Archive

Archive for November, 2013

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (phần cuối)

November 30, 2013 Leave a comment

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

 

5. Sự phức tạp hóa sự chú ý đối với sách giáo khoa và sự chi tiết hóa ghi chép

 

Giống như trên đã trình bày, khi so sánh sự trần thuật lịch sử của Nhật và Mĩ ta có thể nhận ra một điểm chung giữa  hai trường hợp trên. Đó là sự nảy sinh sự phức tạp hóa sự chú ý đối với quá trình biên soạn SGK – nơi thể hiện sự chồng lấn của phong trào phản kháng đối với giáo dục lịch sử theo quan điểm nhất nguyên, sự giao lưu của con người phức tạp với hoạt động không phụ thuộc vào khu vực và tác dụng tạo ra từ chúng. Trước hết ở trường hợp nước Mĩ, phong trào đòi thay đổi giáo dục lịch sử lấy tiền đề là sự khác biệt trong các giai cấp của các tập đoàn tạo nên dân tộc đã tồn tại với tư cách như là một bộ phận của phong trào đòi quyền công dân. Tuy nhiên, việc triển khai nó trên phạm vi toàn quốc và đem lại tính liên tục cho khuynh hướng sửa đổi nội dung giáo dục lại là sự thay đổi cơ cấu dân số lưu động do sự thay đổi của Luật di dân năm 1965 và  từ đó làm nảy sinh động thái esthnic revival. Và rồi ở cả trường hợp của Nhật Bản sau khi triển khai giao lưu với các nước châu Á,cùng với sự gia tăng lưu thông vật chất và con người  động thái của phía tác giả muốn đưa vào SGK thông tin lịch sử về  các vùng đất đó mạnh lên. Trước động thái này bộ giáo dục thực hiện chế độ kiểm định nhưng  cơ cấu của nó đã được công khai hóa do vụ kiện của Ienaga trước đó. Thêm nữa do các phương tiện truyền thông có liên quan đến quốc tế cho nên khả năng công khai chúng càng trở nên mạnh mẽ.

Kết quả của những động thái đó là  khả năng thay đổi các tri thức giáo dục tăng lên ở từng cấp độ. Sự thống trị của dân tộc trở thành “xương sống” của  xã hội dân tộc. Việc truyền tải và làm cho cùng sở hữu các biểu tượng, truyền thuyết, thần thoại, giá trị ra bên ngoài nhóm người đó là sự lý giải dân tộc của Antony Smiths. Giáo dục lịch sử trước đó quả thật là phương tiện nhằm truyền tải và tạo ra sự sở hữu chung này. Tuy nhiện, trong thời đại mà chương này bàn tới,  quá trình biên soạn SGK đã vươn tay tới cả những người nằm ngoài sự tồn tại mang tính xương sống của xã hội dân tộc. Sự trần thuật lịch sử diễn ra trong môi trường đã biến đổi như thế để nắm được tính đa diện của các hiện tượng và lập trường của con người đã sử dụng quan điểm mang tính đa góc độ. Hình thức giải thích mang tính nhất nguyên nhằm duy trì và tán thưởng quá khứ của sự tồn tại tính xương sống của xã hội dân tộc  đã bị tương đối hóa và thông tin được đăng tải trong SGK bắt đầu thể hiện các yếu tố tạo nên dân tộc được cụ thể hóa cả về chất là lượng. Quá trình toàn cầu hóa với tư cách là hoạt động “phi khu vực hóa” của con người đã tạo nên ảnh hưởng đối với lịch sử được kể trong SGK và điều này có thể thấy rõ trong SGK của Nhật và Mĩ.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ngay cả ở đây, cơ cấu trần thuật lịch sử dân tộc tức là “Lịch sử Nhật Bản” , “Lịch sử nước Mĩ” không phải là bị ném bỏ. Việc đưa vào SGK hoạt động của người Mĩ gốc Phi trong thời kì chiến tranh giành độc lập và những trải nghiệm của người Mĩ gốc Nhật đã mở rộng hàm ý “America”.  Và nữa, việc ghi chép chi tiết về Triều Tiên dưới thời thuộc địa là một bộ phận nằm trong việc thể hiện chi tiết những việc làm của “Nhật Bản”. Để thực hiện được chủ nghĩa công dân toàn cầu theo trường phái David Held được nêu ra ở mục 2 chương này thì cần phải nuôi dưỡng Identity vượt ra khỏi biên giới quốc gia và do đó thì lịch sử cần phải né tránh dựa trên căn cứ là quốc gia hay khu vực hóa. Mặt khác, giáo dục lịch sử ở Nhật và Mĩ được đưa ra bàn thảo trong chương này chỉ dừng lại ở “lịch sử dân tộc” như vẫn thường thấy và nếu như gọi thứ bỏ đi bản thân cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc là “post-national history” thì giáo dục lịch sử Nhật, Mĩ vào thập niên 90 không nằm trong phạm vi này.

Tuy nhiên, trong nội bộ  chế độ “lịch sử dân tộc đó” , khi chúng ta chú ý đến giá trị lưu thông cụ thể, ví dụ như  có thể thấy trong các ghi chép chi tiết về “cuộc sống của người gốc Nhật ở các trại thu dung” hay “thảm sát số lượng lớn những người dân thường bởi bom nguyên tử” các giá trị được truyền tải thông qua SGK lịch sử thập niên 90 không phải là thứ áp dụng cho một quốc gia-dân tộc hay một nhóm người cụ thể nào. Câu chuyện đó là sự chồng lấn của chi chép về cá nhân con người, ghi chép  về quốc gia, ghi chép về giá trị mang tính phổ biến. Ở ý nghĩa đó, tính cần thiết của cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc trong SGK lịch sử thập kỉ 90 đã trở nên bị tương đối hóa trong các cơ cấu khác. Cho dù dựa trên hình thức giáo dục lịch sử dân tộc đi nữa thì việc  bắt đầu sử dụng các sự việc có thể lý giải khi đứng trên thuộc tính chung  khác biệt với nguyên lý dân tộc  có thể nói là đặc trưng quan trọng nhất  của sự trần thuật lịch sử của thời đại toàn cầu hóa.

6. Sự biến đổi của lịch sử dân tộc và lô-gic của thống nhất dân tộc.

Ảnh hưởng đối với giáo dục lịch sử dân tộc trong thời toàn cầu hóa đã đem đến đặc trưng nào đối với lô-gic của sự thống nhất dân tộc được thể hiện trong SGK lịch sử sau thời kì chuyển đổi? Trong chương này nhằm giải quyết câu hỏi này, chúng tôi sẽ chỉ ra sự khác nhau gữa cái nhìn theo chủ nghĩa công dân thế giới quy nhất về cộng đồng mang tính quốc gia thế giới với cái nhìn  song hành của cộng đồng phức hợp. Từ đó thiết lập  cơ cấu xem xét xem SGK lịch sử với tư cách là thứ đảm nhận tái sản xuất dân tộc đã chỉ ra tính phương hướng như thế nào ở điểm đối lập này.

Giống như trước đó đã trình bày, trong SGK lịch sử đã trải qua quá trình phức tạp hóa cái nhìn khi trần thuật lịch sử và sự chi tiết hóa nội dung ghi chép dưới tác động của toàn cầu hóa,  cách kể tán dương, nuôi dưỡng một tập đoàn người nhất định mặc dù được tránh né nhưng hình thức giáo dục lịch sử dân tộc vẫn được tiếp tục. Tuy nhiên dưới nền tảng là hình thức này, tình trạng cá biệt của con người hay giá trị thích hợp trong không gian rộng hơn quốc gia dân tộc đã được trình bày.  Việc lý giải kiểu trần thuật như thế thể hiện ở giáo dục lịch sử của Mĩ và Nhật Bản vào cuối thế kỉ XX cũng trở nên cần thiết khi suy ngẫm về chế độ xã hội quốc gia-dân tộc từ giờ về sau. Từ đó tính cộng đồng dựa trên nguyên lý dân tộc trong các cá nhân đã được đặt song hành với tính cộng đồng khác biệt có tính phức hợp và từ sự phức hợp của ý thức quy thuộc và ý thức trách nhiệm mà thể hiện tính khả năng của sự hình thành  identity của các cá nhân. Vì vậy, chương này suy luận về cơ cấu của chủ nghĩa công dân thế giới không có quốc gia thế giới do John Tomlinson chỉ ra dã được chỉ ra ở đây.

Đương nhiên, tác nghiệp ở trong chương này  chỉ là sự xem xét giới hạn trong giáo dục lịch sử, yếu tố quyết định nên dạng thức tồn tại của dân tộc một khi vẫn có vô số ở bên ngoài trường học thì việc nhấn mạnh duy nhất tính phương hướng tương lai được chỉ ra ở đây là việc làm nguy hiểm xét về mặt lô-gic. Tuy nhiên, giống như chúng tôi đã vừa trích dẫn Anderson vừa chỉ ra ở mục 1 chương này,  SGK lịch sử  thông qua hệ thống trường học hiện đại  mà tạo ra ảnh hưởng đối với các thành viên của dân tộc và là công cụ làm cho những người này duy trì và bảo tồn quốc gia dân tộc. Do vậy, nội dung được đưa ra trong đó làm rõ sự thay đổi và do đó  việc luận bàn về tính phương hướng  từ giờ trở đi  thì thứ công cụ này ít nhất vẫn là thứ thích hợp ở mức độ nào đó trong sự đóng góp vào tái sản xuất dân tộc.Và nữa việc xác định sự thay đổi về chất của kiểu trần thuật trong SGK nửa sau thế kỉ XX cho dù là sự giả định với tư cách là chủ đề tác nghiệp phân tích một cách tổng hợp các yếu tố quyết định nên dạng thức thống nhất mọi người thì nó cũng trở thành việc xác định phiến diện cứ điểm  phân tích.

 

Hết

 

 

 

Advertisements

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (5)

November 30, 2013 Leave a comment

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

 

Lịch sử được chi tiết hóa

Ý thức về sự ghi chép lịch sử được truyền đạt trong giáo dục trường học được thừa nhận công khai thông qua bộ lọc nhất nguyên gọi là kiểm định của Bộ giáo dục nhưng đến thập niên 80 bộ lọc nhất nguyên này đã rơi vào tình huống phải tiếp nhận sự phức tạp hóa. Đương nhiên, một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước là sự biện hộ cho lợi ích dựa trên trên nguyên lý dân tộc. Tuy nhiên, với tư cách là kết quả của sự va đập giữa các ý kiến khác nhau đã làm phát sinh khuynh hướng thông tin về một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó được chi tiết hóa và gia tăng về lượng. Và rồi dưới tác động của tình trạng này, sự công nhận một chiều giá trị trung tâm của dân tộc trở nên rất khó khăn. Duyên cớ xuất hiện điều này là sự thay đổi  ghi chép liên quan đến lịch sử quan hệ Nhật-Hàn. Nhật Bản với tư cách là quốc gia hiện đại khi kết giao quan hệ với nước khác thì điều đầu tiên đối tượng nhắm đến là bán đảo Triều Tiên, nơi có vị trí địa lý gần với Nhật Bản nhất. Vì vậy, ngay cả trong SGK ngay sau  phần ghi chép về Minh Trị duy tân là phần ghi chép về  lịch sử ngoại giao của Triều Tiên. Tuy nhiên, tại thời điểm thập niên 50, các ghi chép trong SGK rất đơn giản.

Sau Duy tân, Nhật Bản đã yêu cầu Triều Tiên mở cửa đất nước, trước sự Nam hạ, suy tính đến sự nguy hiểm của việc Triều Tiên bị đặt dưới sự cai trị của nước Thanh yếu ớt nên vào năm 1876 Nhật Bản đã kí với Triều Tiên hiệp ước Saimoppo nhằm biến Triều Tiên thành nước độc lập với nội dung Triều Tiên độc lập và mở cảng Busan. Từ đó trở đi mậu dịch của Nhật Bản  phát triển và độc chiếm thị trường Triều Tiên nhưng mặt khác thì Thanh từ năm 1880 trở đi đã phục hồi thị trường Triều Tiên và bầu không khí muốn phục hồi quyền tôn chủ mạnh lên,vấn đề này đã tạo nên sợi dây móc nối với sự tranh chấp ngôi vua trong hoàng gia Triều Tiên, cuối cùng quyền buôn bán của Nhật Bản bị loại bỏ khỏi Triều Tiên. Nhật Bản hoảng hốt nên nhân khi loạn đảng Đông học diễn ra đã giao chiến với Thanh. Trước quân đội Nhật hiện đại quân Thanh đã thể hiện rõ sự yếu ớt và bằng hiệp ước Shimoseki (Hạ Quan), Thanh đã phải nhượng cho Nhật Bản bán đảo Liêu Đông, Đài Loan và công nhận Triều Tiên độc lập. Cuối cùng Triều Tiên trở thành nước chịu sự bảo hộ của Nhật Bản  và rồi trở thành một bộ phận của đế quốc Nhật Bản và tiếp nhận sự thống trị này cho đến năm 1945”.

 

Đây là toàn bộ phần ghi chép về Triều Tiên hiện đại trong SGK “Lịch sử thế giới” năm 1951. Ở đây những sự việc liên quan đến Triều Tiên đã chỉ được đề cập tới như là thứ thứ yếu trong những ghi chép về quan hệ Nhật-Thanh. Lịch sử quan hệ ngoại giao Nhật-Hàn từ sau Minh Trị Duy tân cho đến 1945 đã được khái quát và thông tin chi tiết về giai đoạn Nhật mở rộng thế lực vào bán đảo Triều Tiên đã không được đưa ra. Từ đó về sau cho đến bản in thập niên 70 nhận thức lịch sử đối với nước láng giềng Triều Tiên về cơ bản đứng im ở trong tình trạng như thế.

Thông tin về  lịch sử quan hệ Nhật-Triều bắt đầu gia tăng nhanh chóng từ thập niên 80 trở đi đó là do mối quan hệ giữa hai nước trở nên hữu nghị. Mối quan hệ Nhật-Hàn hiện tại càng trở nên thân thiết thì quan hệ của Nhật-Triều trong quá khứ càng được kể một cách chi tiết. Do đó trong số các thông tin được gia tăng bao gồm cả cụm từ “tiến vào” đại lục của Nhật Bản. Với ý nghĩa đó, sự nổi giận kháng nghị từ phía Hàn Quốc đã bùng nổ vào năm 1982. Từ bản in năm 1983 sau đó, cụm từ “xâm lược đại lục” đã được sử dụng và sự ghi chép về lịch sử quan hệ Nhật-Triều đã được đưa vào các tiểu mục như “Triều Tiên khai quốc và Chiến tranh Nhật-Thanh”, “Chiến tranh Nhật Nga và sự sáp nhập của Triều Tiên vào Nhật Bản”. Về sự kiện đảo Ebana sách có ghi: “tàu chiến của Nhật Bản diễn tập ở bờ biển Triều Tiên” và nhấn mạnh các động thái từ phía Nhật và đối với sự kiện “Mùng 1 tháng 3” thì sách ghi: “rất nhiều người bị thương vong  do chịu sự đàn áp của quân đội Nhật và hiến binh”. Các thông tin được đưa vào từ quan điểm khác với kiểu truyền thống tán đồng, hoan hô, ủng hộ dân tộc.

Những sự ghi chép này đã được thêm vào vài chỗ sửa chữa trong bản in năm 1987 về cấu trúc, kí hiệu nhưng nó vẫn được tiếp tục kế thừa cho đến hết thập niên 80. Trong bản in năm 1989 đã thêm vào các đoạn ghi chép  về “Daiinkun”, “Binshi”…. Phần ghi chép về phong trào mùng 1 tháng 3 đã trở thành mục độc lập với tiểu mục “phong trào mùng 1 tháng 3 của Triều Tiên” và các thông tin về nội bộ Triều Tiên được đăng tải chi tiết. Thêm nữa, liên quan đến việc sáp nhập Triều Tiên còn có thêm các thông tin về “Hiệp ước Nhật-Hàn” hay “phong trào nghĩa binh chống Nhật”.

Bước vào thập niên 90, sự gia tăng lượng thông tin  được xúc tiến và nó tăng đến mức gấp 5 lần lượng thông tin trong bản in năm 1950. “Cuộc khởi nghĩa Hongyone” vốn được coi là “không cần thiết” trong lần kiểm định năm 1970 đã được viết một cách chi tiết và ghi chép về Daiinkun và Binshi cũng gia tăng và thông tin nội bộ của Triều Tiên thế kỉ XIX được ghi chép trong mối liên hệ với sự mở rộng thế lực của Nhật Bản. “Sự sáp nhập Nhật Bản-Hàn Quốc” vốn được ghi chép như là sự liên quan với chiến tranh Nhật-Nga trước đó đã được ghi thành một mục độc lập với tiểu mục được thêm vào và  giống như đoạn trích dưới đây, “Hiệp ước Nhật-Hàn” đã được tóm tắt từng mục để làm rõ quá trình Nhật Bản sáp nhập Hàn Quốc. Sự ghi chép này so với ghi chép trong SGK thập niên 50 với vỏn vẹn một dòng: “cuối cùng Triều Tiên trở thành nước được Nhật Bản bảo hộ rồi trở thành một bộ phận của đế quốc Nhật Bản và tiếp nhận sự thống trị này cho đến năm 1945” thì  có thể thấy sự chi tiết hóa thông tin đã rất tiến triển.

Từ trong cuộc chiến tranh Nhật-Nga, Nhật Bản đã kí ba lần Hiệp ước Nhật-Hàn ( 1904, 1905, 1907), và tăng cường thương thảo với Hàn Quốc. Đặc biệt trong Hiệp ước kí lần thứ 2, chính phủ Nhật đã cử một viên tổng đốc  trông coi công việc ngoại giao thay mặt chính phủ Nhật Bản ở Hàn Quốc, trong Hiệp ước lần thứ 3 đã thảo luận vấn đề nội chính và giải tán quân đội Hàn Quốc.  Trước sự giao thiệp với  Nhật Bản dân chúng Triều Tiên đã tiến hành mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Nhật. Nhật Bản  đã dùng vũ lực đàn áp và sáp nhập Hàn Quốc vào lãnh thổ Nhật Bản và đặt Tổng đốc phủ Triều Tiên để cai trị[1].

 

Cả phần ghi chép về tình hình thực tế của thể chế cai trị của Nhật Bản cũng xuất hiện, đặc biệt phần viết về “phong trào đấu tranh của nghĩa binh chống Nhật” còn có ảnh minh họa và tình hình của phía bị cai trị cũng được miêu tả chi tiết: “tại Triều Tiên, trước nguy cơ của quốc gia, những người tự phát nổi dậy được gọi là nghĩa dũng và từ cuối thế kỉ 19 đến thế kỉ XX đã lặp đi lặp lại cuộc đấu tranh chống Nhật”. Thêm nữa, “Thay tên đổi họ” lần đầu tiên cũng được đề cập: “Từ sau chiến tranh Trung-Nhật sự cai trị  của Nhật Bản được tăng cường mạnh mẽ, chính sách đồng hóa tiêu biểu là bắt người Triều Tiên “thay tên đổi họ” theo kiểu Nhật đã được xúc tiến. Để bổ sung cho nguồn lao động của Nhật Bản bị thiếu hụt trong chiến tranh, ở Triều Tiên đã diễn ra sự di chuyển cưỡng bức người lao động và vào cuối chiến tranh còn tiến hành cả lệnh trưng binh”. Các thông tin về tình hình cai trị ở thuộc địa đã được đưa vào.

Sự gia tăng thông tin dạng này đã thể hiện rõ việc giáo dục lịch sử đang tách khỏi sự bảo vệ và duy trì tính chính thống của dân tộc. Tuy nhiên, ngay cả ở đây, cơ cấu trần thuật lịch sử với tư cách là lịch sử dân tộc đã tiếp tục được duy trì. Ban đầu trong ý kiến kiểm định cho đến đầu thập niên 80 thì Triều Tiên từ năm 1910 đến năm 1945 do là lãnh thổ của Nhật Bản nên “viết tách biệt giữa người Triều Tiên và người Trung Quốc” nhưng các thông tin liên quan đến quá trình cụ thể Triều Tiên bị hấp thụ vào Nhật Bản lại không được đưa ra. Tức là xuất hiện mâu thuẫn trong phần ghi chép của SGK. Trong phần ghi chép của bản in năm 1994 đã đưa ra một cách trực diện  tình hình thực tế quá trình “dân tộc hóa” thông qua “thay tên đổi họ”, “chính trị văn hóa”, lãnh thổ của Triều Tiên phụ thuộc vào Nhật Bản. Đây chẳng qua là sự biểu hiện của tình thình thực tế của xã hội từ quan điểm dựa trên cơ cấu lịch sử dân tộc mà thôi. Sự gia tăng thông tin có thể tiếp nhận một cách phê phán và khách quan đối với lịch sử dân tộc mình có thể nói là một hiện tượng. Sự  chi tiết hóa của ghi chép về lịch sử quan hệ Nhật-Hàn trong bản in năm 1994 mặc dù vẫn duy trì cơ cấu lịch sử dân tộc nhưng giá trị thể hiện bên trong đã được đa nguyên hóa là một ví dụ.

 

Cơ cấu lịch sử dân tộc và giá trị phổ biến

Sự trần thuật lịch sử một cách khách quan và phê phán không phải là việc chỉ ghi chép về quốc gia mình. Khi nhìn vào ghi chép về mối quan hệ giữa Nhật Bản và các nước chiến thắng có thể hiểu được điều này. Ví dụ như về “thiệt hại do bom nguyên tử” thì trong bản in năm 1951 chỉ có viết mấy dòng ngắn ngủi: “Ngày 6 tháng 8 năm 1945 bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima. Ngày mùng 9 quân Mĩ lại thả bom nguyên tử xuống Nagasaki”. Trong bản in năm 1957 bức ảnh chụp cột mây hình nấm lần đầu tiên xuất hiện nhưng đoạn văn thuyết minh thì không hề thay đổi và đến bản in năm 1964 thì có thêm vào một chút nhưng cho đến bản in năm 1973 thì các thông tin về sự thiệt hại đã không được đăng tải. Tuy nhiên, khuynh hướng tinh túy hóa phần ghi chép  của bản in năm 1983 trở đi đã thể hiện rõ ở nội dung này.

“Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Mĩ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima… Ngày 9  quân Mĩ lại ném bom nguyên tử xuống Nagasaki…. (ảnh). Trong năm năm từ khi bị ném bom nguyên tử ở Hiroshima có khoảng trên 20 vạn, ở Nagasaki có khoảng trên 14 vạn người dân chết và hiện nay  vẫn còn rất nhiều người khổ sở vì di chứng nguyên tử. Ở các đô thị bị không kích khác cũng có hàng chục vạn người dân trở thành nạn nhân”.

Trong bản in năm 1983, liên quan đến con số nạn nhân lần đầu tiên thông tin cụ thể được đăng tải và nó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Tiếp nhận khuynh hướng này, vào thập niên 80 ý kiến kiểm định “xác nhận tư liệu về con số”

đã được đưa ra nhiều lần và sau nhiều lần kiểm chứng tư liệu đã dẫn tới kết quả là trong bản in năm 1984 các thông tin đã được đăng tải chi tiết. Và nữa bức ảnh đi kèm với các thông tin này từ bản năm 1983 đã có thêm khung cảnh của tòa nhà nguyên tử và vùng xung quanh và có thể nắm được tình trạng bị phá hủy của thành phố. Thực tế cái nhìn của phía bị hại đã được tiếp nhận và người ta có thể nắm được sự thật của sự kiện.

 

Mĩ đã ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki vào ngày mùng 6 và mùng 9 tháng 8 và phá hủy hai thành phố này. Do bom nguyên tử từ năm 1945 đến năm 1950 trải qua 5 năm, ở Hiroshima có trên 20 vạn người, ở Nagasaki có trên 14 vạn thường dân tử vong và đến nay vẫn còn rất nhiều người khổ sở vì di chứng nguyên tử” (ảnh). Ở vùng gần tâm nổ ở Hiroshima, số lượng đông đảo nạn nhân của bom nguyên tử và những người dân thường sau vụ nổ phải sống với phóng xạ đã trở thành vấn đề nhân đạo quốc tế. Bức ảnh là Tòa nhà khuyến nông của tỉnh Hiroshima nhìn từ trung tâm hội nghị của Hội công thương Hiroshima (tòa nhà nguyên tử”) (ảnh chụp tháng 12 năm 1945).

Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nhật Bản và Liên Xô cuối chiến tranh thế giới thứ hai  cũng tương tự. Trong bản in năm 1983 viết: “sau chiến tranh, Liên bang Xô Viết đã giam giữ trong một thời gian dài những người Nhật bị bắt làm tù binh ở Siberia và bắt họ phải lao động cưỡng bức khiến cho nhiều người chết” nhưng trong bản in năm 1994  sự ghi chép đã được thêm vào thành: “Liên Xô đã đưa 60 vạn người Nhật bị bắt giữ trong thời chiến đến Siberia và châu Âu=Liên Xô giam giữ trong một thời gian dài và bắt họ phải lao động cưỡng bức khiến cho nhiều người chết”.

Từ các ví dụ này có thể thấy sự chi tiết của thông tin ghi chép từ sau bản in năm 1983 đã tạo nên sự kể về tội ác của Nhật Bản ở châu Á đồng thời cũng đưa vào các thông tin liên quan đến việc Nhật Bản là nạn nhân. Ở đó những cấu trúc biểu hiện như “Thảm sát khổng lồ do bom nguyên tử”, “vấn đề nhân đạo lớn mang tầm quốc tế”, “bắt lao động cưỡng bức làm nhiều người chết”, các hiện tượng như “nạn nhân của bom nguyên tử”, “bị giam giữ cưỡng bức ở Siberia” đã diễn tả tính nhân văn. Vì vậy tác dụng của việc chi tiết hóa các ghi chép của SGK không phải chỉ là  việc gia tăng thông tin có tính phê phán đối với một tập đoàn người nào đó mà còn là thứ có tư cách là thứ tạo nên quan điểm bao hàm giá trị thích hợp mang tính phổ quát đối với những con người ở phạm vi rộng hơn.

 


[1] Tổng đốc đầu tiên là Ito Hirobumi (1841-1909)-người xúc tiến quá trình sáp nhập Triều Tiên đã bị An Trọng Căn ám sát tại Harubin (1879).

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (4)

November 29, 2013 Leave a comment

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

“Dân tộc ” được tái định nghĩa

Sự biến đổi nói trên cũng có thể thấy tương tự ở sự ghi chép về các nhóm thiểu số khác. Ví dụ như liên quan đến các động thái của người da đen thời kì cách mạng giành độc lập trong SGK thập niên 80 đã xuất hiện liên tục như  nhân vật Crispus Attucks -người đã bị quân Anh giết trong vụ thảm sát Boston và bắt đầu nhấn mạnh sự cống hiến của người da đen đối với sự thành lập Hợp chúng quốc. Tuy nhiên, ở giai đoạn này thông tin về người da đen vẫn chỉ là thứ thêm thắt vào “lịch sử của người da trắng” và trong SGK thập niên 90 có thể chỉ ra sự biến đổi rõ hơn.

Trước hết, với tư cách là tiền đề của sự trần thuật của thập niên 90, sự cống hiến của người da đen đối với quá trình lập quốc đã được ghi chép.  Cái chết của Crispus Attucks với tư cách là chỉ huy của người Mĩ gốc Phi và người Mĩ bản địa”  đã được kể lại gắn với sự kiện Boston. James Amistead vốn là nô lệ của bang Virginia nhưng nhờ có cống hiến trong vai trò là điệp viên cài vào quân đội Anh mà được Hội nghị bang ban tặng tự do. Sự dũng cảm của các binh sĩ da đen là  thứ rất ấn tượng và được nhấn mạnh: “tại Road Island những người Mĩ gốc Phi đã tổ chức thành  đội quân người da đen”. Sự tồn tại của người da đen trong cuộc chiến tranh giành độc lập đã thẩm thấu sâu vào trong sự kể lại cuộc cách mạng giành độc lập như trên. SGK thập niên 90 có đặc trưng là dựa trên tiền đề như trên mà thể hiện sự diễn giải về sự đoán định và quan điểm đối với người da đen.

Khi chiến tranh bùng nổ, những người nô lệ  đã phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan. Việc tìm kiếm con đường nhằm thoát khỏi tình trạng nô lệ phụ thuộc suốt đời như thế nào là tốt nhất? Liệu có nên chiến đấu cùng với những ông chủ da trắng của họ không? Cho dẫu vậy đối với họ có nên chiến đấu không? Việc đưa ra lựa chọn đúng đắn ngay tức thời trở nên bỏ ngỏ và những người Mĩ gốc Phi đã đưa ra những quyết định khác nhau”.

Ở đây, quan điểm có tính nhất nguyên bao gồm lập trường của những người có vị trí trung tâm của xã hội dân tộc đã không được sử dụng. Trái lại, bằng việc xác nhận tình trạng của người Mĩ gốc Phi có thể nói sự ghi chép này  đã thoát ra khỏi thế giới quan mang tính giai cấp của người da trắng  đặt sự tồn tại của người da đen ở vị trí thấp kém.

Và rồi, nhiều SGK còn đề cập đến những người Mĩ gốc Phi không tham gia chiến đấu và những người tham gia vào phía bên nước Anh. Ví dụ như SGK xuất bản vào năm 1994 viết: “khi chiến tranh kết thúc, chính phủ mới của các bang đã trả tự do cho phần lớn các nô lệ đã tham gia chiến đấu. Tuy  nhiên,  số đông hơn những người Mĩ gốc Phi đã không tham gia chiến đấu. Vì vậy, phần lớn những người Mĩ gốc Phi khi chiến tranh kết thúc vẫn là nô lệ”. Liên quan đến sự đa dạng của các hành động của người Mĩ gốc Phi khi diễn ra cách mạng thì mối quan hệ giữa người da đen với với người Anh trong quân đội Anh, những người tham gia vào quân đội Anh sau chiến tranh đã có mặt ở các khu tự trị được xây dựng ở Tây Phi hay Canada và  những người da đen bị thu hút vào các bộ tộc người Mĩ bản địa đã được ghi chép với tư cách là tri thức. Ở đây, các hoạt động được triển khai bên trong và bên ngoài Hợp chúng quốc bởi những người Mĩ gốc Phi và những người bị phân loại  đã được miêu tả dựa trên sự phán đoán và quan điểm của chính bản thân họ.

 

Đối với những người Mĩ gốc Phi lời kêu gọi tìm kiếm tự do là thứ từ ngay trước khi cách mạng giành độc lập diễn ra đã thẩm thấu rất sâu. Sự tiếp diễn các cuộc phản kháng và nổi dậy của nô lệ trong suốt chục năm đã thể hiện rằng những người khai phá da đen không cần tới những lời lẽ cảm động của Samuel Adams hay Patrick Henry để nhận thức giá trị của tự do. Trái lại, đông đảo các nô lệ nghĩ cách mạng giành độc lập giống như là sự cuồng nhiệt có tính chất như căn bệnh truyền nhiễm hoặc nếu không thế thì nó cũng như chiến tranh đế quốc. Họ  coi đó như là một cơ hội tiềm năng để có được tự do cho mình. Giống như thế những người da đen tự do  cũng coi đây là cơ hội tốt để có được quyền công dân bị cự tuyệt từ trước năm 1776 và chớp lấy cách mạng giành độc lập. Những người Mĩ gốc Phi  trước khi có bản tuyên ngôn độc lập đã chỉ ra những mâu thuẫn ở bên trong phái cấp tiến của đại lục trước đó”.

 

Bằng việc sử dụng quan điểm của người Mĩ gốc Phi  ở đây hình ảnh cách mạng giành độc lập trở thành thứ phức hợp được tạo thành từ nhiều quan điểm. Dân tộc Mĩ được tái định nghĩa và trở thành thứ có nội dung ý nghĩa phong phú hơn. Đồng thời  ở hình ảnh lịch sử có tính nhất nguyên sử dụng duy nhất  quan điểm của người da trắng  thì không thể bao hàm hết được và những mâu thuẫn  có ở bên trong tư tưởng của người da trắng  đã nổi lên rõ ràng. Trong  số các SGK thập niên 90 hầu như  các sách đều có thái độ phê phán đối với  các mâu thuẫn giữa trật tự hiện thực do người da trắng lập nên ở đại lục sau cách mạng  và triết lý về chính nghĩa do người da trắng đề xướng.

Quan điểm nhìn từ nhiều  phía của SGK Mĩ thập niên 90 cũng giống như vậy  đã tạo ra lịch sử  bao hàm rộng lớn các hoạt động mang tính thể chất và tinh thần của nhóm thiểu số. Khi đó, cách kể lịch sử dựa trên căn cứ là cơ cấu  lịch sử dân tộc gọi là “lịch sử Mĩ” thực sự đã mở rộng bản thân hàm nghĩa “Mĩ”. Đồng thời với nó cần chú ý rằng định nghĩa về dân tộc trước đó đã được sửa chữa từ cái nhìn đa nguyên đang trở nên rõ ràng hơn.

 

4. Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản từ nửa sau thế kỉ XX

 

Từ xã hội quốc dân đến xã hội quốc tế

Ở Nhật Bản cũng thế. Gần như cùng với sự sửa đổi Luật di dân của Mĩ cho dù không phải là sự cải cách căn bản đi nữa thì hiện tượng gọi là  “phi khu vực hóa” của các hoạt động con người như sự gia tăng dân số nhập cư và sự liên kết quốc tế của truyền thông đã nảy sinh vào khoảng thập niên 80. Thêm nữa, do sự phục hồi quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, bản thân sự thoát khỏi trạng thái cô lập  khỏi cộng đồng quốc tế sau thất bại trong chiến tranh  trở thành yếu tố quan trọng làm gia tăng hoạt động con người vượt qua biên giới quốc gia. Và rồi sự biến đổi này  đã đem đến sự phức tạp hóa quan điểm thấm đẫm trong nội dung và quá trình biên soạn SGK lịch sử Nhật Bản.

Hành chính giáo dục của Nhật Bản nửa sau thế kỉ XX đã sửa đổi chính sách xử lý bại chiến của GHQ và xuất bản  từ sự phục hồi tính tự chủ đối với nội dung giáo dục. Vì vậy, cả nội dung giáo dục cũng nhắm đến phục hồi sự trần thuật dựa trên nguyên lý dân tộc. Sau hiệp ước Sanfrancisco và sự thiết lập thể chế năm 1955, trong ý kiến kiểm định SGK của Bộ giáo dục năm 1957 trước đó đã nêu rõ mục tiêu giáo dục lịch sử là “nhận thức về nỗ lực của tổ tiên, nâng cao tự giác với tư cách là người Nhật, giáo dục tình yêu phong phú đối với dân tộc” và vào thập niên 60 theo các quan chức kiểm định SGK thì điều mong muốn là: “sách giáo khoa có khả năng trang bị cho bản thân học sinh lập trường tự chủ của quốc dân và đất nước một cách đúng đắn”. Dưới sự chỉ đạo của hành chính giáo dục như trên, SGK đã sửa chữa các cụm từ như cụm từ “đầu hàng vô điều kiện” trong chiến tranh thế giới thứ hai thành “đầu hàng”, xóa đi phần ghi chép thể  hiện sự “chuyên quyền độc đoán của quân đội” trong thời gian chiến tranh và ghi rõ “Etoro-Kunashiri vốn là lãnh thổ của Nhật Bản”. Cho đến cuối thập niên 60, SGK lịch sử  đã có đầy đủ các điều kiện cần thiết cần truyền tải như tính liên tục của chủ quyền, tính nhất thể của dân tộc, tính chính đáng của lãnh thổ quốc gia.  Và trong sự trần thuật lịch sử từ quan điểm dựa trên nguyên lý dân tộc này mà nảy sinh ý thức phân biệt dân tộc mà mình quy thuộc vào với dân tộc khác và tình cảm tán dương sự phát triển của nó. Trong SGK thập niên 60, 70, cụm từ “xâm lược” chỉ hành vi  chiến tranh của chủ nghĩa toàn trị đã được thay đổi và các từ miêu tả chính quyền quân phiệt Nhật ở Đông Nam Á như “bạo ngược”, sự “liều lĩnh” khi tham gia chiến tranh Thái Bình Dương đã bị cắt bỏ. Thay vào đó  là ghi chép  chiến thắng trong chiến tranh Nhật-Nga đã “tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đối với châu Á đang bị thực dân hóa và đóng vai trò làm trưởng thành tình cảm dân tộc của châu Á”. Trong sự kiện Nghĩa Hòa Đoàn thì sách viết: “lính Nhật là người hăng hái nhất”. SGK trong thời kì này ở điểm tán dương, bảo vệ dân tộc đã có cơ cấu thuyết minh nhất quán và hữu hiệu.

Tuy nhiên, ngay cả ở Nhật Bản nửa sau thế kỉ XX,  SGK lịch sử  đã phải đối mặt với tình huống không thể không tiếp nhận sự giám sát của xã hội. Thứ tạo nên nền móng của tình huống đó là vụ kiện của giáo sư Đại học giáo dục Tokyo –Ienaga Zaburo làm nảy sinh cuộc tranh luận về tính hợp pháp của chế độ kiểm định SGK. Trước việc SGK do mình biên soạn bị đánh trượt trong lần kiểm định năm 1957, 1963 và  sự bất lợi nảy sinh từ quyết định thông qua kiểm định kèm điều kiện năm 1964, Ienaga  quyết định khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định hành chính và đòi nhà nước bồi thường dựa trên căn cứ cho rằng chế độ kiểm định SGK và quyết định xử lý kiểm định là vi phạm pháp luật. Từ  “phiên toà sách giáo khoa”-phiên tòa đầu tiên nổ ra năm 1965  đến phiên tòa tối cao lần thứ ba năm 1997, trải qua 32 năm tòa án đã trở thành nơi tranh luận về  nội dung và  dạng thức tồn tại của nền giáo dục. Tại tòa bên nguyên cáo đạt được rất ít các phán quyết có lợi cho mình, tuy nhiên,  ở điểm tại các phiên tòa những tiêu chuẩn phán quyết SGK kiểm định và các quy tắc nội bộ vốn chưa từng được công bố giờ đây được công khai thì vụ kiện đã đóng vai trò xã hội quan trọng.

Mặt khác, bằng sự thương thuyết về tiền bồi thường từ sau thập niên 50, quan hệ ngoại giao quốc gia với các nước Đông Nam Á đã được triển khai và  khi quan hệ với Trung Quốc và Hàn Quốc trở nên bình thường bằng Hiệp ước Nhật-Hàn năm 1965 và Tuyên ngôn chung Nhật-Trung năm 1972, hoạt động của quốc dân Nhật Bản đã gia tăng mối liên hệ với nước ngoài hòa cùng với  nó là sự dò dẫm  về cách thức sử dụng các nội dung, khái niệm và quan điểm mới trong giáo dục lịch sử. Từ cuối thập niên 70 cho đến đầu thập niên 80 phía các tác giả viết SGK và nhà xuất bản bắt đầu đưa ra các thuật ngữ mới nhằm ghi chép lịch sử và sự kiểm định của Bộ giáo dục đã  tăng cường cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc nhằm thống nhất và kiểm soát chúng. Ví dụ như,  đối với các thuật như “Hongyone” trong lịch sử Triều Tiên và  “Phan Bội Châu” trong lịch sử Việt Nam, trong sự kiểm định giai đoạn này đã đưa ra ý kiến thay đổi là “không cần”, “không đưa vào những cụm từ nghe lạ lẫm”. Thêm nữa, về “vụ thảm sát Nam Kinh” thì đưa ra mệnh lệnh: “nên viết sao cho khi đọc sẽ hiểu là ngay sau khi chiếm đóng quân đội  đã muốn tiến hành thảm sát có tổ chức. Thời kì phát sinh thảm sát và tính tổ chức là không xác định được”, đối với việc “bắt cóc người Triều Tiên” thì “nên viết khu biệt người Trung Quốc với người Triều Tiên. Triều Tiên đương thời là lãnh thổ của Nhật Bản và là nơi áp dụng thích hợp với lệnh trưng binh quốc dân nên không thể nói là là cưỡng chế đưa người Triều Tiên đi được”.

Tuy nhiên, quá trình này đã làm dấy lên dư luận xã hội từ vụ kiện của Ienaga Zaburo, thêm nữa sau năm 1980 thông qua truyền thông xã hội, vấn đề này đã thu hút sự chú ý của quốc tế. Vào năm 1982 báo chí Nhật Bản  đã đưa tin về việc cụm từ “xâm lược” khi kiểm định chuyển thành “tiến vào” và rồi nó được báo chí Trung Quốc, Hàn Quốc đưa lại khiến nội dung kiểm định SGK của Nhật Bản trở thành vấn đề quốc tế. Thêm nữa, tiếp nhận điều này, Bộ giáo dục đã công khai một phần ý kiến kiểm định năm 1992, và các tác giả viết SGK thông qua các nhà xuất bản đã xúc tiến sự công khai các trường hợp kiểm định cho nên sự thực về kiểm định đã được công khai ngày một nhiều. Tình hình này đã được Takashima Nobuyoshi viết: “Nếu như là trước đó thì việc đòi hỏi công khai của Ienga Zaburo  bị làm ngơ như một sự miễn cưỡng thì từ thời điểm này trở đi rất đông các tác giả viết sách giáo khoa khác yêu cầu công bố sự thực kiểm định thì bộ giáo cục cũng không thể nói gì và tình trạng này kéo dài tới tận hôm nay. Không chỉ có các tác giả và biên tập viên đương thời, cả người dân thường và đôi khi là những người có liên quan đến các ghi chép đó và trong trường hợp nó trở thành vấn đề quốc tế thì có cả ý kiến của người trong và ngoài nước rất phong phú hướng về quá trình tiến hành kiểm định và tạo nên hiệu quả ngăn chặn sự quá đà của kiểm định”.

(còn tiếp)

 

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (3)

November 29, 2013 Leave a comment

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

3. Sách giáo khoa lịch sử của Mĩ nửa sau thế kỉ XX.

Ảnh hưởng của cải cách xã hội

Điều dễ dàng tưởng tượng một cách thông thường về giáo dục lịch sử của Mĩ là  do xã hội dân tộc là thể chế đa dân tộc cho nên nội dung giáo dục cũng khuyến khích sự lý giải đa diện các hiện tượng lịch sử. Tuy nhiên do tính đa dạng của văn hóa dân tộc trong xã hội hiện thực cho nên trái lại trong giáo dục lịch sử của Mĩ Identity mang tính nhất nguyên và rõ ràng được biểu hiện với tư cách là khái niệm được yêu cầu và từ thế kỉ XX trở đi vẫn như vậy. Tức là quan điểm lịch sử dựa trên chủ nghĩa đa văn hóa có được sức mạnh nhất định trong hệ thống giáo dục công là từ sau thập niên 60 trở đi, trước đó từ năm 1919 cho đến năm 1950 là thời kì Netivism gay gắt.

Nghiên cứu  của FitzGerald  Frances về phân tích nội dung SGK lịch sử của Mĩ-một công trình nghiên cứu lớn nhất về chủ đề này đã chứng minh cho sự lý giải này. Trong công trình nghiên cứu của bà các SGK lịch sử và xã hội được phát hành từ thế kỉ XIX đến năm 1970 và luận bàn về sự thay đổi giá trị quan có tính thống trị. Về SGK thập niên 40, bà cho rằng chúng coi trọng lịch sử chính trị và lịch sử hoạt động của chính phủ và ở đó bà chỉ ra rằng các cụm từ như “WE”, “OUR” xuất hiện liên tiếp. “Chúng ta” ở đây là nam giới thuộc tầng lớp trung lưu người da trắng trở lên và những người da đen, người bản xứ, người di dân được gọi là “họ” và trở thành thực thể tồn tại được đồng hóa với bên “chúng ta”. Lai lịch, tình trạng hiện tại, cống hiến xã hội của “họ” hầu như không được nhắc đến và  SGK chỉ đóng vai trò truyền đạt đạo đức tốt đẹp và giá trị của đàn ông da trắng. Xu hướng này vẫn được tiếp tục ở trong  SGK thập niên 50 và FitzGeral cho rằng đó là xu hướng nhất quán từ đầu tới cuối của SGK thập niên 50. Những SGK này với lý do bản thân đã hoàn chỉnh nên người ta cho rằng không cần phải thay đổi. Và tính chính thống này thể hiện tư duy “không còn có gì để phản biện không còn có gì phải nghi ngờ”.

Tuy nhiên, trong giới giáo dục thì sự biến đổi mạnh mẽ đã diễn ra từ thời điểm đó trở đi. Thứ dẫn tới điều đó là sự gia tăng của dư luận xã hội đối với  quá trình biên soạn và nội dung SGK. Ví dụ đầu tiên là phong trào với tư cách là một bộ phận của phong trào đòi quyền công dân diễn ra ở thành phố Detroit năm 1962. Đó là phong trào phê phán SGK lịch sử với quy mô lớn do Hiệp hội nâng cao địa vị của người da đen toàn Mĩ tiến hành. Phong trào này đã chỉ ra SGK của nhà xuất bản Reidoro-Brothers viết về chế độ nô lệ theo hướng tích cực và yêu cầu ủy ban giáo dục phải thu hồi các SGKđó khỏi trường học và đây là “lần đầu tiên trong lịch sử xuất bản có tiếng nói kháng nghị với quy mô lớn từ những người không phải là người da trắng và từ nhóm công dân thuộc phái tả”. Dưới tác động của phong trào, Ủy ban giáo dục đã quyết định thu hồi  SGK và bắt đầu tiến hành xem xét xem trong các cuốn SGK lịch sử đang sử dụng có tồn tại cái nhìn thiên kiến về chủng tộc hay không.

Về sau, phong trào thuộc loại này và sự đối phó của hành chính đã lan rộng sang các đô thị khác một cách nhanh chóng và điểm đáng chú ý là  việc sự triển khai này không phải chỉ là tình hình đa chủng tộc và thân thiện vốn đã tồn tại trong xã hội Mĩ trước đó mà nó còn là thứ được xúc tiến nhờ vào cải cách xã hội từ sau thập kỉ 60 trở đi. Đặc biệt sự sửa đổi Luật di dân vào năm 1965  đã chấm dứt chế độ phân bổ dân di cư theo từng nước xuất thân và mở rộng quy mô tiếp nhận dân di cư trong phạm vi tối đa là 12 vạn người đến từ tây bán cầu và 17 vạn người đến từ đông bán cầu bao gồm cả châu Á. Thêm nữa, Luật di dân này còn quy định sự ưu tiên đối với những người có gia đình sống ở Mĩ (đoàn tụ gia đình), những bác sĩ, nhà kĩ thuật hay người có năng lực đặc biệt và có cả sự tiếp nhận đặc biệt và thông thường với dân di cư vì thế mà số dân di cư vào Mĩ đến từ các nước Mĩ La tinh và châu Á tăng lên nhanh chóng.

Sự biến đổi cơ cấu dân số nhập cư này đã có tác động trực tiếp tới sự tuyển chọn SGK. SGK ở Mĩ được xuất bản tự do nhưng việc tuyển chọn SGK thì được quyết định theo “danh sách sách giáo khoa thích hợp” áp dụng với khoảng 20 bang và số trường còn lại thì được quyết định theo quy mô học khu. Đối với các nhà xuất bản thì họ không thể bán các phiên bản SGK khác nhau tương ứng với từng địa phương được vì thế mà họ phải tính toán làm sao để biên soạn ra sách có nội dung có thể bán được ở nhiều địa phương, nhiều bang khác nhau. Và khi ấy thì tiêu chuẩn giáo dục đối với các sự thật lịch sử được xác lập. Sự đồng thuận của dân tộc đối với trường hợp của nước Mĩ đã được sinh ra từ dưới lên trên như vậy. Ví dụ như ở các bang Florida, Texas, California sự quyết đinh “danh sách các sách giáo khoa thích hợp” được diễn ra theo quy mô bang và do ba bang này chiếm 25% thị trường sách giáo khoa toàn nước Mĩ cho nên nội dung SGK dễ phản ánh tình hình xã hội của các bang này và người ta chỉ ra đó là “hiệu quả California”, “hiệu quả Texas”. Những người dân di cư từ châu Á và Mĩ La tinh do sống chủ yếu ở các bang này cho nên sự đa văn hóa của xã hội và sự biến đổi của văn hóa sau khi Luật di dân được sửa đổi đã được phản ánh trong các tri thức của SGK thông qua “hiệu quả California”, “hiệu quả Texas”.

Kết quả là từ sau thập niên 70 dư luận đối với quá trình biên soạn SGK đã trở nên đa dạng hóa và  SGK cũng đã được biên soạn với quan điểm nắm chắc các hiện thực đa nguyên hóa. Theo sự phân tích nội dung SGK lịch sử của Nathan Grazer và Reed Ueda vào thập niên 70 thì quan điểm về sự trần thuật lịch sử trong SGK thời kì này như sau.

Sự ứng xử mới đối với sắc tộc trong SGK hiện tại là sự thay đổi từ sự ghi chép dựa trên nguyên lý  dân tộc đơn giản hay đơn nhất sang sự ghi chép đưa vào các nhóm đa dạng. Khi lịch sử của các nhóm sắc tộc khác nhau có sức mạnh đối với sự trần thuật lịch sử thì việc vẽ nên lịch sử từ cái nhìn dựa trên nguyên lý dân tộc bất biến hay đơn nhất trở thành không thể.

Sự dân tộc  hóa “sự tồn tại đặc biệt” và tiến tới sự thống nhất bằng khái niệm phổ biến.

Quan điểm nhất nguyên được sử dụng để trần thuật lịch sử trong SGK cho đến thập kỉ 50 trải qua thập kỉ 70 đã chuyển thành quan điểm phức hợp với các nhóm đa dạng. Điều này có thể thấy rõ qua tri thức lịch sử về người Mĩ gốc Nhật. SGK thập niên 60  rất ít khi đề cập đến người Mĩ gốc Nhật, trong số các SGK ít ỏi đó thì lại có xu hướng nhấn mạnh sự phân biệt giữa thiểu số và đa số lấy người da trắng làm trung tâm. Ví dụ như liên quan đến sự kiện vào năm 1906 có mệnh lệnh của trường học đưa ra nhằm cách ly trẻ em da trắng và trẻ em da vàng ở Sanfrancisco, SGK của một nhà xuất bản in năm 1964 đã thuyết minh về nguyên nhân là “đặc tính lao động của những người đến từ Nhật”.

Trong số các cư dân của California có người bắt đầu lo lắng về những người nhập cư gốc Nhật ở trong bang. Dân nhập cư gốc Nhật lao động với số tiền lương rất thấp vì vậy mà trong số những người lao động Mĩ có người đã cho rằng họ cướp mất công việc của mình”.

Ở đây sách lấy “đặc tính” “lao động với số tiền lương rất thấp” làm tiền đề và theo sau là kết quả tạo nên áp lực đối với người lao động da trắng dẫn tới người da trắng lo ngại đưa ra sắc lệnh. Sách đã nhấn mạnh đặc tính lao động giữa người da trắng có vị trí ở trung tâm xã hội và người Mĩ gốc Nhật có vị trí bên lề xã hội và thuyết minh về sự khác nhau đó trên lập trường của người da trắng. Thêm nữa, về việc cưỡng chế tập trung người Mĩ gốc Nhật trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, trong phần ghi chép của SGK lịch sử thập niên 60 đã ghi chép về bản thân sự bức hại đối với người Nhật gốc Mĩ như là “sự kiện đặc biệt”.

Có một sự kiện quan trọng duy nhất gọi là sự xâm hại quyền lợi thông thường của người dân vì sự an toàn của quốc gia. Trong bối cảnh xã hội chao đảo sau cuộc tấn công Trân Châu cảng, hơn 10 vạn người Mĩ gốc Nhật đã bị đuổi khỏi các ngôi nhà của mình ở bờ biển Thái Bình Dương và bị đưa vào tập trung trong các trại do quân đội điều hành”.
Ở đây sự thu dung cưỡng chế có nguyên nhân là do vụ công kích Trân Châu Cảng và có vẻ nó được thuyết minh rằng nếu như không có sự công kích đó thì sự thu dung này đã không diễn ra. Việc chủ thể của sự vụ này là quân đội và chính phủ cùng chuyện nó là sự kéo dài của một chuỗi các vụ việc bài ngoại được tiến hành hàng ngày từ thời chiến tranh đã không được nhấn mạnh.

Tuy nhiên, dưới hình thức hòa trộn giữa phong trào đấu tranh đòi quyền công dân và  trào lưu xã hội “phục hưng dân tộc” sinh ra sau khi sửa đổi Luật di dân, cộng đồng người Mĩ gốc Nhật đã triển khai phong trào từ thập niên 70  đòi phục hồi sự tôn trọng và tự do bị xâm hại do sự thu dung cưỡng chế gây ra. Phong trào này ngoài mục đích đòi tiền bồi thường còn nhằm đưa sự phòng chống tái diễn sự xâm hại nhân quyền mà biểu tượng là sự thu dung cưỡng chế đối với người Mĩ gốc Nhật.  Giáo dục đã trải qua quá trình thảo luận của Ủy ban chuyên môn trong quốc hội năm 1981 và kết quả là “Luật công dân tự do” được ra đời vào năm 1988. Theo đó, những ghi chép về những trải nghiệm của người Mĩ gốc Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã được đưa vào SGK với số lượng ngày một nhiều từ nửa sau thập kỉ 80.

Trong đó quan trọng nhất là khuynh hướng cho rằng người Mĩ gốc Nhật thế hệ thứ hai là thành viên của dân tộc và có quyền bình đẳng với người chiếm đa số trong xã hội Mĩ mạnh lên. Thế hệ thứ nhất và thứ hai với lý do là người Mĩ gốc Nhật đã bị loại bỏ ra khỏi định nghĩa quốc dân cho đến thập kỉ 70. Tuy nhiên trong SGK thập kỉ 80 vẫn có sự ngăn cách giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai, ví dụ như “2/3 trong số những người bị cưỡng chế di chuyển này là quốc dân Mĩ. Họ đã trở thành tù nhân ngay trong chính quốc gia của mình”. Ở đó nhấn mạnh thế hệ thứ hai có quyền công dân, nói được tiếng Anh, không chú ý đến nước Nhật tức là nhắc đi nhắc lại sự khác biệt giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai. SGK thập kỉ 80 đã phân chia người Nhật gốc Mĩ bằng tư cách thành viên của quốc dân đồng thời nhấn mạnh lòng trung thành với tổ quốc của họ. Sách đã giới thiệu tên các đội quân cụ thể như “Đội chiến đấu cơ số 442”, “Đội bộ binh số 100”, “tư thế chiến đấu của các đội quân này rất dũng cảm và anh hùng đó là hành động theo lời thề “sẵn sàng quyết tử” của họ. Số người chết vì chiến đấu rất đông đảo. Trên 1700 người chết và có khoảng 5000 người bị thương. Và sách cũng thuyết minh rằng “họ là một trong số những đội quân nhận được nhiều huân chương nhất ở Mĩ”. Bằng việc nhấn mạnh lòng dũng cảm lần đầu tiên họ được coi là có vị trí bên trong lòng dân tộc  Mĩ.

Tuy nhiên, sự dao động của khái niệm dân tộc giống như trong SGK thập niên 80 này mặt khác cũng có mối liên kết với việc tạo nên quan điểm phê phán quá khứ nhắm đến xây dựng sự bình đẳng của xã hội công dân và điều này trở nên rõ ràng trong SGK thập niên 90. Căn cứ để chính thống hóa ghi chép khi ấy không phải là quyền lợi của dân tộc mà là định nghĩa xã hội công dân. Liên quan đến sự thu dung cưỡng chế sách ghi: “người Nhật và người Mĩ gốc Nhật đã phải đối mặt với sự phân biệt đối xử trong thời gian dài ở bờ biển phía tây. Sau trận Trân Châu cảng, tình trạng của họ càng trở nên tồi tệ hơn”. Thêm nữa, SGK thập niên 90 cũng ghi chép về sự phân biệt đối xử đối với người Mĩ gốc Á, Phi, Mĩ La tinh… và các trải nghiệm của người gốc Nhật cũng được đặt vào trong đó. Bên cạnh đó sự phân biệt đối xử trong thời chiến tranh này đã được tiếp tục cả trong thời bình. Ở đây thứ đã xúc tiến sự thu dung cưỡng chế không phải đơn giản chỉ là quân đội, chính phủ mà còn là áp lực của xã hội được tạo ra từ những người dân thường.

Trong ghi chép có tính phê phán đối với quá khứ này của SGK thập niên 90, có thể nói vượt lên trên “quyền lợi của dân tộc Mĩ” là thứ được coi trọng ở trên –khái niệm về nhân quyền có tính phổ biến. Nếu như chỉ thuyết minh về sự tước bỏ quyền lợi với tư cách là quốc dân thì giống như SGK thập niên 80  ví dụ như liên quan đến tình hình thực tế của các trại thu dung cưỡng chế thì chỉ cần ghi như sau là đủ “ở các trại thu dung, những người Nhật gốc Mĩ đã phải sinh hoạt trong hàng rào dây thép gai. Nơi ở thì tồi tàn”. Tuy nhiên thứ mà SGK thập niên 90 coi là vấn đề là sự chính nghĩa xã hội-đó là sự tước đoạt nhân quyền cơ bản đối với những người bị hại bao gồm cả thế hệ thứ nhất. Vì vậy, những trải nghiệm ở trại thu dung đã được ghi chép chi tiết tới từng chi tiết nhỏ của cuộc sống hàng ngày. Ví dụ như  SGK xuất bản năm 1999 đã ghi: “tất cả các gia đình đều được gắn biển số, tên gắn với hành lý, áo…không được ghi mà chỉ có số”. Một phụ nữ trong cuốn sách “Từ ấy về sau” có viết: “chúng tôi dần dần bị gọi bởi số hiệu của gia đình là 10710”. Người phụ nữ cho biết thêm cùng với quá trình di chuyển trại cô đã mất đi cả identity của bản thân cùng cái riêng của bản thân mình.

(còn tiếp)

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (2)

November 28, 2013 Leave a comment

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

2. Hai luận điểm về bản sắc dân tộc (National Identity)

Bằng phương tiện văn hóa hiện đại phong phú,  việc nắm bắt “tính liên tục, tính đồng nhất giữa dân tộc và bản thân” tức là bản sắc dân tộc khiến cho sự tập hợp có tên “dân tộc” trở nên khả năng và trong chương này sẽ trình bày về tư duy cơ bản đó. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ thử suy ngẫm bằng việc đưa ra một cách cụ thể các phương tiện văn hóa gọi là SGK lịch sử. Tuy nhiên,  toàn cầu hóa sẽ đưa đến tính phương hướng trong tương lai như thế nào đối với Identity dựa trên nguyên lý dân tộc  là điều đặt ra. Về hình ảnh tương lai của “National Identity” thì trong lĩnh vực  khoa học xã hội có hai luận điểm khác nhau được đưa ra và chúng tôi muốn phân tích các điểm giống và khác nhau của hai luận điểm trong chương này.

Thứ nhất là luận điểm với tư duy cho rằng tính hữu hiệu của quốc gia- dân tộc- quốc gia gắn bó với nguyên lý dân tộc sẽ tiếp tục bị mất đi và trái lại là  giả định tính khả năng của cộng đồng vượt qua biên giới quốc gia. Giống như lý luận của Anderson đã trình bày trước đó, sự lý giải tập hợp với tên gọi “dân tộc” với tư cách là sản phẩm của tính hiện đại được bắt đầu từ lý luận của Elie Kedourie và Ernest Gellner. Ở đó đã xuất hiện không ít sự nhiệt thành tìm kiếm cộng đồng con người vượt khỏi nguyên lý dân tộc. Đặc biệt trong lý luận  dân tộc của Gellner, chủ nghĩa công dân thế giới là nền tảng bằng việc tương đối hóa tính quan trọng của nguyên lý dân tộc sự liên đới tự giác của con người sẽ trở nên khả năng và có thể tạo nên cộng đồng chính trị vượt qua biên giới dân tộc-quốc gia. Bên cạnh đó theo lý luận về chính trị mang tính chủ nghĩa công dân toàn cầu của David Held, các hoạt động của con người trong bối cảnh hiện tại khi diễn ra toàn cầu hóa tạo ra áp lực xác lập quyền lợi công dân có thể ứng dụng rộng rãi theo cơ cấu pháp luật quốc tế sẽ dâng cao nhưng chỉ điều đó thôi thì chưa đủ. Cho dẫu vậy thì  trong sự tồn tại của luật pháp, việc cộng đồng chính trị tạo ra và lưu giữ nó là cần thiết. Vì vậy, đòi hỏi nguyên tắc của luật pháp dân chủ theo chủ nghĩa công dân thế giới phải được ứng dụng trong cơ cấu chính trị hiện tồn của các phố, bang và quốc gia đồng thời cả các cộng đồng xuyên quốc gia cũng phải thực hiện chúng. Held đã đưa ra triết lý về “cộng đồng dân chủ chủ nghĩa công dân thế giới” với tư cách như là thứ tích cực hơn “Liên minh quốc gia” cho dù không đạt đến độ tuyệt đối như là “quốc gia thế giới” và trật tự chính trị quy mô toàn cầu trở nên cần thiết  hoặc là trở nên khả năng. Nếu như tuân theo giả định này,  thì việc giáo dục tạo nên identity có tính “hậu quốc gia” (post-national) trở nên cần thiết với tính cộng đồng của con người và trong giáo dục lịch sử nhằm giáo dục nó còn đặt ra sự vượt thoát khỏi cái khung lịch sử quốc gia hạn hẹp.

Ngược lại là quan điểm tìm ra tính phức hợp trong Identity của con người thời đại toàn cầu và coi trọng nó. Ví dụ như John Tomlinson lại coi trọng phương diện các cá nhân văn hóa – trải nghiệm hàng ngày của các cá nhân hơn là vấn đề về tính khả năng của chế độ chính trị và cộng đồng chính trị vượt qua cái khung quốc gia mà Held sử dụng.  Tomlinson cho rằng việc trở thành công dân thế giới tức là  có ý thức đối với không chỉ các vấn đề có tính địa phương liên quan trực tiếp tới bản thân mà còn có ý thức trách nhiệm, tham gia, quy thuộc mang tính toàn cầu và có khí chất văn hóa để có thể đưa vào cuộc sống hàng ngày những vấn đề lớn lao đó”. Tức là chủ nghĩa công dân thế giới là việc làm cho song song tồn tại đồng thời ý thức trách nhiệm, ý thức quy thuộc phức hợp đối với tính cộng đồng khác nhau tương đối trong cuộc sống hàng ngày mà từ trong sự phức hợp đó mà hình thành nên identity của bản thân. Tư duy của Tomlinson xuất phát từ sự gắn bó của sự quy thuộc hóa của giá trị địa phương ở bản thân khái niệm quyền công dân quy mô toàn cầu và thêm nữa còn là do nó bao gồm cả đặc quyền xã hội gọi là “trung tâm châu Âu”, “trung tâm nam giới”. Thêm nữa điều được đòi hỏi ở trong khái niệm chủ nghĩa công dân thế giới là  chấm dứt việc phán đoán  sự quy thuộc của con người dựa trên sự đối lập hai nội dung là toàn cầu và địa phương mà công nhận con người có Identity với sự phức hợp của cả toàn cầu và địa phương. Vì vậy, Tomlinson không đưa ra tính tất yếu của quốc gia thế giới và kết luận rằng những dấu hiệu cho thấy hệ thống như vậy sẽ nảy sinh là không hề có. Nếu như tuân theo sự giả định này, nếu Identity dựa trên nguyên lý dân tộc thì tầm quan trọng của nó không mất đi mà trái lại nó có khả năng trở thành thứ có mối liên hệ mềm dẻo với ý thức quy thuộc đối với tính cộng đồng tương đối. Và giáo dục lịch sử nhằm giáo dục Identity này sẽ đặt ra đòi hỏi phải là kiểu chinh phục được hai mặt của giá trị là quan điểm nắm bắt đồng thời tình hình đa dạng của xã hội dân tộc và giá trị.

Trong sự xem xét dưới đây, chúng tôi sẽ xem xem hai quan điểm  trong SGK của Mĩ và Nhật Bản nửa sau thế kỉ XX  cái nào sẽ đóng góp nhiều hơn cho tính cộng đồng-quốc gia dân tộc và sự phưc hợp tính cộng đồng khác biệt một cách tương đối trong thời đại toàn cầu hóa.

(còn tiếp)

 

Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa(1)

November 27, 2013 Leave a comment

 

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

1. Giáo dục quốc dân và toàn cầu hóa

 Khi chúng ta học lịch sử bằng sách SGK ở trường học thì  lịch sử đó được truyền đạt tới người học với tư cách là một trong những “sự thật”. Tri thức được đem đến cho chúng ta là thứ về “điều đã xảy ra” và thêm nữa nó đã được tinh lọc và hệ thống hóa nhằm giúp cho người học nắm được dòng chảy một loạt những điều ấy. Vì vậy, lịch sử đối với các cá nhân trở thành thứ được nắm bắt với tư cách là vật có tính xác định và nằm ở bên ngoài. Tuy nhiên, khi bản thân nhìn vào SGK không thuộc thời kì mình là người học thì có thể sẽ nhận ra rằng ấn tượng về “sự thật” được đưa ra thật khác biệt. Bản thân SGK là sản phẩm mang tính xã hội do đó thông tin và cách kể nhằm truyền đạt lịch sử thường bị giới hạn bởi thời đại.

Mục đích của chương này là vừa xem xét sức mạnh có tính xã hội tác động đến SGK vừa  phân tích sự biến đổi về lý luận thống nhất dân tộc từ sự biến đổi của nội dung và cách kể của SGK lịch sử nửa sau thế kỉ XX. Đặc biệt, xác định trọng tâm là ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới kiểu giáo dục lịch sử và so sánh trường hợp của Nhật Bản và Mĩ. Bằng việc này, sẽ không chỉ lấy ra các ví dụ cá biệt một cách đơn giản mà sẽ chỉ ra kết quả của toàn cầu hóa đối với xã hội hiện đại. Tức là chủ đề của chương sẽ là bàn luận về ảnh hưởng mà toàn cầu hóa tác động đến lô-gic thống nhất quốc dân được biểu hiện trong SGK.

Khi tiến hành xem xét điều này, chúng tôi muốn tham khảo lý luận của Benedict Anderson lý giải rằng “dân tộc”  là “cộng đồng tưởng tượng”.

Theo lý luận của  Anderson thì sự tập hợp con người là “dân tộc” không phải là hiện tượng bất biến trong lịch sử nhân loại mà là hiện tượng có khả năng thay đổi tùy theo phương tiện văn hóa hiện đại phong phú. Những người vốn  cách biệt nhau với khoảng cách không ngờ tới và thuộc về các tập đoàn khác nhau nhưng thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại như các xuất bản phẩm, báo chí mà lần đầu tiên cùng sở hữu quan niệm “cùng dân tộc”. Và quan niệm này nhờ vào hệ thống trường học và tính giai cấp tạo nên cơ cấu lý giải lịch sử của mọi người mà trở thành thứ mang tính dân tộc. Cho dẫu vậy tùy theo SGK mang tính một chiều và các giáo tài khác mà mọi người có nhận thức chung về việc lý giải những thông tin nào với tư cách là lịch sử, và hệ thống hóa chúng như thế nào, thêm nữa bằng việc chương trình được quy định theo lứa tuổi mà nhận thức chung về lịch sử đã trở nên chặt chẽ ở phạm vi rộng. Và vì vậy, từng cá nhân có suy nghĩ về lịch sử dân tộc mình khác với các dân tộc khác và biên giới hay chủ quyền đã tiếp tục trở thành nền tảng. Sự tập hợp  có tên “dân tộc” là sự thực thi trong thực tế với tư cách là kết quả của tác dụng tương hỗ giữa các cá nhân như trên.

Do vậy,  giáo dục lịch sử trong trường học hiện dại về cơ bản nó có tính chất là giáo dục lịch sử dân tộc truyền đạt lô-gic nhằm thống nhất dân tộc nhưng sự tồn tại của dân tộc với tư cách là sản phẩm của tính hiện đại lại được quyết định bởi mối quan hệ với môi trường.

Như Anderson đã chỉ ra “Việc biến sự tưởng tượng về cộng đồng này thành khả năng là  tác dụng qua lại giữa  tính tất yếu và sự ngẫu nhiên nhưng bộc phát của   lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (tư bản chủ nghĩa), kĩ thuật thông tin liên lạc (in ấn, xuất bản), sự đa dạng ngôn ngữ. ..” . Vì vậy ví dụ như có sự biến đổi kĩ thuật thông tin liên lạc có khả năng sử dụng thì có thể đoán được sự thay đổi ở gốc rễ của tính thống nhất của dân tộc.

Công việc xem xét trong chương này nằm ở ý nghĩa của việc bàn luận về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với  lô-gic thống nhất dân tộc được thể hiện trong SGK lịch sử. Trong thời đại gọi là hiện đại,  có thể thấy rõ sự tiến triển nhanh chóng, phân nhánh và đa dạng hóa  của các phương tiện giao thông, vận chuyển liên lạc đặc biệt từ nửa sau thế kỉ XX trở đi quan  niệm xã hội về con người và hoạt động xã hội đã vượt qua biên giới quốc gia và lan rộng. Quả thật ở phương diện “lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kĩ thuật thông tin liên lạc”, môi trường khác với thời kì tạo nên nguyên lý dân tộc đã ra đời và trong chương này sẽ nắm bắt tình hình lý luận của sự thống nhất dưới môi trường đó.

Thêm nữa từ sự xác định vấn đề như trên, sẽ đưa ra sự di động vượt biên giới và hoạt động truyền thông sẽ được đưa ra như là ví dụ chủ yếu và cụ thể về hiện tượng “toàn cầu hóa”. Giống như Jan Aart đã nói, với tư cách là đặc điểm của “toàn cầu hóa”, cần phải nắm vững sự “phi lĩnh vực hóa” (deterritorialization). Các thuật ngữ như “quốc tế hóa”, “tự do hóa”, “phổ thông hóa”, “Tây Âu hóa” thực tế là sự tồn tại của “toàn cầu hóa” trong cuộc sống hàng ngày nhưng trong các lĩnh vực khác cũng có thể được biểu hiện như quan hiện về tính xã hội của con người và các hoạt động xã hội là những động thái vượt ra ngoài giới hạn của tài nguyên địa lý. Trong chương này sẽ lý giải những đặc trưng của sự trần thuật lịch sử trong thời đại toàn cầu hóa từ góc độ nói trên.

(còn tiếp)

Học sinh Việt Nam vạch kế sách cho Nhật Bản giữa thế kỉ XIX (169)

November 17, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút
Môn: Lịch sử

Đề bài: Vào giữa thế kỉ XIX, trước áp lực ngày một gia tăng của các nước đế quốc phương Tây, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn:
1. Cải cách, mở cửa để xây dựng đất nước theo mô hình các nước phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.
2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nhiều kế sách đã được đưa ra.
Em hãy đóng vai là một người Nhật đương thời có chí lớn để đưa ra kế sách cho Nhật Bản.

Bài làm

 

Ngày…tháng…năm…

Từ Thiên hoàng X… người trị vì và mang lại ánh sáng cho Nhật Bản.

Tới toàn bộ nhân dân Nhật Bản thân yêu!

Đã nhiều năm nay, Nhật Bản chúng ta sống trong yên bình và độc lập. Chúng ta chưa phải đứng trước một biến cố lớn và tăm tối đến thế này.

Nhân dân Nhật Bản yêu quý!

Chúng ta đang đứng trong một ngọn lửa. Chính là giữa lúc nguy nan nhất, chúng ta phải học cách dập lửa đúng cách, nếu không, ngọn lửa ấy sẽ ngày càng bùng cháy, chẳng mấy chốc sẽ thiêu rụi nền hòa bình của Nhật Bản chúng ta.

Ắt hẳn đã là dân Nhật Bản, thì sẽ hiểu ngọn lửa mà ta đang nói là gì, và nó đáng sợ như thế nào. Có lẽ do Nhật Bản quá tươi đẹp, quá trù phú, quá phồn thịnh nên đã và đang câu dẫn các nước đế quốc  phương Tây.

Phương Tây đang ngày càng can thiệp sâu hơn vào Nhật Bản.  Ta hiểu điều chúng muốn. Chúng muốn chuộc lợi từ Nhật Bản, phát triển, làm giàu từ Nhật Bản. Và yêu cầu ắt có là yêu cầu mở cửa. Nếu không được đáp ứng, ngọn lửa chiến tranh sẽ nổ ra.

Trong chúng ta, ai muốn xảy ra chiến tranh?

Trong chúng ta, ai muốn hòa bình và hạnh phúc?

Chúng ta muốn thấy đất nước phát triển, hay muốn thấy đồng bào và người thân của chúng ta đổ máu trong chiến tranh?

Nhật Bản tươi đẹp của chúng ta đang đứng trước hai lựa chọn: trước áp lực gia tăng của phương Tây hoặc chúng ta mở cửa và phát triển để giữ lấy hòa bình dân tộc hoặc tiếp tục tỏa quốc không cho phương Tây can thiệp và đương nhiên phương Tây sẽ rất giận dữ. Và điều tất yếu là chiến tranh sẽ xảy ra.

Ta chẳng thể che giấu rằng chế độ phong kiến của chúng ta ngày một yếu. Chúng ta chỉ là nước nông nghiệp và vũ khí yếu. Vậy, nếu phải đối diện và chiến tranh với các nước phương Tây, lấy gì đảm bảo rằng chúng ta sẽ chiến thắng? Hay là chưa chiến đấu đã nắm chắc thất bại trong tay?

Không. Chúng ta sẽ không chiến tranh! Con đường vũ lực sẽ giết chết đồng bào ruột thịt của chúng ta. Và đổi lại sẽ lại là thất bại.

Vì vậy, điều tất yếu cần thiết bây giờ là mở cửa giao thiệp với phương Tây, để tránh xảy ra xung đột.

Chúng ta sẽ không mở cửa để làm mất đi nét văn hóa Nhật Bản. Mở cửa, chúng ta vẫn là người Nhật, con dân của văn hóa Nhật, chỉ có điều sẽ học hỏi và phát triển hơn mà thôi.

Đúng vậy, điều chúng ta cần là mở cửa.

Hãy nhìn các nước Đông Nam Á, họ đã làm gì? Họ cũng đang đứng trước những nguy cơ bị xâm chiếm như chúng ta. Họ đóng cửa tỏa quốc. Và các nước Đông Nam Á nhận được gì?

Phi-líp-pin đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị Tây Ban Nhà và rồi bị Mĩ thôn tính.

Miến Điện kháng chiến chống thực dân Anh rất anh dũng nhưng rồi thất bại, nghĩa quân phải lui vào rừng sâu….

Hãy lấy tấm gương từ họ và rút ra bài học: Nếu không nhìn thấy chiến thắng thì đừng mù quáng đấu tranh bằng vũ lực!

Chúng ta sẽ không thể thắng nổi phương Tây bằng vũ lực. Đó là thực tế. Vì vậy chúng ta sẽ mở cửa một cách khôn ngoan. Tiếp nhận họ một cách thông minh.

Sau đó, việc cần thiết tiếp theo đó là : cần canh tân để phát triển đất nước.

Nếu chúng ta mở cửa học theo phương Tây, đồng thời kết hợp với canh tân đất nước, thì chúng ta sẽ nhận được gì?

Một là độc lập dân tộc.

Hai là thoát khỏi đổ máu

Ba là đất nước phát triển.

Và nhiều điều nữa. Vậy tại sao chúng ta lại từ chối, hỡi nhân dân Nhật Bản thân yêu ?

Chúng ta sẽ cải cách kinh tế, thống nhất tiền tệ, xóa bỏ sự độc quyền ruộng đất của giai cấp phong kiến. Chúng ta sẽ phát triển xã hội, bãi bỏ nông nô, đưa quý tộc tư sản hóa và đại tư sản lên nắm chính quyền. Mở trường học, cử học sinh ưu tú đi học tại phương Tây. Chúng ta sẽ huấn luyện và tổ chức quân đội theo kiểu phương Tây, chế độ nghĩa vụ thay cho trưng binh, chú trọng vào sản xuất vũ khí, đóng tàu….

Vậy hỡi con dân Nhật Bản, chẳng phải như vậy đất nước thêm phát triển phồn vinh, lại thoát khỏi nguy cơ bị con hổ phương Tây ăn thịt ? Như vậy có khi tốt hơn hay không ?

Ta tin rằng nếu làm như vậy, chúng ta sẽ chỉ trong vài chục năm nữa thôi sẽ thoát khỏi nguy cơ thuộc địa mà trở thành vương quốc hùng mạnh chẳng kém gì các nước phương Tây.

Vậy lựa chọn của chúng ta là gì ? Hãy suy nghĩ kĩ đi hỡi toàn dân ! Kể cả những con người ích kỉ hay lạc hậu cổ hủ. Hãy nghĩ kĩ vào, con đường mà chúng ta chọn sẽ là con đường tự do, hạnh phúc hay ngập ngụa máu trong chiến tranh đây ?

Toàn dân Nhật Bản ! Hỡi toàn dân Nhật Bản hãy mở cửa  một cách khôn ngoan, canh tân một cách khéo léo ! Một mình thiên hoàng ta làm là không đủ ! Mà ta cần toàn dân, hãy cùng xây dựng và yêu thương Nhật Bản !

Nhật Bản sẽ chỉ tươi đẹp khi chúng ta hòa vào làm một để cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hòa bình muôn năm !

Ánh sáng muôn năm !

Tự do muôn năm !

Đất nước Nhật Bản muôn Năm

 

(NTHY,nữ, học sinh lớp 8)

 

%d bloggers like this: