Archive

Archive for January, 2014

Chúc mừng năm mới

January 30, 2014 Leave a comment

Còn vài tiếng nữa là tới năm mới!
Chủ Blog Thonsau.wordpress.com chúc các bạn năm  mới có được thật nhiều niềm vui và thành công.
Gửi tặng các bạn một truyện ngắn tôi viết cho thiếu nhi năm 2000 đã được bạn nào đó trên mạng chuyển thành Audio

 

Advertisements

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (32)

January 20, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

Tiếp theo, bảng số 3 và số 4 diễn tả mục lục của cuốn “Di sản văn hóa” và “Sự phát triển của các cơ quan giao thông liên lạc”.

Bảng 3. Mục lục cuốn “Di sản văn hóa” (phát hành ngày 24 tháng 9 năm 1947).

Chương 1. Xã hội và văn hóa

I. Xã hội chuyển tải văn hóa đến đời sau

II. Xã hội biến đổi

III. Xã hội và cá nhân làm văn hóa phát triển

(1) Denpo và giao lưu (2) Nỗ lực và cá nhân

Chương 2. Từ tay chân tới máy móc

I. Bàn tay con người đã tạo nên những gì?

II. Sự phát triển của kĩ thuật làm thay đổi cuộc sống con người.

(1) Yêu cầu về chữ viết (2) Sức mạnh của máy in

III. Máy móc  đã tạo ra xã hội mới.

(1) Sự mơ ước về những cỗ máy

(2) Thời đại của James Watt

(3) Ảnh hưởng

Chương 3. Biểu hiện của tư tưởng và giao lưu

I. Ngôn ngữ là tài sản quan trọng

II. Ngôn ngữ mang trong mình lịch sử

III. Hãy nuôi dưỡng  tiếng Nhật

IV. Tư tưởng đã trở nên được truyền bá sớm và nhanh chóng

V. Con người tại sao lại giao lưu ý kiến một cách tự do

Chương 4. Quy tắc và dạng thức của cuộc sống

I. Chế độ xã hội có ý nghĩa như thế nào?

II. Tập quán xã hội không thay đổi một cách đơn giản

III. Ăn, mặc, ở của chúng ta cũng là tập quán

IV. Dạng thức cuộc sống đòi hỏi cải thiện ở nhiều điểm

V. Truyền thống sinh hoạt có giá trị gì?

 

Bảng 4. Mục lục cuốn “Sự phát triển của các cơ giao thông, liên lạc” (phát hành ngày 25 tháng 12 năm 1948).

Lời nói đầu

I. Các loại cơ quan giao thông

II. Sự biến đổi của giao thông đường bộ

(1) Giao thông đường bộ thời cổ đại

(2) Giao thông đường bộ thời Trung thế và Cận thế

(3) Giao thông thời cận đại

III. Sự phát triển của đường sắt.

(1) Giao thông đường sắt

(2) Sự gian khổ khi xây dựng đường sắt

(3) Tàu điện và các loại xe điện

IV. Ảnh hưởng của đường sắt tới công nghiệp và sự phát triển đô thị

(1) Đường sắt và công nghiệp

(2) Đường sắt và đô thị

V. Giao thông sông ngòi và sông đào

(1) Sông ngòi, đầm, hồ với tư cách là đường giao thông

(2) sông đào

(3) Kênh đào Xuy-ê và kênh đào Panama

VI. Giao thông đường biển thời xưa

(1) Hàng hải thời cổ đại

(2) Sự phát kiến đường hàng hải mới

(3) Vận tải đường thủy

VII. Hoạt động của tàu hơi nước

(1) Tầm quan trọng của vận chuyển đường biển

(2) Đường thủy và cảng

(3) Vật chất vận tải bằng đường biển

VIII. Sử dụng phương tiện hàng không

(1) Sự xuất hiện của phương tiện hàng không

(2) Sử dụng phương tiện hàng không

IX. Sự phát triển của phương tiện liên lạc

(1) Vận chuyển bằng bưu điện

(2) Sự phổ cập điện tín, điện thoại

(3) Báo

X. Tự do truyền tin.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (31)

January 19, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

Các sách giáo khoa thuộc “môn Xã hội phân khoa” cũng được xuất bản độc lập với sách giáo khoa “môn Xã hội tổng hợp” ở THCS và THPT (Usui Yoshikazu, “Dẫn nhập nghiên cứu về lý luận chương trình môn Xã hội”, Gakubunsha, 1989, trang 2-22). Với tư cách là sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản dành cho trường THCS, trước đó vào tháng 9 năm 1946 (năm Showa 21) sách “Kuni no Ayumi” (thượng và hạ) đã được sử dụng (ban đầu nó có tên là “Lịch sử Nhật Bản”, thượng và hạ dùng cho THCS nhưng sau đó thay đổi). Với tư cách là sách giáo khoa của môn học tự chọn dành cho THPT, ba cuốn “Lịch sử phương Tây (1)”, “Địa lý nhân văn (1)”, “Địa lý nhân văn (2)”  được phát hành. Các cuốn “Lịch sử phương Tây (2)”, “Lịch sử phương Đông (2)” đang trong quá trình biên soạn nhưng sau đó không được phát hành. Vào tháng 4 năm 1949, “Lịch sử thế giới” hỗn hợp cả Lịch sử phương Đông và phương Tây được thiết lập.

Sách giáo khoa “Xã hội tổng hợp” của THCS và THPT khác với trường tiểu học ở điểm không có sự xuất hiện của các nhân vật học sinh với nội dung được cấu tạo từ trải nghiệm của các học sinh này. Đây là sách giáo khoa với các nội dung tri thức được sắp đặt. Cách trần thuật các tri thức này là theo kiểu sách tham khảo hay kiểu truy tìm giải quyết vấn đề. Ở cuối mỗi chương của sách giáo khoa “Xã hội tổng hợp” đều có đưa ra “chủ đề”, “nội dung nghiên cứu”, “hoạt động học tập” và nguyên tắc này được cụ thể hóa.

Cho dẫu nói vậy thì việc biên soạn các sách giáo khoa THCS và THPT đều phải tiến hành trong khoảng thời gian ngắn. Khi so sánh 18 quyển được phát hành trong thực tế thì thấy cách thức cơ cấu các chương, sắp xếp nội dung không thống nhất và khó có cảm giác rằng nó được chuẩn bị chu đáo. Giống như Katakami Soji từng phát biểu, với tư cách là sách giáo khoa môn Xã hội cấp THCS, cho dù  nội dung của chúng có đặc trưng là “tính chủ thể, tính hiện đại, tính tổng hợp” đi nữa (KataKami, sách đã dẫn, trang 832) thì cũng phải nói rằng chúng không thống nhất.

Ví dụ như, trong suốn “Lãnh thổ nước ta” và cuốn “Thiên nhiên và cuộc sống chăn nuôi ở một số khu vực trên thế giới” (do Hoyanagi Mutsumi biên soạn) thì  thấy nội dung cũng không khác mấy so với Địa chí Nhật Bản, Địa chí thế giới những cuốn sách giáo khoa địa lý kiểu cũ.

Mặt khác, “Di sản văn hóa (Katsuta Shuichi biên soạn) hay “Sự phát triển của các cơ quan thông tin liên lạc” vừa lấy chủ đề là lịch sử vừa trở thành cuốn sách giáo khoa có hình thức là lịch sử phát minh, sáng tạo của nhân loại, mô tả lịch sử liên lạc, giao thông theo kiểu “lịch sử chuyên đề”. Đây là sách giáo khoa lấy khởi điểm là các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta trong xã hội hiện đại chứ không phải là kiểu lịch sử theo mô hình giải thích thông sử truyền thống.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (30)

January 17, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

3. Sách giáo khoa môn Xã hội cấp THCS, THPT do Bộ giáo dục biên soạn

Việc biên soạn sách giáo khoa  môn Xã hội dùng cho trường THCS và THPT bắt đầu muộn hơn so với ở tiểu học. Những nhân vật trung tâm của công việc này là 2 viên chức phụ trách môn Xã hội ở cấp THCS của CIE( Osbourne và Bors) và phía Nhật Bản là các thành viên của Ủy ban môn Xã hội THCS của Bộ giáo dục gồm Katsuta Shuichi, Hoyanagi Mutsumi, Baba Shiro đã tiến hành công tác biên soạn sách giáo khoa cấp THCS và THPT. Do không đủ giấy dùng và để tiết kiệm thời gian nên người ta đã quyết định  phát hành sách giáo khoa dưới dạng các cuốn sách nhỏ theo từng Tangen (chủ đề).

Theo bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1947 (II) thì chủ đề của môn Xã hội nói chung=“môn Xã hội tổng hợp” như sau:
Lớp 7: Cuộc sống của chúng ta ở Nhật Bản.

Lớp 8: Ảnh hưởng của công nghiệp tới đời sống xã hội

Lớp 9: Điều kiện xã hội của đời sống cộng đồng

Lớp 10: Mối quan hệ con người trong dân chủ

Các chủ đề với tư cách là “trung tâm của lĩnh vực thi cử” đã được cụ thể hóa thành từng 6 tangen một ở từng năm học và được biên soạn thành từng quyển sách giáo khoa một.

Sách giáo khoa gồm 24 tangen được chia thành từng 6 tangen một đã được biên soạn dựa vào các nhà chuyên môn bên ngoài Bộ giáo dục với Katsuta Shuichi làm chủ nhiệm. Bốn quyển đầu tiên với tangen thứ nhất dành cho các lớp 7, 8, 9, 10 cần được biên soạn và phát hành gấp để kịp với kì học mới bắt đầu vào tháng 9 năm 1947 vì thế mà Hoyanagi Mutsumi và Katsuta Shuichi đã trở thành tác giả.

Tuy nhiên, tất cả các sách giáo khoa môn Xã hội chia thành các tangen này của THCS và THPT đã không được phát hành. Những sách giáo khoa được phát hành mà ngày nay xác nhận được có mặt ở bảng 2 dưới đây..

 

Bảng 2. Niên biểu phát hành sách giáo khoa môn Xã hội cấp THCS và THPT.

Trường-lớp Sách giáo khoa Năm 1947 Năm 1948 Năm 1949 Năm 1950 Năm 1951
 

 

 

 

 

 

 

 

Năm thứ nhất THCS

1. Lãnh thổ nước ta 30/9        
2. Trường học và cuộc sống xã hội   25/4      
3. Cuộc sống trường học         Không phát hành
4. Cuộc sống ở nông thôn     10/9    
5. Đô thị của Nhật Bản     20/11    
6. Sử dụng thời gian rỗi rãi         1/6
Năm thứ 2 THCS 7. Tự nhiên và cuộc sống chăn nuôi ở một số khu vực trên thế giới 15/9        
  8. Tài nguyên thiên nhiên   25/4      
9. Sự phát triển công nghiệp hiện đại và hiện trạng     20/4    
10. Sự phát triển các cơ quan giao thông, liên lạc   25/12      
11. Thiên tai và sự giảm nhẹ thiên tai         Không phát hành
  12. Bảo vệ tài sản, sinh mệnh     20/6    
Năm thứ 3 THCS 13. Di sản văn hóa 24/9        
  14 (a) Làm đẹp cuộc sống bằng các công trình xã hội

 

    20/9    
  14 (b) . Tôn giáo và đời sống xã hội       5/9  
  15. Chính trị xã hội     20/8    
  16. Chỉ đạo nghề nghiệp[1]         Không phát hành
17. Vấn đề tiêu dùng         Không phát hành
  18. Cá nhân và cuộc sống tập thể      

10/12

   
Năm thứ nhất THPT 19. Sản xuất và lưu thông vật chất 3/11        
  20. Chính phủ và đời sống kinh tế   18/4      
21. Một số vấn đề về lao động       15/12  
22. Chính sách đảm bảo ổn định đời sống       25/8  
Năm thứ nhất THPT Dân chủ (thượng)

 

Dân chủ (hạ)

         
Năm thứ 2, 3 THPT Lịch sử phương Tây (1)          
 

Địa lý nhân văn (1)

         
Địa lý nhân văn (2)          
Năm thứ 2, 3 THCS Lịch sử Nhật Bản (về sau là “Kuni no Ayumi”).

5/9/1946

         
Sách giáo khoa đặc biệt Cải cách đất nông nghiệp         30/4

Giống như ta thấy ở bảng 3 và bảng 5, ở cấp THCS  các cuốn “Cuộc sống trường học”, “Thiên tai và giảm nhẹ thiên tai”, “Vấn đề tiêu thụ” đã không được phát hành. Ở cấp THPT, các cuốn như “Quan hệ quốc tế” cũng tương tự. Thêm nữa, ở cấp THCS cuốn sách giáo khoa số 17 “Chỉ đạo nghề nghiệp”  do sự lưu hành của cuốn sách giáo khoa này cũng như ở THPT do sự lưu hành của cuốn “Dân chủ” (thượng và hạ) nên sách giáo khoa riêng đã không được biên soạn.

Trái lại 14 tangen của lớp 9 (Năm thứ 3 THCS) có tên “Khát vọng nghệ thuật, đời sống tôn giáo” đã được phát hành theo từng tangen và sách giáo khoa đặc biệt “Cải cách nông địa” cũng được phát hành.

Các cuốn sách như “Trò chuyện về tân hiến pháp” (Asai Kiyoshi biên soạn) hay “Dân chủ” (thượng, hạ) (Odaka Tomoo biên soạn) đã được biên soạn gấp rút theo yêu cầu của CIE từ các dự án sách giáo khoa đặc biệt. Ban đầu chúng là sách tham khảo nhưng sau đó đã trở thành sách giáo khoa chính thức. Sách giáo khoa đặc biệt “Cải cách đất nông nghiệp” được phát hành dưới hình thức là yêu cầu của Ban Thông tin và Tài nguyên của CIE

(còn tiếp)

 


[1] Môn nghề nghiệp (shokugyoka) thường được dùng bằng cụm từ “chỉ đạo nghề nghiệp”.

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (29)

January 16, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

Katakami Soji đã chỉ ra ba đặc trưng của 8 cuốn sách giáo khoa môn Xã hội sơ kì dành cho tiểu học như sau:

(1) Khác với Tu thân và Quốc sử trước chiến tranh, giấy có in màu đẹp. Các tiêu đề được diễn đạt mềm dẻo nhằm tạo ra cảm giác gần gũi.

(2) Phương pháp viết sách giáo khoa được tính toán sao cho học sinh dễ hiểu. Trong sách có xuất hiện các nhân vật chính là trẻ em như “Masao”, “Taro” và cuộc sống ở nông thôn, đô thị được diễn tả thông qua con mắt của các nhân vật chính này.

(3) Các sách giáo khoa ban đầu này khác biệt cơ bản so với các sách giáo khoa quốc định. Sách giáo khoa giờ đây trở thành “sách hướng dẫn”, “sách tham khảo”, là thứ nên được dùng như là “tài liệu”: “việc thuyết minh và làm cho học sinh ghi nhớ theo thứ tự những điều viết trong sách này sẽ gặp khó khăn”. Ở cuối 4 quyển sách dành cho lớp 5 và 6 còn có mục  “Kính gửi các giáo viên và phụ huynh” với dung lượng 2, 3 trang lưu ý họ về điều đó (Katakami Soji, “Nghiên cứu lịch sử thành lập môn Xã hội Nhật Bản”, Kazama Shobo, 1993, trang 803-813).

Thêm nữa, sách giáo khoa môn Xã hội dùng cho lớp 1 tiểu học không được phát hành vào thời gian này. Về sau các bản Hướng dẫn học tập nhiều lần được sửa đổi nhưng việc không phát hành sách giáo khoa dành cho lớp 1 trở thành nguyên tắc thống nhất. Cả sách giáo khoa kiểm định cũng chỉ có sách giáo khoa dành cho lớp 1 trong vai trò là sách đọc tham khảo và không phát hành sách giáo khoa.

Bảng 1. Sách giáo khoa môn Xã hội dùng cho tiểu học  do Bộ giáo dục biên soạn.

Lớp Tên sách giáo khoa Thời gian phát hành Số trang Nhà xuất bản Giá
Lớp 2 Chuyến đi của Masao 20/2/1948 30 Tokyo Shoseki 19 yên 70 xu
Lớp 3 Taro

Con người trong quá khứ xa xưa

15/7/1948

30/10/1948

149

101

Nihon Shoseki

Như trên

10 yên 50 xu

15 yên 90 xu

Lớp 4 Nhật Bản quá khứ và hiện tại 25/12/1948 173 + niên biểu Như trên 27 yên 70 xu
Lớp 5 Cuộc sống của chúng ta (1) – Trẻ em ở nông thôn.

Cuộc sống của chúng ta (2)-Con người ở đô thị

15/9/1947

5/4/1948

136

142 + Bảng tra cứu

Tokyo Shoseki

Nihon Shoseki

15 yên 40 xu

Không ghi giá

Lớp 6 Cuộc sống của chúng ta (3) – Đất đai và con người

Cuộc sống của chúng ta (4) – Khí hậu và cuộc sống

25/8/1947

25/3/1948

144

170+ bảng tra cứu

Tokyo Shoseki

Như trên

Không ghi giá

Không ghi giá

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (28)

January 15, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

Ở tiểu học, sách giáo khoa quốc ngữ bao gồm: “Quốc ngữ” (bốn quyển, lớp 1, 2); “Quốc ngữ” (11 quyển, từ lớp 3 trở lên). Sách giáo khoa Số học gồm: “Số học” (3 quyển, lớp 1, 2, 3), “Số học” (6 quyển, từ lớp 4 trở lên). Sách giáo khoa môn Khoa học gồm: “Sách khoa học” (3 quyển, lớp 4, 5, 6).

Về sách giáo khoa do Bộ giáo dục biên soạn thì giống như bảng 1 chỉ ra, gồm có 8 quyển. Quá trình biên soạn sách giáo khoa môn Xã hội ở tiểu học được làm rõ dần thông qua sự tiến triển của công tác nghiên cứu về môn Xã hội sơ kì. Sự tranh luận giữa các viên chức phụ trách giáo dục của CIE và các tác giả sách giáo khoa của Bộ giáo dục Nhật Bản như Shigematsu Takayasu, Ueda Kaoru, Ozaki Torashiro xung quanh sách giáo khoa môn Xã hội đã bao hàm trong đó cả sự đề xướng những vấn đề xã hội.

Tóm lại, ở  quan điểm cần hay không cần sách giáo khoa môn Xã hội thì CIE và Bộ giáo dục ban đầu thống nhất nhưng ở bộ phận gọi là Ban sách giáo khoa thì ý kiến cho rằng cần phải có sách giáo khoa chiếm đa số. Kết quả là các viên chức của CIE đã ra chỉ thị biên soạn sách giáo khoa nhằm làm cho “các giáo viên Nhật Bản hiểu được môn Xã hội”. Kết quả là sách giáo khoa môn Xã hội tiểu học đã được ra đời với tư cách là “sách tham khảo” (môn loại sách giáo khoa dùng để đọc) (Yamazumi Masami, “Sách giáo khoa môn Xã hội do Bộ giáo dục biên soạn”, Nihon Tosho Center, 1981).

Tác giả của các cuốn sách giáo khoa môn Xã hội ở trường tiểu học bao gồm những người sau:

Lớp 2: “Chuyến đi của Masao” (in màu khổ lớn), Shigematsu Takayasu.

Lớp 3: “Taro”, Ueda Kaoru ( có 4 kênh hình), “Con người trong quá khứ xa xưa” (có 6 kênh hình), Ono Rentaro.

Lớp 4: “Nhật Bản quá khứ và hiện tại”, Ono Rentaro (5 kênh hình)

Lớp 5: “Trẻ em ở thôn làng”, Shigematsu Takayasu, Ueda Kaoru, “Con người ở đô thị” , Shigematsu Takayasu, Ozaki Torashiro.

Lớp 6: “Đất đai và con người”, Ozaki Torashiro, Shioda Takashi, “Khí hậu và cuộc sống”, Shioda Takashi, Ueda Kaoru, Ono Rentaro. (Ueda Kaoru biên soạn, “Tư liệu về lịch sử giáo dục môn Xã hội quyển 2”, Tokyo Horei, 1975, trang 49).

(còn tiếp)

Chỉ nói “hay nhỉ” là không đủ (Xã luận báo Mainichi ngày 13/1/2014)

January 13, 2014 Leave a comment

Tôi muốn nói lời chúc phúc cho những bạn trẻ đón chào “ngày lễ thành nhân”. Số người bước qua tuổi 20 trong năm ngoái là 121 vạn người. So với năm trước đã giảm đi 1 vạn người và đây là con số  nhỏ nhất tính đến thời điểm này. Trong bốn năm liền số lượng người thành niên chỉ chiếm 1% tổng dân số.

Sự khó khăn trong tìm kiếm việc làm vẫn không đổi và có những người đang cảm thấy bế tắc. Mặt khác chắc chắn cũng có những người nghĩ đến việc hoạt động ở nước ngoài, lập kế hoạch khởi nghiệp và nuôi niềm hi vọng. Những người 20 tuổi sinh ra vào nửa đầu những năm 1990 khi kinh tế bong bóng đã vỡ và thời kì tuyển dụng việc làm đóng băng đã bắt đầu. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, điện thoại di động trở nên phổ cập và xã hội internet hình thành.

Bây giờ, đối với đông đảo thanh niên, việc tiếp xúc với internet đã trở thành thói quen hàng ngày. Tuy nhiên, đối với các phương tiện truyền thông thì chúng ta cần phải tiếp nhận nó một cách bình thản. Cần phải xem xét, kiểm chứng không ngừng xem các tin tức mà chúng ta có được tin cậy đến đâu.

Thêm nữa, không  chỉ truy cập vào những thứ bản thân quan tâm mà chính việc tiếp xúc với nhiều quan điểm mà chúng ta mới tìm kiếm được sự thật. Việc chỉ bấm vào thứ “hay nhỉ” gợi lên hứng thú của bản thân có nguy cơ tạo nên lối suy nghĩ về sự vật trong cái khung chật hẹp.

Có một nhà thơ tên gọi wago Ryuichi. Ông là giáo viên của một trường trực thuộc tỉnh Fukushima ở thành phố Fukushima. Ngay sau khi thảm hoạ động đất Đông Nhật Bản xảy ra ông đã dùng twister phát đi những bài thơ tự sáng tác và thu hút được sự chú ý của dư luận. Trong bối cảnh khốn khổ vì sự cố điện nguyên tử và ngôn ngữ bị kẹt cứng, bài báo ngày 9 tháng 4 năm 2011 đã làm ông sửng sốt.

Ở bờ biển xuất hiện đàn chim chưa từng thấy. Bắt được cá Karei cực lớn. Nhìn thấy rất nhiều cua đi thẳng. Sau khi nghe thấy những lời đồn đại về phóng xạ như thế, ông đã viết như sau: “Chúng ta đang bị những lời đồn săn đuổi, đang bị cơn bão giết chết con trai săn đuổi. Một nước Nhật đầy phi lý”

Ngay sau sự cố bi thảm, nước Nhật đã bị bao phủ bởi những lời đồn mập mờ. Chúng ta đã  có trải nghiệm với nỗi bất an rằng mình chỉ biết được tin tức có giới hạn. Có vẻ như nước Nhật hiện đại tràn ngập thông tin. Nhưng nếu như chỉ chờ đợi thông tin thụ động hay chỉ tiếp xúc với thứ mình quan tâm thì bản thân sẽ  bị dồn vào nơi chật hẹp với ít ỏi thông tin. Và ở đó con người ta dễ phán đoán sai.

Việc mở rộng tầm nhìn là rất quan trọng. Không chỉ là Tokyo mà hãy nhìn cả từ phía các địa phương. Mặt khác, hãy mở rộng tư duy ra thế giới. Việc nhìn thật sâu vào lịch sử cũng là cần thiết. Đó là do hiện đại là kết quả dần dần của quá khứ. Khi phản ứng nông cạn với những thông tin bị giới hạn thì tư duy sẽ bị nghèo nàn dần. Trái lại việc tiếp cận với các giá trị phong phú sẽ tạo ra cơ hội làm cho cuộc đời con người trở nên giàu có.

Nguyễn Quốc Vương dịch

http://mainichi.jp/opinion/news/m20140113k0000m070105000c.html

 

%d bloggers like this: