Archive

Archive for April, 2014

Ngày và đêm & Cánh chim

April 30, 2014 Leave a comment

Ngày và Đêm

Trằn trọc trong đêm sâu

Gà gật từ lúc bình minh lóe sáng
Từ khi tôi hiểu
Bản chất thế giới này

30/4/2014
Cánh chim

 Từ ngày xa quê

Một cánh chim cũng làm tim đau nhói

Mấy ai  hiểu được

Nỗi lòng của kẻ tha hương

30/4/2014

Nguyễn Quốc Vương 

Advertisements
Categories: Thơ

Xung đột và học tập hòa bình (3)

April 30, 2014 Leave a comment

Học tập hòa bình và môn Xã hội

Môn Xã hội-môn học bao gồm từ “hòa bình” trong mục tiêu của mình là môn học có nội dung học tập trực tiếp đưa ra vấn đề chiến tranh và hòa bình.

Trong bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội (II)” năm 1947,  có chủ đề (6 đơn vị học trình) dành cho học sinh lớp 10 “Chúng ta cần phải nỗ lực như thế nào để bình thường hóa  và  duy trì quan hệ với các dân tộc khác trên thế giới?”. Ở đây mục tiêu “ tạo ra ý kiến có ích cho việc tái xây dựng và duy trì quan hệ quốc tế bình thường của Nhật Bản yêu hòa bình và giáo dục thái độ thực hiện điều đó” được đưa ra.

Trong bản “Hướng dẫn học tập” dành cho tiểu học năm 1998, mục tiêu đặt ra là “làm cho học sinh giác ngộ được rằng việc cùng sinh sống với mọi người ở các quốc gia khác trên thế giới với tư cách là người Nhật là điều rất quan trọng”.

Trong lĩnh vực Công dân cấp THCS, “làm sâu sắc sự lý giải về chủ nghĩa hòa bình của Hiến pháp Nhật Bản, … phòng chống chiến tranh, giáo dục lòng nhiệt thành và thái độ hợp tác để xác lập hòa bình” (gia tăng hòa bình và phúc lợi nhân loại) trở thành nội dung học tập.

Trong môn Công dân ở bản Hướng dẫn học tập dành cho THPT năm 1999, việc học tập về “đặc trưng và xu hướng của chính trị thế giới, ý nghĩa và vai trò của  luật pháp quốc tế liên quan đến lãnh thổ, nhân quyền, vấn đề an ninh bao gồm cả phòng vệ của nước ta, vai trò của Nhật Bản trong nỗ lực đóng góp cho hòa bình quốc tế và phúc lợi nhân loại”được xúc tiến.

Trong môn Xã hội như trên (Công dân) “giáo dục học bình tực tiếp” được tiến hành. Bên cạnh đó do có các nội dung học tập như “tôn trọng sinh mệnh” (“Xã hội hiện đại), “Tôn trong con người và sinh mệnh” (Luân lý) cho nên nó cũng là môn có khả năng trở thành “giáo dục hòa bình một cách gián tiếp”).

Sự cần thiết của giáo dục kĩ năng giải quyết xung đột

Gần đây vấn đề bạo lực  trẻ em cũng trở thành vấn đề xã hội. Nếu như xung đột là hiện tượng xã hội không thể né tránh thì cần phải làm cho học sinh học kĩ năng giải quyết hòa bình thay cho bạo lực trong nhà trường.

Việc huấn luyện kĩ năng xã hội như kĩ năng giải quyết xung đột thường được đưa ra nhưu là một chủ đề trong chỉ đạo đời sống hơn là môn học. Tuy nhiên nó cũng được đửaa với tư cách là nội dung học tập môn xã hội  khi sách “Giải thích bản Hướng dẫn học tập dành cho tiểu học” của Bộ giáo dục có viết “coi trọng phương pháp liên quan đến con người, xã hội , tự nhiên” với tư cách là “điểm chủ yếu của chỉ đạo học tập đối với môn Đời sống”.

Việc học tập phương pháp xử lý phi bao lực các xung đột trong xã hội gần gũi chắc chắn sẽ trở thành nền tảng để suy ngẫm về sự quản lý, giải quyết hòa bình xung đột quốc tế.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

 

 

Xung đột và học tập hòa bình (2)

April 29, 2014 Leave a comment

Chiến tranh và học tập hòa bình

Thông thường việc giải quyết mâu thuẫn giữa các quốc gia bằng biện pháp bạo lực được gọi là chiến tranh. Trái lại, trạng thái không có chiến tranh được gọi là hòa bình. Trạng thái chiến tranh được trừ bỏ mang ý nghĩa hòa bình “tiêu cực” trong khi  tình trạng chính nghĩa được thực hiện, hạnh phúc vật chất và tinh thần được bảo đảm được gọi là hòa bình “tích cực”. Đây là tình trạng khi mà “bạo lực có tính cơ cấu” như  nghèo đói, áp bức chính trị, phân biệt dân tộc được giải quyết.

Học tập hòa bình là việc suy ngẫm về trạng thái mong ước giá trị của hòa bình, và mong muốn thực hiện giá trị đó bằng sức mạnh của giáo dục. Nếu như tiếp cận ý nghĩa của hòa bình trong giới hạn “hòa bình tiêu cực” thì phòng chống chiến tranh và  giải quyết hòa bình xung đột trở thành chủ đề trung tâm trong học tập. Nếu tiếp cận hòa bình từ quan điểm “hòa bình tích cực” thì nội dung học tập sẽ bao gồm cả nhân quyền, phát triển, phân biệt dân tộc.

Bên cạnh dó, học tập (giáo dục)  hòa bình còn có thể phân chia thành “giáo dục hòa bình trực tiếp” và “giáo dục hòa bình gián tiếp”. Giáo dục hòa bình trực tiếp sẽ đưa ra vấn đề hòa bình với chiến tranh một cách trực tiếp và việc học tập sẽ bao gồm phân tích nguyên nhân chiến tranh, tình hình quân sự trên thế giới. Giáo dục hòa bình gián tiếp là nhằm giáo dục tình yêu hòa bình, tôn trọng sinh mạng thông qua học tập nhân quyền, nghệ thuật.

Ở Nhật Bản học tập hòa bình được tiến hành với chủ đề trung tâm là truyền đạt trải nghiệm chiến tranh, lý giải chủ nghĩa hòa bình của hiến pháp. Từ khoảng thập niên 80 trở đi đã diễn ra các thực tiễn với các chủ đề không thể thiếu xét từ lập trường “hòa bình tích cực” như hòa bình, nhân quyền, phát triển, bảo vệ môi trường.

 

Nguyễn  Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội”

Xung đột và học tập hòa bình (1)

April 28, 2014 Leave a comment

 

Xã hội và xung đột

Xã hội không phải lúc nào cũng trật tự, bình đẳng và ổn định. Trái lại sự mâu thuẫn về tài nguyên quý hiếm, giá trị, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa các cá nhân, tập đoàn luôn tồn tại. Điều này có thể thấy trong gia đình, trường học, địa phương cho đến quốc tế. Tóm lại, có thể nói “xung đột là một trong những hoạt động có thể thấy ở hầu hết trên thế giới” (“Lý luận chung về xung đột”, NXB Daiamond, 1971).

Môn Xã hội nhắm đến việc “lý giải về đời sống xã hội” (bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội tiểu học, 1998). Vì vậy xung đột, hiện tượng không tránh khỏi của xã hội là nội dung học tập không thể thiếu trong môn Xã hội.

Trong lĩnh vực Công dân ở THCS  và “Xã hội hiện đại”, “Kinh tế-chính trị” ở trường THPT  các vấn đề như vấn đề xung đột trong nước như vấn đề lao động, ô nhiễm và các vấn đề xung đột quốc tế như va chạm kinh tế, xung đột dân tộc được đưa ra. Học sinh được học về chế độ giải quyết xung đột như Tòa án quốc tế, Liên hợp quốc, tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, trong bản Hướng dẫn học tập lại không có các Tangen (chủ đề) học về xung đột nói chung từ nguồn gốc cho tới quá trình giải quyết mà chỉ có các xung đột phân theo từng vấn đề như lao động, kinh tế.

Thêm nữa, xung đột không phải chỉ có mặt tiêu cực. Bằng việc giải quyết sáng tạo xung đột, những người có liên quan đều thu được lợi ích. Trong giờ học cần phải đề cập đến cả mặt tích cực của xung đột.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

“Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nói không với bệnh thành tích”

April 28, 2014 Leave a comment

Thứ Ba, 29/04/2014 – 03:33

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận:

“Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nói không với bệnh thành tích”

(Dân trí) – Đổi mới căn bản nền giáo dục trước hết phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm dạy tốt, học tốt, khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo của học sinh, tránh chạy theo bệnh thành tích…

Đây là những vấn đề căn bản được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận phổ biến tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 8, khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” do Sở GD -ĐT tỉnh Quảng Trị tổ chức vào ngày 28/4.

Hơn 500 cán bộ, giáo viên nòng cốt của các trường trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã được Bộ trưởng quán triệt một số nội dung liên quan đến việc đổi mới giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đặc biệt, đi sâu 9 nhiệm vụ và giải pháp nhằm thực hiện đổi mới thành công trong thời kỳ hiện nay.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới căn bản nền giáo dục trong thời đại mới. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại, phải tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo.

Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nói không với bệnh thành tích
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận phổ biến một số nội dung liên quan đến việc đổi mới giáo dục cho cán bộ, giáo viên ngành giáo dục tỉnh Quảng Trị.

Theo đó, cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học cố gắng xây dựng một nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm dạy tốt, học tốt, quản lý tốt chứ không phải chỉ nặng về yếu tố hình thức; cần khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo của học sinh, phải loại bỏ ngay căn bệnh thành tích ra khỏi nền giáo dục; Ra sức tập trung đi sâu vào hiệu quả, không được bảo thủ, phải có tinh thần cầu tiến nhận khuyết điểm, hạn chế yếu kém để sửa đổi đi lên…

Các cán bộ giáo viên phải không ngừng học hỏi, nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tự đổi mới mình; Ưu tiên khuyến khích những cách dạy hay, hiệu quả nhằm phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng của học sinh nhằm chú trọng về chất lượng ngày càng đi lên; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại vào dạy học…

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã phân tích về 7 quan điểm chỉ đạo cũng như mục tiêu chung và cụ thể trong nội dung của Nghị quyết, đồng thời làm nổi bật vai trò và trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị; vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong quá trình thực hiện về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Hội nghị được tổ chức nhằm tuyên truyền, phổ biến kịp thời những nội dung chính của nghị quyết số 29 tới các cán bộ, giáo viên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Qua đó có nhận thức đúng đắn và sâu rộng hơn về các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới của Nghị quyết mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra trong thời đại mới để từ đây thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao trong sự nghiệp trồng người.

Đăng Đức

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/tich-cuc-doi-moi-phuong-phap-day-hoc-noi-khong-voi-benh-thanh-tich-868435.htm

Ô nhiễm và học tập môi trường (3)

April 28, 2014 Leave a comment

Ô nhiễm và học tập môi trường

Ngày nay khi vấn đề môi trường quy mô toàn cầu đang thu hút sự chú ý của dư luận thì  ô nhiễm vẫn tiếp tục chiếm vai trò quan trọng trong học tập môi trường. Các nội dung chủ yếu được trình bày như dưới đây

 

Về tri thức-lý giải

 

(1) Cả ô nhiễm và vấn đề môi trường  về cơ bản là vấn đề bên ngoài của kinh tế và để đối phó cần phải tiếp cận nó từ bên trong.

(2) Vấn đề ô nhiễm của một nước hiện nay đã vượt qua biên giới quốc gia và  tác động tới quy mô toàn cầu. Ví dụ như các xí nghiệp không thể hoạt động ở trong nước Nhật do quy chế pháp luật lại đang tiến ra bên ngoài nơi quy chế lỏng lẻo hơn  ngày một nhiều và làm nảy sinh vấn đề “xuất khẩu ô nhiễm”. Mặt khác, ô nhiễm lớn do công nghiệp hóa quá nhanh ở Trung Quốc cũng đang tạo nên mưa a-xít trên lãnh thổ Nhật Bản.

(3) Cho dù là vấn đề ô nhiễm môi trường có quy mô toàn cầu hay ô nhiễm, nếu như phó thác cho hoạt động kinh tế tự do thì việc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên tạo nên hệ quả xấu sẽ diễn ra bởi ý nghĩ tài nguyên thiên nhiên là “tài sản công cộng”.

 

Về hình thành thái độ

 

(4) Cho dù là ô nhiễm hay vấn đề môi trường toàn cầu, tổn hại thường nghiên về kẻ yếu xét ở cả phương diện xã hội và sinh học. Vì vậy cần phải tư duy đứng trên lập trường kẻ yếu xét ở phương diện sinh học, xã hội xuất phát từ quan điểm “công bằng xã hội”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Ô nhiễm và học tập môi trường (2)

April 28, 2014 Leave a comment

Từ học tập ô nhiễm đến học tập môi trường

Học tập môi trường ở Nhật Bản được xuất phát từ những năm 60 với tư cách là học tập về ô nhiễm. Học tập này lấy đối tượng là ô nhiễm công nghiệp. Học tập về ô nhiễm có tính chất tiên phong đã đề cập đến các vấn đề như dưới đây cùng những đặc trưng của nó.

(1) Truy tìm các xí nghiệp làm phát sinh ô nhiễm, cùng “lý luận tư bản” thứ sinh ra các xí nghiệp dạng đó và coi nó như là thủ phạm thật sự.

(2) Đánh giá cao ý nghĩa  phong trào người dân với tư cách là lực lượng bảo vệ cuộc sống và sinh mệnh của quốc dân trước ô nhiễm, là lực lượng ngăn chặn ô nhiễm.

Trong bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội dành cho tiểu học từ bản năm 1968 và ở cấp THCS là từ bản năm 1969 thuật ngữ “ô nhiễm” đã được đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, phần ghi chép phê phán lý luận “phát triển kinh tế và điều hòa phúc lợi quốc dân” trình bày tại quốc hội năm 1970 được coi trọng và năm sau nó đã được viết lại nhấn mạnh lập trường tôn trọng con người và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sinh hoạt cũng như sức khỏe của quốc dân.

Đối với bốn phiên tòa ô nhiễm thì học tập ô nhiễm chú ý đến kết quả của các phiên xét xử đầu tiên. Khi vấn đề ô nhiễm được đưa vào trong bản Hướng dẫn học tập, học tập ô nhiễm trở nên có tính chất công và được triển khai rộng rãi ở khắp các trường học.

Trái lại, việc bốn phiên tòa về ô nhiễm kết thúc với thắng lợi đều thuộc về bên nguyên cáo  đã làm cho ý thức cho rằng vấn đề ô nhiễm đã được giải quyết lan rộng. Ô nhiễm phức hợp, ô nhiễm công nghệ cao với hình dạng khó nhìn thấy đã trở thành vấn đề nhưng  học tập ô nhiễm mới đi từ ô nhiễm công nghiệp sang ô nhiễm đô thị và ô nhiễm sinh hoạt như ô nhiễm rác thải, nước ngầm.

Vào thập niên 70, học tập ô nhiễm=học tập môi trường bắt đầu biến đổi về cách thức tiếp cận. Một trong những nguyên nhân là các hội nghị quốc tế bàn về môi trường như “Hội nghị môi trường con người Liên hợp quốc” (1972), “Hội nghị giáo dục môi trường quốc tế” (1975) liên tục được tổ chức. Trong các hội nghị này mục đích và và phương hướng của giáo dục môi trường đã được thảo luận. Thành quả của nó được thể hiện ở nước ta bằng việc “Mục đích của giáo dục môi trường” (“tư liệu chỉ đạo giáo dục môi trường”, Bộ giáo dục, 1991,1992) được biết đến rộng rãi.

Sự kiện có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa đối với các động thái trên là “Hội nghị môi phát triển môi trường quốc tế” (1992). Trong tuyên ngôn của Hội nghị có nhấn mạnh nhiều lần về “Think Globally, Act locally”.

Trước tác động đó, học tập ô nhiễm với phạm vi đối tượng hẹp đã chuyển sang học tập môi trường với đối tượng rộng lớn hơn là các vấn đề quy mô toàn cầu. Hiện nay giáo dục “phát triển bền vững” cũng đang được chú ý. Giáo dục vì sự phát triển bền vững không chỉ lấy đối tượng là các vấn đề môi trường mà còn mở rộng sang “dân số, nghèo đói, dân chủ, nhân quyền và hòa bình, phát triển và cộng sinh” (tuyên ngôn Thessalonik, 1997). Có lẽ từ giờ về sau giáo dục môi trường sẽ đề cập đến nó và những mối liên quan.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

%d bloggers like this: