng cho Xiêm[25]. Trung Quốc chưa bao giờ có xung đột vũ trang với Xiêm và không có sự xâm lược, chiếm đóng của Trung Quốc đối với Xiêm. Thêm nữa, không nên quá coi trọng những sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc bởi vì người Trung Quốc có thói quen coi tất cả các sứ giả  nước ngoài là người mang triều cống tới nhằm phô bày sự ưu việt của nước họ. Các sứ giả Xiêm, giống như các sứ giả  đến từ các quốc gia khác bị lúng túng bởi vì họ không biết tiếng Trung Quốc. Do đó họ không thể biết được thực tế rằng họ đã bị người Trung Quốc lợi dụng. Hoàng tử Damrong dẫn ra một ví dụ để củng cố lý luận của mình. Bên lề thất bại trước quân đội Anh-Pháp năm 1860, các quan chức Trung Quốc làm cho người dân của họ tin rằng những người lính nước ngoài này tới để triều cống và họ đang diễu hành về phía Bắc Kinh. Cú lừa này quá đơn giản,  họ tặng cho đội quân Anh-Pháp một lá cờ trên đó có dòng chữ tiếng Trung có nghĩa “đội quân mang đồ triều cống”. Không nhận ra ý nghĩa của lá cờ, đội quân đã diễu hành sau nó hướng về Bắc Kinh. Phương pháp lừa đảo này tất nhiên đã giữ thể diện cho các quan chức Trung Quốc chỉ trong vài ngày nhưng nó đã thể hiện rõ ràng cảm quan của họ về sự ưu việt.

Mặc dù Xiêm nhận ra bản chất của các sứ giả của mình trong cái nhìn truyền thống của người Trung Quốc, phản ứng của Xiêm lại không dứt khoát. Thực tế các quy định của người Trung Quốc yêu cầu triều cống trước khi ban tặng bất cứ đặc quyền thương mại nào đã làm cho Xiêm không có lựa chọn nào khác. Thương mại hưng thịnh với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với những gì Trung Quốc tuyên bố xuất phát từ những sứ đoàn của Xiêm[26]. Do đó Xiêm tiếp tục gửi các sứ giả tới Trung Quốc. Quyết định được chứng minh như là một sự thiết thực. Lệnh cấm của nhà Minh đối với ngoại thương đã có ảnh hưởng rất nhỏ tới thương mại Trung-Xiêm bởi  Xiêm được coi như là nước triều cống vì thế vẫn có thể đến buôn bán hàng năm. Sự miễn thuế đã giúp đề cao Xiêm như là một trung tâm thương mại nơi có thể mua hàng hóa Trung Quốc một cách dễ dàng[27]. Quyết định của Xiêm trong việc duy trì mối quan hệ triều cống chủ yếu nhằm đạt được lợi ích thương mại phù hợp với thực tế rằng khi thương mại với Trung Quốc không còn quan trọng nữa, số lượng các sứ đoàn từ Xiêm tới Trung Quốc đã giảm xuống. Vào giữa thế kỉ 19, thương mại Xiêm-Phương Tây dần dần thay thế vị trí của thương mại Trung Quốc trước đó. Kết quả là các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc giảm mạnh và cuối cùng tạm dừng dưới triều vua Rama IV[28]. Hoàng tử Damrong cho chúng ta biết rằng từ đó về sau Xiêm đã liên tục lờ đi sự nhắc nhở của các quan chức Quảng Đông yêu cầu triều cống[29]. Vua Chulalongkorn hay Rama V (1868-1910) bực mình vì sự lặp đi lặp lại những lời nhắc này nên đã đưa vấn đề ra bàn thảo tại hội đồng nhà nước. Quyết định sau đó được đưa ra với nội dung không tái khởi động các sứ đoàn theo quan niệm cũ[30]. Hội đồng khuyên nhà vua rằng Trung Quốc phải cho phép sứ giả của Xiêm tới Bắc Kinh qua Thiên Tân nếu họ muốn có các sứ đoàn từ Xiêm tiếp theo. Điều này nhằm nâng cao vị trí của Xiêm trong con mắt Trung Quốc lên cao ngang với các quốc gia phương Tây.  Đúng như dự đoán, Trung Quốc từ chối yêu cầu này. Hoàng tử Damrong cho rằng  việc từ “tặng” được dịch như thế nào đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra sự hiểu lầm của các sử gia. Theo truyền thống của Xiêm, quà tặng biểu đạt lòng hữu hảo, tình bạn và được trao tự nguyện. Không có số lượng hay thời gian biểu cố định. Ông coi chiếu chỉ của vua Hồng Vũ cố định ngày tiếp đón sứ giả Xiêm ba năm một lần không phải là một sự nhân từ nhằm làm giảm bớt gánh nặng cho Xiêm mà là một cố gắng nhằm đưa Xiêm vào hệ thống triều cống[31]. Tuy nhiên, Xiêm tiếp tục không để ý đến quy định này và tiếp tục gửi sứ giả đến bất cứ khi nào thích hợp[32].  Sự thường xuyên của các sứ đoàn bị giảm đi khi vua trị vị ốm yếu hoặc tình hình trong nước hay quốc tế gây trở ngại. Một ví dụ tiêu biểu thể hiện Xiêm  không quan tâm tới quy định của Trung Quốc là việc gửi sứ giả tới Trung Quốc dưới triều vua Khang Hi năm 1669. Sau khi họ điều tra danh sách các món đồ do sứ giả Xiêm mang đến, các viên chức tại Quảng Đông nói với người Xiêm rằng thiếu một số vật phẩm theo danh mục quy định và họ phải mang đến vào lần sau.  Phát biểu này về sau đã bị hoàng đế bác bỏ[33].

Một sử gia người Xiêm khác là hoàng tử Narit cho rằng các thương nhân Trung Quốc, những người muốn làm cho hoàng đế hài lòng để có được lợi ích cho bản thân bằng việc thay đổi nội dung các lá thư của hoàng gia phải chịu trách nhiệm cho những diễn giải sai lệch này[34]. Một sử gia người Xiêm nổi tiếng khác là hoàng tử Chakrabongse đã bàn về quan hệ Trung-Xiêm như sau:

Các món triều cống được gửi (từ Xiêm) thực ra  là mưu mẹo để qua được các nghi thức của người Trung Quốc và các giới hạn do nhà chức trách Trung Quốc đặt ra tại các cảng. Bằng chứng nằm ở thực tế rằng bất chấp thứ được gọi là quyền bá chủ Trung Hoa kéo dài từ thời Sukhothai tới năm 1854, Trung Quốc chưa bao giờ can thiệp vào các sự kiện đối  nội hay đối ngoại của Xiêm[35].

Tất cả các tư liệu đã đề cập đều diễn tả cái nhìn của người Xiêm thống nhất trong việc bảo vệ quyền độc lập của mình. Lý luận của họ xứng đáng được thảo luận thêm. Nói chung, các học giả Xiêm tập trung lý lẽ vào sự phiên dịch lá thư hoàng gia, sự chân thực của các tư liệu Trung Quốc, mục đích chính của các sứ giả, sự độc lập trong đối nội, đối ngoại của Xiêm và sự diễn giải của bản thân từ “tặng quà”.

Vương quốc Sukhothai gửi sứ giả đầu tiên với lá thư hoàng gia, có lẽ cũng kèm theo cả bản dịch, tới triều Mongol năm 1292 đáp lại lời kêu gọi thiết lập tình hữu nghị của Khubilai[36]. Trên thực tế, trong tư liệu Trung Quốc, nhà nước Xiêm ở vùng phía Nam tại U-thqng hay Lo-hu đã gửi hai đoàn sứ giả tới Trung Quốc vào năm 1289 và năm 1291[37].

Tuy nhiên do vương quốc U-thqng, tại thời điểm cụ thể này, là nước chư hầu trên danh nghĩa của Sukhothai cho nên sứ đoàn của nó không thể được coi như là đại diện của Xiêm trong thời kì này. Cũng không rõ tại sao Khubilai lại tìm kiếm quan hệ hữu nghị với Sukhothai trong khi cùng vào thời gian đó ông ta thể hiện sự hiếu chiến đối với Miến Điện và Champa. Tuy nhiên dù sao cũng cần phải lưu ý rằng Ho Tsu-chih (Hà Dự Chí) được phái tới Sukhothai với tư cách là sứ giả vào năm 1282[38], chỉ một năm trước khi Khubilai thành công trong chiến dịch đánh Miến Điện năm 1283. Trong thời kì này, vua Rama Khamhaeng của Sukhothai là một trong những vương triều có quyền lực và năng lực nhất ở Đông Nam Á lục địa. Sẽ là hợp lý khi cho rằng Khubilai,  người có quân đội vấp phải sự chống trả ngoan cường của người Miến Điện muốn ngăn ngừa vua Rama Khamhaeng giúp đỡ kẻ địch của ông ta. Mặt khác, vua Rama Khamhaeng  đã mở rộng lãnh thổ Xiêm nhờ vào sự suy yếu của người Khơ-me và sự trung lập của Khubilai. Rõ ràng cả Trung Quốc và Sukhothai đều hưởng lợi từ tình bạn này. Do vậy, cũng là lô-gic khi cho rằng lá thư hoàng gia thứ nhất đi cùng với sứ giả Sukhothai tới Trung Quốc có chứa đựng những phát biểu về tình hữu nghị. Xét về hoàn cảnh tại thời điểm đó, sứ đoàn Sukhothai thứ nhất này đã không  lên đường tới Trung Quốc cho tới năm 1292, 10 năm sau khi Hà Dự Chí tới Sukhothai. Sự trì hoãn này nói  lên rằng sứ đoàn không được coi như là biểu tượng của thần phục xét từ quan điểm của người Xiêm. Hiếm khi Xiêm bày tỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc cho dù  việc hoãn phái sứ giả tới 10 năm sẽ có thể chuốc lấy sự trừng phạt của Trung Quốc giống như trường hợp của Miến Điện và Champa. Quyết định phái sứ giả của Sukhothai có thể được giải thích như một cố gắng nhằm “tìm kiếm sự thỏa hiệp với quyền lực nổi trội bên ngoài ở trong khu vực”[39]. Tuy nhiên, việc thực sự hiểu được chức năng thật sự của sứ đoàn đầu tiên của Xiêm là điều không thể nếu như không so sánh với nội dung của các lá thư hoàng gia Xiêm trong các tư liệu Trung Quốc. Bởi vì không có những bản sao tiếng Xiêm tồn tại, chúng tôi buộc phải dựa vào nguồn tư liệu Trung Quốc. Tuy nhiên sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc lại không đem đến những thông tin phù hợp về sứ đoàn. Chúng thường là những cấu trúc truyền thống diễn tả vị trí ưu việt của Trung Quốc và không nói gì về động cơ của sứ đoàn. Câu hỏi là liệu những phát biểu này của người Trung Quốc có nghiêm túc hay không? Wang Gung-Wu chỉ ra rằng  các bản dịch của những bản tấu trình lên hoàng đế khiến người ta tin rằng sứ đoàn đến không phải là để triều cống. Theo Wang Gung-wu thì những bản dịch này “quá kiểu cách và cổ điển trong giọng điệu như thể chúng dựa trên một vài công thức được vẽ ra từ trước bởi “ban phiên dịch”[40]. Luận cứ này khiến lời tuyên bố của Trung Quốc về Xiêm trở thành điều nghi vấn và chứng minh lý lẽ của Xiêm về chuyện những lá thư hoàng gia đã bị bóp méo về nội dung.

Mặc dù sứ đoàn đầu tiên của Xiêm được thúc đẩy bởi các mục đích chính trị, người Xiêm sớm khám phá ra rằng  những món quà họ tặng hoàng đế Trung Quốc được lại quả bằng những sản phẩm Trung Hoa có giá trị hơn. Dần dần, động cơ chính trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc thay đổi từ chính trị sang kinh tế. Các sứ giả Xiêm không chỉ tiếp tục duy trì mà còn tăng thêm về cường độ. Theo John K. Fairbank, lợi nhuận tăng lên trong thương mại đã trực tiếp ảnh hưởng tới việc tăng tiến nhanh chóng các sứ đoàn Xiêm[41]. Theo quan điểm của Xiêm, các sứ đoàn đóng vai trò thứ yếu trong mối liên hệ Trung-Xiêm mà có chức năng như là phương tiện vận tải tài tình phục vụ thương mại. Sự diễn giải này thực sự trùng khít với phong tục ngoại giao của khu vực vào thời điểm đó. Ở các quốc gia châu Á có phong tục làm thân với vị vua của quốc gia mà họ muốn buôn bán bằng việc làm ông ta vui lòng với những món quà tặng có giá trị[42]. Áp dụng nguyên tắc tương tự với Trung Quốc, người Xiêm coi các mối quan hệ thương mại đem lại lợi nhuận quan trọng hơn nhiều so với mối quan hệ ngoại giao chính thức[43]. Nói một cách khác, người Xiêm duy trì mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc chỉ vì nó là phương tiện tạo thuận lợi cho thương mại. Thực tế này được chỉ ra rõ ràng trong phát biểu của viên thư lại phục vụ quan nhiếp chính Xiêm vài năm sau sự cai trị của vua Rama IV của vương triều Cagkri.  Lời phát biểu đó như sau:

Tặng quà không đi ra ngoài mong muốn đảm bảo những thuận lợi về thương mại và nó được tiến hành cho mục đích duy nhất đó[44].

Một ấn phẩm bán chính thức tiếng Xiêm khác ở Bangkok cũng coi thương mại là mục đích quan trọng. Nó bảo vệ chủ quyền của Xiêm bằng việc phát biểu rằng:

Burmah và Cochin-China là triều cống, đúng thế! Và cả hai đã cố gắng ném bỏ lòng trung thành của mình nhưng thất bại. Nhưng Xiêm chưa bao giờ va chạm với Trung Quốc và chưa bao giờ có cơ hội để triều cống. Tất cả những gì đã xảy ra đơn giản là như vậy. Trong năm 1350, nhà vua đã chuyển kinh đô về Ayuthia  (ở Meinam) và thuyền Trung Quốc đã đến đây buôn bán. Người Xiêm mong muốn tham gia thương mại và nhà vua sau đó đã gửi một sứ giả tới để thiết lập tình bạn với Trung Quốc. Hoàng đế ưng thuận và mở cảng Quảng Đông nhưng người Trung Quốc đã đánh thuế nặng khiến cho các thương nhân Xiêm bị lỗ. Nhà vua sau đó đã phái một sứ giả khác mang theo lá thư trong đó nói sẽ tặng quà hàng năm cho Trung Quốc để đổi lấy sự đảm bảo về thuế. Yêu cầu này được chấp thuận. Một sứ giả sẽ được phép tới Trung Quốc ba năm một lần và người Xiêm có được những đặc quyền đối với những chiếc thuyền đi cùng ông ta… Hoàng đế đã đáp lại một số lượng lớn  quà tặng  và người Xiêm nhận thấy đây là một món hời và tiếp tục gửi tới các món quà tặng như là một tập tục bất biến nhưng họ làm vậy là để mong muốn đảm bảo những sự thuận lợi cho thương mại và chỉ vì mục đích đó[45].

Những lý luận nói trên là hợp lý trong quan điểm phát triển sau này. Vào giữa thế kỉ 19, các hoạt động thương mại Xiêm-phương Tây dần tăng lên  đến độ người Xiêm không còn hứng khởi với việc phái sứ giả tới Trung Quốc nữa. Tần suất của các sứ đoàn giảm và cuối cùng chấm dứt dưới triều vua Rama IV[46]. Thực tế này củng cố tuyên bố của Xiêm rằng các sứ giả của nó tới Trung Quốc chỉ là nghi thức đổi lấy các thỏa hiệp thương mại.

Sự độc lập của Xiêm trong đối nội và đối ngoại là một bằng chứng về tính độc lập. Trong lịch sử suốt một thời gian dài của mối quan hệ Trung-Xiêm, Trung Quốc chưa bao giờ có sự kiểm soát chính trị đối với Xiêm. Chúng ta phải ghi nhớ rằng tất cả các quốc gia trên trái đất đều đã từng bị coi là chư hầu của Trung Quốc. Một sự tuyên bố không hề phù hợp với thực tế lịch sử. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là mờ ám và không đáng coi là nghiêm túc[47]. Một sử gia khác khẳng định rằng Xiêm chưa bao giờ thừa nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và luôn luôn coi sự trao đổi sứ giả và quà tặng giữa hai quốc gia là dựa trên bầu không khí hữu hảo, thân thiện[48].

See Chong-su cho rằng tuyên bố của Trung Quốc là mập mờ và không có giá trị. Ông nói:

Cái gọi là  sứ đoàn “chuyên chở triều cống” (giống như được viết trong các tư liệu Trung Quốc)…, chủ yếu là là sự trao đổi lịch thiệp giữa hai quốc gia hữu nghị. Sự xuất phát của các sứ giả như vậy không hề liên quan tới quyền bá chủ hay chư hầu thể hiện bằng bởi những người mang đồ triều cống[49].

Trên thực tế thậm chí một vài biểu tượng nghi thức mà các hoàng đế Trung Quốc thi thoảng tặng cho vua Xiêm về bản chất chỉ là danh nghĩa hơn là thể hiện ảnh hưởng của Trung Quốc. Ví dụ như sự sắc phong chẳng qua cũng chỉ là sự xác nhận thực tế cai trị của vua Xiêm[50]. Khấu đầu cũng là một ví dụ khác. Xiêm coi khấu đầu  chẳng qua cũng chỉ là ‘nghi thức tốt đẹp” bởi vì bản thân hoàng đế cũng cúi đầu vái lạy trời và tổ tiên của ông ta[51] .

Trung Quốc chưa bao giờ cố gắng can thiệp trực tiếp vào người kế vị của Xiêm.  Mặc dù phần lớn các vua Xiêm ngồi lên ngai vàng bằng vũ lực, nỗ lực của họ trong việc tìm kiếm sự sắc phong của Trung Quốc không thể được diễn giải như là cố gắng đảm bảo quyền lực của họ như G.W. Skinner phát biểu[52].  Điểm yếu nghiêm trọng trong luận văn của Skinner là việc ông quá nhấn mạnh mục đích chính trị của các sứ đoàn Xiêm. Thực tế là Trung Quốc có rất ít hoặc không có ảnh hưởng chính trị thực sự ở Xiêm. Do đó Trung Quốc không thể tăng cường hay làm suy yếu quyền lực của các vua Xiêm.  Nó giống như là một sự xác nhận vị trí hợp pháp của các vua Xiêm, thứ cần thiết cho việc duy trì mối quan hệ thương mại với Trung Quốc mà nhờ chúng các vua Xiêm thu được rất nhiều thuế và lợi nhuận. Như đã từng đề cập người Trung Quốc coi các món quà như đồ triều cống trong khi Xiêm tách biệt chúng khỏi đồ triều cống. Sự diễn giải khác biệt này là do sự hiểu lầm. Xiêm khẳng định rằng mọi thứ sứ giả mang đi cùng tặng cho hoàng đế chỉ là quà chứ không phải là đồ triều cống. Lý luận của Xiêm cũng phù hợp với mô hình của mối quan hệ ngoại giao phương Đông ngoại trừ với Trung Quốc. Phong tục tặng quà là phổ biến trong vùng và đặc biệt có thể thấy trong tất cả các sứ đoàn từ nước này tới nước khác. Chính người Trung Quốc đã “khéo léo chuyển ý tưởng này thành sự ca ngợi chính mình, bằng việc coi tất cả các món “quà tặng” là “đồ triều cống”, do vậy việc ra vẻ ưu việt nhờ  điều đó có lẽ đã có cơ sở mỏng manh nhất”[53].

Từ tất cả những điều nói trên chúng ta có thể kết luận rằng từ quan hệ  “chư hầu” là không thích hợp đối với mối quan hệ Trung-Xiêm. Không có bất kì sự bảo vệ hay giúp đỡ nào từ các hoàng đế Trung Hoa dành cho các vua Xiêm trong việc chống lại kẻ địch bên ngoài hoặc bên trong. Các hoàng đế Trung Hoa về phần mình cũng không đưa ra yêu cầu phụng sự gì, không thu thuế, hiếm khi đưa ra yêu cầu và vô cùng khoan dung bất cứ khi nào các vua Xiêm vi phạm quy định triều cống.

Nguyễn Quốc Vương dịch


[1] Ibid., trang 18 và 179.

[2] La Loubere, Simon de, op. cit., 108.

[3] Ibid.

[4] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 181.

[5] Records of the Relations…, op. cit., I, 83.

*   Để biết ví dụ về sự đón tiếp sứ giả nước ngoài của người Xiêm mời xem các bức hình minh họa trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, loc. Cit.; đồng thời xem thêm trong La Loubere, Simon de, op. cit., I, 40.

** Theo H.G.Q Wales, chiếc đế vàng gồm “ba tầng. Nó phù hợp với phong tục ở đó  ba tầng được coi là thích hợp để đón nhận lá thư từ vị vua ngang hàng với vua Xiêm. Chiếc chỉ có hai tầng được dành cho các ông vua có địa vị thấp hơn”. Xem H.G.Q. Wales, op. cit., 184.

[6] H.G.Q. Wales, Siamese Satate…, op.cit., 181.

[7] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[8]  La Loubere , Simon de, op. cit., 108.

[9] Nicolas Gervaise, The Natural and Political  History of Siam, A.D. 1688 ( H.S. O’Neill dịch từ tiếng Pháp) (Bangkok: n.p., 1928), 127-128.

[10]  Ibid., 128.

[11]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

* Xem hình vẽ trang 32.

[12]  La Loubere, Simon de, op. cit., 99.

[13] H. G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

[14] Ibid., 182-183.

[15]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 183.

* Xem hình vẽ trang 35.

** Ba bậc thang này được thêm vào ở thời điểm sứ đoàn của La Loubere tới để tránh những cảnh  thất thố như  đã từng xảy ra với các vị sứ giả Pháp trước đó như Chevalier de Chaumont, người gặp vua Naraj. De Chaumont được yêu cầu  trình lên lá thư  tới vua bằng cách giữ  chiếc đế nhưng trái lại ông ta đã nắm lấy chiếc bình chứ không phải đế buộc nhà vua phải cúi xuống nhấc lấy lá thư.

[16] La Loubere, Simon de, op.cit., 111.

[17]  Damrong Rajanubhab, Prince, Siamese Embassies To Europe, 16, như đã trích dẫn trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 184.

[18]  La Loubere, op.cit., 109.

[19]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.

[20] J.K. Fairbank, “Tributary Trade and China’Relations with the West,” The Far Eastern Quarterly, I, no.2 (Febuary 1942), 129.

[21] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 49-50, 126-129.

[22] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 80-82.

[23]  Mongkut, King of Thailand, “The Sending of Royal Letters and Siamese Embassies to China in Ancient Times” in Interesting Topics in Siamese History (Bangkok: Thammasat U. Press. 1954(, 73-104 E.

[24] Mongkut, King of Thailand, op. cit., 104 E.

[25]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., II, 110-111

[26] Damrong Rajanubhab, Prince, Preface of Collection of the Chronicles (Bangkok: Sygsaphan, 1963), V, 39-41.

[27] Ibid., 41.

[28] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 216.

[29]  Hoàng tử Damrong nghi ngờ rằng những viên chức Quảng Đông này đã tự ý đưa ra quyết định chứ khải quyết định của hoàng đế.

[30] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 125.

[31] Collection of the Chronicles ( Prachumphongsavadan) (tiếng Xiêm), V(concerning Sino-Siamese relations since ancient times) (Bangkok: Sygsaphan, 1963), 60, n.1;61, n..1.

[32] Ibid., 92, n.2.

[33] Collection of the Chronicles, op. cit., V, 92-93.

[34] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op. cit., XVI, 126.

[35] Chula Chakrabongse, Prince, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 58.

[36] Nguyên Sử ( The history of the Yuan Dynasty) by Sung Lien, 1310-1381 (60 vols. In 6 cases, 1956 reproduction of the original), ch, 17, 13b.

[37] Nguyên Sử, ch.15, 15a;ch.16, 13a; đồng thời xem Collection of the Chronicles, op.cit., 52

[38] Nguyên Sử, ch. 12, 6b; ch.210 (phần về  Chan-cheng Cổ thành), 7a, 9a; xem thêm Collection of the Chronicles, op.cit., 51. ,

[39] J.F. Cady, Southeast Asia: Its Historical Development (New York: McGraw-Hill Book Co., 1964), 594.

[40] Wang Gung-wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea”, JRASMB, XXXI, pt. 2(June 1958), 119.

[41] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 171.

[42] W.P. Groeneveldt, Historical Notes on Indonesia and Malaya (Djakarta: C.U. Bharatara, 1960), 4.

[43] W.F. Vella, Siam under Rama III. 1824-1851 (New York: J.J. Augustin, 1957), 113.

[44] Lá thư của S. Bateman, 10/3/1870, được trích dẫn trong The Siamese Repository, II (April 1870), 298-299,  cũng được trích dẫn trong W.F. Vella, ibid., 113, n.24.

[45]  Như được trích dẫn trong R.S. Gundry, China and Her Neighbors ( London: Chapman and Hall, 1893), 144-145.

[46] W.F. Vella, op.cit., 113.

[47]  W.A.R. Wood, A History of Siam (2nd ed.; Bankok: The Siam Barnakich Press, 1933), 47-48.

[48] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 15.

[49] See Chong-su, The Foreign Trade of China (New York: Columbia U. Press, 1919), 16.

[50] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 29.

[51] W.W. Rockhill, China’ Intercourse with Korea from the Fifteenth Century to 1895 (London: Luzac& Co., 1905), 4.

[52]  G.W. Skinner, Chinese Society in Thailand: An Analytical History (Ithaca: Cornell U. Press, 1957), 12, n. 66.

[53]  R.M. Martin, China: Political, Commercial, and Social. I (London: James Madden, 1847), 265.

Categories: Nhìn ra thế giới

Quan hệ triều cống Trung-Xiêm 1282-1853 (III)

August 29, 2013 Leave a comment

Các cơ quan của Xiêm đối phó với các sự kiện ngoại giao.

Trái ngược với mối quan hệ với nước ngoài của Trung Quốc được ẩn giấu trong cái khung của hệ thống triều cống, các mối quan hệ này của Xiêm được tiến hành dưới hình thức ngoại thương. Trong khi ở Trung Quốc tất cả những người có trách nhiệm liên quan tới việc đón tiếp sứ giả nước ngoài đều thuộc thẩm quyền của Bộ Lễ thì ở Xiêm chúng được điều hành độc quyền bởi người đứng đầu Bộ Ngân khố (Minister of Treasury), người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Tên gọi của người đứng đầu Bộ Ngân Khố thường được biết đến như Phra Khlang đã có sự phát triển lâu đời trong lịch sử Thái. Tên của nó trong tiếng Xiêm đã thay đổi từ chỗ là Khun Khlang ở thời kì đầu thành Qg.ja Phra Khlang, Phraja Phra Khlang, và Cawpharaja Phra Khlang ở các thời kì sau đó[1]. Tuy nhiên tất cả các tên này vẫn duy  trì ý nghĩa chung như người đứng đầu Bộ Ngân khố hoặc kho hàng. Sự khác nhau duy nhất là nằm trong danh hiệu đứng trước từ Khlang*. Khi các thương nhân châu Âu tới Xiêm, họ viết từ Phra Khlang thành ký tự La-tinh trong thứ tiếng của chính họ như những gì họ nghe thấy và kết quả là nó biến thành Barcalon trong tiếng Bồ Đào Nha, Pra-clang trong tiếng Pháp và Berkelangh trong tiếng Hà Lan[2].

Xét về lịch sử, Khun Khlang được lập ra bởi vua U-thqng, người sáng lập Ayutthaya, như một cơ quan quan trọng đảm nhận ngân khố hoàng gia[3]. Dưới triều vua Bqrommatraj-logkanad (1448-1488), tên gọi của nó được đổi thành Phra Kosathibqdi hay Phra Khlang[4]. Cho tới thời kì này, các sứ đoàn tới Trung Quốc vốn được bắt đầu từ thời kì Sukhothai là dấu hiệu ngoại thương duy nhất của Xiêm. Các vua Xiêm coi các sứ đoàn được gửi đi này như là phương tiện nhằm tiến hành thương mại. Thương mại với Trung Quốc trong thời kì đầu này được điều hành tương đối tự do không có sự can thiệp nào từ phía chính phủ. Sự thay đổi bắt đầu diễn ra sau khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên tiếp xúc với Xiêm vào năm 1512  dưới thời vua Ramathibqdi II (1491-1529). Thương mại của Xiêm với Bồ Đào Nha đi cùng với buôn bán với Trung quốc đã mở rộng đều đặn tới độ phần thu nhập từ thuế tốt nhất của hoàng gia có nguồn gốc từ ngoại thương. Bản thân các vua Xiêm cũng dần dần can dự sâu hơn vào công việc buôn bán. Vào đầu thế kỉ 17, vua Shongtham (1620-1628), người “là một thương nhân có thế lực” hơn là một “võ sĩ”, đã mang tới một sự thay đổi ấn tượng trong sự phát triển thương mại bằng việc đặt tất cả ngoại thương dưới sự điều hành của Phra Khlang[5]. Vua Prasadthqng người thừa kế vương miện vào năm 1630 đã tạo ra tín hiệu thay đổi khác bằng việc tuyên bố sự độc quyền nhà nước về thương mại[6]. Có lẽ ông ta đã vay mượn phong tục độc quyền này từ các thương nhân Ấn Độ, những người thường tới các cảng của Xiêm hoặc là được họ khuyên như vậy[7]. Sự độc quyền này đòi hỏi việc xây dựng các kho hàng của hoàng gia dưới tay các ông vua để trữ các hàng hóa độc quyền bán cho thương nhân nước ngoài và các món hàng nước ngoài bán cho người Xiêm. Những kho hàng này, tất cả có 12 kho* rõ ràng đã bị ảnh hưởng bởi các thương nhân châu Âu, những người đã xây dựng các kho hàng ở bất cứ nơi nào họ có mối quan hệ thương mại[8]. Việc quản lý và kiểm soát các kho hàng này  giống như trước đó nằm dưới tay Phra Khlang và kéo dài tới thời kì Bangkok hoặc Cagkri[9]. Nó đã trở thành phong tục rằng tại lễ lên ngôi của vua mới, Phra Khlang phải thu thập tất cả sự giàu sang của hoàng gia trong 12 nhà kho cho vua mới tùy nghi sử dụng. Ví dụ như trong lễ lên ngôi của vua Mongkut năm 1851, Phraja Phiphadakosa, viên phó của Phra Khlang, người đóng vai trò thay mặt cấp trên của ông ta, đã nói: “ Thần xin trân trọng trình lên bệ hạ tất cả của cải trong 12 kho báu, thứ thuộc về sự tùy nghi của bệ hạ…”[10].

Thầm quyền của Phra Khlang đối với ngoại thương bao gồm từ việc mua và bán hàng hóa cho chính phủ tới việc thu thuế hải quan. Ông ta cũng giám sát công việc nói chung của các tỉnh duyên hải miền đông nam[11]. Bởi vì phần lớn người nước ngoài đến Xiêm là để buôn bán, họ chắc chắn đã phải giải quyết công việc với Phra Khlang. Họ phải đăng kí để xin giấy phép thương mại hoặc Tra (con dấu) từ ông ta[12]. Kết quả là, ông ta đã có can dự tới tất cả các vấn đề liên quan tới người nước ngoài và được họ biết tới như là Bộ trưởng bộ ngoại giao[13]. . . Tất cả việc cư trú của người nước ngoài cũng nằm trong sự phán xử của ông ta. Ông ta có quyền lực trong việc tiến hành các quan hệ ngoại giao bao gồm cả việc thay mặt vua kí các hiệp ước. Ví dụ như,  viên  Phra Khlang  đã kí hiệp ước bất bình đẳng với Hà Lan ngày 22 tháng 8 năm 1644[14]. Thêm vào đó, ông ta cũng đảm nhiệm việc đón tiếp các sứ giả nước ngoài. Theo truyền thống của người Xiêm, chỉ những lá thư của vua hay người đứng đầu nhà nước hoặc cấp bậc tương đương mới được chuyển trực tiếp tới vua Xiêm: trái lại chúng bắt buộc phải chuyển tới Phra Khlang và từ đó các sứ giả nước ngoài mới có được giấy phép để yết kiến hoàng gia. Thực tế này thường được người nước ngoài biết tới thể hiện rõ ràng trong những bức thư của ông Richard Burnaby và ông Geogre White, hai thương nhân người Anh gửi tới ông Steynsham Master thống đốc tại Fort St. George. Lá thư đã khuyên ông ta:

 

… Nếu từ giờ trở đi có việc gì cần phải gửi tới nhà vua, không được gửi trực tiếp tới nhà vua mà chỉ có thể gứi tới bộ trưởng Barcalong…[15]

 

Thật là thú vị là vào năm 1679, hai thương nhân người Anh là ông Ralph Lambton và ông Richard Burnaby, cả hai đều thỉnh cầu Phra Khlang xin ông ta giải quyết sự tranh cãi giữa hai người. Điều này nói lên rằng ông ta có quyền lực đáng kể đối với người nước ngoài. Tuy nhiên, do không muốn can dự vào các việc có tính cá nhân ông ta đã chỉ định một thương nhân người Ba tư giải quyết sự tranh cãi này. Sự việc cuối cùng đã được giải quyết với vai trò trung gian của thương nhân Ba tư vào tháng 4 năm 1679[16].

Từ sự trình bày nói trên rõ ràng rằng tất cả các sự kiện đối ngoại của người Xiêm đều được điều hành trong cái khung thương mại và dưới độc quyền của bộ trưởng bộ Ngân khố-Phra Khlang. J. Crawfurd, đại sứ Anh tới hoàng gia Xiêm vào đầu thế kỉ 19 đã miêu tả thẩm quyền của Phra Khlang như sau:

 

Prah-Khlang đảm nhiệm tất cả các vấn đề liên quan tới thương mại và độc quyền của hoàng gia  và bởi vì chính phủ Xiêm không công nhận bất cứ mối quan hệ với nước ngoài nào ngoài những gì liên quan tới thương mại cho nên ông ta cũng được hiểu ngầm là bộ trưởng bộ ngoại giao… Ông ta cũng giám sát các công việc chung của các tỉnh phía đông hoặc các tỉnh được chỉ định bắt buộc trồng và cung cấp hạt tiêu, bạch đậu khấu, và các sản phẩm nông nghiệp khác[17].

Không lâu sau sứ đoàn của Crawfurd, Charles Gutzlaff đã viết về Phra Khlang như sau:

 

Danh hiệu này đã được người châu Âu ở Xiêm biết tới trong nhiều thế kỉ có lẽ bởi vì họ phải tiến hành buôn bán với viên chức này, Okya Phra Khlang phụ trách các công việc thương mại của nhà vua, những chiếc thuyền của ông ta và một số loại thuế nhất định như thuế hải quan được thu tại các cảng của vương quốc… Thêm nữa, …tất cả các vấn đề có liên quan đến chính sách ngoại giao và các quan hệ ngoại giao phát sinh từ đó và khi nhiều năm qua đi thì cơ quan này được người nước ngoài biết đến như là cơ quan ngoại giao[18].

 

Nhiều cơ quan cấp dưới thuộc  sự chỉ đạo của Phra Khlang cũng tham dự vào các vấn đề ngoại giao. Các quý tộc hàng thứ hai với danh hiệu Phraja Srihohiphad và Phraja Phiphadkosa là hai trợ thủ cao cấp nhất. Thêm nữa, cũng có 4 quý tộc hàng thứ hai khác (Phraja), hai quý tộc hàng thứ ba (Phra) và 11 quý tộc hàng thứ tư (Luang) trong cơ quan giúp Phra Khalang điều hành các hoạt động đối ngoại[19].

Trong thời kì Ayutthaya, có vẻ như các mối liên hệ với người Trung Quốc và các thương nhân Hồi giáo quan trọng hơn nhiều so với các người châu Âu[20]. Một bằng chứng là thủ lĩnh của những cư dân người Trung Quốc và thủ lĩnh của cư dân Hồi giáo ở Xiêm thường được chỉ định nắm hai vị trí quan trọng trong cơ quan của Phra Khlang. Phraja Cularadchamontri hay người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía phải (Krom Tha Khwa) và Phraja Chodygrachasedthi, người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía trái luôn luôn được dành cho thủ lĩnh người Trung Quốc và thủ lĩnh người Hồi giáo. Thủ lĩnh người Hồi giáo giúp Phra Khlang kiểm tra, giám sát các hoạt động thương mại và ngoại giao với các quốc gia ở phía tây của Xiêm nơi thủ lĩnh người Trung Quốc tiến hành tương tự nhưng với các quốc gia ở phía đông.

Bên cạnh Phra Khlang và thuộc cấp của ông ta, nhà vua đôi khi cũng chỉ định các viên chức tin cẩn khác để giải quyết một số trường hợp đặc biệt liên quan đến các vấn đề đối ngoại. Ví dụ một đô đốc của đội quân đánh thuê người Nhật* đã được vua Ekathodsarod (1605-1620) ủy quyền để kí hiệp ước với Houtman, một đại diện của chính phủ Hà Lan vào ngày 12 tháng 6 năm 1617 liên quan tới các quy định đối với việc buôn bán da hươu nai và các động vật khác[21]. Trong một vài trường hợp, các thành viên của gia đình hoàng gia cũng tham dự vào các sự kiện đối ngoại. Dưới triều vua Rama II thời kì Bangkok, hoàng tử Krom Chiat (Cedsadabqdin), người sau này trở thành vua Rama III đã được J. Crawfurd đề cập đến như là trợ thủ của Phra Khlang, tự mình giám sát cơ quan phụ trách ngoại giao và ngoại thương cùng Phra Khlang[22].  Sự can dự của hoàng tử Cedsadabqdin vào các sự kiện đối ngoại nảy sinh từ sự can dự của ông trong lĩnh vực buôn bán. Vua Chulalongkorn hay Rama V viết về mối quan tâm của  hoàng tử Cedsadabqdin đối với thương mại như sau:

 

Có lẽ hơn ai hết, ông hiểu được sự cần thiết của ngoại thương đối với nguồn thu từ thuế của quốc gia. Bản thân ông sở hữu nhiều thuyền buôn và rất thành công khiến cho cha ông (Rama II) thường gọi đùa ông là “nhà buôn”[23].

 

Từ sự bàn thảo trên chúng ta có thể kết luận rằng Bộ trưởng bộ Ngân Khố là cơ quan quan trọng nhất của người Xiêm giải quyết các công việc liên quan đến quan hệ với người nước ngoài. Nhưng để có bức tranh rõ ràng hơn về sự quản lý của người Xiêm trong các mối quan hệ đối ngoại cần phải điều tra thêm các khía cạnh khác trong các quy định, phong tục đối ngoại của người Xiêm.

Tư tưởng  của Xiêm về  sứ giả và sứ đoàn

John Crawfurd, người đã gặp khó khăn trong việc đàm phán với người Xiêm tin rằng tư tưởng ngoại giao của Xiêm, thứ vốn rất khác tư tưởng ngoại giao của người châu Âu là những trở ngại chính đối với việc hoàn thành sứ mệnh của ông. Ông đã khéo léo miêu tả những tư tưởng này như sau:

 

Xiêm và các quốc gia châu Âu xét ở phương diện các sứ đoàn ngoại giao rất khác nhau về bản chất. Đối với người Xiêm thì sự trọng vọng chủ yếu được dành cho lá thư được mang tới chứ không dành cho sứ giả người mang lá thư và họ được coi không khác gì người đưa tin danh dự[24].

 

Sự quan sát của Crawfurd là chính xác. Trong khi phong tục của châu Âu trọng vọng sứ giả như là một cá nhân,  người thay mặt thật sự của nhà vua hay người đứng đầu nhà nước và đối xử với ông ta như thế thì trái lại Xiêm chỉ coi ông ta như một người đưa tin. Các quốc gia phương Tây coi thư của hoàng gia như là lá thư giới thiệu sứ giả trong khi Xiêm  coi nó như là đại diện thực sự của vua và dành cho nó những nghi lễ long trọng, cầu kì[25]. Bất cứ khi nào Xiêm gửi đi một thông điệp hoàng gia, nó luôn được đi kèm theo các sứ giả với thuyền của hoàng gia đi hộ tống cho đến tận nơi, ít nhất là đến tận biên giới của quốc gia cần đến[26]. Không có sứ giả nào được phái đi mà không có thư của hoàng gia hay thứ gì đó thay thế đi kèm. Trong khoảng thời gian giữa hai đoàn sứ giả, Phra Khlang là người liên lạc giao thiệp với nước ngoài ở cấp độ bộ trưởng. Thư của hoàng gia, trong phong tục phương Tây, có thể được gửi tới mà không có sứ giả đi kèm, một phong tục được coi như là một sự không thích hợp hay sự lăng mạ đối với người Xiêm. Giống như một quy tắc, lá thư của hoàng gia Xiêm được khắc trên một chiếc đĩa vàng với một bản sao trên giấy đi kèm. La Loubere, sứ giả người Pháp tới Xiêm vào thế kỉ 17 đã viết trong cuốn sách của ông chuyện sứ giả đã nhận được rất ít sự trọng vọng từ triều đình Xiêm trong sự tương phản với sự trọng vọng mà họ giành cho lá thư của hoàng gia. Ông viết:

 

Một sứ giả ở phương Đông chẳng qua cũng chỉ là người đưa tin của nhà vua: ông ta không thay mặt cho ông chủ của mình. Họ ít trọng vọng ông ta so với sự kính trọng được dành cho quốc thư mà họ mang theo. Mr. de Chaumont (sứ giả Pháp tới Xiêm trước La Loubere), mặc dù là một sứ giả xuất sắc, chưa bao giờ có được một chiếc Balon (thuyền rồng hoàng gia) trong đoàn của mình mà chiếc thuyền rồng được dành cho lá thư của nhà vua, thứ ông phải chuyển tới vua Xiêm. Chiếc thuyền rồng này có tới 4 chiếc lọng, mỗi chiếc được bố trí ở từng góc ngồi, và có tới bốn chiếc thuyền rồng khác nhập vào đoàn được trang hoàng với những chiếc lọng[27]

 

Thêm nữa, trong khi các sứ giả châu Âu là các đại diện toàn quyền, các sứ giả Xiêm không có thẩm quyền gì trong việc đưa bất cứ thỏa thuận nào. Thứ duy nhất mà họ được phép làm là làm rõ hay giải thích những gì còn tối nghĩa trong lá thư của hoàng gia và tất cả chỉ có thế[28].

Liên quan đến thứ hạng của sứ giả, phong tục của Xiêm cũng khác với phong tục ở các nước châu Âu. Các quốc gia châu Âu chỉ coi người đứng đầu sứ đoàn là sứ giả còn các bộ trưởng và nhân viên đi cùng là thuộc cấp của người thay mặt vua. Trái lại, Xiêm coi cả ba quan chức đứng đầu trong sứ đoàn của Xiêm là các sứ giả. Ba quan chức đứng đầu này có danh hiệu chính thức là Radchatud (sứ giả hoàng gia), Uboratud (sứ giả hoàng gia hàng thứ hai) và Tritud (sứ giả hoàng gia hàng thứ ba)[29]. Tuy nhiên hai sứ giả đứng sau phải tuân theo lời sứ giả thứ nhất. Tầm quan trọng của mỗi quốc gia nước ngoài đối với Xiêm được xác định bằng thứ hạng chính thức của sứ giả Xiêm. Các sứ giả của Xiêm tới các quốc gia nhỏ thường thuộc hai hệ thống cấp bậc thấp nhất: Luang và Khun. Những sứ giả tới các quốc gia lớn hơn thuộc hàng thứ ba: Phra[30]. Trên thực tế, các sứ giả của Xiêm hiếm khi có thứ bậc lớn hơn Phra. Thực tế này diễn tả rằng ông ta “không được coi như nhân vật rất quan trọng”[31].

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

 


[1] Khun là một danh hiệu kính trọng dành cho quý tộc Xiêm có địa vị cao hơn danh hiệu có tên tương tự ở thời kì sau. Qgja là thứ bậc cao nhất tại thời điểm nó được sử dụng. Phraja là chính xác cũng giống như Qgja nhưng ở vào thời  gian đó nó được dùng như thứ bậc thứ hai sau Cawphraja vốn được thêm vào các thứ bậc quý tộc trong thời kì Ayuthaya sau đó.

Trong thời Ayutthaya, thứ bậc quý tộc Xiêm gồm 5 danh hiệu. Thứ nhất: Qgja, thứ hai: Qgphra, thứ ba: Qgluang, thứ tư: Qgkhun, thứ năm: Qgmyn. Khi danh hiệu Cawphraja được thêm vào như thứ bậc thứ nhất các thứ bậc khác hạ thấp hơn một bậc và tên của chúng đổi thành Phraja, Phra, Luang, Khun và Myn.

* Từ Khlang trong tiếng Xiêm có nghĩa “ngân khố” hoặc “kho hàng”

[2] Các phiên bản khác của Phra Khlang là: Berkelang, Barckelangh, Berklam, Berquelang, Concusa, Brah Glan, Phismachan, Schimacha, Barbalong.

[3]  Có 4 cơ quan cao cấp được thành lập cùng nhau trong thời gian này: Khun Wiang ( Wiang =thành phố) đảm nhận các sự kiện nội địa ở thành phố, thị tứ, Khun Wang (Wang= lâu đài) đảm nhận các sự kiện trong cung, Khun Khlang đảm nhận ngân khố hoàng gia và Khun Na (Na=ruộng lúa) đảm nhận nông nghiệp.

[4] Damrong Rajanubhab, Prince, The Royal Chronicle (Phrarad-chaphongsawadan Chabab Phraradachahadleka) ( tiếng Xiêm), I (Bangkok: Cdiansato, 1962), 413-414.

[5] Sarasas, Phra. My Country Thailand:  Its History, Geography, and Civillization ( Tokyo: Maruzenko., 1942), 56: đồng thời xem V. Thompson, Thailand: The New Siam (New York: The MacMillan Co., 1941), 418.

[6]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign of the Bangkok Dynasty (Phraradchaphongsawadan Krung Radtannakosin Radachankan Thi 2) ( tiếng Xiêm), II (Bangkok: Sygsaphan, 1962), 135.

[7] Ibid.

* Sibsqngthqngphrakhlang.

[8] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, Letters Communicated between the Two Princes ( Sansomded) ( tiếng Xiêm), XIII (Bangkok: Khurusapha, 1961), 181-183.

[9] Ibid., 142-144

[10] Thipakqrawong, Cawpharaja, The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, The Fourth Reign, B.E. 2394-2411 (A.D. 1851-1868) ( Chadin (Kanjanavanit) Flood dịch với sự giúp đỡ của E.T. Flood), (Tokyo: Centre for East Asian Cultural Sdudies, (1965)), I, 21.

[11] E. Roberts, Embassy to the Eastern Court of Cochin-China, Siam, and Muscat (New York: Harper &Borthers, 1837), 302

[12] Records of the Relations between Siam and Foreigns Countries in the Seventeenth Century ( Copied from papers presented at the India Office) (Bangkok, 1915-1921), II, 119-120.

[13] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers: A Collection of Official Records Relating to the Mission of Dr. John Crawfurd…. ( Bangkok: Vajiranana National Library, 1915), 123.

[14] Records of the Relations…., op. cit., 66-71.

[15] Ibid., 242.

[16] Ibid., 234-235.

[17] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 123-124

[18]  C. Gutzlaff, A Sketch of Chinese History, Ancient and Modern (London: Smith, Elder & Co., 1834), II, 367

[19] E. Roberts. Op. cit., 302; đồng thời xem J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 168.

[20] Theo Prince Damrong Rajanubhab, người Xiêm thích buôn bán với người Hồi giáo và người Trung Quốc hơn người châu Âu bởi vì người Hồi giáo và người Trung Quốc tuân thủ luật lệ và phong tục của đất nước trong khi người châu Âu thì không và thường tranh chấp lẫn nhau. Xem Damrong Raja-nubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., I, 138-139

* Tên của ông ta được biết tới là Olong Luupatou Opra, một người bí ẩn. Xem Records of the Relations, loc. Cit.

[21]  Records of the Relations…., op.cit., I, 77.

[22] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers…, op. cit., 124.

[23] Chulalongkorn, King of Thailand, Text for a Sermon in Honor of King Rama III (tiếng Xiêm) (Bangkok, 1939), 38, được dịch và trích dẫn bởi  hoàng tử Chula Chakrabongse, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 1945.

[24]  J. Crawfurd, Journal of an Embassy to the Court of Siam and Cochin-China (London: Oxford U. Press, 1967), 80.

[25] H.G.Q. Wales, Siamese State Ceremonies: Their History and Function (London: B. Quaritch, 1931), 180.

[26] Saengsom Kasemsri, M.R., A Series of Lectures Concerning Thai History (given at Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand, in 1963).

[27] La Loubere, Simon de, A New Historical Relation of the Kingdom of Siam (S.P. Gen dịch từ tiếng Pháp) (London: Theodore Horne, 1693), I, 108.

[28]  Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[29] La Loubere, Simon de, loc . cit: H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 185.

[30] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit

[31] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.

Quan hệ triều cống Trung-Xiêm 1282-1853 (II)

August 28, 2013 Leave a comment

Chương I.  Bối cảnh lịch sử

Vai trò truyền thống và sự phát triển của hệ thống triều cống

Khi thảo luận về mối quan hệ Trung-Xiêm, cần phải hiểu được những khái niệm chung và sự phát triển của hệ thống triều cống Trung Hoa thứ đã đóng vai trò như là phương tiện trung gian đối với sự tương tác với nước ngoài[1].  Ngay từ đầu cần phải chỉ ra rằng hệ thống này không phải được dựa trên những nguyên tắc bình đẳng như ở các quốc gia phương tây mà là dựa trên sự công nhận cương vị chúa tể của Trung Quốc[2]. Do sự khác biệt cơ bản này, nó trở nên cần thiết để xác định  giá trị kinh tế, chính trị, tư tưởng thực sự của hệ thống để có thể xác định mức độ bá chủ của Trung Quốc đối với những người dã man.

Trước hết, từ “triều cống” là từ tương đương nhất của phương Tây ứng với chữ Hán “kung” (Cống), chữ có xu hướng gây ra sự hiểu lầm. Tình hình ở phương Tây trong thời phong kiến, khi từ “triều cống” được tạo ra để miêu tả mô hình chính trị giữa  tôn chủ và các nước chư hầu về cơ bản là khác với những gì thực sự diễn ra ở Đông Á. Do đó, nghĩa của từ “triều cống” trong lịch sử phương Tây không thích hợp để diễn tả sự liên lạc Trung Quốc-nước ngoài. Tuy nhiên để cho thuận tiện, khái niệm “triều cống” vốn đã được dùng rộng rãi sẽ được giữ lại để thay thế cho từ tiếng Trung “kung” nhưng nghĩa thực sự phải được hiểu trong giới hạn truyền thống Nho giáo Trung Hoa[3].

Trong lịch sử Trung Quốc, từ “kung” có nhiều cách dùng và nhiều nghĩa. Nếu nó được dùng trong  việc miêu tả phái đoàn triều cống, khái niệm “ching-kung fang-wu” (Tiến cống phương vật), thứ có nghĩa là sự giới thiệu các sản phẩm của địa phương thường bao gồm ba loại khác nhau – sự triều cống đích thực (Cheng-kung, Chính-cống) do vua chư hầu dâng lên hoàng đế; sự triều cống của các sứ giả tới triều đình Trung Quốc, hàng hóa đơn thuần để buôn bán[4]. Từ tương tự  cũng được áp dụng cho các sự kiện nội địa. J.K. Fairbank giải thích rằng:

 

       Từ “kung” được dùng để chỉ sự  triều cống những thứ được dâng lên từ các ông vua nước ngoài không phải là người Trung Quốc và nó cũng có mối liên hệ với các mô hình nội địa như “cống mễ” (Ts’ao-mi hay kung-mi) thứ được chuyên chở bằng thuyền hàng năm từ vùng hạ lưu sông Dương Tử tới Bắc Kinh; hoặc là “cống sinh” (Kung-sheng), một loại người có bằng cấp mua bằng tiền trong hệ thống thi cử của nhà Thanh[5].

 

Hơn nữa từ “hsien”, “feng piao” hoặc “piao chou” và ch’ao (triều), bên cạnh từ “kung” (cống),  cũng được sử dụng để miêu tả đoàn sứ giả từ nước ngoài trong cố gắng bày tỏ sự quy phục và và địa vị thấp kém hơn của họ bởi vì những từ này có nghĩa là “dâng quà”, “đưa biểu cầu” lên hoàng đế hoặc “diện kiến hay vấn an thiên tử, người cai trị thế giới” một cách tôn kính[6].

Khi hệ thống triều cống được chú ý, nó được bắt nguồn từ những mối liên hệ lâu dài giữa Trung Hoa và người dã man[7]. Nó được sử dụng như là công cụ để thể hiện sự ưu việt của văn hóa Trung Hoa.

Những quan niệm tư tưởng phía sau hệ thống này tất cả đều được dựa trên vũ trụ quan Khổng giáo cho rằng tất cả mọi người đều có danh phận ở trong xã hội và phải tiết chế bản thân sao cho thích hợp. Nếu như mọi người biết được danh phận và nghĩa vụ của mình và luôn luôn làm đúng thế giới sẽ hòa bình và thống nhất.

Đạo đức phù hợp là nguyên tắc không thể thiếu để ràng buộc đời sống xã hội và nó không phải là thứ bị ép buộc bởi khế ước hay sức mạnh mà bằng cảm giác về “liêm sỉ” và “thanh danh”[8]. Trung Quốc với tư cách là trung tâm của văn minh thế giới sẽ phải là hình mẫu cho các quốc gia khác noi theo. Hoàng đế Trung Hoa, người nhận “mệnh trời” cai trị sẽ phải có đạo đức tốt và phải là hình mẫu cho tất cả loài người cả người Trung Quốc và người dã man. Niềm tin đi cùng với phương châm này được minh họa rõ ràng trong bản thân lời nói của hoàng đế Ung Chính (Yung-cheng):

 

        Trong số những thứ cho phép một ông vua cai trị thành công là khả năng bảo vệ tất cả thần dân và mong muốn trải rộng lòng nhân từ tới tất cả loài người. Ông ta sẽ thừa mệnh trời để yêu mến thần dân và tạo ra lý do khiến cho thần dân hân hoan với sự cai trị. Chỉ bằng cách này, ông ta mới có thể thống nhất quốc gia và tên tuổi ông ta sẽ được ghi nhớ với lòng biết ơn vĩnh viễn… Bởi vì triều đình của chúng ta tiếp nhận ý trời để cai trị và bởi nó đã chứng minh giá trị của mình bằng việc trải rộng lòng nhân từ và bảo vệ tất cả mọi người một cách công bằng, tại sao lại có sự phân biệt đối xử chỉ vì đó không phải là người Trung Quốc?[9]

 

Người Trung Quốc rất tự tin về nền văn hóa ưu việt của họ đến nỗi họ tin rằng những người dã man chưa được khai hóa sẽ đến Trung Quốc để tìm kiếm sự đổi thay và sự khai sáng. Để làm điều đó, những người dã man bị yêu cầu phải công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và thực thi tất cả các nghi thức xã giao, thứ làm cho họ trở thành thành viên của xã hội Nho giáo. Rõ ràng những tư tưởng này biểu đạt đặc điểm thứ bậc tôn ti bắt nguồn từ tín điều Nho giáo trong xã hội có phân chia thứ hạng. Trung Quốc luôn là cha, thủ lĩnh, anh hoặc bề trên trong khi các nước khác là con trai, môn đệ, em hoặc kẻ dưới. Như một nguyên tắc chung, mức độ của mối quan hệ giữa Trung Quốc và một quốc gia được xác định bằng khoảng cách. Quốc gia ở gần Trung Quốc sẽ có mối quan hệ gần hơn. Tất cả những điều này chính là các nguyên tắc tư tưởng chủ yếu của mối quan hệ qua lại của Trung Quốc với nước ngoài trong hệ thống triều cống.

Theo Yu Ying-shih[10], hệ thống triều cống đã phát triển dần dần từ hệ thống “ho-ch’in” (hòa thân) được hoàng đế  Cao Tổ (Kao-tsu)của triều Hán đưa ra  xuất phát từ kinh nghiệm quá khứ đối phó với các nước láng giềng. Trong hệ thống “hòa thân”, các món quà của triều đình và các công chúa Trung Quốc được tặng cho người dã man Hung Nô đổi lại họ sẽ phải thề không tấn công các vùng ở biên giới Trung Quốc[11].  Một nguyên tắc cũng được lập ra trong thời kì này: “Không nên đặt chân tới Trung Hoa nếu không mang theo triều cống”[12].  Có thể thấy rằng khía cạnh chính trị của hệ thống này trong thời Hán không nổi trội và kém xa lợi ích kinh tế  nếu có[13].

Về bản chất, tín hiệu chính trị đằng sau hệ thống này ngụ ý thừa nhận sự bá chủ của Trung Quốc.  Sự phục tùng của người dã man là khía cạnh cần thiết của trật tự chính trị Nho giáo. Mục đích cuối cùng là giành được sự ổn định chính trị dưới sự cai trị nhân từ của Thiên tử. Mặt khác, nguyên tắc chính trị này cũng liên quan tới việc phòng thủ của Trung Quốc. Quả thật, việc tặng các món quà của triều đình và những thứ khác thường nhằm trung lập hóa người dã man, những người đôi khi ở vị trí mạnh đe dọa an ninh của Trung Quốc. Mưu kế này ít nhất nhằm thực hiện ba mục đích quan trọng của Trung Quốc. Thứ nhất, thứ có thể gọi là  chính sách “nhân nhượng” được tạo ra để mua lấy hòa bình tạm thời. Thứ hai,  là âm mưu “chia để trị” (dĩ Di chế Di) để làm suy yếu người dã man bằng việc xúi giục họ chống lại lẫn nhau. Thứ ba, là liên minh với các nước hay bộ tộc mạnh để có được tình bạn hay lợi nhuận như mong muốn[14]. Sự áp dụng hệ thống này với mục đích chủ yếu là để phòng thủ đã đạt đến đỉnh cao trong suốt thế kỉ 11 và thế kỉ 12 dướng triều Tống. Đây là thời kì bất ổn cả ở bên trong và ngoài nước – thứ đã tác động tới chiến thắng của Nho giáo mới ở Trung Quốc. Trong số những thứ khác, học thuyết thịnh hành về quan hệ quốc tế  này đòi hỏi một sự phục tùng tuyệt đối từ tất cả các quốc gia mong muốn quan hệ với Trung Quốc[15]. Trong tầm nhìn thực tế rằng nhà Tống-Trung Quốc rất yếu về quân sự, yêu cầu về sự thần phục của người dã man không thể dựa trên sức mạnh mà dựa trên lời hứa hẹn ban tặng các đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, một hành động phải được xem như là biện pháp phòng thủ[16]

Mối quan hệ triều cống Trung Quốc-nước ngoài, như tôi đã đề cập, là dựa trên nguyên tắc qua lại được thể hiện dưới hình thức nghi lễ. Trong con mắt Trung Quốc, việc thực thi triều cống là một hành động của lễ hoặc là hành động thích hợp cần được tiến hành long trọng. Nó liên quan đến những dịp tiến hành triều cống và nghi lễ vào những ngày quan trọng như sinh nhật của hoàng đế, ngày tết .. với những nghi lễ phức tạp. Quan trọng nhất là việc các sứ giả nước ngoài phải tiến hành “quỳ lạy”  “kowtow” (Khấu đầu)*biểu hiện sự phục tùng. Đổi lại, hoàng đế  ân cần ban cho các vua nước ngoài những món quà có giá trị, các buổi triều kiến, tước vị quý tộc, con dấu của triều đình, lịch Trung Hoa và các thứ quý giá khác[17]. Thêm nữa, thành viên của sứ đoàn nước ngoài được tiếp đón trọng thể bằng nhiều buổi yến tiệc của triều đình. Tầm quan trọng của các nghi lễ đi kèm với hệ thống triều cống được chỉ rõ bởi thực tế rằng công việc đón tiếp sứ giả nước ngoài là độc quyền đặt dưới sự giám sát của Bộ Lễ.  Thêm vào đó, chi tiết duy trì trong buổi lễ như “khấu đầu” cho chúng ta chút nghi ngờ rằng Trung Quốc luôn luôn là bề trên.

Khỏi cần phải nói cũng biết người Trung Quốc đã gắn tầm quan trọng vào những chuyến viếng thăm của các đoàn sứ giả như thế nào. Từ thời xa xưa nhất trở đi họ đã chăm sóc chu đáo các sứ giả nước ngoài. Wang Gung-wu đã miêu tả mối quan tâm của người Trung Quốc như sau:

…. Triều cống từ người nước ngoài đã có một vị trí quan trọng trong  âm mưu  của triều đình và sự chăm sóc đáng kể  đã được tiến hành để giúp đỡ sứ giả, đưa họ gặp hoàng đế và bày tỏ sự trân trọng đối với sự viếng thăm của họ. Các cơ quan đặc biệt đều tham dự và các viên quan, thượng thư lớn tuổi đều tham dự các nghi lễ phức tạp đi kèm với triều cống cũng như sự viếng thăm của các ông vua nước ngoài[18].

Các sứ giả nước ngoài quả thật đã nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt và được ban cho nhiều đặc ân. Họ được ở trong các nhà trọ công và được đưa đón miễn phí, được nhận thức ăn cùng “tất cả những thứ cần thiết khi họ ở trong nước”[19]. Đồng thời người Trung Quốc giữ tất cả các sứ giả dưới sự giám sát bởi các quy định nghiêm ngặt. Độ lớn, hành trình và số lượng các thuyền và thành viên, tính chất của các món quà và lịch trình triều cống được áp đặt chi tiết  cho từng đoàn sứ giả thường xuyên của các nước.

Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc không có mối quan hệ quốc tế với quốc gia khác ngoài các mối quan hệ triều cống. Do đó, quan hệ thương mại nên được gọi là “thương mại triều cống” thay vì gọi là thương mại quốc tế[20]. Sự trao đổi các món triều cống của các nước chư hầu để lấy các món quà của triều đình có lẽ là một dạng phôi thai của ngoại thương Trung Quốc. Người ta thường biết đến một thực tế là các sứ đoàn người dã man tới Trung Quốc thường sử dụng hệ thống triều cống như là một sự ngụy trang cho thương mại, thói quen này được bắt nguồn từ thời Hán[21].  Không thể phủ nhận rằng sự cho phép buôn bán trực tiếp với Trung Quốc sau khi triều cống xong là sự hấp dẫn lớn lao đối với người dã man. Chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng hầu hết nếu như không muốn nói là tất cả các sứ đoàn triều cống đều có các thương nhân,  những người có mục đích chủ yếu là giành lấy đặc quyền thương mại đi theo. Mặt khác, trong con mắt hoàng đế Trung Quốc, giá trị đạo đức của triều cống quan trọng hơn khía cạnh kinh tế của nó. Khía cạnh kinh tế luôn bị phụ thuộc vào triều cống. Nếu xét ở góc độ kinh tế thì hoàng đế Trung Hoa không thu được gì mà chỉ có mất bởi vì các món quà của triều đình ban cho sứ giả  luôn luôn có giá trị lớn hơn nhiều các món đồ triều cống nhận được. Sự nhân nhượng thương mại được người Trung Quốc coi như là một phương tiện để có được thêm sự khao khát và tán tụng cụ thể hơn là sự phục tùng nhún nhường của những người dã man[22].

Tuy nhiên, rất khó để tách rời kinh tế khỏi các động cơ chính trị. John K. Fairbank khéo léo mô tả rằng hai thứ này không thể  tách rời nhau và rất rắc rối trong hệ thống triểu cống:

    …Thương mại và triều cống là những khía cạnh cùng nguồn gốc của một hệ thống riêng trong những mối quan hệ với nước ngoài, giá trị đạo đức của triều cống là quan trọng hơn trong suy nghĩ của các vua Trung Quốc và giá trị vật chất của thương mại trong suy nghĩ của những người dã man; mối cân bằng lợi ích này sẽ cho phép sự bằng lòng lẫn nhau và hệ thống tiếp tục hoạt động. … Dường như là không thể ở thời điểm đó để tạo ra một thứ tổng quát hơn: hệ thống triều cống là cái khung nơi tất cả các lợi ích, cả cá nhân và triều đình, kinh tế và xã hội đều tìm được sự biểu đạt của mình[23].

Sự giảm sút thương mại rõ ràng là bị theo sau bởi các nguyên tắc Nho giáo. Tuy nhiên trên thực tế, các viên chức Trung Quốc không can dự vào công việc thương mại dù là trực tiếp hay gián tiếp. Các sứ đoàn triều cống đạt đến mức độ cao nhất về số lượng và độ thường xuyên dưới triều nhà Minh[24]. Từ năm 1371 đến năm 1566, thương mại dưới hình thức triều cống dễ nhận thấy nhất. Tuy nhiên, sự chuyển đổi thú vị bắt đầu hình thành đặc biệt sau khi cuộc viễn chinh trên biển nổi tiếng của hoàng đế Vĩnh Lạc. Mặc dù thương mại triều cống vẫn là đặc trưng của thời kì này, nó đã bắt đầu bị suy yếu dần bởi sự tăng tiến về số lượng các thương nhân Trung Quốc buôn bán ở nước ngoài. Nhu cầu đối với hàng hóa Trung Quốc, thứ vốn hấp  dẫn người dã man tới Trung Quốc giờ đây suy giảm bởi vì chúng được cung cấp bởi các thương nhân Trung Quốc. Theo Fairbank xu hướng đảo ngược này là sự ứng phó chủ yếu đối với sự suy sụp dần dần của hệ thống triều cống chứ không phải là do ảnh hưởng của người châu Âu như người ta thường quan niệm[25].

Bất chấp lệnh cấm thương mại do các vua cuối triều Minh ban hành, thương mại vẫn hưng thịnh thông qua các con đường như buôn lậu, các viên chức Trung Quốc mang theo người hàng hóa và thương mại triều cống thứ duy nhất ít bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm. Các hoàng đế triều Thanh một lần nữa lại giống như các vua đầu triều Minh tích cực quan tâm tới “sự phát triển dưới hình thức nhất định của ngoại thương và ở một mức độ nào đó đã hiểu được những dính líu kinh tế của thương mại”[26]. Tuy nhiên, sau triều vua Khang Hi,  các vua tiếp theo đã phục hồi lệnh cấm buôn bán cho tới tận năm 1842 khi cánh cửa Trung Quốc buộc phải mở bởi người Anh.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch


[1]  Để biết thêm chi tiết những thảo luận về hệ thống triều cống, mời xem J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, “On the Ch’ing Tributary System”, in the  Ch’ing Admistration: Three Studies (Cambridge: Havard U. Press, 1961), 107-218; Leson de Rosny, Les Peuples Orientaux Connus des Anciens Chinois (2nd ed.; Pris: Lerouy, 1886). Để tìm hiểu chung về hệ thống này mời xem O. Latti-more, Innner Asian Frontiers of China (Boston: Beacon Press, 1962).

[2]  Trung Quốc tự coi mình là “Thượng Quốc” hoặc là tôn chủ và tất cả các nước khác đều bị coi là chư hầu.  A.B Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam, “Paper on China, XVII (December 1963) (East Asian Research Center, Havard University), 1-37; M.F Nelson, Korea and the Old Orders in Eastern Asia (Baton Rouge: Lousiana State U. Press, 1946).

 

[3] M. Mancall, “The Ch’ing Tribute System: An Interpretive Essay, “ trong J.K. Fairbank, ed,  The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Havard U. Press, 1968), 63.

[4] A.B. Woodside, Op. cit.,5.

[5] J.K. Fairbank, “A Preliminary Framework,” trong J.K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, op. cit., 10.

[6]  Wang Gung-Wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, pt. 2 (June 1958), 1.

 

[7] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy on the China Coast: The Opening of the Treaty Ports 1842-1854 (Cambridge: Havard U. Press, 1964), 23-28.

[8] M.F Nelson, op. cit.,98.

[9] Yung-cheng, hoàng đế Trung Quốc, “Chinese and Foreigners Are Members of One Family” trong “…Đại Thông Sử” ( Ahistory of the Ch’ing Dynasty) cảu Hsiao Yi-shan ( xuất bản năm 1962-1963 gồm 5 quyển), I, 928-930, được dịch bởi Dun J. Li, The Essence of Chinese Civillization (Princeton: D. Van Nostrand Co., 1967), 129.

 

 

[10] Yu  Ying-shih, Trade and Exoansion in Han China: A Study in the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations (Berkeley: U. of California Press, 1967.

[11] Ibid., 40

[12]  E.H. Parker, China. Her History. Diplomacy, and Commerce, from the Earliest Times to the Present Day (London: J.murray, 1901), 1.

[13] Yu Ying-shih, op. cit., 189

 

[14] Chao Chin-yung, A Brief History of Chinese Foreign Relations (Taipei: China Cultural Service, n.d, ), 25.

[15] Tsiang T’ing-fu, “China and European Expansion, “ Plitica, II, no.5 (March 1936), 3-4.

[16] Ibid.

* Ba quỳ chín vái

[17] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 135-145

[18] Wang Gung-wu, “The First Three Rulers of Mallacca, “ JRASMB, XLI, pt. 1 ( tháng 7 năm 1968), 15.

[19] Để biết thêm chi tiết mời xem Chang T’ien-tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644 (Leiden: E.J. Brill, 1934); J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit, 107-218; Chang Te-ch’ang, “Maritime  Trade at Canton during the Ming Dynasty, “ Chinese Social and Political Science Review, XVII, no. 2 (tháng 7 năm 1933), 264-282; The Chinese Repository, XIV, no. 4 ( tháng 4 năm 1845), 153-156.

 

[20] O. Lattimore, op. cit., 482-283; và Tsiang T’ing-fu, op. cit., 4.

[21] J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit., 139-142. Tham khảo các thảo luận sâu hơn về hệ thống triều cống trong M. Mancall, op.cit., 75-84

[22] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33

 

[23] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op.cit., 112-113

[24] Chang Te-ch’ang, op. cit., 265

[25] J.K Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33-36

[26] M. Mancall, op. cit., 85.

 

%d bloggers like this: