Archive

Archive for September, 2014

Vô đề

September 28, 2014 Leave a comment

Vô đề

Sống giữa những nghi kị
Thật khó giữ đức tin

Giữa dòng nước chảy xiết
Mấy ai dám rời thuyền

Người giác ngộ rời thuyền
Thành thằng điên khờ khạo

25/9/2014

Advertisements
Categories: Thơ

Giảng dạy tích hợp, coi chừng bị lố

September 25, 2014 2 comments

Tích hợp trong dạy học là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế phát triển tất yếu của chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, chuyện này ở Việt Nam thì còn nhiều điều phải bàn lại…


Dạy tích hợp kiểu này thì tai hại khôn lường – Ảnh chụp lại Tài liệu tập huấn tích hợp môn ngữ văn
Chương trình giáo dục trung học

Theo tôi được biết, các nhà lí thuyết đã đưa ra ba loại tích hợp cơ bản là: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.

Tích hợp đa môn tập trung vào các môn liên quan với nhau về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng nhằm tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp kiến thức của các môn học có liên quan.

Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp như: Lịch sử, Địa lý, Văn học, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí được tích hợp thành môn “Nghiên cứu xã hội và môi trường” như ở nhiều nước trên thế giới đã áp dụng.

Còn cách tiếp cận tích hợp xuyên môn thì giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề mà người học quan tâm, gắn với thực tế.

Trong dự án phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta cũng đang nghiên cứu để áp dụng lý thuyết tích hợp này. Tuy nhiên, với kinh nghiệm của một giảng viên giảng dạy bậc đại học, tôi thấy nếu không nghiên cứu kỹ lưỡng thì sự tích hợp này có thể rơi vào máy móc hoặc suy diễn, đôi khi lố bịch mà các cổ nhân là tác giả có đội mồ sống lại cũng không tránh khỏi ngạc nhiên.

Nước ngoài tích hợp trong dạy học để giảm tải một số môn lặp tri thức, không cần thiết, chứ không phải tích hợp để râu ông nọ cắm cằm bà kia. Bất kỳ sự tiếp thu nào cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng trên nguyên tắc toàn diện và lịch sử – cụ thể. Trong giáo dục, mọi sự cẩu thả sẽ nguy hại cả nhiều thế hệ. Biết đâu, trong những bài thi văn sắp tới sẽ lặp lại những cách hiểu như: Chí Phèo là chuyên gia kiểm định rượu, Xuân Quỳnh là em gái Xuân Diệu, Xuân Diệu lên Tây Bắc làm kinh tế… dù đó là trò hề vô ý hay cố ý của đám học trò.

Ở nước ta, phải khẳng định rằng dạy học tích hợp là một thách thức vì các môn học có tính độc lập khá cao, trong khi người dạy chưa có điều kiện để lĩnh hội hết chuẩn nội dung và mối liên hệ lôgic của các môn học nên nhiều trường hợp không tránh khỏi sự quá đà.Ví dụ, trong cuốn Tài liệu tập huấn tích hợp nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, môn ngữ văn thuộc Chương trình phát triển giáo dục trung học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (lưu hành nội bộ), một số tác giả đưa Bình Ngô đại cáo ra tích hợp với giáo dục môi trường với câu: “Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ” để nhấn mạnh giặc Minh không chỉ giết người mà còn giết cả côn trùng, tàn phá cây cỏ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của dân ta. Nếu tích hợp như vậy thì đừng ngạc nhiên khi học sinh có thể hiểu rằng: “Đánh một trận sạch không kình ngạc; Đánh hai trận tan tác chim muông” để phân tích chính quân ta cũng tiêu diệt từ cá dưới biển đến chim trên trời, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh. Hiểu như thế thật là tai hại!

Và càng lố hơn khi bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ bầy chim dáo dác bay” mà tích hợp giáo dục môi trường, rằng giặc Tây không chỉ giết chóc trẻ em mà còn tàn hại cả chim chóc, thì không biết người soạn sách đã hiểu văn kiểu gì. Hai câu thơ đối nhau để so sánh tương đồng chứ có phải nói giặc thích thịt chim đâu. Văn chương cần sự tinh tế chứ sao lại máy móc giản đơn như vậy?

Hay như trường hợp của sách khoa học lớp 5, bài 5: Cần làm gì để cả mẹ và em bé đều khỏe? (tr12) của NXB Giáo dục Việt Nam khi dạy trẻ về việc Phụ nữ có thai nên làm gì, có những những lời khuyên như: Không dùng chất kích thích như thuốc lá, thuốc lào, rượu, ma túy; đi khám thai định kỳ ba tháng một lần… Kiểu tích hợp này giống như bê nguyên xi từ cuốn Cẩm nang bà bầu vào dạy trẻ lớp 5. Đã vậy thì sao không thêm rằng: Hạn chế quan hệ vợ chồng? Lúc đó, chắc có lẽ nhiều bạn đọc cũng như tôi sẽ có nhiều chuyện để nghe và nói.

Nước ngoài tích hợp trong dạy học để giảm tải một số môn lặp tri thức, không cần thiết, chứ không phải tích hợp để râu ông nọ cắm cằm bà kia. Bất kỳ sự tiếp thu nào cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng trên nguyên tắc toàn diện và lịch sử – cụ thể. Trong giáo dục, mọi sự cẩu thả sẽ nguy hại cả nhiều thế hệ. Biết đâu, trong những bài thi văn sắp tới sẽ lặp lại những cách hiểu như: Chí Phèo là chuyên gia kiểm định rượu, Xuân Quỳnh là em gái Xuân Diệu, Xuân Diệu lên Tây Bắc làm kinh tế… dù đó là trò hề vô ý hay cố ý của đám học trò.

Nam Phong (*)

(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, giảng viên trường Đại học Quy Nhơn

Nguồn: Báo Thanh Niên

Tâm lý học và môn Xã hội (2)

September 25, 2014 Leave a comment

Giáo dục môn Xã hội và chương trình

Lý luận các giai đoạn phát triển là sự giải thích về tình trạng hiện tại của trẻ em và người đề xướng vấn đề quan trọng liên quan tới mối quan hệ giữa giáo dục với tư cách là phương thức có tổ chức, có ý đồ với các giai đoạn phát triển đó là L.S. Vygotsky. Vygotsky coi trọng sự tương tác xã hội trong sự phát triển và gọi khoảng cách giữa tiêu chuẩn phát triển hiện tại của trẻ em và tiêu chuẩn khả năng phát triển cao hơn  nhờ vào tác động thích hợp của người xung quanh là “khu vực tiếp cận gần nhất sự phát triển” (1933). Nó có trong quá trình trưởng thành hiện tại ở trẻ em nhưng thông qua tác động từ người lớn và bạn bề mà việc học nó lần đâu tiên trở thành có thể. “Khu vực tiếp cận gần nhất sự phát triển” là khả năng phát triển hiện tại của trẻ em và việc tác động vào nó là chủ đề của giáo dục.

Người vừa  đi sâu vào vấn đề nội dung giáo dục vừa tạo ra ảnh hưởng lớn đối với cải cách chương trình là J.S. Bruner. Trong “Quá trình giáo dục”-bản báo cáo tại Hội nghị Woods Hole, Bruner cho rằng “cho dù ở môn giáo khoa nào cũng có thể dạy cho học sinh ở bất kỳ giai đoạn nào tri thức khoa học”. Tư duy này với tư cách là “Chương trình kiểu xoắn ốc” của học tập phát hiện-kiểu học tập làm sâu sắc và phát triển học tập cấu tạo hóa giáo tài và đồng nhất cấu trúc, đã có ảnh hưởng lớn tới cải cách chương trình các môn giáo khoa bao gồm cả môn Xã hội.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

 

Tâm lý học và môn Xã hội (1)

September 24, 2014 Leave a comment

Sự phát triển của nhận thức xã hội

Đối với giáo dục môn Xã hội, vấn đề cơ bản nhất là vấn đề về quá trình phát triển nhận thức xã hội của học sinh. Vấn đề  học sinh nhận thức xã hội như thế nào, nội dung và phương thức nhận thức đó phát triển như thế nào thuộc về khu vực biên giới giữa nghiên cứu tâm lý học và giáo dục môn Xã hội.

Khi tư duy về sự phát triển của nhận thức con người thì lý luận được coi là cơ cấu cơ bản là lý luận về sự phát triển trí tuệ của J.Piaget. Piaget dựa trên phỏng vấn và quan sát trẻ em đã phân chia các giai đoạn phát triển trí tuệ của con người thành: thời kỳ cảm giác vận động, thời kì tiền thao tác, thời kì thao tác cụ thể, thời kì thao tác hình thức. Thời kì cảm giác vận động là thời kì sơ sinh, thời kì tiền thao tác là thời kì mầm non, thời kỳ thao tác cụ thể bắt đầu là từ khi trẻ em vào học cấp 1. Thời kỳ thao tác hình thức được bắt đầu khi trẻ 11-12 tuổi. Piaget cũng cho rằng cả khái niệm xã hội về cơ bản cũng có thể vận dụng lý luận các giai đoạn này. L.Kohlberg đã  vận dụng lý luận về phát triển trí tuệ của Piaget vào vấn đề đạo đức. Ông cho rằng ngay cả trong sự phán đoán đạo đức thì cũng tồn tại khuynh hướng phát triển có tính phổ biến, quy tắc theo độ tuổi và ông đã vừa dựa trên lý luận của Piaget vừa chia nó thành 6 giai đoạn phát triển sau (1967)

Giai đoạn 1: Phục tùng và  có xu hướng  phạm lỗi

Giai đoạn 2: Xu hướng coi bản thân mình là trung tâm một cách ngây thơ

Giai đoạn 3: Xu hướng trở thành trẻ ngoan

Giai đoạn 4: Xu hướng ủng hộ quyền uy và trật tự xã hội

Giai đoạn 5: Xu hướng tôn trọng cam kết và luật pháp

Giai đoạn 6: Xu hướng hướng đến lương tâm và nguyên lý

Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển sự phán đoán đạo đức được đưa ra là “cơ hội có được vai trò”, sự tham gia vào nhóm, chế độ, tập đoàn bạn bè, chế độ kinh tế-chính trị bao gồm các trải nghiệm tương tác mang tính xã hội.

Người tiến hành các nghiên cứu chi tiết về sự phát triển nhận thức xã hội (trí tuệ xã hội) từ lập trường phát triển trí tuệ là H.G. Furth. Ông đã tiến hành phỏng vấn trẻ em về tiền bạc, vai trò xã hội, chính phủ và xã hội địa phương từ đó chỉ rõ 4 giai đoạn tư duy  là : Thiếu hệ thống hiểu biết về xã hội, hiểu biết mang tính tiến bộ, hiểu biết mang tính bộ phận, hiểu biết mang tính toàn thể (1980). Ở Nhật Bản Tamaru Toshitaka cũng tiến hành  điều tra tương tự (1993).

Trong nghiên cứu về sự phát triển của trí tuệ xã hội, mối quan tâm của học giả hướng về phía cơ cấu chung của sự phát triển trí tuệ và mối quan tâm tới từng khái niệm hay giá trị với tư cách là nội dung giáo dục rất hời hợt. Đặc biệt nghiên cứu về nhận thức xã hội của trẻ em bao gồm tác dụng tương hỗ của các phương diện trong giờ học không được tâm lý học quan tâm do gặp nhiều khó khăn và có thể nói nó trở thành lĩnh vực nghiên cứu của giáo dục môn Xã hội.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

 

Người khuyết tật và môn Xã hội (3)

September 23, 2014 Leave a comment

Ví dụ chương trình (Program) trong khóa trình giáo dục

Trong chương trình cấu tạo nên khóa trình giáo dục phức hợp của tường dưỡng hộ có “Gakugei Happyokai” (Buổi thuyết trình) với tư cách là thứ tương ứng với “Daiundokai”. Toàn bộ học sinh từ mầm non tới trung học phổ thông sẽ công bố thành quả trưởng thành của mình từ tháng tư (đầu năm học).

“Chương trình phát biểu ngày 20 tháng 2 năm  Heisei thứ 12”

Buổi sáng:

(1) Lời chào (học sinh tiểu học)

(2) “Ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời kia” (toàn bộ học sinh THCS)

(3) Bài phát biểu của hiệu trưởng

(4) Phát biểu của lớp (học sinh THCS, THPT)

(5) “Peter và sói” (trò chơi-kịch, toàn bộ học sinh mầm non)

(6) “Ngôi nhà của găng tay” (kịch, học sinh tiểu học, Matsukumi)

(7) “Sarukani” (kịch, học sinh tiểu học, Takekumi)

(8) “Công chúa Shirayuki” (kịch, học sinh tiểu học, Umekumi)

(9) “Cô dâu chuột” (kịch, học sinh THCS)

Buổi chiều:

(10) “Hãy cùng nhảy thành vòng tròn nào” (PTA)

(11) “Eshi Nyobo” (Kịch, toàn bộ học sinh THPT)

(12) Lời tạm biệt (Toàn thể học sinh THPT)

“Tangen giờ học”

Dưới đây là tên các tangen của giờ học  được tiến hành vào ngày tham quan toàn bộ trường (ngày 18 tháng 9 năm Heisei thứ 11)

(1) Học tập tangen cuộc sống-học sinh THCS năm thứ 1, 2  “Tham quan bên trong thành phố” (phòng số 2)

(2) Học tập Tangen Đời sống-học sinh THCS năm thứ 3 “Tham quan học tập” (phòng học số 3)

(3) Giáo dục giới tính –học sinh THPT năm thứ 1, 2, 3 “Không được đi theo người lạ” (Nhà thi đấu)

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

Người khuyết tật và môn Xã hội (2)

September 23, 2014 Leave a comment

Khóa trình giáo dục kế thừa từ Kawaguchi Plan

 

Cùng với trường dưỡng hộ Oduka trực thuộc Đại học Tsukuba, khóa trình giáo dục của trường dưỡng hộ trực thuộc khoa giáo dục Đại học Tokyo Gakugei vốn đi đầu giao sducj dành cho học sinh khuyết tật về trí tuệ ở nước ta  từ sau khi sáng lập năm 1954 đã được biên soạn có kế thừa kế hoạch Kawaguchi Plan-một đại diện tiêu biểu cho môn Xã hội thời tảo kì.

Kamoshita, hiệu phó đầu tiên của trường dưỡng hộ trực thuộc Khoa giáo dục Đại học Tokyo Gakugei trong thời gian làm việc tại trường trung học Aoki của thành phố Kawaguchi trong tác phẩm “Đề án môn Xã hội thành phố Kawaguchi-Giải thích về sử dụng tangent” (tham khảo) do Ủy ban nghiên cứu giáo dục môn Xã hội-Viện nghiên cứu giáo dục thành phố Kawaguchi biên soạn, đã cho rằng  cần tư duy  về sự phân phối các tangen dựa trên mối quan tâm, hứng thú, nhu cầu cơ bản của học sinh với tư cách như là một trong 3 điểm thiết yếu khi cải cách thực tiễn lớp 5. Tức là trong thời kỳ này, lý luận tangent lấy học sinh làm trung tâm của môn Xã hội đã trở thành nền tảng của việc viên soạn khóa trình giáo dục của trường dưỡng hộ trực thuộc Khoa giáo dục Đai học Tokyo Gakugei.

Khóa trình giáo dục có cấu tạo phức hợp

Giáo dục đời sống dành cho chọ sinh học liên tục từ mầm non tới THPT ở trường dưỡng hộ được cấu tạo theo thứ tự gồm  khóa trình giáo dục với trung tâm là trò chơi mầm non (chơi tự do và chơi theo chủ đề), Khóa trình giáo dục với trung tâm là học tập giáo khoa, tangen đời sống ở tiểu học, Khóa trình giáo dục với trung tâm học tập giáo khoa-tangen đời sống ở THCS và khóa trình giáo dục với trung tâm là các tangen tác nghiệp, tangent đời sống và học tập giáo khoa ở THPT. Thêm nữa, các tangen lớn tổng hợp trò chơi-học tập-tác nghiệp trong khóa trình giáo dục này ví dụ như “Gakugei Happyokai” cũng được xác lập. Giáo dục của trường dưỡng hộ  tương thích với cuộc sống đa dạng về chất là lượng của học sinh và tạo ra cấu tạo đa tầng, phức hợp. Việc biên soạn nên khóa trình giáo dục nhắm tới sự trưởng thành ở giới hạn cao nhất của học sinh đáp ứng yêu cầu thực sự của học sinh khuyết tật về trí tuệ đã được thực hiện.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Người khuyết tật và môn Xã hội (1)

September 22, 2014 Leave a comment

Trường học giáo dục học sinh khuyết tật

Lịch sử giáo dục trong các trường dành cho học sinh khuyết tật ở nước ta  có nhiều yếu tố trùng với lịch sử môn Xã hội tính đến thời điểm hiện nay. Khóa trình giáo dục như “Omi Gakuen”, “Trường dưỡng hộ Aotori” –những ngôi trường mở ra giáo dục dành cho học sinh khuyết tật ở trường cận đại  được cấu tạo với trung tâm hạt nhân là tangent “Undokai” và được kế thừa cho đến tận ngày nay. Giáo dục dành cho học sinh khuyết tật có các trường như trường dành cho học sinh khiếm thính, trường dành cho học sinh khiếm thị và trường dưỡng hộ, ở đó tiến hành giáo dục những trẻ em như (1) khuyết tật về thị giác, (2) khuyết tật về thính giác, (3) khuyết tật về trí tuệ, (4) Khuyết tật về vận động (5) thể chất yếu , (6) khuyết tật về ngôn ngữ, (7) khuyết tật về cảm xúc.

Ở đây sẽ trình bày chủ yếu về trường giáo dục đặc biệt (trường dưỡng hộ) nơi dành cho các học sinh khuyết tật về trí tuệ. Cũng giống như các trường hợp khác giáo dục khuyết tật về trí tuệ  được chia thành mức độ nặng, nhẹ và trung bình và trường học tiến hành giáo dục thích hợp với từng mức độ đó.

Trong khóa trình của trường giáo dục đặc biệt có hai loại theo mô hình tangen chủ nghĩa giáo khoa và mô hình tangent cuộc sống dựa trên giáo dục chủ nghĩa kinh nghiệm của J. Dewey, tiếp nhận từ “Omi Gakuen”. Ví dụ như trường giáo dục đặc biệt trực thuộc khoa giáo dục Đại học Tokyo Gakugei tuân theo mô hình tangent kiểu chủ nghĩa kinh nghiệm và Trường giáo dục đặc biệt trực thuộc Khoa văn hóa trường Đại học quốc lập Yokohama theo mô hình tangen chủ nghĩa giáo khoa. Ở trường giáo dục đặc biệt thuộc Đại học Yokohama này, ở môn Xã hội dành cho lớp  6 có các giờ học môn Xã hội thuộc về lĩnh vực địa lý (cuộc sống phong phú của mọi người ở địa phương), công dân (tôn trọng con người và Hiến pháp Nhật Bản). Tóm lại ở đây tiến hành chỉ đạo và giáo dục đời sống với khóa trình giáo dục tương ứng với yêu cầu, sự cần thiết đối với sự tự lập về mặt xã hội và sự trưởng thành của học sinh khuyết tật ở ba mức độ: nặng, nhẹ, trung bình.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

%d bloggers like this: