Archive

Archive for December, 2013

“CẢI CÁCH GIÁO DỤC NHẬT BẢN” : Đọc và suy ngẫm

December 31, 2013 Leave a comment

Vào ngày cuối cùng của năm 2013 chủ blog “thonsau.wordpress.com” đón một niềm vui: cuốn sách “CẢI CÁCH GIÁO DỤC NHẬT BẢN ” (tác giả: Ozaki Mugen, NXB Chuokoron Shinsha, 1999) do tôi (Nguyễn Quốc Vương) dịch đã …xuất bản! Xin chân thành cảm ơn Thaihabooks, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa đã giúp đỡ mua bản quyền và đưa cuốn sách tới bạn đọc trong nước.

Hình0825

Đây là cuốn sách tổng kết các cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản từ cuối thời Mạc phủ Edo tới hiện nay.

Hình0828

Hi vọng cuốn sách  sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin giá  trị để chúng ta cùng suy ngẫm về nguyên nhân xa làm nên vị trí và giá trị của nước Nhật  trong lòng thế giới.

Dưới đây là mục lục cuốn sách:

LỜI TỰA

LỜI NÓI ĐẦU

CẢI CÁCH GIÁO DỤC NHẬT BẢN

I. Sự xuất phát của giáo dục hiện đại

1. Giáo dục trong quá trình khai sáng văn minh

2. Phong trào Tự do dân quyền và giáo dục

II. Giáo dục của quốc gia dưới chế độ thiên hoàng

1. Chế độ giáo dục quốc gia chủ nghĩa

2. Sắc chỉ giáo dục và trường học

III. Sự xác lập mang tính xã hội của trường học

1. Trường tiểu học với tư cách là giáo dục quốc dân

2. Sự phát triển  của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản và giáo dục

3. Các vấn đề xã hội và giáo dục

IV. “Giáo dục mới thời Taisho”

1. Cải cách giáo dục

2. Sự nóng lên của nhu cầu giáo dục

3. Phong trào giáo dục

V. Giáo dục thời kì động loạn

1. Trường học trong thời kì khủng hoảng Showa

2. Cải cách xã hội và kiểm soát  tư tưởng

3. Trường học dưới thể chế thời chiến

VI. Sự xuất phát của giáo dục sau chiến tranh

1. Cải cách giáo dục sau chiến tranh

2. Giáo dục trường học và học sinh

3. Phong trào giáo dục

VII. Xã hội bằng cấp và giáo dục chạy theo điểm số

1. Sự tu chỉnh giáo dục sau chiến tranh

2. Chính sách phát triển kinh tế tốc độ cao và chủ nghĩa năng lực

3. Sự trưởng thành của chủ nghĩa bằng cấp

VIII. Thời đại cải cách giáo dục

1. Môi trường giáo dục của trẻ em

2. Câu hỏi đặt ra cho cải cách giáo dục

Kết luận

Giới thiệu tác giả:

Ozaki Mugen sinh năm 1942 tại tỉnh Aichi.

Lấy bằng Tiến sĩ về Giáo dục học tại Đại học Kyoto.

Từng là Giáo sư Đại học nữ sinh Osaka, hiện là Giáo sư tại khoa văn học Đại học Kansai.

Một số sách do ông biên soạn đã xuất bản :

Giáo dục hậu chiến sử luận (Impact Shuppankai, 1991)

Hình ảnh giáo dục của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản (Sekaishisosha, 1991)

Vấn đề và nguyên lí giáo dục (viết chung, Showado, 1994)

Trường học là ngã tư đường (viết chung, Impact Shuppankai, 2000)

p/s: Các bạn có thể xem thêm chi tiết về cuốn sách trên trang web của Thaihabooks

Advertisements

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (20)

December 29, 2013 Leave a comment

 

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

(2) Nội dung nguyên tác “Kuni no ayumi” của giáo dục lịch sử thời hậu chiến- phần ghi chép về “Cuộc tấn công của Mông Cổ”

Sách giáo khoa lịch sử quốc định tiền chiến đều bắt đầu bằng thần thoại và truyền thuyết nhưng “Kuni no ayumi” là sách giáo khoa lịch sử bắt đầu bằng xã hội nguyên thủy dựa trên thành tựu khảo cổ học. Nội dung mang tính thần thoại hoàn toàn biến mất và sự thuyết minh về nguồn gốc của quốc gia được viết dựa trên các sự thật lịch sử khách quan. Đây là sự chuyển đổi lớn từ sách giáo khoa lấy các tài liệu với nội dung dựa trên chủ nghĩa quốc gia sang sách giáo khoa lịch sử mang tính khoa học dựa trên thành quả của khảo cổ học, sử liệu học, xã hội học.

Cấu tạo mục lục của “Kuni no ayumi” quyển thượng như sau:

 

Phần 1. Buổi bình minh của Nhật Bản

1. Sự khởi đầu của lịch sử

2. Triều đình Yamato

3. Tiếp nhận văn hóa đại lục

 

Phần 2. Sự trưởng thành của Nhật Bản

1. Thánh Đức thái tử

2. Cải cách Taika

3. Kinh đô của Nara

 

Phần 3.  Thời đại Heian-kyo

1. Kinh đô Heian

2. Sự phồn vinh của dòng họ Fujiwara

3. Nền văn hóa rực rỡ

4. Sự tồn tại của các địa phương

5. Sự hưng khởi của võ sĩ.

 

Phần 4. Chính trị võ sĩ

1. Mạc phủ Kamakura

2. Xã hội và văn hóa

 

Phần 5. Từ Kamakura đến Muromachi

1. Sự trị vì của thiên hoàng Kenmu

2. Mạc phủ Muromachi

3. Kinh tế và Văn hóa

4. Sự chuyển động hướng tới thời đại mới

 

Phần 6. Azuchi và Momoyama

1. Sự thống nhất quốc nội

2. Ngoại giao và văn hóa

 

 

Nhìn vào biểu số 2: So sánh sự phân loại các nhân vật (bao gồm cả thần thánh) trong “Quốc sử khoa sơ đẳng” và “Kuni no ayumi” thì thấy trong “Kuni no ayumi” lịch sử văn hóa chiếm phần lớn như là một đặc trưng của cuốn sách. Phần ghi chép về Thiên hoàng thu nhỏ lại và thay vào đó là phần viết về quốc dân.

Trong “Kuni no ayumi”, nhân vật văn hóa đã tăng từ 9% lên 30% tức là tăng hơn 21%-một con số ấn tượng. Có thể  nói đó là sự thay đổi từ quan điểm lấy trung tâm là lịch sử chính trị sang cái nhìn coi trọng lịch sử văn hóa. Khác với giáo dục lịch sử trước chiến tranh, các sự thật lịch sử đã được ghi chép với tư cách là sự thật.

 

Biểu số 2: So sánh sự phân loại các nhân vật (bao gồm cả thần thánh) trong sách “Quốc sử khoa sơ đẳng” và “Kuni no ayumi”.

  “Quốc sử khoa sơ đẳng” “Kuni no Ayumi”
Thiên hoàng-Quý tộc 105 người (26%) 36 người (16%)
Nhân vật văn hóa 33 người (9%) 68 người (30%)
Chính trị gia (bao gồm cả võ sĩ) 205 người (56%) 106 người (47%)
Thần thánh 16 (5%) 0 (0%)
Người nước ngoài 9  người (3%) 17 người (7%)
Các nhân vật khác 3 (1%) 0 (0%)
Tổng hợp 371 (100%) 227 (100%)

(Yoshida Taro biên soạn, “Nội dung-phương pháp luận giáo dục lịch sử”, Meiji Tosho, 1968, trang 204).

Thêm nữa, “Kuni no Ayumi” đã loại bỏ lịch sử chính trị dựa trên quan điểm “hoàng quốc sử quan”, coi trọng hoạt động kinh tế, chính trị của quốc dân, đưa ra lịch sử kinh tế-xã hội của từng thời đại và coi trọng các sự thật lịch sử khách quan.

“Kuni no ayjumi” (9/1946) đã viết về “Cuộc tấn công của Mông Cổ” như sau. Thần phong (kamikaze) đã thay bằng từ “gió lớn” hay “bão” và cố gắng thuyết minh dựa trên các sự thật lịch sử.

Vào thời Tokimune cháu của Tokiyori chấp chính, quân Mông Cổ kéo tới tấn công. Ở đại lục, khoảng 50 năm trước xuất hiện Thành Cát Tư Hãn (Trigiskhan)  chinh phục bốn phương và  vào thời cháu ông ta là Hốt Tất Liệt (Khubilai) đã mở rộng thế lực tới tận bán đảo Triều Tiên. Và không bao lâu sau đã đổi tên nước là Nguyên.

Hốt Tất Liệt ỷ mạnh nên muốn chinh phục  nước ta và nhiều lần gửi sứ cùng thư đến. Nước ta cho rằng đó là thư vô  lễ nên không trả lời. Vào tháng 10 năm Bunei thứ 11 (1274) Hốt Tất Liệt mang theo 900 chiếc thuyền chở 4 vạn binh sĩ tấn công cảng Hata. Võ sĩ đã chiến đấu dũng cảm nhưng quân địch đổ bộ được lên bờ gây nên cảnh náo động. Nhưng rồi bão kéo đến và thuyền địch bị chìm khiến chúng phải rút lui.

Hốt Tất Liệt tuy vậy không từ bỏ ý định hàng phục nước ta. Tháng 7 năm Koan thứ 4 (1281) Hốt Tất Liệt đưa 4400 chiếc thuyền chở 14 vạn lính tấn công cảng Hata. Lần này bão lớn cũng xảy ra khiến cho thuyền địch bị phá hủy” (Kuni no ayumi, quyển thượng, trang 25).

 

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (19)

December 28, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

2. Sách “Kuni no Ayumi” thời kì cải cách giáo dục ngay khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai và sách giáo khoa môn Xã hội.

 

(1) Ba chỉ thị đình chỉ giờ học ba môn giáo khoa của GHQ và sự biên soạn sách giáo khoa lịch sử-địa lý mới.

Ngay sau khi Nhật Bản bại trận vào ngày 15 tháng 8 năm 1945 (năm Showa thứ 20), sách giáo khoa quốc sử và địa lý trong môn Quốc dân đã không được dùng nữa. Ngày 20 tháng 9 năm 1945 bộ giáo dục đã đưa ra thông đạt, chỉ thị cho các trường cắt bỏ một số phần trong sách giáo khoa toán và quốc nữ (bôi đè mực lên). Tại các trường quốc dân trên toàn quốc đã diễn ra các hội nghiên cứu thảo luận về những chỗ phải bôi đè mực lên trong sách giáo khoa các môn và trong suốt học kì 2 việc bôi mực lên những chỗ cần bỏ đi trong sách giáo khoa đã được thực hiện. Các sách giáo khoa lịch sử và địa lý có quá nhiều chỗ bị bôi mực vì thế trên thực tế không còn dùng được nữa.

Sự chiếm đóng của GHQ (bộ tư lệnh quân Đồng Minh) chính thức được bắt đầu và từ tháng 10 cho đến tháng 12 thể chế giáo dục chiếm đóng được thực thi với bốn chỉ thị lớn. Đó là :

1. Chỉ thỉ dân chủ hóa hệ thống giáo dục

2. Chỉ thị truy cứu trách nhiệm chiến tranh của những người làm giáo dục-điều tra tư cách của các giáo viên.

3. Chỉ thị tách Thần đạo ra khỏi trường học

4. Chỉ thị đình chỉ giờ học ba môn giáo khoa

Chỉ thị “Đình chỉ giờ học ba môn giáo khoa: Lịch sử, Địa lý, Tu thân” được ban hành ngày 31 tháng 12 yêu cầu thu hồi tất cả sách giáo khoa  Địa lý, Lịch sử, Tu thân trong trường học trước chiến tranh trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1946 tới tháng 2 năm 1946 (năm Showa thứ 21). Việc đình chỉ giờ học của ba môn giáo khoa có trách nhiệm trong việc giáo dục chế độ Thiên hoàng và chủ nghĩa quân phiệt đương thời cùng sự thu hồi toàn diện sách giáo khoa đã làm cho các giáo viên sốc nặng.

Theo yêu cầu của GHQ, vào tháng 3 năm 1946 Sứ đoàn các nhà giáo dục Mĩ bao gồm các chuyên gia giáo dục đã đến Nhật Bản và tiến hành điều tra các trường học trên toàn quốc và tập hợp thông tin thành bản báo cáo. Trong bản báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ đã đưa ra phương án nhấn mạnh tính tất yếu của việc cải cách các môn học cũ và thay đổi nội dung của nó theo hướng dân chủ. Tức là để cải cách giáo dục lịch sử, giáo dục địa lý, giáo dục đạo đức với nội dung dân chủ, tự do thì cần phải biên soạn và phát hành sách giáo khoa Lịch sử, Địa lý mới.

Từ tháng 5 tới tháng 9 năm 1946, GHQ và CIE (Cục thông tin giáo dục dân sự trực thuộc Bộ tổng tư lệnh quân Đồng minh) đã hợp tác với Bộ giáo dục xúc tiến công việc biên soạn sách giáo khoa. Vào tháng 6 sách giáo khoa tạm thời được phát hành sớm nhưng đó chỉ là sách có sửa đổi nội dung từng phần của  nội dung đã dùng trong trường quốc dân. Sách giáo khoa Lịch sử được hoàn thành vào ngày 10 tháng 9 năm 1946 và được phát hành với tên gọi “Kuni no ayumi” (Những bước đi của đất nước) gồm hai quyển Thượng và Hạ dùng cho trường quốc dân. Việc biên soạn sách giáo khoa đạo đức không được tiến hành. Vào ngày 12 tháng 10 năm 1946, GHQ đã đưa ra “Chỉ thị mở lại giờ học lịch sử” và yêu cầu dùng sách “Kuni no ayumi” để tiến hành giờ học.

 

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (18))

December 28, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

(3) Sự biến chuyển của ghi chép về “Nguyên Mông” trong sách giáo khoa lịch sử quốc định trước chiến tranh.

Đặc trưng của sách giáo khoa lịch sử quốc định tiền chiến là nội dung được xây dựng theo kiểu lấy nhân vật làm trung tâm. Trong mục lục của các sách giáo khoa từ thời kì thứ nhất tới thời kì thứ 5 đều có đưa ra tên của nhân vật. Lối viết nhấn mạnh tính chất câu chuyện thuyết minh bối cảnh thời đại và lấy các sử tích nhân vật làm trung tâm được sử dụng.

Trong sách giáo khoa lịch sử quốc định tiền chiến  chỉ có sách thời kì thứ 6 không nhấn mạnh vào nhân vật mà coi trọng “dòng chảy lịch sử” với tư cách là tinh thần thời đại. Dưới đây xin được lấy  phần ghi chép về “Nguyên Mông” làm ví dụ để phân tích.

 

(phần ghi chép về “Nguyên Mông” trong “Quốc sử tiểu học thông thường” quyển thượng thời kì thứ 3, “Quốc sử tiểu học thông thường” quyển thượng, thời kì thứ 4, “Quốc sử tiểu học bản dành cho khoa thông thường quyển thượng, thời kì thứ 5)

 

Phần viết về “Nguyên Mông” trong các quyển sách đều được trình bày trong mục “Hojo Tokimune đời 21”. Về nội dung ghi chép thì từ sách kì thứ 3 đến kì thứ 5 không có khác biệt gì lớn. Nếu nhìn qua vào các tiểu mục thì thấy: “Sự dũng cảm Tokimune”→ “Sự trỗi dậy của Mông Cổ” → “Đuổi sứ giả của Nguyên Mông” → “Trận chiến thời Bunei” → “Quyết tâm của Tokimune” → “Trận chiến thời Koan” → “Trên dưới một lòng đuổi Nguyên Mông”.

Các tiểu mục ở sách giáo khoa thời kì thứ 5 như sau: “Trận chiến thời Koan” → “Cuộc chiến đấu của võ sĩ” → “Thần phong” → “Trên dưới một lòng đuổi Nguyên Mông”. Về cơ bản phần ghi chép nội dung không có gì thay đổi. Sự kiện quân Mông Cổ xâm lược đều được giải thích  với vai trò lãnh đạo chính trị của cá nhân Hojo Tokimune, sự chiến đấu dũng cảm của võ sĩ với quân Nguyên, lòng tin tôn giáo mạnh mẽ vào thiên hoàng thần thánh, sự đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn….

Khi thuyết minh về sự kiện, hiện tượng lịch sử và quan hệ nhân quả lịch sử, có thể nói sách đã sử dụng phương pháp thuyết minh về tư chất, năng lực của cá nhân người chỉ huy hơn là khảo sát hiện tượng xã hội một cách khách quan.

Thuật ngữ “Thần phong” (Kamikaze” ) không hề xuất hiện cho sách giáo khoa thời kì thứ 3 mà nó được thuyết minh là “gió lớn”: “Khi quân Nguyên từ Trung Quốc kéo đến tấn công thì gặp gió lớn nên nhiều thuyền địch bị chìm và quân bị chết đuối vô số”.

Nhưng từ sách giáo khoa thời kì thứ 4 trở đi, thuật ngữ “Thần phong” được sử dụng: “khi đó, đột nhiên thần phong thổi tới đại bộ phận thuyền địch bị đánh đắm và vô số quân địch bị dìm chết đuối”. Về nguyên nhân thắng lợi trước quân Nguyên Mông thì từ sách giáo khoa thời kì thứ 3 cho đến sách giáo khoa thời kì thứ 5 đều đưa ra là : sự cầu nguyện của Thiên hoàng Kameyama ở đền Ise Jingu, quyết tâm mạnh mẽ của Hojo Tokimune, sự đoàn kết trên dưới một lòng của quốc dân trong việc đánh đuổi Nguyên Mông. Tức là sự thuyết minh nghiêng về sắc thái tinh thần chủ nghĩa.

 

( phần ghi chép về “Nguyên Mông” trong sách “Quốc sử khoa sơ cấp” quyển thượng thời kì thứ 6)

 

Ghi chép về “Nguyên Mông” trong sách giáo khoa thời kì thứ 6 được thể hiện trong việc thuyết minh về “3 ngọn gió thần” của “võ sĩ Kamakura đời thứ 5”. Sách giáo khoa thời kì thứ 6 trong cơ cấu nội dung toàn thể đã thoát ly khỏi chủ nghĩa lấy nhân vật làm trung tâm. Mục lục của quyển thượng như sau: I. Thần quốc, 1. Đỉnh Takachiho, 2.Cung điện Kashiharashi, 3. Sông Isuzu, II. Nguồn gốc Yamato, 1. Ngọn khói Kamado, 2. Chùa Horryuji, 3. Sự cai trị Taika, III. Kinh đô Nara, 1. Con đường lớn ở kinh đô và Kokubun-ji, 2. Sứ giả gửi tới Tùy-Đường và Bojin, IV. Kyoto và Địa phương, 1. Kinh đô Heian, 2. phủ Dazai, 3. Điện Hoo, V. Võ sĩ Kamakura 1. Dòng họ Minamoto và dòng họ Hei, 2. Fuji no Makigari, 3. Thần phong, VI. Yoshino-Yama, 1. Sự cai trị của Kenmu, 2. Daigi no hikari, VII. Yashi Oji (con đường dài trên biển), 1. Chùa vàng và chùa bạc, 2. Thuyền Hachiman và thuyền Nam Man, 3. Sự thức tỉnh của quốc dân. Ở đây có thể thấy ý đồ nhắm tới việc cho học sinh học tập theo các chủ đề mang đặc trưng của thời đại.

Ghi chép về “Nguyên Mông”   đầu tiên được mô tả với các động thái của lịch sử thế giới hậu kì Kamakura với bản đồ của Nguyên và thuyết minh về tình hình Đông Á. Tiếp theo, trình bày về tính tất yếu của việc Nguyên gửi sứ đến Nhật Bản, rồi viết về việc Nhật Bản không trả lời quốc thư vô lễ và năm sau khi sứ giả đến thì  nói cho sứ giả biết Nhật Bản là nước thần thánh không thể bị khuất phục bằng chiến tranh và bạo lực. Thêm nữa, cảnh chiến đấu trong trận chiến thời Bunei và Koan được miêu tả khá chi tiết từ sách giáo khoa thời kì thứ 5 trở đi. Không rõ có phải muốn nhấn mạnh ý thức về “thần quốc” hay không nhưng từ “thần” được sử dụng rất  nhiều lần.

Đại Nhật Bản là quốc gia thần thánh. Gió thần đã bao lần thổi và sóng trào dâng đã nhấn chìm hàng ngàn thuyền địch. Võ sĩ của chúng ta dũng cảm trăm lần tấn công vào tàn quân địch và tiêu diệt sạch bọn chúng….”

Có thể nói đây là sách tuyên truyền về quốc gia theo thể chế Thiên hoàng hơn là sách giáo khoa lịch sử và nó là thứ dùng để tuyên truyền tư tưởng chính trị đã được xác định.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (17)

December 27, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

(2) Môn Địa lý-Quốc sử thời kì trường Quốc dân và “Quan sát quê hương”

 

Từ ngày 1 tháng 4 năm 1941 tên gọi của Trường tiểu học thông thường bậc cao được chuyển thành Trường Quốc dân và trở thành nơi đào luyện nên những thần dân của đất nước Thiên hoàng. Vì vậy các môn học vốn tồn tại trước đó như Quốc sử, Địa lý, Quốc ngữ, Tu thân được hợp nhất lại thành môn “Quốc dân”, môn Số học và Khoa học hợp lại thành môn “Khoa học”, các môn Âm nhạc, Tập viết, Thủ công, May vá (dành cho học sinh nữ) tập hợp lại thành môn “Nghệ thuật”, Võ thuật và Thể dục hợp lại thành môn “Huấn luyện thân thể”. Ở khoa bậc cao thì ngoài 4 môn này còn có môn “Thực nghiệp” bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và thủy sản hợp lại.

Giáo dục trong trường Quốc dân  được xác định nhằm “làm rõ đặc trưng của văn hóa nước ta đồng thời làm cho học sinh hiểu biết về tình hình Đông Á và thế giới, giáo dục phẩm chất đại quốc dân dựa trên sự tự giác về sứ mệnh và vị trí của hoàng quốc”. Nó nhấn mạnh tính ưu việt của Nhật Bản với tư cách là dân tộc lớn. Đây là hành động tăng cường tác động vào trẻ em nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với các nước châu Âu và Mĩ ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh Nhật đã rời khỏi Hội quốc liên và bị cô lập. Môn “Quốc dân” trong trường Quốc dân có vị trí như là môn đóng vai trò trung tâm giáo dục nên các quốc dân của đất nước Thiên hoàng. Trong môn Quốc dân thì trước khi học Lịch sử và Địa lý ở năm lớp 5 và 6, ở lớp 4 học sinh sẽ được học “Quan sát quê hương” với thời lượng 1 giờ/tuần. Sách giáo khoa dành cho học sinh của môn này không được phát hành mà chỉ có sách dành cho giáo viên và giáo viên dạy dựa vào giáo tài gắn với từng địa phương.

 

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (16)

December 27, 2013 Leave a comment

                                                                                   

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

   GIÁO DỤC MÔN XÃ HỘI

1. Thời Showa trước chiến tranh thế giới thứ hai và sách giáo khoa lịch sử, địa lý tán thưởng chủ nghĩa quân phiệt.

(1) Sách giáo khoa quốc sử-địa lý khoa thông thường thời kì trường tiểu học thông thường bậc cao.

Sách giáo khoa  Lịch sử (quốc sử), Địa lý  của trường tiểu học thời kì Showa trước Chiến tranh thế giới thứ hai  đã được cải tiến như sau trước sự leo thang của chiến tranh. Khác với các môn khác, sự thay đổi của các môn liên quan đến nhận thức xã hội tùy theo tình thế xã hội là một đặc trưng và môn Lịch sử và Địa lý trong thời kì này  với tư cách là môn giáo khoa phụng sự mục đích quốc gia nhằm tạo ra các quốc dân của Thiên hoàng ủng hộ chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt.

Đặc biệt, lãnh thổ Nhật Bản trong sách giáo khoa địa lý đã liên tục thay đổi theo bản đồ và bài viết của sách giáo khoa tuân theo sự tham chiến và thắng lợi của quân đội Nhật. Sự biến đổi của sách giáo khoa quốc định môn Địa lý và Lịch sử trong thời Showa trước Chiến tranh thế giới thứ hai được thể hiện qua bảng 1 dưới đây. Sách giáo khoa lịch sử và sách giáo khoa địa lý dùng cho khoa thông thường có quyển thượng và quyển 1 dùng cho năm thứ 5, quyển hạ và quyển 2 dùng cho năm thứ 6. Sách giáo khoa quốc định hai môn này  được biên soạn và phát hành trong bốn thời kì.

Bảng 1. Sự biến đổi của sách giáo khoa quốc định môn Địa lý, Lịch sử trường tiểu học thời kì Showa trước chiến tranh thế giới thứ hai.

Sách giáo khoa lịch sử Sách giáo khoa địa lý
Lịch sử  quốc định thời kì thứ 3

“Quốc sử tiểu học thông thường”

Quyển thượng 1920-1933 (Năm Taisho thứ 9-năm Showa thứ 8)

Quyển hạ 1921-1934 (năm Taisho thứ 10- năm Showa thứ 9)

Địa lý quốc định thời kì thứ 4.

 

“Sách giáo khoa địa lý tiểu học thông thường”

Quyển 1 1925-1928 (Năm Taisho thứ 14-Năm Showa thứ 3)

Quyển 2 1926-1929 (năm Taisho 15-Năm Showa thứ 4)

Lịch sử quốc định thời kì thứ 4

 

“Quốc sử tiểu học thông thường”

Quyển thượng 1934-1939 (năm Showa thứ 9-năm Showa thứ 14)

Quyển hạ 1935-1940 (Showa năm thứ 10-Năm Showa thứ 15)

Địa lý quốc định thời kì thứ 5.

“Sách giáo khoa địa lý thông thường”

Quyển 1 1929-1937 (năm Showa thứ 4 – năm Showa thứ 12)

 

Quyển 2 1930-1938 (Showa năm thứ 5-Showa năm thứ 13)

Lịch sử quốc định  thời kì thứ 5.

“Quốc sử tiểu học dành cho khoa thông thường”

Quyển thượng 1940-1942 (Năm Showa thứ 15-năm Showa thứ 17)

Quyển hạ 1941-1942 (Năm Showa 16-năm Showa thứ 17)

Địa lý quốc định thời kì thứ 6.

“Sách địa lý tiểu học thông thường”

Quyển 1 1938-1942 (năm Showa thứ 13-năm Showa thứ 17)

Quyển 2. 1939-1942 (Năm Showa thứ 14-năm Showa thứ 17)

Lịch sử quốc định thời kì thứ 6

“Quốc sử khoa sơ cấp”

Quyển thượng 1943-1945 (năm Showa thứ 18-năm Showa thứ 20)

Quyển hạ 1943-1945 (năm Showa thứ 18-năm Showa thứ 20)

Địa lý quốc định thời kì thứ 7

“Địa lý khoa sơ cấp”

Quyển thượng 1943-1945 (năm Showa thứ 18-năm Showa thứ 20)

Quyển hạ 1943-1945 (năm Showa thứ 18-năm Showa thứ 20).

Sách giáo khoa quốc định môn Địa lý, Lịch sử thời kì Showa trước chiến tranh này được phát hành theo bốn loại:

(1) Sách giáo khoa trước khi  cuộc chiến tranh xâm lược ở vùng Đông Bắc Trung Quốc  hay còn gọi là “Sự biến Mãn Châu” bắt đầu vào ngày 18 tháng 9 năm 1931 (năm Showa thứ 6)

(2) Sách giáo khoa từ chiến tranh vùng Đông bắc Trung Quốc tới  khi triển khai chiến tranh Trung-Nhật toàn diện bằng sự biến Lư Cầu Kiều-còn gọi là Sự biến ngày 7 tháng 7- ngày 7 tháng 7 năm 1937 (năm Showa thứ 12)

(3) Sách giáo khoa trong thời chiến tranh toàn diện Nhật-Trung

(4) Sách giáo khoa trong cuộc chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương mở màn ngày 8 tháng 12 năm 1941 (năm Showa thứ 16)-tức là sách giáo khoa trong thời kì “Chiến tranh Đại đông Á”.

Ở giai đoạn trước “Sự biến Mãn Châu”, sách giáo khoa quốc định không trực tiếp nhồi nhét trực tiếp ý thức thể chế thời chiến và sự hợp tác với chiến tranh nhưng sau khi chiến tranh Nhật-Trung toàn diện bùng nổ năm 1937, do sự xác lập của thể chế xúc tiến, động viên tổng quốc gia cho nên quân đội đã gia tăng áp lực và sự can thiệp vào nội dung sách giáo khoa. Sách giáo khoa quốc định thời kì chiến tranh toàn diện Nhật-Trung và chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương gồm sách giáo khoa Lịch sử thời kì thứ 5 và Sách giáo khoa Địa lý thời kì thứ 6, sách giáo khoa lịch sử thời kì thứ 6 và sách giáo khoa địa lý thời kì thứ 7. Các sách giáo khoa này đều được phát hành nhằm mục đích thúc đẩy chiến tranh. Cùng với việc Nhật sa lầy trong cuộc chiến Nhật Trung kéo dài suốt 15 năm không thấy đường ra, khi bước vào giai đoạn “Chiến tranh Đại Đông Á” diễn ra trên toàn Châu Á-Thái Bình Dương, hệ thống trường học đã được cải biến trên diện rộng để thích ứng với mục đích chiến tranh.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (15)

December 25, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

3. Đặc trưng của “Quan sát quê hương”.

Cuối cùng, xin đưa ra 4 đặc trưng của “quan sát quê hương”.

(1) Đây là sách biên soạn nhằm phục vụ thể chế thời chiến với hệ thống trường Quốc dân nên nó nghiêng về cách thức chỉ đạo và tuyển chọn những giáo tài đậm đặc màu sắc chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quân phiệt. Tuy nhiên cũng cần phải công nhận thành quả của thực tiễn giáo dục công dân, giáo dục tác nghiệp, giáo dục quê hương được triển khai từ những năm 30.

(2) Môn Quốc dân-môn học tổng hợp là môn giáo khoa được hợp thành từ các môn như Quốc ngữ, Tu thân, Lịch sử, Địa lý. Trước đó cho tới năm 1881 (năm Minh Trị thứ 14) môn giáo khoa liên quan tới nhận thức xã hội không hề có ở các lớp bậc thấp và các lớp ở giữa, mà ở năm thứ 5 và thứ 6 mới có môn Lịch sử và Địa lý là môn giáo khoa liên quan đến nhận thức xã hội. Khi được thống hợp trong môn Quốc dân lần đầu tiên môn giáo khoa liên quan đến nhận thức xã hội được thiết lập từ năm thứ 4 và được triển khai từ các lớp ở giữa.

(3) Sách giáo khoa “Quan sát quê hương” dành cho học sinh không được phát hành. Giáo viên không được tiến hành chỉ đạo chỉ dựa trên sách vở mà cùng với quan sát thiên nhiên phải sử dụng các giáo tài là các hiện tượng tự nhiên, xã hội, nhân văn trong thực tế. Đây là sự đề xướng chỉ đạo sử dụng giáo tài quê hương bằng lực lượng giáo viên mà không dùng sách giáo khoa. Trong bối cảnh các giáo tài về quân sự được đưa vào trường học thì sự chỉ đạo này quả thực có ý nghĩa sâu sắc.

(4) Về nội dung giáo tài quê hương. “Quan sát” nói cho cùng nhấn mạnh sự xem xét bộ phận bên ngoài, tình hình bên ngoài ở mức tổng thể vì thế sự phân tích, nắm bắt cụ thể trong “quan sát” không có. Thêm nữa, mặc dù coi trọng “quan sát” nhưng lại coi nhẹ sự “điều tra” mang tính chủ thể của học sinh. Đặc biệt là thiếu đi các hoạt động như phỏng vấn những người làm việc ở các lĩnh vực công nghiệp, giao thông, đền thờ thần đạo, chùa và làm cho học sinh hiểu được mối quan hệ giữa những nơi đó với con người. Vì vậy nó không thể hiện tầm nhìn rộng mở từ “quan sát” tới “điều tra” và mở rộng mối quan tâm của học sinh mà chỉ kết thúc ở sự nhấn mạnh tư tưởng yêu nước=yêu quê hương mà thôi. Vì vậy có thể nói nó thiếu đi sự “hợp lý, khoa học” khi lý giải quê hương.

 

(còn tiếp)

%d bloggers like this: