Archive

Archive for February, 2014

Học tập sản xuất

February 27, 2014 Leave a comment

 

Học tập sản xuất là gì?

 

Học tập sản xuất theo nghĩa rộng chỉ toàn bộ giáo dục hoạt động sản xuất. Hoạt động điều tra nền tảng kinh tế của thành phố, khu phố, thôn làng là đặc trưng của học tập khu vực ở trường tiểu học, trong học tập lịch sử cũng có thể nó trở thành chỉ đạo học tập các dạng thức sản xuất. Khi vào trường THCS học sinh sẽ học về hoạt động sản xuất của Nhật Bản và trên thế giới với trung tâm là lĩnh vực địa lý. Trong lĩnh vực công dân cũng xuất hiện các tình huống học sinh suy nghĩ về vai trò của các xí nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nói chung nó chỉ học tập sản xuất giới hạn trong học tập về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, thông tin liên lạc ở lớp 5. Ở đây sẽ sử dụng khái niệm này theo nghĩa hẹp. Liên quan đến mục đính, tính chất của học tập sản xuất có rất nhiều cách hiểu và thực tiễn. Bởi vì học tập sản xuất  phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ hình thức mà không trở thành hoạt động giờ học dạy trực tiếp về sản xuất. Tức là phần lớn giáo viên  dạy vì (1) hình thành tri thức và tư chất có ý nghĩa nào đó, (2) dạy về sản xuất với tư cách đó là biện pháp để đạt được điều vừa nói. Nội dung bên trong của (1) thay đổi tùy theo giáo viên cho nên  khi nhìn qua thì thấy học tập sản xuất rất phức tạp. Dưới đây sẽ trình bày về 4 mô hình học tập sản xuất.

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục đạo đức quốc dân.

Mô hình thứ nhất có mục đích nhằm giáo dục đạo đức quốc dân hay cụ thể hơn là giảng dạy “giá trị” của lao động. Giáo dục sản xuất này nhắm tới việc làm cho học sinh yêu quý lao động, phụng sự công việc trọn đời, có thái độ quan tâm mong muốn cống hiến cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Ví dụ như giờ học về nông gia sản xuất rau. Giáo viên đưa ra mẫu hình người nông dân sử dụng vùng đất  hoang và nỗ lực sản xuất. Tiếp đó làm cho học sinh tưởng tượng về sự cực nhọc và niềm vui khi trồng rau, về lẽ sống chinh phục khó khăn của con người, về sự đồng cảm với những con người vì công việc. Tuy nhiên, kiểu giờ học này có một nguy cơ khó có thể phủ định đó là sự nguy hiểm của việc nhồi nhét giá trị quan.

 

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục địa chí Nhật Bản.

 

Mô hình thứ hai này có mục đích giảng dạy “tình hình” hoạt động sản xuất trong giáo dục tiêu chuẩn về học tập địa lý từ cấp THCS trở đi. Đối với trẻ em cần phải làm cho học sinh biết ở mức độ tối thiểu về tình hình nông-công nghiệp Nhật Bản thông qua giáo dục nghĩa vụ. Vì vậy quan điểm này cho rằng đây là sứ mệnh của học tập sản xuất.

Nếu lấy ví dụ về nông nghiệp thì đó là việc giáo viên làm cho học sinh có cái nhìn khái quát về sự mở rộng diện tích trồng rau toàn quốc, chú ý đến nơi sản xuất rau trên cao nguyên với việc sử dụng đất đai rất đặc trưng. Bằng việc  điều tra thông tin về khu vực sản xuất kiểu mẫu này và làm cho học sinh nắm được các điều kiện tự nhiên, môi trường của vùng đất đó và mối quan hệ nhân văn phát triển từ thành tựu trồng rau  mà giúp học sinh  hiểu được các vấn đề mà vùng đất đang đối mặt.

 

Học tập sản xuất với tư cách giáo dục tập quán tư bản chủ nghĩa

 

Mô hình thứ ba là học tập sản xuất đứng trên lập trường nhắm tới mục đích làm cho học sinh nắm được tinh thần cố hữu của xã hội tư bản chủ nghĩa. Nói một cách cụ thể là  dạy cho học sinh hành vi của người làm kinh tế có tính hợp lý, lô-gic cao và giải thích được nó. Mọi người đều hoạt động dưới mô hình trong điều kiện nhất định, cố gắng hạ thấp giá thành để kiếm tìm lợi ích thông qua hoạt động kinh tế. Việc làm cho học sinh tìm kiếm về các công phu, nỗ lực của người lao động chính là hoạt động học tập sản xuất.

Ví dụ như việc cho học sinh tìm hiểu về hành vi trồng rau xà lách, cà chua ở ngoại ô. Những việc như chia các cây con ra thành nhiều lần để trồng có ý nghĩa như thế nào? giáo viên làm cho học sinh hiểu về mục đích và mối liên hệ của các hành vi từ đó có được  hình ảnh về mạng lưới các hiện tượng liên quan đến sản xuất rau. Đồng thời dựa trên các hiện tượng đó mà làm cho học sinh suy nghĩ về mối quan hệ nhân quả, suy luận về tính hợp lý trong tác nghiệp của nông dân để tìm ra ý nghĩa.

 

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục kinh tế.

 

Mô hình thứ tư nhằm mục đích giáo dục ách nhìn khoa học về xã hội, dạy cho học sinh về lý luận kinh tế hoạc được chỉ rõ trong cơ cấu sản xuất-lưu thông-tiêu dùng. Việc làm cho học sinh nắm được các tri thức chính xác về các sự việc, hiện tượng kinh tế, và có cơ cấu lý luận giải thích các hiện tượng, sự việc đó được coi là mục đích  đầu tiên của mô hình học tập sản xuất này.

Ví dụ như, giáo viên đưa ra các tấm biển mà cửa hàng rau hay treo như “rau hữu cơ không dùng nông dược”, “rau lấy trực tiếp từ nơi sản xuất”… và làm cho học sinh suy nghĩ xem tại sao lại cần tới những tấm biển đó, tại sao họ lại bán được với giá cao hơn một chút. Đây là giờ học thông qua việc nghiên cứu, chỉnh sửa giả thuyết  mà tìm kiếm khái niệm liên quan đến giá trị gia tăng, giá lưu thông sản phẩm và sự xuất hiện của hệ thống kinh doanh mới với hợp đồng kí kết trực tiếp giữa các tiểu thương và nông gia.

 

Ý nghĩa giáo dục và vấn đề còn tồn tại.

 

Cuối cùng, hãy xem xét ý nghĩa và quan hệ vị trí của lý luận học tập sản xuất với 4 mô hình trên.

Mô hình thứ nhất đã tạo ra mối liên quan tích cực đối với thế giới bên trong của học sinh và mong muốn làm thay đổi nó nhưng các mô hình khác lại coi trọng việc trợ giúp sự trưởng thành tri thức ở học sinh. Mô hình thứ hai ưu tiên việc đảm bảo lượng nhận thức xã hội trong khi mô hình thứ ba và bốn lại coi trọng chất lượng của nhận thức. Mô hình thứ ba lấy tiêu điểm là hành vi kinh tế vi mô của con người với hiện tượng cá biệt, cụ thể còn mô hình thứ tư  lại nghiêng về cái  nhìn nói chung vượt qua hiện tượng cá biệt, làm cho học sinh biết được cấu tạo kinh tế quy định hoạt động của con người.

Cho đến nay trong giới giáo dục các bản báo cáo về học tập sản xuất đều bao hàm cả bốn mô hình trên và đều có tranh luận về ưu điểm cũng như vấn đề tồn tại của từng mô hình. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu đều nặng về cái khung chỉ đạo mà không đặt ra các câu hỏi như tại sao lớp 5 lại học về sản xuất, việc cấu tạo các chủ đề theo ba lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thông tin liên lạc đã thích hợp chưa, có cần phải học về sản xuất không, có chủ đề nào thay thế nó không? Cần có những nghiên cứu để sửa đổi từ gốc rễ việc biên soạn nên nội dung giáo dục của lớp 5.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (gyosei, 2000)

 

Advertisements

Bản báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ đến Nhật Bản lần thứ 2 (ngày 22 tháng 9 năm Showa thứ 25).

February 26, 2014 Leave a comment

Trưởng đoàn Willard Earl Givens

Sứ đoàn giáo dục Mĩ đến Nhật Bản lần thứ hai đã đặt chân xuống Tokyo vào ngày 27 tháng 8 năm Showa thứ 25 (năm 1950-ND).  Năm thành viên của Sứ đoàn này trước đó đã từng làm nhiệm vụ trong Sứ đoàn lần thứ nhất năm Showa thứ 21 (1946-ND). Họ đến Nhật Bản theo yêu cầu của Mac Acthur và có mặt ở đây một tháng và thành quả nghiên cứu là bản báo cáo được đưa ra vào năm Showa thứ 21. Bản báo cáo lần này chỉ đưa ra những vấn đề được coi là cần thiết đối với giáo dục.

Hành chính giáo dục tiểu học và trung học cơ sở

Tương lai của Nhật Bản có liên quan mật thiết với sự thành bại của hệ thống giáo dục trường học công lập. Hiến pháp mới của Nhật Bản đảm bảo quyền bình đẳng cơ hội giáo dục và nghĩa vụ giáo dục của quốc dân, các bộ luật như Luật giáo dục trường học, Luật giáo dục cơ bản, Luật về Ủy ban giáo dục, Luật về Bộ giáo dục và Luật cấp giấy phép hành nghề cho giáo viên đã làm thay đổi cơ cấu tổ chức của giáo dục, đem lại một cái khung cho sự phát triển chế độ giáo dục dân chủ.

Tuy nhiên, để đảm bảo thật sự thực chất cho kế hoạch giáo dục dân chủ thì cần phải tiếp tục cải cách. Quốc dân Nhật Bản cần phải chuẩn bị nguồn lực tài chính cần thiết để hoàn thành chế độ 6-3-3 với trách nhiệm của quốc gia, đô, đạo, phủ, tỉnh, thành phố, thôn làng. Trường tiểu học và trung học cơ sở công lập nên miễn phí hoàn toàn đối với tất cả các học sinh của quốc dân Nhật Bản. Nó bao gồm cả việc cấp phát miễn phí sách giáo khoa. Không được để phụ huynh phải chịu gánh nặng học phí đối với giáo dục nghĩa vụ. Đối với các trường trung học phổ thông cũng vậy cần phải miễn phí cho những người có nguyện vọng đi học.

Cung cấp trường sở phù hợp

Nhật Bản hiện đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu trường học do hậu quả của chiến tranh và thiên tai. Kinh phí dành cho các cơ sở giáo dục rất ít, chỉ chiếm 6.9% trong số kinh phí dành cho khối hành chính-sự nghiệp công cộng. Hàng vạn học sinh phải học ở các lớp học không đạt tiêu chuẩn như hành lang hay giảng đường. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đưa ra khuyến cáo sau:

1. Để thực hiện toàn diện hiệu quả kế hoạch giáo dục nghĩa vụ cần phải xúc tiến xây dựng trường học.

2. Nghiên cứu về các mô hình kiến trúc.

a. Nhấn mạnh sự cần thiết của khóa trình giáo dục khuyến khích các trải nghiệm sáng tạo, sáng kiến, năng lực tư duy độc lập.

b. Chống được sự tàn phá của động đất và bão.

3. Ủy ban giáo dục  đảm nhận trách nhiệm toàn diện đối với việc xây dựng trường lớp thông qua chức năng kí kết hợp đồng với các kiến trúc sư.

4. Cần lập kế hoạch xây dựng trường lớp theo học khu một cách cẩn thận đề phòng xây dựng chồng chéo tránh lãng phí.

5. Giáo viên, các nhà quản lý trường học, xã hội địa phương và ủy ban giáo dục cùng nhau tạo nên trường lớp một cách hiệu quả.

6. Bộ giáo dục đưa ra chỉ đạo chuyên môn nhằm trợ giúp việc sử dụng tài nguyên và xây dựng kế hoạch hiệu quả.

Nguy cơ thiếu giáo viên

Nhật Bản hiện tại đang thiếu giáo viên. Vì vậy để phục vụ hiện tại và tương lai cần phải tăng lương mạnh cho những giáo viên có đủ tư cách ở các trường tiểu học và trung học cơ sở. Để đảm bảo đủ giáo viên cần phải nỗ lực nâng cao lương bổng của giáo viên. Chúng tôi khuyến cáo ủy ban giáo dục trả lương cho giáo viên không được dựa trên giới tính, tình trạng hôn nhân, phụ dưỡng gia đình mà dựa trên tư cách và trách nhiệm, kinh nghiệm.

Mở  cộng cơ hội giáo dục và gia tăng hoạt động

Vấn đề cơ hội giáo dục đối với học sinh  bị tổn hại thể chất và tinh thần là rất quan trọng. Nên thiết lập nhà trẻ và mẫu giáo như là một bộ phận của trường tiểu học.

Để bảo vệ cuộc sống và an toàn của trẻ em, học sinh, gia đình, trường học, xã hội địa phương phải hợp tác để xây dựng nên kế hoạch giáo dục. Kế hoạch bữa ăn trưa tại trường cần phải được tư duy như là một bộ phận của kế hoạch giáo dục trường học chính quy, giáo dục bên ngoài lớp phải là thứ đem lại cơ hội hiểu về tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên, kế hoạch giải trí trong giờ nghỉ, trước khi vào lớp hay sau khi tan học phải là biện pháp tích cực để phòng ngừa tội phạm thanh thiếu niên. Kế hoạch giáo dục phải là thứ có tính đa dạng, được vận hành hiệu quả và được suy ngẫm cẩn thận.

Tổ chức

Bộ giáo dục quốc gia phải độc lập, tự do không được sáp nhập với cơ quan khác. Quyền lực của Bộ giáo dục là trợ giúp cho Ủy ban giáo dục, hiệu trưởng, viên chức quản lý, phát triển năng lực hiểu biết, nghiên cứu về các vấn đề một cách sáng tạo, độc lập.

Đô, đạo, phủ, tỉnh, thành phố, thôn làng

Hiện tại ở Nhật Bản các thành phố, thôn làng có các trường tiểu học, trung học cơ sở và một vài trường trung học phổ thông và các đô, đạo, phủ, tỉnh có trong tay một vài trường trung học phổ thông.

Điều này thể hiện sự chồng chéo trong quản lý và thu thuế. Chúng tôi khuyến cáo nên thay đổi để tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông được vận hành nằm dưới ủy ban giáo dục.

Nguyên lý chỉ đạo tổ chức khu giáo dục

Khu giáo dục nên thiết lập sao cho lấy xã hội khu vực tự nhiên làm trung tâm. Nó sẽ bao gồm các thành phố, khu phố, thôn làng. Cần chú ý đến độ rộng lớn của khu vực để đảm bảo có đủ cơ sở vật chất cho chế độ giáo dục mới với kế hoạch giáo dục phong phú, bao quát và đảm bảo có đủ dân số, nguồn thuế để phát huy được chức năng.

Trách nhiệm của Ủy ban giáo dục

Ủy viên của ủy ban giáo dục được lựa chọn thông qua bầu cử bởi sự lựa chọn tự do của dân chúng không phụ thuộc vào đảng phái. Họ phải là những người không tư lợi, không có mục đích bí mật, không phải là đại biểu của đoàn thể tập hợp vì quyền lợi cá nhân. Việc bầu cử Ủy ban giáo dục cần đến sự tạo dựng truyền thống xã hội cao độ. Ủy ban giáo dục khi tiến hành chính sách cần phải có được sự hợp tác của các nhà chỉ đạo chuyên môn.

Sự độc lập về tài chính

Hiện tại Hội đồng các tỉnh, thành phố, thôn làng đang cắt giảm dự toán ngân sách mà Ủy ban giáo dục yêu cầu. Tình hình này có thể sẽ dẫn tới phải cắt giảm công việc liên quan. Chúng tôi khuyến cáo Ủy ban giáo dục phải có toàn bộ trách nhiệm đối với dự toán và không cần sự tán thành của Hội đồng tỉnh, thành phố, thôn làng vẫn có thể thực thi dự toán khi có trong tay trách nhiệm thu thuế tạo ra sự độc lập về tài chính. Số tiền bình quân chi cho giáo dục được tính toán cố định theo công thức khách quan và nên đưa vào trong tổng chi phí chi cho kế hoạch giáo dục. Giáo dục phải có quyền yêu cầu số 1 trong kinh phí công cộng.

Trung tâm giáo tài

Các trường học cần phải chuẩn bị đầy đủ, thích hợp thư viện, sách và các tài liệu giảng dạy. Các thư viện không chỉ có sách mà cần phải có cả các giáo tài do giáo viên và học sinh chế tạo. Bên cạnh đó việc có thêm phim ảnh là điều tốt.

Thư viện của trường học với tư cách là trung tâm giáo tài  nên trở thành trung tâm của trường học nơi đặt những cuốn sách chỉ đạo, giúp đỡ học sinh.

Hoạt động giáo dục và đào tạo giáo viên

Công việc của giáo viên

Việc bổ sung và tuyển chọn giáo viên là vấn đề quan trọng của người Nhật. Chính phủ, các trường đại học, giáo viên, bộ giáo dục, ủy ban giáo dục, quan chức hành chính giáo dục và người dân thường  cần phải nhận thức được việc này. Cần phải có mục tiêu rằng những cá nhân xuất sắc phải có mặt ở tất cả các lớp học và các vị trí hành chính. Giáo viên tốt là người trước hết có tính cách, nhân cách tốt và phải có năng lực hiểu biết, tri thức cần thiết cho giảng dạy. Bên cạnh đó có năng lực quan sát chuyên môn, hiểu biết về yêu cầu và cá tính của học sinh, về phương pháp chỉ đạo thích hợp trong chỉ đạo học tập. Giáo viên cũng phải biết về gia đình và xã hội mà học sinh là thành viên, suy ngẫm về cách thức hợp tác với phụ huynh,  xã hội và có trách nhiệm nâng cao giá trị lành mạnh các thú vui, hoạt động ở bên trong và ngoài trường học của học sinh.

Sự tiến bộ của đào tạo giáo viên

Sau bốn năm rưỡi kể từ khi Sứ đoàn giáo dục lần một đưa ra khuyến cáo, việc cải cách đào tạo giáo viên đã có nhiều tiến bộ. Các trường sư phạm đã hợp nhất với trường đại học, các khoa giáo dục đã được lập ra trong các trường đại học quốc lập. Tái giáo dục giáo viên được tiến hành và việc cấp phát giấy phép hành nghề được mở rộng. Các giáo viên đã tiến đến có vai trò thường xuyên trong việc quyết định chính sách, biên soạn khóa trình học tập, quyết định phương pháp giảng dạy và chỉ đạo học sinh.

Các vấn đề chưa giải quyết và phương pháp giải quyết (đào tạo giáo viên trong đại học theo chế độ mới)

Các đại học quốc lập, công lập theo chế độ mới phục vụ đào tạo giáo viên  vẫn chưa đầy đủ về tổ chức và còn thiếu cơ sở, kế hoạch, chức năng. Tuy nhiên,  học sinh cũng thiếu vì vậy việc cần thêm các trường là không thích hợp. Nếu như muốn giáo dục một cách thích hợp với dân số gia tăng đột biến thì cần phải khuyến khích sinh viên học lên khóa trình 2 năm cho đến khi vấn đề thiếu giáo viên đặt ra. Để phát triển đại học đào tạo giáo viên thì các trường ở địa phương cần được nhanh chóng hợp nhất, cải cách giảng dạy và tăng cường đầy đủ cơ sở vật chất.

Khoa giáo dục

Về các khoa giáo dục, đông đảo các trường đại học quốc lập chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong lĩnh vực đào tạo giáo viên. Điều này là do nhiều lý do nhưng một trong số đó là nhà đương cục đại học thiếu sự hiểu biết về các giáo sư và dự toán ngân sách thì ít ỏi. Để đào tạo những người chỉ đạo giáo dục và các nhà chuyên môn đặc biệt của giáo dục cần phải đặc biệt chút ý và phải phát triển các khoa giáo dục bao gồm cả sau đại học trong các trường đại học quốc lập. Bên cạnh đó cần phải khuyến khích tiếp tục cải cách chức năng đào tạo giáo viên trong tương lai của các trường cao đẳng và đại học tư thục.

Giáo dục tại chức

Giáo dục tại chức có sự tham gia rộng rãi của giáo viên. Tuy nhiên do thiếu cán bộ có đủ tư cách để xúc tiến kế hoạch này và lương bổng cấp cho giáo viên thấp nên kế hoạch đã không được tiến hành đầy đủ. Các trường đại học cần phải nhận thức trách nhiệm đối với giáo dục tại chức và chuẩn bị kế hoạch ở phạm vi rộng đối với tất cả các giáo viên. Các viên chức quản lý giáo dục và giáo viên cần phải được tổ chức trong các tổ chức như Hội đồng hợp tác địa phương, Hội nghiên cứu, giờ học thực địa

Giấy phép hành nghề của giáo viên

Điều kiện để có giấy phép hành nghề của giáo viên đã được nâng cao. Tất cả các giáo viên của trường công lập đều đòi hỏi phải được đào tạo chuyên môn và có giấy phép hành nghề. Tuy nhiên biện pháp cấp giấy phép hành nghề bị nhiều người trong đó có cả giáo viên và một số ít nhà lãnh đạo giáo dục phản đối. Đó là do học chưa nhận thức được tầm quan trọng của tư cách chuyên môn giáo viên. Tiêu chuẩn của giấy phép hành nghề giáo viên hiện nay không nên hạ thấp mà cần thiếp tục duy trì.

Khóa trình giáo dục đào tạo giáo viên

Việc tái biên soạn khóa trình giáo dục đào tạo giáo viên đã được sự thừa nhận của ba phía (giáo dục nói chung, giáo dục chuyên môn, giáo dục nghề giáo) công nhận và đạt được tiến bộ. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục nghiên cứu về khóa trình giáo dục văn hóa nói chung. Không được quá coi trọng các môn chuyên ngành mà coi nhẹ văn hóa nói chung. Vệ sinh và giáo dục sức khỏe cần phải được coi trọng trong đào tạo giáo viên. Cần phải liên lạc mật thiết với các trường trực thuộc, trường hợp tác, nhà trẻ, trường mẫu giáo để sử dụng việc chỉ đạo quan sát phương pháp học tập, trưởng thành của học sinh. Tổ chức PTA (Parent Teacher Association- ND) là tổ chức cần thiết để động viên, trợ giúp cơ quan đào tạo giáo viên. Cần phải đặt ra khóa trình đào tạo năng lực chỉ đạo đối với tổ chức PTA và phụ huynh.

Cơ sở đào tạo giáo viên

Phần lớn các đại học đào tạo giáo viên đều thiếu các điều kiện cần thiết ở mức độ tối thiểu về phòng học, nơi tập thể thao, thư viện, các phòng nghe nhìn, phòng khoa học. Phần lớn các tòa nhà đều có điều kiện vệ sinh tồi tệ. Các đại học đào tạo giáo viên phải đạt chuẩn quy phạm trong cơ sở vật chất.

Tuyển sinh sinh viên

Như trước đã từng đề cập, số lượng sinh viên của các đại học đào tạo giáo viên  không đáp ứng đủ số lượng cần thiết tạo nên số giáo viên có đủ tư cách. Đó là do phụ huynh không đủ điều kiện về tài chính đồng thời cũng là do sự mất đi độc quyền vốn có của các trường sư phạm trước kia. Nhà nước có trao học bổng cho các sinh viên  của trường đào tạo giáo viên nhưng số tiền rất ít ỏi.

Mặt khác lương bổng của giáo viên thấp và bản thân nghề này không hấp dẫn giới trẻ. Vì vậy cần phải nâng cao tiêu chuẩn của trường học và tăng học bổng, đồng thời lương bổng dành cho giáo viên cần phải được cân nhắc sao cho thu hút được những người có tài năng. Tuy nhiên cũng cần phải dạy cho những người trẻ tuổi có tài năng nhận thức về sứ mệnh và tầm quan trọng có tính xã hội, văn hóa của nghề giáo.

Tiêu chuẩn thiết lập tối thiểu

Thông qua Hiệp hội tiêu chuẩn đại học và việc thành lập tiêu chuẩn tối thiểu của từng hội viên trong hiệp hội, công việc đã có tiến triển ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, tiêu chuẩn thiết lập Hiệp hội đại học  cần phải dựa trên tiêu chuẩn chung trước hết là những thứ liên quan đến tài chính như cơ sở vật chất, tư cách giáo viên. Cùng với tiêu chuẩn nói chung thì các cơ quan đào tạo giáo viên cần phải phát triển tiêu chuẩn thiết lập  kế hoạch đào tạo giáo viên dưới sự trợ giúp của cơ quan cấp giấy phép hành nghề giáo viên.

Đoàn thể giáo viên được tổ chức tự nguyện         

Việc tạo ra các tổ chức, đoàn thể chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo giáo viên là một tiến bộ lớn lao. Cùng với Hiệp hội đại học đào tạo giáo viên, ba đoàn thể là trưởng khoa, giáo sư và trường trực thuộc là các đoàn thể chuyên môn có ảnh hưởng lớp đến sự phát triển của đại học giáo dục, trường trực thuộc và các trường liên quan. Các đoàn thể này cùng những bộ phận trong nó nên được mọi người ủng hộ nhằm đưa đến cho thanh thiếu niên Nhật Bản những giáo viên tốt.

Giáo dục đại học

Sứ đoàn giáo dục lần thứ nhất đã đưa ra khuyến cáo về sự cần thiết phải cải cách toàn bộ hệ thống giáo dục đại học. Kết quả là các cơ quan giáo dục đại học nhật Bản đã được cải tạo nhanh chóng về phương diện hình thức bên ngoài.

Số lượng đại học quốc lập, công lập và tư thục đã tăng mạnh. Mối quan tâm lớn của Sứ đoàn giáo dục lần hai là xem xét một cách phê phán sự phát triển có được từ sự cải cách đó tập trung vào 4 vấn đề sau:

1. Nhật Bản cần bao nhiêu cơ quan giáo dục đại học?

2. Nhật Bản nên có những loại cơ quan giáo dục đại học nào?

3. Cơ quan giáo dục đại học của Nhật Bản nên được tổ chức và điều hành như thế nào cho hiệu quả nhất?

4. Nhật Bản có khả năng có các cơ quan giáo dục đại học hay không?

Về số lượng các cơ quan giáo dục đại học

Ở Nhật Bản hiện tại các cơ quan giáo dục đại học 4 năm có số lượng là 220 trường. Với số lượng này thì các cơ quan giáo dục vừa chưa đưa ra được giáo dục văn hóa có chất lượng và đương nhiên là quá nhiều. Tuy nhiên nếu như các cơ quan giáo dục đại học đem lại sự tiến bộ về kinh tế, xã hội, chính trị và tinh thần cho nước Nhật Bản mới thì con số này không phải là nhiều. Không có nước nào dân số đông, đất đai chật hẹp lại cần đến giáo dục đại học như Nhật Bản. Việc cần bao nhiêu cơ quan giáo dục đại học là vấn đề phải tự mình quyết định. Nếu như phát triển một cách đầy đủ cả nội dung và chất lượng của giáo dục đại học thì vấn đề đó  sẽ được giải quyết một cách dễ dàng.

Chủng loại và nội dung của các cơ quan giáo dục đại học.

Quan niệm một chiều của giáo dục đại học như đã thấy ở Nhật Bản trước chiến tranh là điều khó tránh khỏi.Về hoạt động và tính chất của các cơ quan giáo dục đại học cần phải nghiên cứu về các vấn đề của địa phương, quốc gia và quốc tế. Khi đó cần tư duy về cống hiến xã hội, văn hóa của các cơ quan giáo dục đại học để kì vọng vào tính đa dạng và tính độc lập của nó. Có thể nói các cơ quan giáo dục đại học như  đại học viện, các trường đại học ngắn hạn bán chuyên môn đều cần thiết cho Nhật Bản. Tính độc lập của cơ quan giáo dục đại học được tạo nên  và nâng cao bởi sự phụng sự của mọi người ở địa phương nó gắn bó. Vì vậy cơ quan giáo dục đại học cần phải nghiên cứu yêu cầu của địa phương và lựa chọn các công việc, sự phụng sự mang tính nghiên cứu, giáo dục mà các cơ quan khác chưa tiến hành. Nếu làm như vậy, từng khoa của đại học sẽ có được tính độc lập của mình. Đồng thời cơ quan giáo dục đại học và những người có liên quan cần phải tiến hành nghiên cứu cẩn trọng xem Nhật Bản cần đến bao nhiêu những nhà kĩ thuật, nhà công nghệ, bác sĩ, y tá, doanh nhân, nhà thực nghiệp, chính trị gia, nhà thơ, tiểu thuyết gia, giáo viên ở tất cả các lĩnh vực.

Tổ chức và điều hành cơ quan giáo dục đại học

Cơ quan giáo dục đại học của nước Nhật Bản mới cần phải phòng ngừa những sai lầm về học thuật của cơ quan giáo dục đại học trong quá khứ khi bị tiêu chuẩn hóa, cứng nhắc hóa và quy tắc hóa. Để làm được điều đó thì cần phải có tiêu chuẩn và phương hướng tự do. Giáo dục đại học của xã hội dân chủ cần phải được cai trị bởi các đại biểu của nhân dân và được vận dụng bởi các tiêu chuẩn do các đại biểu đó xác lập.

Cơ quan giáo dục đại học của Nhật Bản hiện tại bị cai trị chủ yếu bởi các giáo sư. Vì vậy, Sứ đoàn khuyến cáo các cơ quan giáo dục đại học cần phải có Ủy ban xây dựng chính sách với đại biểu nam nữ đại diện cho những người nâng đỡ đại học đó, tuy nhiên các ủy viên này cho dù không cần phải tất cả thì cũng cần phải có đại bộ phận trong số họ xét ở tư cách chính thức không có quan hệ với cơ quan đó. Hiện tại, tiêu chuẩn cơ quan giáo dục đại học được thể hiện bởi “Hiệp hội tiêu chuẩn đại học” nhưng chúng tôi khuyến cáo là nên cân nhắc tới việc lập ra các ủy ban tiêu chuẩn của từng lĩnh vực chuyên môn.

Giáo dục xã hội

Kế hoạch giáo dục người trưởng thành ở Nhật Bản sau khuyến cáo của Sứ đoàn thứ nhất đã được triển khai thông qua các hoạt động văn hóa, giải trí, giáo dục và các đoàn thể tư nhân tự chủ như Liên hiệp giáo dục xã hội cũng được thành lập. Tuy nhiên hiện tại do nhiều khuyết điểm mà nó vẫn chậm chạp. Thiếu các nhà lãnh đạo lão luyện, thiếu các kế hoạch có ý nghĩa, thiếu cả tài chính. Cần phải có các kế hoạch duy trì với năng lực chỉ đạo tốt, có tư liệu thích hợp, hữu ích. Chúng cần được xây dựng đáp ứng nhu cầu của các địa phương và thành phố với sự hợp tác, tư vấn của hội nghị toàn quốc các đại biểu từ Bộ giáo dục, các trường đại học, đoàn thể lao động, hiệp hội xã hội.

Trong kế hoạch giáo dục người trưởng thành nên chú ý khuyến khích hai đoàn thể là “Hội phụ huynh và giáo viên” và đoàn thể liên quan tới UNESCO. Cả giáo viên và phụ huynh cần tham gia vào các đoàn thể này, nỗ lực hiểu biết về kế hoạch và mục đích và thúc đẩy giáo dục công dân dân chủ ở tất cả mọi lĩnh vực.

Thư viện

Kế hoạch bao quát của giáo dục người trưởng thành sẽ không thể thực hiện được nếu như thiếu đi nguồn tài nguyên thư viện. Thư viện hiện nay là miễn phí nhưng nếu thế thì khó mà có thể phát triển lớn mạnh. Hiệp hội thư viện Nhật Bản đang phát triển với tư cách là đoàn thể chuyên môn đoàn kết chặt chẽ những người làm nghề thư viện nên được khuyến khích. Thêm nữa, trong tương lai gần, dưới sự chủ trì của Hiệp hội thư viện Mĩ, sẽ có cơ quan đào tạo viên chức thư viện. Cơ sở vật chất của thư viện Nhật Bản cần được mở rộng khi có nguồn tài chính. Các biện pháp tương tự cũng cần được tiến hành đối với thư viện trường học.

Bảo tàng

Hiện tại Nhật Bản chỉ có 235 bảo tàng và cơ sở tương tự. Đại bộ phận các bảo tàng này do khó khăn về tài chính mà đặt ở những nơi rất bất lợi và có nơi hàng năm đều yêu cầu nhà nước chi tiền hỗ trợ. Chúng tôi khuyến cáo bộ giáo dục nên nghiên cứu về tình trạng của các bảo tàng và có chính sách bảo tồn cũng như mở rộng chúng.

Cải cách quốc ngữ.

Sau khuyến cáo của Sứ đoàn giáo dục lần thứ nhất, có thể thấy cải cách quốc ngữ ở Nhật Bản đã có tiến bộ nhất định. Ở nhiều trường tiểu học, trung học cơ sở chữ La tinh đã được dạy và bảng biểu thị âm chữ Hán thường dùng đã được sử dụng.

Nhờ vậy, chữ Hán đã được giới hạn một cách lô-gic, cách sử dụng vần Kana cũng được cải thiện và việc sử dụng chữ La tinh tăng lên, thể văn nói đã được sử dụng trong cả các văn bản công. Viện nghiên cứu quốc ngữ quốc lập đã được thiết lập nhằm nghiên cứu quốc ngữ và mối quan hệ giữa quốc ngữ và đời sống quốc dân. Tuy nhiên, cải cách cho đến lúc này khó có thể nói là đầy đủ. Cuộc cải cách cho đến nay chỉ dừng lại ở việc đơn giản hóa chữ Hán mà chưa thực sự giản đơn hóa, hợp lý hóa quốc ngữ.

Về cải cách quốc ngữ, chúng tôi đưa ra khuyến cáo như sau:

1. Nghiên cứu biện pháp sử dụng rộng rãi và đơn giản nhất một hình thức của  chữ La tinh.

2. Đưa giáo dục chữ La tinh vào trong khóa trình giáo dục chính quy của trường tiểu học.

3. Ở đại học cần tiến hành nghiên cứu chữ La tinh và thông qua đó đem lại cơ hội nghiên cứu vấn đề chữ La tinh và phương pháp với tư cách là một bộ phận của khóa trình đào tạo giáo viên.

4. Với tư cách là bước đầu tiên của việc đơn giản hóa quốc ngữ cần khuyến khích những người cầm bút, các học giả  lựa chọn và sử dụng các vần kana hiện đại.

Một số vấn đề giáo dục khác

Đoàn thể giáo viên

 

Các tổ chức đoàn thể của các nhà giáo dục mang tính tự phát được tổ chức sao cho ai cũng có thể tham gia có thể trợ giúp việc triển khai kế hoạch giáo dục ưu tú. Kế hoạch giáo dục ưu tú chỉ được triển khai một cách đầy đủ khi nó giúp ổn định điều kiện đời sống và lao động của giáo viên, xúc tiến phát triển nghề nghiệp và nhân cách giáo viên. Nhật Bản cần có các đoàn thể của các nhà giáo dục có tinh thần tự giác và độc lập. Đó là các đoàn thể có thể hợp tác với các đoàn thể khác nhằm giáo dục thanh thiếu niên. Tuy nhiên, thanh thiếu niên Nhật Bản có quyền tiếp nhận giáo dục và cũng có tự do phản đối các đoàn thể gây hại cho giáo dục đem lại phúc lợi tốt nhất cho Nhật Bản.

Giáo dục nghề nghiệp

Trong xã hội dân chủ, giáo dục nói chung ở trình độ cao là thứ rất quan trọng. Tuy nhiên cần có kế hoạch giáo dục nghề nghiệp chu đáo cùng với giáo dục văn hóa nói chung.

Nhật Bản cần phải đảm bảo dân chủ hóa và cần đến những nhà kĩ thuật được đào tạo kĩ để kiến thiết nên quốc gia có nền sản xuất tự cấp tự túc. Kế hoạch giáo dục nghề nghiệp của các trường đại học, trường học cần được nhấn mạnh.

Giáo dục ở các trường tư thục

Các nhà lãnh đạo trường học công lập, quốc lập và tư thục đều đào tạo nên những người lãnh đạo quc gia vì vậy cần phải cảm thông và hiểu biết lẫn nhau. Giáo dục ở các trường tư thục cần phải đạt được tiêu chuẩn đã được đặt ra với các trường quốc lập và công lập. Vì vậy phải công nhận tư cách của học sinh tốt nghiệp ở đó trong lĩnh vực công giống như các học sinh khác.

Giáo dục đạo đức và tinh thần

Khi chúng tôi đến Nhật Bản có được nghe rằng nền giáo dục mới đã làm mất đi cột trụ đạo đức và tinh thần. Tuy nhiên, cách kiến giải này có thể chỉ nhìn vào phương diện cuộc sống cá nhân. Giá trị đạo đức và tinh thần có ở xung quanh chúng ta. Chúng ta có thể tìm thấy chúng trong đời sống gia đình và trường học. Giáo viên cần phát huy giá trị đó trong các trải nghiệm hàng ngày của thanh thiếu niên, trong các hoạt động học tập không phải chỉ có nhắm đến đạt được tri thức mà còn cần phải có ích cho sự hoàn thiện đạo đức. Việc tư duy rằng giáo dục đạo đức chỉ nằm trong môn Xã hội là vô nghĩa mà nó phải được tiến hành thông qua toàn bộ khóa trình giáo dục.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: website của Bộ giáo dục Nhật Bản (http://www.mext.go.jp/b_menu/hakusho/html/others/detail/1317998.htm)

Bản báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ về giáo dục Nhật Bản (31/3/1946)

February 25, 2014 Leave a comment

Lời người dịch: Sau khi Thiên hoàng tuyên bố đầu hàng (15/8/1945), Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm đóng. Dưới sự giám sát và tư vấn của Bộ tư lệnh  tối cao quân đồng minh, Nhật Bản đã tiến hành cải cách chính trị-xã hội-giáo dục toàn diện nhằm dân chủ hóa đất nước. Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến ở Nhật Bản có sự đóng góp to lớn của Sứ đoàn giáo dục Mĩ  đến Nhật vào tháng 3 năm 1946 (sứ đoàn lần 1). Bản báo cáo do Sứ đoàn giáo dục Mĩ đưa ra đã có ảnh hưởng lớn tới phương châm, đường lối cũng như cách thức thực hiện  cải cách giáo dục trong thực tiễn của Nhật Bản, góp phần tạo nên nước Nhật “hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người”. Dưới đây làbản dịch phần tóm tắt bản báo cáo này được công bố trên website của Bộ giáo dục Nhật Bản.

Sứ đoàn giáo dục Mĩ do George D. Stoddard làm trưởng đoàn đã có mặt ở Nhật Bản trong thời gian một tháng để biên soạn nên bản báo cáo trên. Trong thời gian đó sứ đoàn đã tiếp xúc và thảo luận với các sĩ quan của Ban giáo dục trong Cục thông tin giáo dục dân sự thuộc Bộ tư lệnh tối cao quân Đồng minh, các ủy viên ủy ban giáo dục của phía Nhật Bản do Bộ giáo dục chỉ định, các đại biểu thuộc mọi lĩnh vực và đại diện các trường học ở Nhật Bản.

Bản báo cáo được tạo ra trên cơ sở thảo luận giữa các thành viên của sứ đoàn và sau đó được trình lên Tổng tư lệnh tối cao Bộ tổng tư lệnh. Sứ đoàn mặc dù thừa nhận sự cần thiết của những mệnh lệnh cấm đoán ban đầu như loại bỏ khỏi trường học những gì liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và thần đạo mang tính chủ nghĩa quốc gia nhưng bản báo cáo lần này đặt trọng tâm  vào việc đưa ra đề án tích cực.

Đây là kết quả của việc người Nhật Bản nỗ lực hợp tác tạo ra những điều kiện cần thiết để tái xây dựng một chế độ giáo dục lành mạnh trong nền văn hóa của riêng mình theo kế hoạch của sứ đoàn.

Chế độ giáo dục với mục đích giáo dục và nội dung giáo dục ở Nhật Bản  vốn bị trung ương tập quyền hóa cao độ trước đó cho dù không bị hút vào chủ nghĩa quốc gia cực đoan và chủ nghĩa quân phiệt đi chăng nữa thì cũng có khả năng tạo ra những tác hại lớn với chế độ chính trị quan liêu ngoan cố.

Để từng người giáo viên phát triển được năng lực của mình dưới sự chỉ đạo thích hợp thay vì bị dồn ép một chiều thì việc phân quyền cho địa phương là cần thiết. Theo như bản báo cáo này thì chỉ khi giáo viên tạo nên những quốc dân Nhật Bản tự do khi đó họ mới có khả năng phát huy được vai trò. Để đạt được mục đích này không thể chỉ cần đến những tri thức tổng quát thu nhận từ một cuốn sách giáo khoa hay sách tham khảo được nhà nước công nhận hay những tri thức chiều sâu được thử thách trong các kì thi theo hình thức định sẵn. Chương trình không phải chỉ là một dạng tri thức được thừa nhận một cách đơn giản mà phải là thứ được cấu tạo từ cả các hoạt động tinh thần và thể chất của người học. Nó phải là thứ có cân nhắc tới sự khác nhau về trải nghiệm học tập và năng lực của từng học sinh. Vì vậy nó phải là thứ được tạo ra từ hoạt động hợp tác của nhiều người bao gồm cả giáo viên, sử dụng các trải nghiệm của học sinh và phát huy được năng lực sáng tạo đó.

Giáo dục Nhật Bản cần phải  có địa vị độc lập, việc tu thân trước kia vốn  hướng đến sự phục tùng giờ đây phải  được giải phóng và diễn ra ở từng lĩnh vực đời sống quốc dân tự do. Các phương pháp lễ nghi thúc đẩy bình đẳng, tinh thần dung hòa của chính trị dân chủ và tinh thần kĩ thuật lý tưởng trong đời sống thường ngày chính là tu thân của mọi người theo nghĩa rộng. Chúng cần phải được phát triển và thực hành  trong lòng các hoạt động cũng như kế hoạch của các loại trường học dân chủ. Sách giáo khoa môn Địa lý và Lịch sử cần phải công nhận các thần thoại là thần thoại và cần phải viết lại sao cho sự kiến giải chúng trong sách giáo khoa và sách tham khảo mang tính khách quan hơn trước đó. Đối với các trường tiểu học và trung học cần phải sử dụng các tư liệu địa phương nhiều hơn, ở các trường đại học cần phải hỗ trợ bằng nhiều phương pháp khác nhau đối với các nghiên cứu ưu tú.

Giáo dục vệ sinh-sức khỏe và giáo dục thể chất là nền tảng của toàn bộ giáo dục. Giáo dục thể chất, giáo dục vệ sinh công cộng, dinh dưỡng, kiểm tra thân thể và kế hoạch giải trí cần phải được kéo dài tới các trường đại học, thêm nữa cần phải chỉnh sửa, tu bổ cơ sở vật chất nhanh nhất có thể. Giáo dục nghề nghiệp được nhấn mạnh ở các trường học với nhiều cấp độ tiêu chuẩn. Các trải nghiệm nghề nghiệp nên được diễn ra dưới sự chỉ đạo của giáo viên được đào tạo tốt đồng thời cần phải đặt trong tâm vào kĩ thuật và lý luận cơ cở cũng như công nghệ. Đối với kĩ thuật và thù lao của người lao động cần phải được tính toán trong chương trình nghiên cứu xã hội và tạo ra các cơ hội phát huy tính sáng tạo.

Cải cách quốc tự-quốc ngữ

Cải cách quốc ngữ-quốc tự là nội dung cơ bản đối với sự thay đổi trên tất cả các phương diện thực thi giáo dục. Cho dù hình thức quốc ngữ thay đổi nhưng nó phải là sự thay đổi từ trong lòng quốc dân. Sự thay đổi quá khích nếu như đột ngột tạo ra sẽ không có hiệu quả. Đối với những người công nhận giá trị to lớn của cải cách quốc ngữ không phải đơn giản vì kế hoạch giáo dục mà vì sự phát triển của con em Nhật Bản trong tương lai thì sự khích lệ có hiệu quả lớn. Tiếp theo bản báo cáo đưa ra khuyến nghị sử dụng rộng rãi chữ La tinh dưới hình thức  nhất định.

Để đưa ra kế hoạch tổng hợp về quốc ngữ trong khoảng thời gian thích hợp, Ủy ban quốc ngữ với thành viên là các học giả, nhà lãnh đạo giáo dục, chính trị gia người Nhật cần phải đưa ra đề án cấp tốc. Ủy ban này cần phải quyết định xem có sử dụng chữ La tinh dưới hình thức nào đó hay không sau đó là tiến hành các công việc sau:

(1) Có trách nhiệm điều chỉnh kế hoạch cải cách quốc ngữ trong thời kì quá độ.

(2) Xây dựng kế hoạch sử dụng chữ La tinh trong đời sống quốc dân cũng như đời sống xã hội, trường học nói chung thông qua báo, tạp chí, sách và các văn hóa phẩm khác.

(3) Nghiên cứu phương sách nhằm dân chủ hóa hình thức khẩu ngữ.

 

Những ủy ban có liên quan có khả năng phát triển dần thành cơ quan thẩm định quốc ngữ. Xét ở việc công nhận sự cần thiết của phương pháp truyền đạt đơn giản và hiệu quả bằng chữ viết, cơ hội tiến hành biện pháp quan trọng này sẽ khó có thể đến lần nữa trong tương lai. Ngôn ngữ là con đường giao thông chứ không thể là bức tường. Con đường giao thông này do được xúc tiến bởi sự hiểu biết tương tác của cộng đồng quốc tế nên nó phải mở ra bên ngoài vượt qua biên giới quốc gia để truyền đi tư tưởng và tri thức.

Về hành chính giáo dục của trường tiểu học và trung học

 

Do mục đích dân chủ hóa giáo dục mà nguyên lý quản lý trường học phân quyền cho các địa phương thay vì trung ương tập quyền được mọi người công nhận. Việc đọc to các sắc chỉ hay tiến hành nghi lễ vái lạy ảnh Thiên hoàng không phải là thứ mong muốn. Bộ giáo dục theo đề án của Sứ đoàn sẽ trở thành cơ quan đảm nhận nhiệm vụ quan trọng là trợ giúp kĩ thuật và tư vấn chuyên môn cho trường học. Tuy nhiên, quyền lực chi phối trực tiếp của bộ đối với các trường học ở địa phương sẽ bị cắt giảm.

 

Để giúp cho người dân ở các thành phố, làng ở các tỉnh tham gia rộng rãi vào hành chính giáo dục và loại trừ hành chính quản lý của các viên chức địa phương và bộ nội vụ, cần phải lập ra cơ quan hành chính giáo dục được tạo nên từ phổ thông đầu phiếu ở các thành phố, tỉnh, thôn làng. Hiện nay quyền hạn liên quan đều nằm trong tay Bộ giáo dục ở trung ương.

Tiến hành chế độ nam nữ cùng học, miễn học phí cho giáo dục nghĩa vụ, nâng giáo dục nghĩa vụ lên 9 năm, nói cách khác là học sinh phải đi học đến khi 16 tuổi. Bên cạnh đó học sinh trong 6 năm đầu sẽ học ở trường tiểu học giống nhau, ba năm tiếp theo  sau khi tốt nghiệp sẽ vào học ở trường “trung học”-loại trường học sẽ được thay đổi, sáp nhập. Trong các trường học này, giáo dục nói chung bao gồm chỉ đạo giáo dục và nghề nghiệp đối với toàn thể học sinh sẽ được tiến hành và cần phải chú ý cân nhắc tới sự khác biệt trong năng lực của từng học sinh đảm bảo tính mềm dẻo.  Thêm nữa, cần lập ra trường “Trung học phổ thông”, thực hiện miễn học phí, tiến hành dần dần việc nam nữ cùng học và cần tạo ra cơ hội học tập cho tất cả những học sinh đã tốt nghiệp trường trung học cơ sở mong muốn được học lên.

Cùng với các trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông sẽ tiếp tục chức năng của các trường học khác tồn tại được nhờ thuế như tiểu học-khoa bậc cao, trường nữ sinh bậc cao, trường thực nghiệp, trường thanh niên. Những học sinh tốt nghiệp trường trung học phổ thông sẽ có điều kiện để học lên cao. Theo như đề án này, các trường tư thục đương nhiên phải có các điều kiện tiêu chuẩn tối thiểu để học sinh không phân biệt công lập hay tư thục có thể chuyển trường qua lại dễ dàng nhưng các trường này cũng được đảm bảo hoàn toàn tự do.

Về phương pháp giáo dục và đào tạo giáo viên

Để đạt được mục đích của nền giáo dục mới thì cần cải cách phương pháp giáo dục  vốn đặt trọng tâm vào việc tạo ra lòng kính phục, trung thành với người trên với chủ nghĩa nhồi nhét một chiều. Phương pháp giáo dục mới phải là thứ phát huy quyền lợi và trách nhiệm trong tư cách là quốc dân dân chủ và phát triển cá tính, sự độc lập trong tư duy của mỗi người. Ví dụ như, phương pháp tu thân không nên là thứ tiến hành qua giáo huấn bằng lời mà phải được tiến hành thông qua giáo huấn đạt được từ trải nghiệm qua các tình huống thực tế ở trường học và xã hội. Kế hoạch tái giáo dục giáo viên trong thời kì quá độ  cần phải được xây dựng và sử dụng phương pháp dân chủ. Đây là đề án nhằm tạo ra kế hoạch phát triển giáo dục tại chức cho giáo viên. Trường sư phạm cần phải được cải cách để đào tạo nên các loại giáo viên cần thiết. Trường sư phạm chỉ nên cho phép nhập học những học sinh hoàn thành toàn bộ khóa trình của các trường trung học phổ thông và trường tương đương, đình chỉ ngay chế độ khoa dự bị trong trường sư phạm. Trường sư phạm bậc cao có cùng tiêu chuẩn do vậy nên chuyển thành trường sư phạm được tái tổ chức thành trường 4 năm. Trong trường học này, giáo dục nói chung được tiếp tục và người học được tiếp nhận giáo dục sư phạm đầy đủ phù hợp với nghề giáo trong tương lai. Các cơ quan đào tạo giáo viên, cấp giấy phép hành nghề giáo viên khác không kể công tư phải tiến hành đầy đủ đào tạo giáo viên ở cấp độ tương đương.

Quan chức hành chính giáo dục và quan chức quản lý giáo dục phải tiếp nhận giáo dục sư phạm giống như giáo viên thêm nữa cần phải được tiếp nhận giáo dục với tiêu chuẩn phù hợp với nhiệm vụ được giao phó. Các cơ quan giáo dục bậc cao và đại học  cần phải tăng cường cơ sở thiết bị đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu của giáo viên và các nhân viên liên quan được tiến triển. Tại các trường học này cần đưa ra thành quả của việc hỗ trợ nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục.

Giáo dục người trưởng thành

Trong bối cảnh quốc dân Nhật Bản đang ở cục diện như bây giờ, giáo dục người trưởng thành có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì quốc gia dân chủ là quốc gia phát huy trách nhiệm lớn lao của từng người dân.

Trường học chỉ là một trong những cơ quan tiến hành giáo dục người trưởng thành vì vậy thông qua hoạt động phối hợp thống nhất giữa cha mẹ và thầy cô và các buổi học đêm, những bài giảng công khai, sự giải phóng trường sở với các hoạt động xã hội mà giáo dục người trường thành được xúc tiến.

Một trong những cơ quan giáo dục người trưởng thành quan trọng là thư viện công. Nên xây dựng thật nhiều các thư viện công lập trung ương ở các đô thị lớn và chi nhánh của nó. Cũng cần xây dựng tiêu chuẩn cho các cơ sở thư viện thích hợp ở các đô, đạo, phủ, tỉnh. Để xúc tiến kế hoạch này, Bộ giáo dục cần chỉ định Cục trưởng Cục thư viện công lập. Các bảo tàng khoa học, công nghệ, sản xuất cùng với thư viện cũng có ích cho mục đích giáo dục. Cùng với chúng, các tổ chức đoàn thể nhiều chủng loại như đoàn thể xã hội, đoàn thể chuyên môn, công đoàn lao động, đoàn thể chính trị cần tiến hành hỗ trợ giáo dục người trưởng thành bằng cách sử dụng hiệu quả các buổi thảo luận hay bài giảng. Để thực hiện được mục đích này, Bộ giáo dục cần tích cực trong công việc “giáo dục người trưởng thành” và cần phải có kế hoạch dân chủ hóa nó.

 

Giáo dục bậc cao

Trào lưu tư tưởng dân chủ tự do của Nhật Bản được hình thành chủ yếu bởi nam nữ tiếp nhận giáo dục đại học-cao đẳng trong khoảng thời gian vài năm từ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Giáo dục đại học giờ đây phải  là nơi thể hiện được sự mô phạm  và hành động ấp ủ niềm hi vọng của quốc dân cũng như tái tìm kiếm tư tưởng tự do. Để đạt được mục đích này, giáo dục đại học phải là nơi dành cho đa số chứ không phải chỉ là đặc quyền của thiểu số. Để gia tăng cơ hội giáo dục chủ nghĩa tự do ở các trường học thuộc giáo dục bậc cao thì cần phải tự do hóa với mức độ tương đương chương trình giáo dục của các trường đẳng hoặc trường dự bị đại học, nhờ đó mà giáo dục sẽ đến được với mọi người ở phạm vi rộng. Người học sẽ tiếp nhận tư tưởng này thông qua nghiên cứu ở đại học và đào tạo chuyên môn nhưng nó sẽ trở nên đầy đủ hơn  nữa thông qua sự đào tạo mang tầm quan trọng có tính xã hội và văn hóa ở phạm vi rộng lớn.

Đề xuất tăng cường số lượng trường chuyên môn, bên cạnh đó xây dựng thêm các trường đại học dựa trên kế hoạch thích hợp. Việc xây dựng các cơ quan giáo dục bậc cao và giám sát các điều kiện quy định trước đó đã trình bày là trách nhiệm của các cơ quan chính phủ. Trước khi cho phép mở trường các cơ quan chính phủ  được trao quyền  thẩm tra tư cách của các cơ quan giáo dục bậc cao đăng kí, xem xét xem có đảm bảo điều kiện thứ nhất đã trình bày ở trên. Các cơ quan giáo dục bậc cao này, để đạt được mục đích đó bằng phương pháp mình cho là tối ưu nhất cần phải đảm bảo tự do an toàn ở tất cả các điểm.

Sự xác lập tự do học thuật ở các cơ quan giáo dục bậc cao là điều vô cùng quan trọng. Để đạt được mục đích này chúng tôi khuyến cáo đình chế chế độ quan chức văn hóa.

Đối với sinh viên, tự do được bảo đảm là tự do tiến hành các nghiên cứu ở các cấp độ tiêu chuẩn phù hợp với tài năng. Đối với những người có năng lực nhưng không tiến hành nghiên cứu được do vấn đề tài chính thì cần phải hỗ trợ về tài chính để đảm bảo nghiên cứu đó được tiếp tục. Đối với các học sinh nữ hiện tại đáp ứng đủ tiêu chuẩn thì ngay lập tức phải có được tự do học tiếp lên giáo dục bậc cao. Đồng thời cần phải tiến hành biện pháp cải thiện giáo dục tiểu học và trung học dành cho nữ giới.

Bản báo cáo khuyến cáo nên tăng cường thêm các thư viện và cơ sở nghiên cứu. Các cơ quan liên quan sẽ đem lại lợi ích cho quốc dân ở cả trong thời kì tái kiến thiết quốc gia và ở cả thời kì sau. Cần phải chú ý đặc biệt tới việc  cải cách y tế, hành chính trường học, báo chí, quan hệ lao động và giáo dục chuyên môn ở từng lĩnh vực của hành chính quốc gia nói chung. Cần lập ra Ủy ban đặc biệt nghiên cứu toàn diện về vấn đề vệ sinh công cộng và y tế.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: website của Bộ giáo dục Nhật Bản (http://www.mext.go.jp/b_menu/hakusho/html/others/detail/1317998.htm)

NIÊN BIỂU TÓM TẮT LỊCH SỬ SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN THỜI CẬN HIỆN ĐẠI (IV)

February 25, 2014 Leave a comment

(các nội dung tính đến năm 1872 được tính theo lịch cũ. Con số trong ngoặc đơn là chỉ tháng)

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Những bước đi của sách giáo khoa Nhật Bản thời cận hiện đại” của tác giả Kimata Kyohiro, Đại học Shiga, 2006.

1995 (Năm Heisei thứ 7) Công bố kết quả điều tra về nạn bắt nạt học đường với 57.000 vụ trong các trường công lập trên toàn quốc (so với năm trước tăng 2.6 lần) (2) , thực hiện chế độ tuần học 5 ngày với 2 lần trong tháng (4)
1996 (Năm Heisei thứ 8) Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương đưa ra bản báo cáo nhấn mạnh năng lực sống và yutori (7)
1997 (Năm Heisei thứ 9) Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương đưa ra báo cáo lần 2 về thiết lập thống nhất trường trung học cơ sở-trung học phổ thông công lập, về cải cách thi đầu vào đại học, trung học phổ thông (6)
1998 (Năm Heisei thứ 10) Bộ giáo dục chủ trương thực hiện hoàn toàn chế độ tuần học 5 ngày (4), Sửa đổi luật cấp giấy phép hành nghề của giáo viên, thêm vào đơn vị học trình môn giáo chức (6), đưa ra bản báo cáo của Hội đồng thẩm định khoác trình giáo dục (cắt giảm lớn nội dung giáo dục, ứng dụng mềm dẻo số giờ học, thiết lập thời gian học tập tổng hợp, mở rộng học tập tự chọn) (7), công bố bản Hướng dẫn học tập cấp tiểu học, trung học cơ sở và mầm non (12)
1999 (Năm Heisei thứ 11) Công bố bản Hướng dẫn học tập dành cho trường THPT, trường khiếm thính, khiếm thị, giáo dục đặc biệt (3), công bố “Luật về bộ giáo dục” (7), công bố và thực thi “Luật về quốc kì và quốc ca” (8).
2000 (Năm Heisei thứ 12) Sửa đổi một phần quy tắc thực thi luật giáo dục trường học (đưa vào chế độ đánh giá giáo viên trường học, mềm dẻo điều kiện tư cách hiệu trưởng, hiệu phó, làm rõ vị trí của hội đồng giáo viên) (1), sửa đổi một phần Luật cấp giấy phép hành nghề cho giáo viên (thiết lập môn mới là “thông tin” và “phúc lợi” ) (3).
2001 (Năm Heisei thứ 13) Bộ giáo dục biên soạn “kế hoạch ra đời giáo dục mới thế kỉ XXI” (1), công bố sách “Sách lịch sử mới” vượt qua kì kiểm định (4), xảy ra vụ án nhiều học sinh bị thương trong vụ tấn công ở trường tiểu học Ikeda trực thuộc đại học giáo dục Osaka, thành lập 6 dự luật liên quan tới cải cách giáo dục (6), xảy ra vụ khủng bố ở nước Mĩ (9)
2002 (Năm Heisei thứ 14) Bộ giáo dục công bố “Khuyến học” 2002-nâng cao năng lực học tập” (1), thực hiện “thời gian học tập tổng hợp”, bộ giáo dục biên soạn “ cuốn sổ trái tim”, thực hiện toàn diện tuần học 5 ngày (4), Bộ giáo dục ra thông cáo về chỉ đạo liên quan đến quốc kì và quốc ca trong trường học (7)
2003 (Năm Heisei thứ 15) Chiến tranh Iraq bùng nổ (3), thiết lập môn “thông tin” trong trường THPT (4), sửa đổi bản Hướng dẫn học tập ở tiểu học, trung học cơ sở, THPT cho phép chỉ đạo một số nội dung không thể hiện trong bản hướng dẫn học tập (12)

 

Hết

NIÊN BIỂU TÓM TẮT LỊCH SỬ SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN THỜI CẬN HIỆN ĐẠI (III)

February 25, 2014 Leave a comment

(các nội dung tính đến năm 1872 được tính theo lịch cũ. Con số trong ngoặc đơn là chỉ tháng)

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Những bước đi của sách giáo khoa Nhật Bản thời cận hiện đại” của tác giả Kimata Kyohiro, Đại học Shiga, 2006.

1965 (Năm Showa thứ 40) Tỉ lệ bình quân học sinh vào học trường Trung học phổ thông trên toàn quốc vượt 70% (4), Ienaga Zaburo kiện ra tòa án Tokyo vì cho rằng việc kiểm định sách giáo khoa là vi hiến (vụ kiện lần 1) (6)
1966 (Năm Showa thứ 41) Hiệp ước ILO 87 có hiệu lực (khuyến cáo đối với địa vị của giáo viên) (6)
1967 (Năm Showa thứ 42) Bộ giáo dục phân phát sách cẩm nang “một số vấn đề về chỉ đạo đạo đức” tới các trường tiểu học, trung học cơ sở (5), Ienaga Zaburo kiện ra tòa án Tokyo đòi hủy  quyết định đánh trượt sách giáo khoa của ông khi kiểm định (vụ kiện lần 2) (6)
1968 (Năm Showa thứ 43) Thống nhất chuyển giao quyền cấp pháp giấy phép hành nghề giáo viên cho Ủy ban giáo dục các Đô, đạo, phủ, tỉnh, lập ra Cục văn hóa trong bộ giáo dục (6), Công bố Hướng dẫn học tập ở trường tiểu học (7), trong năm này đã diễn ra các cuộc đấu tranh gay gắt ở các trường đại học trên toàn quốc.
1969 (Năm Showa thứ 44) Công bố Hướng dẫn học tập trung học cơ sở (4)
1970 (Năm Showa thứ 45) Ienaga Zaburo kiện đòi xóa bỏ quyết định đánh trượt sách giáo khoa kiểm định, tòa án tokyo tuyên bố ông thắng kiện (7), công bố Hướng dẫn học tập trung học phổ thông (10), các trường học ở Osaka, Tokyo bị thiệt hại bởi hiện tượng khói quang học.
1971 (Năm Showa thứ 46) Do có thêm giáo dục ô nhiễm môi trường nên bản Hướng dẫn học tập cấp tiểu học, trung học cơ sở được sửa đổi một phần và sửa đổi cả sách giáo khoa (1), Các trường tiểu học thực hiện toàn diện khóa trình giáo dục mới và sách giáo khoa mới (4).
1972 (Năm Showa thứ 47) Trường trung học cơ sở thực hiện toàn diện khóa trình giáo dục mới, sách giáo khoa mới (4), Bộ giáo dục tiến hành kỉ niệm 100 năm học chế (10).
1973 (Năm Showa thứ 48) Trường trung học phổ thông thực hiện khóa trình giáo dục mới và sách giáo khoa mới (4), Công bố chính lệnh về thực hiện chế độ nghĩa vụ đối với trường giáo dục đặc biệt (11)
1974 (Năm Showa thứ 49) Công bố “Luật về đảm bảo nhân tài giáo viên trong các trường giáo dục nghĩa vụ” (2), pháp chế hóa chức vụ hiệu phó (sửa đổi luật giáo dục trường học) (6), Quyết định xét xử lần thứ nhất vụ kiện lần 1 vê sách giáo khoa của Ienaga (Ienaga kiện cả nhà nước) (7), Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở lên học THPT lần đầu tiên vượt 90% (11).
1975 (Năm Showa thứ 50) Tòa án Tokyo ra phán quyết về vụ kiện lần 2 của Ienaga (bãi đơn kháng cáo của bộ giáo dục, chuyển hồ sơ lên Tòa tối cao)
1976 (Năm Showa thứ 51) Bộ giáo dục trình Sách trắng về giáo dục “Tiêu chuẩn giáo dục của nước ta” ra trước nội các (bằng cấp, tính cần thiết của học tập suốt đời) (5)
1977 (Năm Showa thứ 52) Ra đời trung tâm thi vào đại học (5), công bố Hướng dẫn học tập ở tiểu học, trung học cơ sở (giảm giờ học để thực hiện giáo dục yutori, coi trọng giáo dục đạo đức, thể chất) (7), thiết lập luật trả lương cho giáo viên chủ nghiệm (12).
1978 (Năm Showa thứ 53) Công bố Hướng dẫn học tập ở trung học phổ thông (8)
1979 (Năm Showa thứ 54) Lần đầu tiên thực hiện nghĩa vụ hóa trường giáo dục đặc biệt (4)
1982 (Năm Showa thứ 57) Chính phủ Trung Quốc phản đối sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản (7), Hội nghị bàn về kiểm định sách giáo khoa “về kiểm định bài viết trong sách giáo khoa lịch sử” đưa ra báo cáo (11), từ năm này trở đi các chỉ trích, phản đối từ các nước châu Á đối với sách giáo khoa nổ ra (vấn đề xâm lược hay tiến vào).
1983 (Năm Showa thứ 58) Hội nghị thẩm định giáo dục trung ương đưa ra báo cáo “Về sách giáo khoa” (công bố một phần kết quả kiểm định, mở rộng khu vực tuyển chọn) (6)
1984 (Năm Showa thứ 59) Ienaga kiện lần 3 (đòi bồi thường) (1), Ra đời hội đồng thẩm định giáo dục lâm thời (8).
1985 (Năm Showa thứ 60) Hội đồng thẩm định giáo dục lâm thời đưa ra bản báo cáo lần thứ nhất về cải cách giáo dục (6), từ đây về sau hội đồng còn đưa ra bản báo cáo lần 2 (1986), lần 3, 4 (1987).
1987 (Năm Showa thứ 62) Hội đồng thẩm định giáo dục lâm thời trong bản báo cáo lần 4 đề xuất quy định sách giáo khao là tài liệu học tập và tiếp tục chế độ miễn phí sách giáo khoa (8), trong báo cáo cải cách khóa trình giáo dục của Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục có đề xuất thiết lập môn Đời sống ở tiểu học, phân chia môn Xã hội ở THPT thành môn Địa lý-lịch sử và Công dân (12)
1988 (Năm Showa thứ 63) Bộ giáo dục công bố hiện tượng học sinh cự tuyệt trường học rất nghiêm trọng từ cuộc điều tra tình hình một số vấn đề của học sinh (11), sửa đổi một phần trong Luật cấp giấy phép hành nghề cho giáo viên (12).
1989 (Năm Heisei nguyên niên) Bộ giáo dục công bố Hướng dẫn học tập ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và mầm non, triển khai chế độ thực tập của giáo viên mới vào làm ở tiểu học (1), bức tường Berlin sụp đổ (11), Liên hợp quốc thông qua “Công ước về quyền trẻ em” (11)
1990 (Năm Heisei thứ 2) Thông cáo của hội những người nghiên cứu về cách thức tuyển chọn sách giáo khoa (2)
1992 (Năm Heisei thứ 4) Bắt đầu sử dụng sách giáo khoa ở trường tiểu học dựa trên bản Hướng dẫn học tập mới (sách môn Đời sống và Sức khỏe lần đầu xuất hiện) (4), Bắt đầu thực hiện tuần học 5 ngày một lần trong tháng (vào tuần thứ 2).
1993 (Năm Heisei thứ 5) Bộ giáo dục đưa ra thông báo về “tuyển  chọn học sinh vào trung học phổ thông” (yêu cầu sửa chữa việc học lệch, học chỉ vì thi cử).
1994 (Năm Heisei thứ 6) Bắt đầu tiến hành chế độ trường THPT theo đơn vị học trình (tani) và trường THPT có khoa tổng hợp (4), Hội nghị đối phó với bắt nạt học đường ra đời (12)

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ III):Tư pháp, tự trị địa phương, sửa đổi hiến pháp, pháp quy tối cao

February 24, 2014 Leave a comment

Hình minh họa cho mục “Sửa đổi”
trong sách: Khi sửa đổi hiến pháp
thì một mình quốc hội không thể
làm được mà quốc dân phải
bỏ phiếu tán thành hay phản đối
“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
10. Nội các[…]

11. Tư pháp

“Tư pháp” là công việc xét xử tranh chấp, quyết định xem có tội hay không có tội. “Tòa án” là thứ chỉ công việc tương tự. Cho dù là ai thì cũng có quyền tiếp nhận sự phán xử công bằng để bảo vệ sinh mệnh, tự do, tài sản…của bản thân. Việc nước gọi là tư pháp này là việc rất quan trọng đối với quốc dân vì thế việc xét xử và đưa ra phán quyết công bằng là rất quan trọng.

Ở đó nhà nước có “tòa án” là nơi tiến hành công việc “tư pháp”. Tòa án khi tiến hành công việc này chỉ tuân theo pháp luật mà hiến pháp và quốc hội tạo ra và xét xử một cách công bằng theo quy định của hiến pháp. Ngoài ra không được nói ra bất cứ thứ gì khác. Thêm nữa, người có vai trò xét xử tức là “thẩm phán” không được tùy tiện quyết định.

Đây gọi là “sự độc lập của quyền tư pháp”. Để cho sự phán xử công bằng thì ai cũng có thể nghe và xem xét xử. Cũng giống như quốc hội công việc của tòa án được diễn ra trước sự chứng kiến của quốc dân. Điều này cũng được hiến pháp quy định rõ ràng.

Hiến pháp lần này có một điều thay đổi lớn cần phải nói. Đó là có thể điều tra xem pháp luật do quốc hội tạo ra có hợp với hiến pháp hay không. Nếu như cho rằng pháp luật đó trái với điều hiến pháp quy định thì việc bất tuân pháp luật đó là có thể. Vì vậy tòa án có vai trò rất lớn.

Các bạn thân mến, quốc dân chúng ta cần phải nghĩ rằng quốc hội là nơi thay mặt cho chúng ta và tin tưởng quốc hội đồng thời phải nghĩ rằng tòa án là nơi bảo vệ tự do và quyền lợi của chúng ta đồng thời tôn kính nó.

12. Tài chính

[…]

13. Tự trị địa phương

Trong thời chiến tranh cái gì cũng nói “vì đất nước” vì thế việc của từng người dân đã bị tư duy rất cứng nhắc. Tuy nhiên đất nước là sự tập trung của quốc dân vì vậy từng quốc dân không tốt thì đất nước sẽ không thể tốt. Cũng giống như thế, nước Nhật Bản chia làm rất nhiều địa phương, các địa phương này nếu như không trở nên giàu có thì đất nước cũng không thể nào giàu có.

Để làm được điều đó thì từng địa phương tự mình tiến hành mọi việc là tốt nhất. Bởi vì ở địa phương đó có rất nhiều thông tin và người sống ở địa phương đó là người biết rõ nhất mọi điều. Tự mình làm những việc của mình gọi là “tự trị”. Vì vậy việc nhà nước trao quyền cho từng địa phương tiến hành tự trị được gọi là “tự trị địa phương”.
Trong Hiến pháp lần này, tự trị địa phương này được xem trọng và quy định rõ ràng. Từng địa phương trở thành một đoàn thể và tự mình tiến hành công việc của bản thân.
Thủ đô Tokyo, đạo Hokkaido, các phủ tỉnh, thành phố làng đều là các đoàn thể. Đây  được gọi là “Đoàn thể công cộng địa phương” .
 
Nếu như tiến hành việc nước là dân chủ thì cách tiến hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương cũng phải là dân chủ. Đoàn thể công cộng địa phương có thể nói là bộ phận của đất nước. Giống như nước có quốc hội, đoàn thể công cộng địa phương cũng có “Hội đồng ” làm đại diện cho người dân sống ở địa phương. Thống đốc điều hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương và những người có trách nhiệm quan trọng khác, cả các nghị viên của hội đồng  địa phương tất cả đều do người dân tự mình bỏ phiếu bầu ra.

Và như thế tự trị địa phương đã được quy định rõ trong Hiến pháp vì vậy pháp luật quy định công việc của một đoàn thể công cộng địa phương nào đó khi được tạo ra ở quốc hội muốn biết ý kiến của người dân ở địa phương thì tiến hành bỏ phiếu và nếu như số phiếu không quá bán thì sẽ không thể được.
Các bạn thân mến,  để yêu nước và dốc sức cho đất nước  các bạn hãy yêu địa phương mình sống và dốc sức cho địa phương mình. Hãy nghĩ rằng nếu địa phương giàu có thì đất nước cũng sẽ phồn vinh.

14. Sửa đổi

“Sửa đổi” là chỉ việc thay đổi hiến pháp. Hiến pháp như trước đó đã nói là quy tắc quan trọng nhất trong số các quy tắc của đất nước vì vậy thủ tục sửa đổi nó phải hết sức nghiêm cẩn.
 
Vì vậy, trong Hiến pháp lần này quy định khi sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể làm được mà quốc dân phải bỏ phiếu tán thành hay phản đối.

Trước hết là một viện của quốc hội có trên 2/3 số nghị viện tán thành thì sẽ quyết định thay đổi Hiến pháp. Đây gọi là “đề xuất” sửa đổi Hiến pháp. Sau đó thông báo cho quốc dân biết và quốc dân tiến hành bỏ phiếu tán thành hay phản đối. Khi trên một nửa tổng số phiếu tán thành thì có nghĩa là việc sửa đổi Hiến pháp đã được quốc dân đồng ý. Đây gọi là sự “thừa nhận” của quốc dân. Sự sửa đổi được quốc dân thừa nhận sẽ được công bố dưới tên Thiên hoàng. Đây gọi là sự “công bố”.

Hiến pháp mới do quốc dân tạo ra là của quốc dân vì vậy khi công bố cũng phải dưới danh nghĩa của quốc dân.

15. Pháp quy tối cao

Giống như đã nói ở phần đầu tiên của cuộc trò chuyện này, “Pháp quy tối cao” là quy tắc có vị trí cao nhất nước tức là Hiến pháp. Trong Hiến pháp này với tư cách  là pháp quy tối cao đã nói về hai nội dung là quy tắc quyết định cách tiến hành việc nước và quy tắc quy định các quyền con người cơ bản của quốc dân. Trong đó các quyền con người cơ bản của quốc dân do từ trước đến nay bị tư duy rất cứng nhắc vì vậy Điều 9 của Hiến pháp đã ghi rất nghiêm trang rằng các quyền con người cơ bản này là thứ con người có được sau thời gian dài nỗ lực, được thử thách qua rất nhiều  sự việc và nó là quyền vĩnh viễn không thể xâm phạm.

Hiến pháp này là pháp quy tối cao  vì vậy những gì trái với những điều được quy định bởi Hiến pháp này cho dù là pháp luật hay mệnh lệnh đều không có hiệu lực với tư cách là quy tắc. Điều này được Hiến pháp quy định rõ.  Cả Thiên hoàng, bộ trưởng, nghị viên quốc hội, thẩm phán tất cả đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp này. Thêm nữa, Nhật Bản cũng phải tuân theo cả giao ước giữa Nhật Bản và các nước khác (gọi là “điều ước”), cả các quy tắc về giao lưu giữa các nước (gọi là “pháp quy quốc tế”) và điều này cũng được Hiến pháp quy định.

Các bạn thân mến, Hiến pháp mới là hiến pháp do quốc dân Nhật Bản tạo ra và là hiến pháp của quốc dân. Từ giờ về sau các bạn hãy tuân theo Hiến pháp và làm cho nước Nhật Bản phồn vinh.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: Tia sáng

Chùm thơ thăm Yên Tử (23/2/2014)

February 24, 2014 Leave a comment

Con đường giải thoát

 

Con đường giải thoát phải là đây?
Gập gềnh nghìn bậc dẫn vào mây

Chúng sinh cúi mặt lần từng bước

Bỏ xa cõi tục kiếp đọa đày

Sợ

“Nhẹ khỏe” trên núi mất năm nghìn

Ra chỗ bụi cây đứng im lìm

Kiếm tiền thật dễ như nhai kẹo

Chỉ khổ người đi sợ đứng ..tim!

Gửi một cô gái lạ

Đừng chen anh nữa em ơi

Có xô mạnh nữa cũng thế thôi

Đường lên với Phật cần từ tốn

Em thế làm anh nghĩ tới Đời

Đạo tặc

Đạo tặc bây giờ thật gớm thay

Đường lên với Phật vẫn ra tay

Khư khư giữ ví  phòng trộm cướp

Sểnh một chút thôi khóc tiếng Tày

Lễ Phật

Lễ Phật không ai chịu xếp hàng

Đến đây mà vẫn giữ lòng tham

Khấn vái bao nhiêu thì vẫn thế

Phật đâu cứu vớt kẻ gian tham

Cáp treo

Đắc đạo xưa nay không đường tắt

Người người chen chúc đợi cáp treo

Giác ngộ đâu tính bằng nhanh chậm

Mà sao ai cũng muốn đi vèo

Chùa Đồng

Chùa Đồng, chùa Đồng…ới chùa Đồng!

Trèo lên, trèo mãi vẫn mênh mông

Trời mưa như trút đường như mỡ

Hai chiều lên xuống khách vẫn đông

Trèo lên một nửa ta mệt quá

Tìm tảng đá to đánh giấc nồng.
Chu Văn An

Vua yêu nịnh thần không dám chém

Mũ áo bây giờ nặng nghìn cân

Rũ bụi trở về rừng dạy học

Nước non lưu luyến tận hai lần

(viết tại đền thờ Chu Văn An, Chí Linh, Hải Dương)

 

Nguyễn Quốc Vương

%d bloggers like this: