Archive

Archive for October, 2013

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (8)

October 31, 2013 Leave a comment

Sự đổi mới về  lý luận giáo dục lịch sử

 

Trong giai đoạn cải cách giáo dục thời hậu chiến (1947-1951), các trào lưu lý luận giáo dục đã du nhập mạnh mẽ vào Nhật Bản kết hợp với những thành quả về lý thuyết mà giáo dục Nhật Bản đã có trước đó tạo nên sự tác động mạnh mẽ đến giáo dục lịch sử. “Chủ nghĩa kinh nghiệm” là lý luận giáo dục có thể được coi là tiêu biểu nhất trong thời kì này.

Theo Từ điển giáo dục môn Xã hội (Hội giáo dục môn Xã Hội Nhật Bản, Gyosei, 2000,  tr.60) thì “kinh nghiệm có ý chỉ tổng thể kết quả được sinh ra từ mối quan hệ qua lại giữa con người và môi trường” (thế giới bao quanh con người) và tác dụng tương hỗ sinh ra từ đó”. Các nhà khoa học Nhật cho rằng: “Kinh nghiệm là yếu tố cơ bản nhất không thể thiếu đối với sự trưởng thành và phát triển của con người. Con người thông qua kinh nghiệm, chiếm lĩnh tri thức tồn tại trong thế giới xung quanh mà làm sâu sắc nhận thức. Nói một cách khác, con người thông qua kinh nghiệm thu thập các tri thức tồn tại trong thế giới với tư cách là thông tin và trong quá trình lấy nó làm công cụ và  làm sâu sắc tư duy sẽ chỉnh sửa hệ thống tri thức đã có và tiến hành tái cấu trúc hệ thống tri thức”. Nhà giáo dục học người Mĩ J.Dewey[1]-đại diện tiêu biểu của “chủ nghĩa kinh nghiệm”, gọi quá trình đó là “Tái cấu trúc không ngừng các kinh nghiệm” (Continous reconstruction of experience). Như vậy, “lý luận coi trọng vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục nói chung được gọi là lý luận giáo dục chủ nghĩa kinh nghiệm[2]

Trong số các nhà lý luận của “chủ nghĩa kinh nghiệm” có ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục Nhật Bản thì J. Dewey là đại diện tiêu biểu nhất. Các nhà giáo dục Nhật Bản cho rằng lý luận giáo dục theo “chủ nghĩa kinh nghiệm” của J.Dewey được tạo thành từ 3 nguyên lý:

Thứ nhất là nguyên lý “học thông qua làm” (learning by doing). Theo Dewey, kinh nghiệm được tạo thành từ sự cố gắng (trying) của chủ thể (người học) đối với môi trường và sự tác động từ môi trường-tức là nó được tạo thành từ phương diện chủ động và phương diện thụ động.

Thứ hai là nguyên lý “Tư duy phản tỉnh” (reflective thinking). Trước tiên chủ thể  bằng việc có cố gắng nhất định trước môi trường mà bị dồn ép vào “tình huống bất xác định” (Undeterminated situation), “tình huống có vấn đề” (problematic situation). J. Dewey đã  chia quá trình giải quyết vấn đề đặt trong tình huống như vậy thành 4 hoặc 5 bước (“cảm nhận vấn đề”, “suy đoán”, “điều tra”, “xây dựng giả thuyết”, “kiểm chứng giả thuyết”). “Tư duy phản tỉnh” có ý chỉ việc chủ thể vừa tuân theo theo các bước này vừa cố  gắng giải quyết tình huống có vấn đề mà chủ thể đang đối mặt thông qua  quá trình tích lũy các thử nghiệm.

Thứ ba là nguyên lý “tính liên tục” (contunity) với ý nghĩa là “sự tái cấu trúc không ngừng kinh nghiệm”. Nó có ý nghĩa chỉ sự liên tục của kinh nghiệm với tư cách là tác dụng tương hỗ của chủ thể với môi trường và sự phát triển của kinh nghiệm lên thành kinh nghiệm cao hơn về chất. Nói một cách khác, nó có ý nghĩa chỉ sự  xuất phát từ  tình huống cụ thể gần gũi nhất định sau đó chủ thể mở rộng nó, đưa nó thành tình thuống ở mức độ trừu tượng (một cách gián tiếp) đồng thời là  quá trình nâng cao kinh nghiệm một cách liên tục.

Ở Nhật Bản, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, “chủ nghĩa kinh nghiệm” của J. Dewey vốn được du nhập từ trước chiến tranh đã có ảnh hưởng mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi. Năm 1953, Yoshida Sadatoshi đã ứng dụng lý thuyết này để thiết kế và thực thi chủ đề học tập trong môn Xã hội mang tên “Úng ngập và chính trị thành phố”. Thực tiễn này xuất phát từ việc thảo luận về trải nghiệm liên quan đến nạn úng ngập vốn gần gũi với học sinh. Trong thực tiễn giáo dục này, học sinh vừa đặt ra những câu hỏi như “tại sao việc phục hồi từ sự úng ngập lại diễn ra chậm chạp?” vừa tiến hành so sánh sự úng ngập ở nơi mình  đang sống với sự úng ngập ở các tỉnh khác, phát hiện ra sự liên hệ giữa việc giải quyết vấn đề này dưới thời Edo[3] và việc trị thủy hiện nay. Bên cạnh đó, học sinh cũng mở rộng điều tra về  việc cải tạo sông ngòi ở Trung Quốc, Mĩ.

Thực tiễn giáo dục “Sự úng ngập và chính trị thành phố” nói trên là một ví dụ tiêu biểu về việc triển khai giờ học bắt đầu từ kinh nghiệm gần gũi của học sinh rồi tiến hành mở rộng, nâng cao về mặt không gian và thời gian.

Chủ nghĩa kinh nghiệm” trong một thời gian dài đã chi phối, tác động sâu sắc đến giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến và đem lại nhiều thành tựu. Tuy nhiên từ thập niên 60, 70 của thế kỉ XX trở đi bắt đầu xuất hiện những ý kiến phê phán “chủ nghĩa kinh nghiệm” khi giáo dục phải đối mặt với việc  đào tạo ra một số lượng lớn nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu  khoa học-kĩ thuật của nền kinh tế công nghiệp đang tăng trưởng mạnh mẽ. Những tranh luận xung quanh “chủ nghĩa kinh nghiệm” ở Nhật Bản hiện nay vẫn còn đang tiếp diễn.

 

(còn tiếp)

Nguyễn  Quốc Vương


[1] John Dewey (1859-1952), nhà giáo dục, nhà triết học người Mĩ.

[2] Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Từ điển giáo dục môn Xã hội, sđd, tr.60.

[3]  Tên một thời kì lịch sử Nhật Bản (1603-1867)

Advertisements

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (7)

October 31, 2013 Leave a comment

Sự ra đời các bản Hướng dẫn học tập 

 

Cải cách hành chính giáo dục trong thời hậu chiến cũng diễn ra mạnh mẽ. Có thể nói cải cách giáo dục diễn ra từ ngay trong lòng Bộ giáo dục. Bộ luật về cơ cấu tổ chức và quyền hạn của Bộ giáo dục ra đời cùng những điều chỉnh về cách thức tiến hành quản lý giáo dục đã thể hiện điều đó.

Đặc điểm nổi bật của hành chính giáo dục Nhật Bản thời trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai là “trung ương tập quyền”. Quyền lực của Bộ giáo dục bao trùm hệ thống giáo dục và can thiệp đến từng nội dung, phương pháp thậm chí là thời lượng, thời gian tiến hành của từng tiết học. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hành chính giáo dục được cải cách mạnh mẽ theo hướng  thu hẹp quyền lực của Bộ giáo dục, phân quyền cho các Ủy ban giáo dục ở các địa phương và  bảo đảm “tự trị trường học . Bộ giáo dục trở thành cơ quan tư vấn, trợ giúp về mặt chuyên môn và đảm bảo các điều kiện, môi trường cho các hoạt động giáo dục diễn ra một cách thuận lợi nhất. Văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục về nội dung, phương pháp giáo dục và được gọi  là bản “Hướng dẫn học tập . Các bản Hướng dẫn học tập có bản tổng quát cho toàn bộ khóa trình giáo dục, bản cho từng môn học và cấp học. Bản Hướng dẫn học tập  đầu tiên dành cho môn Xã hội được ban hành vào tháng 3 năm 1947. Bản Hướng dẫn học tập có thể được coi là bản chương trình khung quy định nội dung cơ bản của các môn học được giảng dạy tại các trường tiểu học, THCS, THPT và các trường đặc biệt dành cho trẻ em khuyết tật không phân biệt trường quốc lập, công lập hay tư thục. Đi cùng với việc ban hành bảnHướng dẫn học tập,  Bộ giáo dục cho thực hiện chế độ “Sách giáo khoa kiểm định[1] áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Kể từ năm 1947 đến nay cứ khoảng 10 năm bản Hướng dẫn học tập” lại thay đổi một lần. Bản “Hướng dẫn học tập” hiện tại nước Nhật đang dùng là bản được ban hành năm 2008.

 

(còn nữa)

 

Nguyễn Quốc Vương

 


[1] Các nhà xuất bản tư nhân được tham gia biên soạn SGK và đăng kí kiểm định với Bộ giáo dục. Nếu cuốn sách đăng kí được Hội đồng của Bộ duyệt nó sẽ được công nhận là SGK

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (6)

October 31, 2013 Leave a comment

Sự thay đổi về triết lý giáo dục lịch sử

 

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, triết lý giáo dục nói chung thay đổi đã dẫn đến những thay đổi quan trọng về triết lý giáo dục lịch sử. Ba nguyên lý cơ bản của Hiến pháp 1946 là cơ sở quan trọng để các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản xây dựng nên triết lý giáo dục lịch sử hậu chiến. Triết lý giáo dục lịch sử này ra đời từ sự “phản tỉnh” về giáo dục lịch sử trước năm 1945.Trước chiến tranh thế giới thứ hai, trong chương trình học tập ở các trường phổ thông Nhật Bản có tồn tại môn Quốc sử (Lịch sử Nhật Bản), tuy nhiên triết lý-mục tiêu giáo dục lúc bấy giờ là giáo dục nên những thần dân trung thành với Thiên hoàng, vì thế chức năng của bộ môn lịch sử đơn thuần chỉ là cung cấp các sự kiện, nhân vật lịch sử được “chọn lọc” phù hợp với lợi ích của nhà nước chuyên chế. Mục tiêu của giáo dục lịch sử trong nhà trường chỉ dừng lại ở việc “cung cấp và truyền đạt các tri thức” đã được quyết định sẵn. Giáo dục lịch sử trong nhà trường không hề chú ý đến việc hình thành các phẩm chất công dân của người học thông qua “phát triển tư duy lịch sử” cho học sinh. Trong các giờ học lịch sử, ý thức lịch sử, mối quan tâm, hứng thú của học sinh bị đặt sang một bên và giáo viên chỉ chăm chú truyền đạt và diễn giải nội dung của “SGK quốc định”.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xuất phát từ ba nguyên lý của Hiến pháp 1946 và triết lý giáo dục nói chung, triết lý giáo dục lịch sử đã thay đổi cho phù hợp khi đặt trọng tâm nhắm tới giáo dục nên người công dân có “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân ”. Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông giờ đây chuyển từ truyền đạt các tri thức và quan điểm lịch sử được nhà nước quy định trong chương trình và SGK sang trợ giúp, hướng dẫn học sinh hình thành nhận thức lịch sử khoa học. Hình ảnh con người mà giáo dục lịch sử giờ đây hướng tới là những người công dân[1] có tri thức, phẩm chất, năng lực, thái độ phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người.

(còn tiếp)

Nguyễn Quốc Vương


[1] Các nhà giáo dục Nhật Bản thường gọi là “người làm chủ”

 

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (5)

October 30, 2013 Leave a comment

1.2.1.2. Cải cách giáo dục lịch sử thời hậu chiến

 

Giải quyết giáo dục lịch sử quân phiệt

 

Trước khi bắt tay vào xây dựng giáo dục lịch sử mới thì nhiệm vụ cấp bách mà Bộ giáo dục Nhật Bản phải tiến hành dưới sự giám sát chặt chẽ của GHQ là giải quyết giáo dục lịch sử kiểu quân phiệt đang tồn tại.

Ngay sau 15/8/1945, Bộ giáo dục đã chỉ đạo các trường phổ thông loại bỏ khỏi SGK hiện hành những nội dung ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt và đưa vào sử dụng nhằm đảm bảo cho kì học mới bắt đầu từ tháng 9 được tiến hành bình thường. Trên thực tế việc cắt bỏ nội dung liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt và chủ  nghĩa dân tộc cực đoan chỉ được tiến hành đối với SGK Quốc ngữ vì sau đó không lâu các môn học như Tu thân, Quốc sử, Địa lí Nhật Bản bị đình chỉ.

 

 Sự ra đời của môn Xã hội

 

Tiếp theo, để xây dựng giáo dục lịch sử mới, môn Xã hội, một môn học hoàn toàn mới thể hiện tập trung triết lý của nền giáo dục dân chủ ra đời. Môn Xã hội (Nghiên cứu xã hội) là môn học được thiết lập lần đầu tiên ở Nhật Bản đã đóng vai trò trung tâm của cuộc cải cách. Mục tiêu, bản chất của môn này thể hiện một cách tập trung và rõ ràng nhất triết lý của nền giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng. Đây là môn giáo khoa được du nhập và chịu ảnh hưởng lớn từ môn Social Studies của Mĩ. Tuy nhiên trên thực tế, ở Nhật Bản trước năm 1945 đã tồn tại các mô hình thực tiễn có nhiều điểm tương đồng với môn Xã hội ở các trường tiểu học “cấp tiến” mà tiêu biểu là trường tiểu học Fukuzawa thuộc tỉnh Kanagawa.

Môn Xã hội tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1947 cho tới năm 1951 được gọi là môn Xã hội sơ kì. Đây là giai đoạn môn học này được xây dựng cả về nền tảng lý thuyết và các thực tiễn. Nó được định hình lần đầu tiên trong bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội I, II” được phát hành vào tháng 5, tháng 6 năm 1947[1]. Giờ học môn Xã hội được bắt đầu từ tháng 9 năm 1947 trên phạm vi toàn quốc. Trải qua các lần sửa đổi bản “Hướng dẫn học tập” vào các năm 1951, 1955, môn Xã hội đã có những điều chỉnh quan trọng về mặt lý luận.

Cơ sở xây dựng lý luận của môn Xã hội sơ kì (1947-1951) có thể tóm tắt gọn lại ở một điểm căn bản: “Sự giác ngộ về nhân quyền cơ bản”. Sự giác ngộ về các quyền con người đó có được là nhờ vào sự “phản tỉnh” về quá khứ 15 năm chiến tranh đau thương (1931-1945) và tác động của những trào lưu tư tưởng mới bên ngoài dội vào trong bối cảnh GHQ tiến hành cải cách mạnh mẽ. Từ chỗ coi trọng nhân quyền, lý luận này nhấn mạnh tính chủ thể và tư duy độc lập của học sinh. Bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” năm 1947 nhấn mạnh: “nếu như biết duy trì sự độc lập của bản thân, biết hưởng thụ cuộc sống thực sự là người… thì có thể lý giải được mối quan hệ cùng tồn tại của cuộc sống người khác và có thể có được ý chí mãnh liệt muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn[2]. Mục tiêu của giáo dục giờ đây là những công dân có tư duy độc lập, có tinh thần phê phán. Đó là những “con người không bị đánh lừa bởi đám đông thời thế”, “con người không bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền dối trá”. Những con người ấy “không những không xâm phạm người khác mà còn chủ động mở rộng một cách tích cực những điều mình nghĩ tốt đẹp ra xung quanh[3].

Để đạt được mục tiêu giáo dục nói trên, nội dung và phương pháp giáo dục môn Xã hội được nghiên cứu  rất kĩ. Nội dung và phương pháp giáo dục này nhấn mạnh tính chủ thể của học sinh, coi trọng “trải nghiệm” trong cuộc sống của học sinh và đặt trọng tâm vào học tập giải quyết các vấn đề thiết thực đối với học sinh. Trong “học tập giải quyết vấn đề” này sự “nhồi nhét” tri thức, “truyền đạt tri thức” bị loại trừ. Ở đó, học sinh không tiếp nhận thụ động, vô điều kiện các tri thức mà giáo viên đưa ra, coi nó là chân lý tuyệt đối mà học sinh dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên sẽ phải tìm kiếm các tri thức  từ nhiều nguồn khác nhau và biến nó thành tư duy của mình. Có thể nói giáo dục môn Xã hội trong giai đoạn này đã chuyển từ “truyền đạt tri thức” sang hình thành và phát triển năng lực nhận thức khoa học cho học sinh. Sau này, mặc dù xuất hiện các ý kiến phê phán lý luận môn Xã hội sơ kì quá coi trọng “chủ nghĩa kinh nghiệm” mà coi nhẹ tính hệ thống, làm cho học lực của học sinh suy giảm nhưng triết lý giáo dục nên người công dân có tư duy độc lập và tinh thần phê phán là điểm nhận được sự đồng thuận cả trong quốc dân Nhật Bản và giới học giả.

 

(còn tiếp)

Nguyễn Quốc Vương


[1] Bản hướng dẫn học tập  dành cho các môn giáo khoa tự chọn của môn Xã hội THPT được phát hành vào tháng 7, 10 năm 1947

[2] Dẫn theo Hội giáo  giáo dục môn Xã hội Từ điển giáo dục môn Xã hội, Gyosei, 2000, tr.58

[3] Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Từ điển giáo dục môn Xã hội, sđd, tr.58.

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (4)

October 30, 2013 Leave a comment

1.2. Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

 

1.2.1. Cải cách giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản thời hậu chiến (1945-1950)

 

1.2.1.1. Sự phản tỉnh về sử học và giáo dục lịch sử trước và trong chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Trong bối cảnh cải cách giáo dục được xúc tiến mạnh mẽ, giới sử học và giáo dục lịch sử cũng đã có những động thái nhìn nhận lại sử học và giáo dục lịch sử thời trước chiến tranh và đề ra phương hướng trong thời đại mới.

Từ ngày 15/8/1945 tới 30/3/1946, Bộ giáo dục đã họp hội nghị bàn bạc thảo luận đưa ra Đề án lần 1 và lần 2 về “Phương châm giáo dục Quốc sử”. “Phương châm giáo dục Quốc sử” lần  2 (19/10/1946) có 4 nội dung chính[1] sau:

1. Xem xét lại  các thần thoại truyền thuyết một cách khoa học.

2. Cần phải nghiên cứu, giảng dạy lịch sử của nhân dân chứ không phải chỉ tập trung vào  lịch sử vương triều, quý tộc.

3. Cần phải nhìn lịch sử từ quan điểm lịch sử thế giới rộng lớn thay vì  nhìn từ quan điểm Nhật Bản chật hẹp.

4. Cần ưu tiên lịch sử văn hóa, kinh tế, sản xuất hơn là lịch sử chiến tranh, chính biến.

Sau khi “Phương châm giáo dục quốc sử” được công bố, trên các báo và tạp chí liên quan tới sử học và giáo dục lịch sử, các học giả Nhật Bản đã nghiêm túc nhìn nhận lại một cách toàn diện sử học và giáo dục lịch sử Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai đồng thời rút ra những hạn chế sau:

+ Sử học và giáo dục lịch sử bị chi phối nặng nề bởi chính trị và “chủ nghĩa lợi hại”,  ca ngợi chủ nghĩa dân tộc cực đoan, không có tự do học thuật.

+ Sử học và giáo dục lịch sử bị chia cắt, tách rời. Các nhà sử học không quan tâm tới giáo dục lịch sử, sa đà vào xu hướng “hàn lâm”. Nhiều sự thực lịch sử không được phép giảng dạy trong nhà trường dù đã được giới sử học thừa nhận[2].. .

+ Nghiên cứu lịch sử chỉ chú trọng vào sự thay đổi các vương triều, các cuộc chính biến, chiến tranh không chú ý làm rõ đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của quốc dân.

+ Lịch sử Nhật Bản được coi trọng quá mức và tầm nhìn nghiên cứu hạn hẹp. Lịch sử Nhật Bản được nghiên cứu và giảng dạy hầu như tách rời khỏi lịch sử thế giới và không được nhìn nhận, đánh giá từ góc độ lịch sử khu vực và thế giới.

+ Các thần thoại, truyền thuyết hoang đường bị lợi dụng và đưa vào giảng dạy như là căn cứ khoa học[3].

Sự phản tỉnh nói trên về sử học và giáo dục lịch sử trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã có tác dụng tích cực thúc đẩy công cuộc cải cách và gợi mở hướng đi mới cho các học giả, các nhà giáo dục Nhật Bản.

 

(còn nữa)

 

Nguyễn Quốc Vương


[1] Usui Yoshikazu, “Senzen rekishi kyoiku no hansei to shakaika rekishi kyoiku – Sự phản tỉnh về giáo dục lịch sử trước chiến tranh và giáo dục lịch sử trong môn Xã hội”, trong cuốn “Atarashii rekishi kyoiku 6 – Tân giáo dục lịch sử 6”, Otsuki shoten, 1994, tr.16.

[2] Ví dụ nguyên nhân quân Mông Cổ thất bại ở Nhật không pahri là do “thần phong” hay Nhật Bản là đất nước thần thánh mà đơn giản là thuyền quân Mông Cổ bị bão đánh chìm.

[3] Ví dụ như truyền thuyết về các Thiên hoàng, truyền thuyết về sự ra đời của đất nước Nhật Bản.

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (3)

October 30, 2013 Leave a comment

PHẦN NỘI DUNG

 

CHƯƠNG I. GIÁO DỤC LỊCH SỬ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY

 

1.1. Cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời hậu chiến (1945-1950)

 

1.1.1. Chính sách chiếm đóng và phục hưng Nhật Bản của GHQ

 

Sau một loạt các thất bại trên chiến trường châu Á-Thái Bình Dương và hứng chịu hai quả bom nguyên tử ở thành phố Hiroshima (6/8/1945) và Nagasaki (9/8/1945), số phận của chế độ quân phiệt Nhật Bản đã được quyết định. Ngày 14/8/1945, Thiên hoàng tuyên bố tiếp nhận Tuyên bố Postdam[1] và ngay ngày hôm sau (15/8/1945), Thiên hoàng qua làn sóng radio tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Ngày 2/9/1945, đại diện chính phủ Nhật Bản chính thức kí vào văn bản đầu hàng. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản trở thành nước bại trận và bị đặt dưới sự chiếm đóng của quân đội Đồng minh (chủ yếu là quân Mĩ) với Bộ chỉ huy tối cao là GHQ (General Headquarters, the Supreme Commander for the Allied Powers-Tổng hành dinh lực lượng quân đội Đồng minh). Người đứng đầu cơ quan này là tướng Douglas MacAuthur.

Trong 5 năm ngắn ngủi (1945-1950), GHQ đã thực thi nhiều chính sách quan trọng nhằm giải giáp quân đội Nhật, xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt, dân chủ hóa, phục hưng và tái thiết Nhật Bản. Các chính sách này tương đối hệ thống và toàn diện

Về chính trị-xã hội: GHQ ban hành sắc lệnh đảm bảo nhân quyền (quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do thành lập hội…); cho phép Đảng cộng sản Nhật Bản trở lại hoạt động hợp pháp; khuyến khích thành lập và hỗ trợ hoạt động của công đoàn; công nhận và đảm bảo quyền tham gia bầu cử, ứng cử của phụ nữ; tiến hành truy bắt, xét xử tội phạm chiến tranh[2]; giải tán lực lượng “Cảnh sát đặc biệt” chuyên điều tra về tư tưởng của chính phủ quân phiệt trước đó…  Hiến pháp mới được biên soạn và công bố ngày 3 tháng 11 năm 1946 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình phi quân phiệt và dân chủ hóa Nhật Bản. Bản Hiến pháp mới với ba nguyên lý nền tảng (hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền) đã đặt nền móng pháp lý vững chắc để tiến hành các cải cách sâu rộng trên nhiều lĩnh vực nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới.

Về kinh tế: GHQ chỉ đạo chính phủ Nhật Bản thực hiện cải cách đất nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu thường gọi đây là “cải cách chế độ sở hữu đất nông nghiệp” hoặc “giải phóng đất nông nghiệp”. Nội dung chủ yếu là chính phủ mua lại ruộng đất của địa chủ với giá rẻ và bán cho những người canh tác nhỏ. Chính sách này đã đem lại ruộng đất cho khoảng 70% những người canh tác nhỏ trên toàn quốc. Cuộc cải cách đã làm cho nông dân hăng hái sản xuất, nâng cao sản lượng, năng suất. Tuy nhiên mặt trái của nó là làm cho sự mở rộng quy mô kinh doanh trở nên khó khăn, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Nhật Bản. Bên cạnh đó, nó cũng gây ra nhiều vụ kiện, tranh chấp đất đai. Cùng với cải cách đất nông nghiệp, GHQ cũng ra sắc lệnh giải tán các Zaibatsu[3] để dân chủ hóa và phi quân sự hóa nền kinh tế Nhật Bản.

Về giáo dục-văn hóa: GHQ tiến hành điều tra, nghiên cứu giáo dục Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sứ đoàn giáo dục Mĩ-tổ chức bao gồm các nhà giáo dục, các nhà khoa học của Mĩ-được cử tới Nhật. Sứ đoàn này với sự giúp đỡ của Ủy ban các nhà giáo dục Nhật Bản đã đưa ra bản báo cáo “Bản báo cáo của sứ đoàn giáo dục Mĩ”-một tài liệu cơ bản, quan trọng làm tiền đề cho cải cách giáo dục xây dựng nền giáo dục mới.

 

1.1.2. Cải cách giáo dục thời hậu chiến (1945-1950)

 

Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến nhằm xây dựng nền giáo dục mới thay thế nền giáo dục quân phiệt diễn ra chủ yếu trong vòng 5 năm (1945-1950)[4]. Đây là một cuộc cải cách giáo dục toàn diện và triệt để. Cuộc cải cách giáo dục này về cơ bản trung thành với 3 nguyên lý nền tảng mà Hiến pháp 1946 đã đề ra[5]. Thành quả của cuộc cải cách giáo dục này đã tạo nên nền giáo dục Nhật Bản hiện đại với những thành tựu làm thế giới kinh ngạc.

Kết cục của Chiến tranh thế giới thứ hai với sự thất bại hoàn toàn của Nhật Bản đã phủ nhận toàn bộ thể chế chính trị-xã hội đã tồn tại trước đó. Nó đặt ra câu hỏi về sự tồn tại của nền giáo dục cũ và  nhu cầu xây dựng hệ thống giá trị của nền giáo dục mới. Cả GHQ và người Nhật đều đứng trước hai vấn đề lớn: giải quyết nền giáo dục quân phiệt đã tồn tại từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai và xây dựng nền giáo dục mới dựa trên 3 nguyên lý nền tảng của Hiến pháp 1946.

Để giải quyết nền giáo dục quân phiệt, GHQ đã ra bốn sắc lệnh quan trọng[6] với nội dung chủ yếu: đưa ra khỏi trường học những người đã từng phục vụ đắc lực trong bộ máy chính quyền quân phiệt, sát hạch lại nhận thức của toàn bộ giáo viên trong các trường học về các giá trị phổ biến của nhân loại (dân chủ, hòa bình, nhân quyền), đưa đạo Shinto ra khỏi trường học…. GHQ cũng chỉ thị đình chỉ vĩnh viễn môn Tu thân[7], đình chỉ tạm thời môn Địa lý- Lịch sử Nhật Bản. Bộ giáo dục Nhật Bản cũng chỉ đạo xóa bỏ những nội dung liên quan tới chủ nghĩa quân phiệt trong SGK, đặc biệt là SGK môn Quốc ngữ[8].

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Bộ giáo dục Nhật Bản đã biên soạn và công bố văn bản “Phương châm giáo dục nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới”. Bản phương châm 11 điểm này nêu rõ nước Nhật cần xây dựng ngay một nền giáo dục mới để “loại trừ chủ nghĩa quân phiệt”, “giáo dục tư duy khoa học”, “làm sâu sắc văn hóa quốc dân”, “xây dựng quốc gia hòa bình” và “đóng góp vào sự tiến bộ của thế giới”. Bản phương châm cũng nêu lên những nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xử lý nền giáo dục thời chiến, tổ chức lại các đoàn thể học sinh, tái đào tạo giáo viên, tái cơ cấu lại Bộ giáo dục… Sứ đoàn giáo dục Mĩ[9]  phối hợp cùng các nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ của Nhật Bản đã tiến hành điều tra, nghiên cứu và đưa ra nhận định tổng quan về nền giáo dục Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai đồng thời vạch ra phương hướng xây dựng nền giáo dục mới.

Hiến pháp mới có hiệu lực từ tháng 3 năm 1947 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ luật về giáo dục ra đời[10], vạch ra hành lang pháp lý cho công cuộc cải cách giáo dục …. Có thể tóm tắt lại những điểm cốt lõi và những chuyển biến cơ bản của nền giáo dục Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai ở một số mặt sau.

Về triết lý giáo dục: Mục tiêu giáo dục Nhật Bản chuyển từ “giáo hóa” quốc dân tạo ra các thần dân “trung quân ái quốc” sang mục tiêu giáo dục nên những công dân có tri thức, phẩm chất, năng lực, thái độ phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người[11]. Sự thay đổi triết lý giáo dục này xuất phát từ sự điều chỉnh lại hình ảnh nước Nhật cần xây dựng-từ nước Nhật Đại đế quốc với khẩu hiệu “phú quốc cường binh” sang nước Nhật hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền.

Về hệ thống trường học: Hệ thống trường học phức tuyến, phức tạp trước đó được chuyển thành hệ thống trường học đơn tuyến theo chế độ 6-3-3-4. Hệ thống trường học được quản lý theo ba hình thái: trường quốc lập (Bộ giáo dục trực tiếp quản lý), trường công lập (địa phương quản lý), trường tư thục (thuộc về các tập đoàn, tổ chức cá nhân, tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ…).

Về hành chính giáo dục: Khắc phục yếu điểm quan liêu, trung ương tập quyền của hành chính giáo dục trước đó, cải cách giáo dục hậu chiến chú trọng hạn chế quyền lực và phạm vi công việc của Bộ giáo dục[12]. Chức năng chính của Bộ giáo dục giờ đây là trợ giúp, tư vấn về giáo dục, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục trong trường học và xã hội được diễn ra thuận lợi thay vì ban hành các mệnh lệnh và can thiệp vào nội dung, phương pháp giảng dạy của từng giáo viên như trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Bộ giáo dục thực thi và đảm bảo mở rộng quyền tự chủ, tự trị cho hành chính giáo dục địa phương. Cơ quan quản lý giáo dục ở từng địa phương có tên gọi “Ủy ban giáo dục” ra đời[13]. Ủy ban giáo dục sẽ đảm nhận việc quản lý hoạt động giáo dục ở từng cấp địa phương (nhân sự, tài chính, hỗ trợ về chuyên môn….).

Về giáo dục nghĩa vụ: Giáo dục nghĩa vụ kéo dài 9 năm bao gồm hai cấp là tiểu học và Trung học cơ sở (THCS). Trong 9 năm này, học sinh không phải đóng học phí và mua SGK. SGK được nhà nước cấp phát miễn phí bất kể học sinh học trường công hay trường tư[14].

Về  CT-SGK: Khóa trình giáo dục được xây dựng lại với sự ra đời của một môn học mới hoàn toàn có tên “Nghiên cứu xã hội” (Social Studies)[15]. Chế độ “Sách giáo khoa quốc định” với một chương trình duy nhất của Bộ giáo dục áp dụng cho toàn quốc được bãi bỏ thay vào đó là cơ chế “Sách giáo khoa kiểm định[16] với một chương trình khung của Bộ và rất nhiều chương trình tự chủ của các địa phương, trường học. Việc thực thi cơ chế này đã tạo cơ hội và đảm bảo cho giáo viên ở trường phổ thông trực tiếp biên soạn nội dung giảng dạy phù hợp với tình hình thực tiễn của trường học và địa phương tạo ra các thực tiễn giáo dục phong phú, thiết thực. Bản chương trình khung của Bộ giáo dục Nhật Bản được ban hành lần đầu tiên vào năm 1947[17] và sau đó cứ khoảng 10 năm lại sửa đổi một lần. Mỗi lần sửa đổi có thể coi là một cuộc cải cách giáo dục.

Về đào tạo giáo viên: Đình chỉ hệ thống trường sư phạm chuyển sang hệ thống trường giáo dục và các trường tổng hợp có khoa giáo dục; chuyển việc đào tạo giáo viên mang tính đóng kín trong các trường sư phạm sang hệ thống mở: bất kì sinh viên trường nào cũng có thể trở thành giáo viên nếu lấy đủ số tín chỉ quy định (có môn bắt buộc, môn tự chọn) và vượt qua kì thi quốc gia để lấy giấy phép hành nghề giáo viên. Nhật Bản cũng thực hiện chế độ tuyển chọn đặc biệt để tuyển lấy những người có năng lực, trình độ cao trong các ngành: kinh tế, kĩ thuật, y học, ngoại ngữ. Điều này lí giải tại sao ở các trường phổ thông Nhật Bản có những giáo viên xuất thân là luật sư, phiên dịch viên hay giám đốc công ty tư nhân…


[1] Tuyên bố Postdam (the Postdam Declaration) do Mĩ, Trung Quốc, Anh đưa ra cho Nhật Bản sau Hội nghị Postdam (tổ chức từ ngày 17 tháng 7 tới ngày 2 tháng 8 năm 1945 tại Postdam-ngoại ô Berlin). Nội dung cơ bản của tuyên bố gồm 13 điểm trong đó có nội dung quan trọng là yêu cầu “toàn bộ quân đội Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện”. Về sau Liên Xô cũng tham gia vào tuyên bố này.

[2] Tuy nhiên Thiên hoàng Showa không bị xử lý mà chỉ bị tước hết quyền lực.

[3] Các tập đoàn tài phiệt tập trung mối quan hệ lợi ích gắn bó giữa giới tài chính-kinh tế với chính quyền.

[4] Năm 1950 khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính sách chiếm đóng của GHQ thay đổi đã làm cho cải cách giáo dục bị chững lại và “đổi hướng”. Các nhà nghiên cứu gọi sự “đổi hướng” này là “Quá trình đảo ngược”. Tức là chính sách trước và sau năm 1950 của GHQ có nhiều mâu thuẫn xung quanh các giá trị của nhân loại như: dân chủ, hòa bình, nhân quyền.

[5] Hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền.

[6] Bốn chỉ thị lớn này được GHQ ban hành trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1945. Chỉ thị thứ nhất mang tên “Chính sách quản lí đối với chế độ giáo dục Nhật Bản”thể hiện những nguyên tắc cơ bản của việc quản lí giáo dục như loại trừ triệt để chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa quốc gia cực đoan ra khỏi giáo dục.  Chỉ thị thứ hai “Về việc điều tra, loại trừ, chấp thuận giáo viên và viên chức giáo dục” đưa ra các nguyên tắc loại trừ khỏi công việc giáo dục những người không đủ tiêu chuẩn. Chỉ thị thứ ba “Về việc công bố đình chỉ và giám sát sự bảo hộ, trợ giúp, duy trì của chính phủ đối với đạo Shinto” có nội dung nghiêm cấm tài trợ, duy trì, tiến hành nghi lễ, giáo dục liên quan đến đạo Shinto. Chỉ thị thứ tư “Về việc đình chỉ môn Tu thân, Lịch sử Nhật Bản và Địa Lí” quy định chấm dứt  giờ học ba môn giáo khoa: Tu thân, Lịch sử Nhật BảnĐịa lí Nhật Bản trong nhà trường.

[7] Môn học giáo dục các giá trị chuẩn mực của Nho giáo nhấn mạnh việc đào tạo nên thần dân “trung quân ái quốc”.

[8] Giáo viên dùng mực đen bôi đè lên các nội dung ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt, chiến tranh trong sách giáo khoa. Hình ảnh các cuốn sách giáo khoa bị bôi mực đen khắp các trang giấy đã để lại ấn tượng và tác động mạnh mẽ đối với học sinh, giáo viên và người Nhật đương thời.

[9] Sứ đoàn giáo dục Mĩ đến Nhật vào ngày 5 tháng 3 năm 1946.

[10] Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học, Luật Ủy ban giáo dục, Luật về cơ cấu tổ chức Bộ giáo dục….

[11] Trên thực tế các nhà giáo dục quen gọi là “giáo dục tạo ra những người làm chủ”.

[12] Quyền hạn cụ thể của Bộ giáo dục giáo dục được quy định trong Luật về cơ cấu, tổ chức Bộ giáo dục.

[13] Thành viên của Ủy ban bao gồm đại biểu từ giới giáo dục-thường là thầy cô giáo luân phiên đảm nhiệm, chính quyền và dân thường có hiểu biết và quan tâm đến giáo dục.

[14] Hiện tại Nhật Bản  đang dần  tiến hành việc miễn học phí cho học sinh trung học phổ thông để đảm bảo bình đẳng cơ hội tiếp nhận giáo dục và đối phó với sự phân biệt chênh lệch giàu nghèo trong xã hội.

[15] Người Nhật thường gọi là môn Xã hội.

[16] Các nhà xuất bản tư nhân chủ động biên soạn các bộ sách giáo khoa sau đó đệ trình lên Bộ giáo dục đăng kí thẩm định. Nếu cuốn sách nào vượt qua vòng thẩm định của Bộ giáo dục nó sẽ được công nhận là SGK.

[17]  Có bản tổng quan và bản dành riêng cho từng môn và văn bản này được gọi là “Hướng dẫn học tập”

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam (2)

October 29, 2013 Leave a comment

PHẦN MỞ ĐẦU.

 

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông hiện đang là đề tài “nóng” thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận. Hiện tượng “hàng ngàn điểm 0 môn Lịch sử”[1] và học sinh vui mừng, hò reo “xé đề cương môn Sử”[2] đang trở thành tâm điểm chú ý của dư luận. Chỉ riêng hai hiện tượng bề nổi đó thôi cũng nói lên những vấn đề đáng lo ngại của “tảng băng” giáo dục lịch sử. Không chỉ những người làm giáo dục mà người dân bình thường giờ đây cũng tập trung chú ý và bày tỏ sự lo lắng. Nỗi lo ấy là hoàn toàn chính đáng bởi giáo dục lịch sử có mối quan hệ mật thiết tới sự trưởng thành của học sinh, tới nhân cách, phẩm chất, tài năng của các công dân nước Việt và xa hơn là sự hưng vong của dân tộc. Xu thế toàn cầu hóa và thông tin hóa diễn ra mạnh mẽ trên thế giới đã đặt Việt Nam trước nhiều cơ hội và thách thức. Giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng sẽ phản ứng như thế nào trước làn sóng đó? Làm thế nào để giải quyết tình trạng học sinh “chán học sử”, “thờ ơ với môn sử”, “ghét môn sử” trong trường phổ thông? Làm thế nào để tạo nên những người công dân ưu tú có khả năng cải tạo hiện thực, xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn, có khả năng thích ứng và hòa nhập với sự đổi thay ngày một nhanh của thế giới trong thời đại toàn cầu? Đó là những câu hỏi lớn đặt ra cho những nhà giáo dục lịch sử.

Để tìm được câu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ cần đến trí tuệ của rất nhiều người từ những em học sinh cho đến các nhà khoa học. Một trong những phương cách tìm kiếm câu trả lời là nghiên cứu giáo dục lịch sử trong trường phổ thông ở nước ngoài, đặc biệt là các nước tiên tiến, để xem họ làm như thế nào từ đó học tập kinh nghiệm và áp dụng vào thực tế Việt Nam. Nhật Bản, một nước nằm ở khu vực Đông Bắc Á có diện tích và dân số không lớn hơn Việt Nam nhiều cộng với lịch sử, văn hóa có nhiều điểm tương đồng là một ví dụ tham khảo thích hợp.

Ở Nhật Bản, sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra cuộc cải cách giáo dục toàn diện và triệt để nhằm “loại trừ chủ nghĩa quân phiệt”, “giáo dục tư duy khoa học”, “làm sâu sắc văn hóa quốc dân”, “xây dựng quốc gia hòa bình” và “đóng góp vào sự tiến bộ của thế giới”. Trong cuộc cải cách đó, giáo dục lịch sử thường được gọi chung là giáo dục môn Xã hội (môn học tích hợp Lịch sử, Địa lý, Công dân) đã có vai trò quan trọng kiến tạo nên những thành tựu của nền giáo dục Nhật Bản hiện đại. Nghiên cứu giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay vì vậy có một ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tiểu luận “Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam” được viết ra cũng xuất phát từ lý do đó.

Nguyễn Quốc Vương
%d bloggers like this: