Archive

Archive for October, 2014

Taki Rentaro (1879-1903): Ngôi sao băng trên bầu trời âm nhạc

October 22, 2014 Leave a comment

Taki_Rentaro

Takiren Taro sinh ngày 24 tháng 8 năm 1879 ở Tokyo nhưng liên tục chuyển nhà đến Yokohama, Oita..và học ở  rất nhiều trường tiểu học. Công việc của bố Rentaro, một viên chức chính phủ, liên tục thay đổi và cậu bé Rentaro phải đi theo gia đình chuyển hết vùng này sang vùng khác.

Từ lúc 4 tuổi đến 8 tuổi Rentaro  sống ở Yokohama. Yokohama khi đó được coi là cửa ngõ nhập khẩu văn hóa phương Tây vì thế ngay từ nhỏ Rentaro  có cơ hội làm quen với âm nhạc phương Tây.

Trong thời gian học tiểu học Rentaro rất giỏi vẽ và âm nhạc. Lúc bấy giờ Nhật Bản mặc dù đang gấp rút hiện đại hóa theo phương Tây nhưng âm nhạc phương Tây vẫn còn là thứ mới mẻ với đại đa số người dân Nhật Bản. Tuy nhiên gia đình Rentaro lại là một ngoại lệ. Trong nhà của Rentaro có rất nhiều các nhạc cụ và ngay từ nhỏ nó đã nên quen thuộc với cậu bé. Rentaro có thể  chơi rất nhiều nhạc cụ phương Tây như ác-coóc-đê-ông, ác-mô-ni-ca, vi-ô-lông. Ngoài ra Rentaro còn biết chơi cả sáo trúc.

Rentaro  cũng  tỏ rõ năng khiếu hội họa. Người ta kể rằng do Rentaro cận thị nặng nên khi vẽ cậu thường ghé sát tận mặt giấy. Một vài bức tranh do Rentaro vẽ hiện vẫn được lưu giữ  ở Thư viện Takeda. Takeda là thành phố nơi có dấu tích thành cổ nằm trong  phía núi và là nơi có thiên nhiên tươi đẹp.

Vào thời đó ở Nhật Bản người ta vẫn có thành kiến cho rằng âm nhạc chỉ là thứ dành cho phụ nữ và trẻ con chứ không phải dành cho đàn ông. Mặt khác gia đình Rentaro vốn xuất thân võ sĩ cho nên cha Rentaro phản đối mạnh mẽ chuyện ông học nhạc. Nhưng sau đó nhờ có người em họ thuyết phục mà người cha đổi ý cho phép Rentaro học nhạc. Người em họ này tên là Taki Daikichi, lúc đương thời là một kiến trúc sư có tiếng. Muốn vào học trường nhạc Rentaro phải vượt qua một kì thi quan trọng. Để chuẩn bị cho kì thi Rentaro cần có Piano để luyện tập nhưng ở tỉnh Oita cách xa trung tâm thì kiếm một cây đàn organ cũng là chuyện khó khăn. Thật may mắn, Rentaro tìm được một giáo viên có thể dạy được Organ và bắt đầu học Organ. Ở Tokyo tại ngôi nhà của em họ Taikichi, Rentaro học nhạc dưới sự hướng dẫn của giáo viên Koyama Sakunosuke. Người giáo viên này nhận ra năng khiếu thiên bẩm của Rentaro nên hết lòng giúp đỡ.

Ở Nhật Bản lúc bấy giờ những người có hứng thú với âm nhạc phương Tây ngày một tăng lên và cùng với nó số thí sinh thi vào trường âm nhạc cũng ngày một nhiều. Phần lớn những người dự thi có độ tuổi trên 20, cá biệt  có cả những người khoảng 30 tuổi. Trong số đó Rentaro 16 tuổi là người trẻ nhất. Sau khi đến Tokyo khoảng gần nửa năm vào tháng 9 kì thì diễn ra. Ngoài hát, organ còn có các môn thi khác như tiếng Anh, số học, chữ Hán (Kanji), quốc ngữ, viết luận… Trong số 35 người được phép vào học thử sau đó chỉ có 7 người được vào học chính thức trong đó có Rentaro. Kết quả này một phần có được là do lời giới thiệu của thầy giáo Koyama: “Kentaro là người  được giáo dục ở nông thôn nơi không hề có Piano, không có điều kiện để luyện tập Piano và là người trẻ nhất”.

Rentaro sau khi được phép vào học chính thức đã có cơ hội tiếp nhận nền giáo dục cao nhất về âm nhạc phương Tây. Tiến sĩ Raphael Koeber, người tốt ngiệp với thành tích ưu tú tại trường nhạc Moscow, với tư cách là giáo sư triết học đã được mời đến giảng bài tại đại học Tokyo nhưng ông cũng giảng dạy ở cả trường nhạc và Rentaro đã học Piano từ thầy giáo này. Nobu em gái của văn hào Koda Rohan cũng trở về từ Đức và trở thành giáo sư trường nhạc.

Vào thời đó ở Nhật Bản chỉ trong  trường nhạc nam nữ mới được phép học chung và giao lưu nam nữ bị cấm đoán rất ngặt. Tuy nhiên Rentaro, người đang chịu sự hướng dẫn của giáo sư Koda Nobu và đồng môn học lớp dưới đồng thời cũng là người bạn thân có tên Suzuki thường xuyên đến thăm nhà  thầy Koda Nobu, em gái của thầy là Koda Ko kém Rentaro 2 lớp cũng thường cùng chơi tennis, chơi bài “Bách niên nhất thủ”.

Rentaro dần dần được mọi người xung quanh chú ý vì tài năng thiên bẩm. Năm 20 tuổi Rentaro tốt nghiệp trường nhạc nhưng tiếp tục học tiếp lên khoa nghiên cứu (nay gọi là cao học) chuyên về sáng tác và Piano. Sau hai năm, Rentaro được tuyển làm giáo viên dạy pinao cho đàn em các lớp sau. Rentaro thường biểu diễn các bản sô-nát của Beethoven với cây đàn Piano và trên các tờ báo như Mainichi Shimbun, Yomiuri Shimbun lúc bấy giờ liên tục xuất hiện các bài viết ca ngợi các buổi biểu diễn của Rentaro.

Khi Rentaro vào học cao học thì trường nhạc tách ra độc lập với tư cách là trường chuyên môn và lúc này nhu cầu đưa học sinh đi du học trở nên bức thiết. Trên báo chí khi ấy đăng tải nhiều ý kiến cho rằng cần phải đào tạo nên những nhà giáo dục có khả năng lãnh đạo giới âm nhạc tạo ra những nhân tài âm nhạc, trong lĩnh vực này thì trước hết ưu tiên nam giới.  Trước hết Koda Ko được gửi tới Béc-lin sau đó đến lượt Rentaro. Văn bản của Bộ trưởng bộ Giáo dục chỉ thị cho Rentaro phải học ba năm về sáng tác và Piano ban hành năm 1900 nhưng anh trì hoãn một năm đến năm sau mới lên đường.

Trong một năm trước khi đi du học Rentaro đã tiến hành nhiều hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Các tác phẩm âm nhạc do Rentaro sáng tác vào thời gian này như “Trăng trên lâu đài hoang”, “Hideyoshi Toyotomi”, “Hai mươi dặm qua Hakone” đã được tuyển chọn vào tập bài hát dùng giảng dạy trong các trường nữ sinh. Trong số các tác phẩm đó tác phẩm “Trăng trên thành hoang” vẫn còn gây tiếng vang tới tận ngày nay. Người ta nói tác phẩm này là hồi ức về dấu tích của lâu đài Takeda gắn bó với tuổi thơ của Rentaro. Giai điệu vui vẻ, thư thái của “Hai mươi dặm qua Hakone” cũng quen thuộc với nhiều người. Rentaro còn tham gia biên tập “Tuyển tập bài hát dành cho nhà trẻ” với những bài hát có ca từ đơn giản, trẻ em có thể hát và thưởng thức dễ dàng.

Năm 1901, Rentaro lên đường sang Đức du học. Sau 40 ngày trên biển thuyền cũng đến Đức vào trung tuần tháng 5. Rentaro thi đỗ vào trường nhạc ở Leipzig. Tuy nhiên vào cuối tháng 11 khi đến nhà hát anh bị cúm. Bệnh mãi không khỏi.  Những  người Nhật  sống ở đây  khuyên Rentaro  vào bệnh viện đại học Leipzig chữa bệnh và nghỉ học ba tháng nhưng bệnh không thuyên giảm. Bộ trưởng bộ Giáo dục lệnh cho Rentaro về nước. Rentaro về nhà sau sáu tháng du học và mất vì bệnh lao phổi. Do sợ căn bệnh truyền nhiễm lao phổi lây lan nên sau khi Rentaro mất người mẹ đã đốt hết hành lý của Rentaro và người ta đồn rằng trong đó còn có rất nhiều sáng tác nhạc sĩ chưa hề công bố. Khi ấy Rentaro mới 25 tuổi.

 Nguyễn Quốc Vương 

Advertisements

Học sinh trong các trường Phiên (han) ở Nhật thời Mạc phủ Edo học những môn gì?

October 21, 2014 Leave a comment

Theo các nhà sử học Nhật Bản, số lượng của các trường Phiên được lập ra trong thời Edo (1603-1868) là 255 trường. Những ngôi trường này là nơi đào tạo nhân tài cho Phiên và là tiền đề cho công cuộc Duy tân sau này. Trong những ngôi trường này, Nho học là môn học chủ yếu. Dưới đây là ví dụ về chương trình học tập của ngôi trường có tên Meikyokan của Phiên Matsue được thành lập vào năm Horeki thứ 8 (1758). Ở đây, lớp thấp nhất là lớp nhập môn và tăng dần cho đến lớp nhất.

Lớp Môn học Phương Pháp
Nhất Sách của Bách gia chư tử Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Nhì Lễ ký

Xuân thu

Kinh Dịch

Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Ba Kinh Thi
Kinh Thư

Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Cùng đọc

Mạnh tử
Trung Dung
Cận Tư lục
Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Cùng đọc

Năm Đại học
Luận ngữ
Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Cùng đọc

Sáu Hiếu kinh
Tiểu học
Hỏi-đáp

Đọc-đối thoại

Cùng đọc

Bảy Kinh thư
Lễ ký
Đọc không cần hiểu nghĩa
Tám Xuân thu
Kinh thi
Kinh dịch
Đọc không cần hiểu nghĩa
Sơ đẳng Đại học
Trung Dung
Luận ngữ
Mạnh tử
Đọc không cần hiểu nghĩa
Nhập môn Tam tự kinh
Thiên tự kinh

Hiếu kinh

Đọc không cần hiểu nghĩa

Nguồn: “Tập bài giảng về Giáo dục lịch sử”, Tập 1. Lịch sử giáo dục lịch sử. Chủ biên: Kato Akira, Sato Terao, Hadano Kazuo, 1985)

Cuối thời Edo khi Dương học và Hà Lan học lan tràn, các trí thức Tây học nước Nhật  cũng đả kích Nho giáo khá mạnh. Và cuối cùng Nhật Bản cũng Duy tân cận đại hóa thành công. So sánh Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới sự thành bại của hai nước Nhật-Việt thời cận, hiện đại có lẽ sẽ là chủ đề vô cùng thú vị.

Nguyễn Quốc Vương

Higuchi Ichiyo (1872-1896): Nữ nhà văn tài hoa bạc mệnh

October 20, 2014 Leave a comment

220px-Higuchi_Ichiyou

Higuchi Ichiyo sinh năm 1872 và mất năm 1896. Higuchi Ichiyo chỉ sống có 24 năm ngắn ngủi  và tham gia hoạt động sáng tác văn học trong 5 năm cuối đời nhưng bà đã trở thành nhà văn nữ đầu tiên và là một trong số những nhà văn nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học Nhật Bản cận đại.

Higuchi Ichiyo sinh ra trong gia đình thuộc loại trung nông. Cha bà được học hành và rất yêu văn học. Năm 1867, ông trở thành Mạc thần trước khi chế độ Mạc phủ sụp đổ 3 tháng. Sau khi cải cách Minh Trị thành công ông vẫn được chính quyền mới trọng dụng nhờ tài viết của mình.

Năm 14 tuổi Higuchi Ichiyo vào trường tư có tên Haginosha học về thơ. Trường Haginosha lúc bấy giờ là nơi học tập của phụ nữ thuộc hoàng gia hay con gái các gia đình thượng lưu, quý tộc vì thế đối với Higuchi Ichiyo nơi đây là thế giới khác hẳn. Tuy nhiên chỉ nửa năm sau ngày nhập học trong buổi công bố sáng tác Higuchi Ichiyo đã dành được điểm cao nhất vượt qua cả các bậc đàn chị đi trước. Những gì học được và trải nghiệm ở đây có lẽ đã có ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc đời sáng tác của Higuchi Ichio sau này.

Năm Higuchi Ichiyo 17 tuổi, người cha qua đời. Kể từ đây gánh nặng gia đình bắt đầu đặt lên vai Higuchi Ichiyo. Vừa đi học Higuchi Ichiyo vừa phải may vá, làm đèn lồng kiếm thêm tiền cùng mẹ nuôi các em. Nhờ có tài viết chữ đẹp bà được các du nữ (gái lầu xanh) thuê viết thư gửi cho khách. Tuy nhiên công việc này không đem lại cho Higuchi Ichiyo nguồn thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống. Cũng chính vào thời điểm đó bạn bè ở cùng ngôi trường tư viết tiểu thuyết và nhận được những món tiền nhuận bút lớn. Higuchi Ichiyo quyết định viết tiểu thuyết để kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình.

Năm 1892 lần đầu tiên trong đời  Higuchi Ichiyo nhận được món tiền nhuận bút khi có tác phẩm “Umore Ki” (Gỗ lũa) được đăng trên tạp chí văn nghệ “Miyako no Hana” (Hoa kinh thành). Tuy nhiên nó quá nhỏ nhoi đối với gia cảnh của  Higuchi Ichiyo. Ngày 6 tháng 8 năm 1893 gia đình bà  chuyển đến nơi ở mới và mở cửa hàng bán kẹo và các  đồ dùng trong nhà. Thu nhập ít ỏi nên cuộc sống rất khó khăn. Những trải nghiệm cay đắng ở khu phố này về sau đã góp phần làm nên tác phẩm nổi tiếng  “Takekurabe” .

Sau khi công bố tác phẩm đầu tiên không lâu vào tháng 3 năm 1893, Higuchi Ichiyo lại công bố tác phẩm “Yuki no hi” (Ngày tuyết rơi) trên tờ “Thế giới văn học” và nhanh chóng thu hút được sự chú ý của dư luận. Sau đó bà liên tục đăng tải các tác phẩm như “Koto no oto” (Tiếng đàn Koto), “Yami yoru” (Đêm đen)…Năm 1895 bà công bố tiểu thuyết “Takekurabe” trên “Thế giới Văn học”.

Takekurabe” là tiểu thuyết lấy đề tài từ  tác phẩm cổ điển  “Ise monogatari” (Câu chuyện Ise) nhưng trong tiểu thuyết của Higuchi Ichiyo thì Midori, em gái của du nữ Yoshiwara trở thành nhân vật chính. Tác phẩm miêu tả rất cụ thể, sống động sự chuyển động từ thế giới trẻ thơ sang thế giới người lớn trong trái tim thiếu nữ. Trong “Takekurabe”, những kỉ niệm thời thơ ấu với những trò chơi, lễ hội và những trải nghiệm đắng cay lúc trưởng thành của Higuchi Ichiyo đã được đưa vào rất sinh động.

Không chỉ viết tiểu thuyết, Higuchi Ichiyo còn để lại một cuốn nhật kí có tên “Nhật kí Ichiyo”. Mục đích ban đầu của Higuchi Ichiyo không phải là viết ra rồi công bố cho người khác đọc mà bà định viết nó theo lối viết nhật kí cổ để luyện văn và chữ. Higuchi Ichiyo dặn em gái đốt cuốn nhật kí khi bà qua đời tuy nhiên người em gái đã giữ lại. Cuốn nhật kí ngoài giá trị nghệ thuật còn cho độc giả đời sau hiểu rõ về cuộc đời cũng như con người Higuchi Ichiyo. Cuốn nhật kí có ghi lại mối tình của bà với nhà văn Nakara Itosui của báo Asahi, người đã hướng dẫn bà cách viết tiểu thuyết.

Ngoài nhật kí, tiểu thuyết Higuchi Ichiyo còn viết khoảng 4000 bài thơ  Tanka. Bà cũng để lại nhiều thư từ, các bài tiểu luận. Tác phẩm của Higuchi Ichiyo là sự pha trộn giữa cái đẹp của những câu văn cổ điển với lối viết thông tục thời cận đại. Higuchi Ichiyo cũng đưa vào trong tác phẩm những từ ngữ mới được tạo ra trong thời Minh Trị làm cho câu văn có phong cách độc đáo.

Trong số các tác phẩm của Higuchi Ichiyo những tác phẩm như “Takekurabe”, “Nigorie” “Ba mươi đêm” cho đến ngày nay vẫn được nhiều người yêu mến. Đọc những tác phẩm này người ta như cảm nhận được hơi thở của thời đại  lúc bấy giờ.

Ngày 23 tháng 11 năm 1896, Higuchi  Ichiyo qua đời ở tuổi 24. Cuộc đời bà được nhiều người biết tới qua các bộ phim trên truyền hình. Người Nhật cũng đưa chân dung Higuchi Ichiyo lên tờ giấy bạc mệnh giá 5000 yên như một cách tưởng niệm nữ nhà văn tài hoa bạc mệnh.

 Nguyễn Quốc Vương 

Ichikawa Fusae (1893-1981): Người suốt đời đấu tranh vì quyền lợi của phụ nữ.

October 19, 2014 Leave a comment

download (1)

Ichikawa Fusae sinh ngày 15 tháng 5 năm 1893 ở tỉnh Aichi trong gia đình nông nghiệp kiêm nuôi tằm. Thời còn nhỏ Ichikawa Fusae thích trèo cây, chơi ở sông ngoài ra phụ giúp gia đình.

Cha Ichikawa Fusae là người đứng đắn,  nhiệt tâm với việc giáo dục con cái  nhưng là người nóng nảy và hay đánh đập vợ. Những khi ấy người mẹ  thường nói với Ichikawa Fusae: “Bố nóng tính nên mẹ đã bao lần muốn trở về làng…nhưng vì như thế các con sẽ trở nên tội nghiệp nên đành chịu vậy. Sinh ra làm phụ nữ là thế đấy”. Những câu hỏi liên tiếp hiện ra ra trong đầu Ichikawa :“Tại sao người vợ trong gia đình hay bị chồng hành hạ?”, “Tại sao người phụ nữ lại phải chịu đựng”… và những câu hỏi này đã quyết định cuộc đời của Ichikawa Fusae. Sau này bà đã ghi lại trong nhật ký: “Nỗi buồn phụ nữ của mẹ đã thấm vào thân thể nhỏ bé của tôi. Dường như cuộc đời tôi đã được lựa chọn bởi xuất phát điểm là tiếng  thở than của mẹ”.

Cha của Ichikawa Fusae hiểu rõ nỗi khổ thất học của mình nên đã nỗ lực cho các con được học hành. Ichikawa Fusae sau khi tốt nghiệp trường sư phạm đã trở thành giáo viên tiểu học rồi trở thành phóng viên. Từ mùa hè năm 1917, Ichikawa Fusae  trở thành phóng viên số một của tờ báo Nagoya Shimbun (về sau đổi thành Chukei Shimbun). Một năm sau Ichikawa Fusae thôi việc và lên thủ đô Tokyo. Tại đây, Ichikawa Fusae gặp vợ chồng Yamada Waka khi đó đang mở trường tư dạy tiếng Anh. Trong quá trình học tiếng Anh và giúp việc cho vợ chồng Yamada Waka, Ichikawa Fusae gặp những người phụ nữ có tư tưởng mới đặc biệt là cuộc gặp gỡ với Hiraduka Raiteu. Lúc này Ichikawa Fusae 25 tuổi. Raiteu kêu gọi Ichikawa Fusae hợp tác và kết quả là năm 1920, những người phụ nữ cùng chung chí hướng lập ra “Tân phụ nhân hiệp hội” (Hiệp hội những người phụ nữ mới).

Trong quá trình hoạt động giữa Fusae và Raiteu phát sinh mâu thuẫn vì Fusae là người thiên về hoạt động thực tiễn trong khi Raiteu là nhà lý luận. Vì vậy năm 1921, Fusae quyết định đi du học ở Mĩ. Cuộc sống 2 năm trên đất Mĩ đã làm cho hiểu biết của Fusae về phong trào của phụ nữ đấu tranh đòi quyền tham gia vào chính trị. Tháng 6 năm 1923, Fusae tham dự “Đại hội sự nghiệp thế giới” tổ chức ở thủ đô Washington. Tại đây bà đã gặp nhà lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phụ nữ  Alice Paul. Cuộc gặp gỡ với nhân vật lãnh đạo này có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhà lãnh đạo này đã nói với Fusae: “Phong trào lao động hãy dành cho nam giới còn chị hãy tiến hành phong trào đấu tranh đưa nữ giới tham gia chính quyền”.

Năm 1924 sau khi trở về từ Mĩ, Fusae  vừa làm việc cho văn phòng ILO (Tổ chức lao động quốc tế) vừa hoạt động cho văn phòng của “Đồng minh giành quyền bầu cử cho phụ nữ”. Tuy nhiên về sau Fusae quyết định bỏ việc ở ILO với mức lương 180 yên hàng tháng (khi đó lương tháng trung bình của nam  giáo viên tiểu học là 72 yên, còn giáo viên tiểu học nữ chỉ được nhận 5 yên).

Năm 1929, vấn đề “phụ nữ tham gia chính quyền” được đưa ra tranh luận tại Quốc hội. Trong hội trường của “Đế quốc nghị viện” có đến trên 200 phụ nữ ngồi với tư cách là khán giả nhưng các nghị viên đã không kiên quyết và kết quả là ngày 5 tháng 3 năm 1929, vấn đề bị quốc hội phủ quyết. Tuy nhiên phong trào vẫn tiếp tục. Năm 1930 Đại hội đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ lần thứ nhất đã được tổ chức tại ở Aoyama. Bài hát “Đòi quyền bầu cử cho phụ nữ” phổ thơ của nữ thi sĩ Yosano Akiko được mọi người đồng thanh hát vang.

Năm 1931, quân đội Nhật gây ra “sự biến Mãn Châu”. Nhật Bản từ đây dấn sâu vào con đường xâm lược với các cuộc chiến tranh liên tiếp. Trong bối cảnh đó phong trào phụ nữ và những hoạt động chính trị-xã hội của Fusae gặp nhiều khó khăn do sự đàn áp của chính quyền quân phiệt.

Năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, Fusae lại tiếp tục đẩy mạnh hoạt động. Chỉ 10 ngày sau khi chiến tranh kết thúc, tổ chức “Ủy ban phụ nữ ứng phó với thời hậu chiến” ra đời. Tổ chức đã đưa ra yêu cầu phụ nữ được quyền tham gia vào chính quyền. Tháng 11 cùng năm, “Đồng minh phụ nữ nước Nhật Bản mới” được thành lập và Fusae trở thành chủ tịch.

Vào tháng 3 năm 1946 “Luật bầu cử nghị viên chúng nghị viện” được sửa đổi và yêu cầu phụ nữ có quyền tham gia chính quyền được thực thi. Phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ giành thắng lợi quan trọng nhưng bản thân Fusae lại gặp nhiều phiền toái. Ngày 10 tháng 4 năm 1946, Fusae định đi bỏ phiếu trong ngày đầu tiên phụ nữ Nhật Bản được đi bầu cử nhưng trong danh sách cử tri không có tên bà. Tiếp theo  vào năm 1947 Fusae  bị đuổi ra khỏi công việc công. Người ta cho rằng lý do chủ yếu là trong thời kỳ chiến tranh Fusae có tên trong tổ chức cực hữu cho dù bản thân bà không hề hay biết. Trong ba năm (1947-1950) bà không được phép hoạt động. Cả hoạt động viết văn kiếm sống của bà cũng phải ngừng lại làm cuộc sống gia đình thêm khó khăn. Fusae phải nuôi vịt, làm vườn để sinh sống. Phong trào đấu tranh đòi hủy bỏ lệnh cấm đối với Fusae lan rộng ra toàn quốc. Phong trào đã thu thập được 17 vạn chữ kí ủng hộ Fusae. Tháng 7 năm 1950, lệnh cấm được hủy bỏ và Fusae trở lại làm chủ tịch “Đồng minh những người phụ nữ làm chủ Nhật Bản”.

Năm 1953, tiếp nhận yêu cầu mạnh mẽ từ những người xung quanh Fusae trở thành ứng cử viên của cuộc bầu cử nghị viên “Tham nghị viện” (thượng viện) lần thứ 3. Fusae trở thành ứng cử viên với những điều kiện vốn chỉ dành cho các cuộc bầu cử “lý tưởng” như: ứng cử viên không trả chi phí cho cuộc bầu cử, số tiền này là do mọi người đóng góp; không sử dụng xe ô tô cổ động bầu cử mà đi bộ; không tiến hành diễn thuyết.

Kết quả Fusae trúng cử với số phiếu cao thứ hai. Khi trở thành nghị viên, Fusae tiếp tục quan tâm tới các vấn đề quan trọng liên quan tới phụ nữ, đồng thời chú tâm tới cải cách bầu cử. Bà trúng cử nghị viên thêm hai khóa liên tiếp nữa nhưng thất bại ở lần tiếp theo và dời nhiệm sở năm 1971. Tuy nhiên vào năm 1974, ở độ tuổi 84, Fusae lại được bầu làm nghị viên với số phiếu cao nhất.

Fusae cùng với những người phụ nữ có tư tưởng tiến bộ khác như Raiteu, Akiko … đã có những đóng góp quan trọng góp phần đem lại sự bình đẳng cho phụ nữ Nhật Bản thời hiện đại.

Nguyễn Quốc Vương 

Tanaka Shozo (1841-1913) : Nghị viên hết lòng vì dân

October 19, 2014 Leave a comment

images

Năm 1880 ở Nhật  Bản diễn ra cách mạng công nghiệp và  quá trình cơ giới hóa các công trường, nhà máy diễn ra mạnh mẽ. Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người dân. Vụ ô nhiễm mỏ đồng ở núi Ashio kéo dài suốt từ thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XX được biết đến như là vụ ô nhiễm công nghiệp đầu tiên ở Nhật Bản. Trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường bảo vệ cuộc sống của người dân ở đây có một nghị viên đã bất chấp nguy hiểm kiên trì đến giây phút cuối cùng. Người đó là Takana Shozo.

Tanaka Shozo sinh ra ở Shimotsuke (nay là tỉnhTochigi) trong gia đình  có thế lực. Ngay từ nhỏ ông đã yêu chính nghĩa mạnh mẽ và có lần bị lãnh chúa đuổi ra khỏi làng. Tanaka tham gia vào phong trào Tự do dân quyền ra báo “Tochigi tân văn”, phản đối việc xây dựng đường theo lệnh của tỉnh trưởng  Mishima Michitsune và bị bỏ ngục. Về sau ông trúng cử trong cuộc bầu cử nghị viên của tỉnh Tochigi và làm đến chức Chủ tịch hội đồng nghị viên tỉnh. Năm 1890 trong cuộc bầu cử Chúng nghị viện khóa I, Takana  được bầu làm Đại nghị sĩ.

Trong thời gian này nước Nhật đang xôn xao vì vụ ô nhiễm mỏ đồng Ashio. Mỏ đồng Ashio nằm ở khu phố Ashio, thành phố Nikko trên thượng lưu sông Watarase phía tây tỉnh Tochigi. Năm 1550, khoáng đồng ở đây được được phát hiện lần đầu tiên nhưng phải đến năm 1610 dưới thời Edo, hoạt động khai mỏ mới chính thức được bắt đầu. Vào thời đó phố Ashio được mệnh danh là khu phố “ngàn nhà” rất phồn vinh, với hệ thống công trường khai mỏ, luyện đồng và có cả xưởng đúc tiền riêng. Vào thời điểm đỉnh cao mỏ đạt sản lượng khai thác khoảng 1200tấn/năm. Nhưng từ cuối thời Edo đến đầu thời Minh Trị hoạt động khai khoáng nơi đây đình đốn có lúc rơi vào tình trạng bên bờ vực phá sản.

Trong bối cảnh các ý kiến bi quan về tương lai của mỏ đồng Ashio ngày một tăng, năm 1877 (năm Minh Trị thứ 10) Furukawa Ichibei, người sáng lập tập đoàn tài phiệt Furukawa bắt tay vào kinh doanh khai khoáng tại đây. Trong một vài năm đầu, việc kinh doanh không đem lại kết quả gì đáng kể nhưng vào năm 1881(năm Minh Trị thứ 14) thì phát hiện ra mạch đồng lớn. Sau thời điểm này cùng với sự tiến bộ của kĩ thuật thăm dò, các mạch đồng liên tiếp được khám phá và đến đầu thế kỉ XX, sản lượng đồng khai thác được ở Ashio đã chiếm tới ¼ sản lượng đồng của toàn nước Nhật.

Hoạt động khai thác và chế biến đồng ở núi Ashio với quy mô lớn đã gây ra sự ô nhiễm khủng khiếp suốt từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX trong phạm vi lưu vực sông Watarase thuộc tỉnh Gunma và Tochigi. Hơi độc và mưa a-xít từ hoạt động khai khoáng đã biến khu phố Ashio và vùng núi phụ cận xung quanh thành hoang mạc. Từng vùng đất lần lượt bị mất cây và đổ nát. Đất đai sạt lở từ núi theo nước mưa chảy xuống sống Watarase và tích tụ ở hạ lưu gây nên nạn lụt lớn trên sông Watarase. Cư dân trong vùng lần đầu tiên cảm nhận thấy rõ ràng sự ô nhiễm trên diện rộng ở đây khi thấy một lượng lớn cá Ayu trên sông Watarase bị chết. Tuy nhiên tờ báo đầu tiên đưa tin về hiện tượng này là tờ Asano cũng chỉ viết một cách mập mờ “rất có thể là do việc khai khoáng ở núi Ashio”.

Ngày 31 tháng 10 năm 1885 Báo Shitano đưa tin cây cỏ ở núi Ashio bị chết khô. Cá chết hàng loạt trên sông Watarase và cây cỏ trên núi héo khô là hai sự kiện đầu tiên về vụ ô nhiễm Ashio được đưa tin trên báo. Tiếp theo là sự chết héo trên diện rộng của lúa do trồng trên đất ruộng là nơi trầm tích đất lở từ mỏ đồng. Diện tích đất trồng bị bao phủ bởi thứ đất này ngày một rộng ra do ảnh hưởng của những trận lụt do sông Watarase gây nên. Phạm vi ô nhiễm đã mở rộng ra khỏi khu vực phụ cận sông Watarase.
Năm 1901 ngôi làng Matsugi tiếp giáp với phố Ashio trở thành ngôi làng hoang vì cư dân ở đây không thể chịu nổi khói độc từ mỏ khoáng. Các ngôi làng gần Matsugi cũng dần dần trở thành chốn không người.

Không chịu nổi tình trạng ô nhiễm do mỏ đồng Nishio gây ra, những người nông dân sống trong vùng đã cất tiếng nói đấu tranh. Sát cánh với những người nông dân bất hạnh là Nghị viên Tanaka. Ngay từ rất sớm Tanaka đã nhận ra khuôn mặt gớm ghiếc của mỏ đồng và tương lai không mấy tốt đẹp của những người dân trong vùng. Bất chấp sự nguy hiểm khi phải đối đầu với nhiều thế lực, năm 1896 Tanaka chính thức chất vấn về tính bất chính của mỏ đồng tại quốc hội. Không dừng lại ở đó, ông cùng với những người bạn đã lập ra các văn phòng theo dõi ô nhiễm mỏ đồng tại hai tỉnh Gunma và Tochigi.

Năm 1897 nông dân trong vùng xung quanh mỏ xếp thành hàng dài kéo lên Tokyo để “trần tình”. Hành động này đẩy dư luận lên cao và để đối phó vào tháng 3 cùng năm, Chính phủ Minh Trị cho thành lập “Ủy ban điều tra ô nhiễm mỏ đồng Ashio” và sau đó ban hành một vài sắc chỉ về “phòng trừ ô nhiễm”.

Tuy nhiên tất cả những biện pháp nửa vời và mang tính hai mặt của chính phủ Minh Trị đưa ra trên thực tế đều không đưa lại kết quả gì. Không cam chịu số phận, những nạn nhân của mỏ đồng tiếp tục đấu tranh phản đối việc khai mỏ ở đây. Cuộc đấu tranh quy mô lớn lần 3 nổ ra vào tháng 9 năm 1898 và lần thứ tư bùng phát vào tháng 2 năm 1900. Trong lần thứ tư đã diễn ra xung đột giữa những người nông dân và cảnh sát. Kết quả là có nhiều nông dân bị bắt.

Mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng với quy mô lớn do mỏ đồng Ashio khiến Tanaka đi đến một quyết định mạo hiểm. Năm 1901 Tanaka từ bỏ công việc nghị viên quốc hội để lập kế hoạch trực tiếp gặp thiên hoàng Minh Trị đưa đơn tố cáo. Ông định chặn thiên hoàng Minh Trị trên đường trở về từ phiên khai mạc quốc hội để đưa đơn tố cáo nhưng kế hoạch bất thành. Ông bị cảnh sát bắt, thẩm vấn nhưng đến chiều tối thì được thả.

Sau cố gắng bất chấp nguy hiểm của Nghị viên Tanaka, liên tiếp các đoàn học sinh đã kéo đến đây tham quan học tập, dư luận lên cao và kết quả là vào năm 1902 chính phủ phải thành lập “Ủy ban điều tra ô nhiễm mỏ đồng” lần thứ hai. Ủy ban này vào năm 1903 đã đưa ra kết luận rằng sau khi thực thi sắc chỉ phòng chống ô nhiễm năm 1897 sự ô nhiễm đã giảm đi đáng kể và đưa ra đề án xây dựng “hồ chứa nước thải” quy mô lớn nhằm ngăn chặn thứ nước này tràn ra sông Watarase. Ủy ban cũng kết luận rằng tác hại đối với cây trồng vật nuôi chủ yếu là do hoạt động khai khoáng đã diễn ra từ thời gian trước đó, hoạt động khai khoáng hiện tại không gây ra ảnh hưởng ô nhiễm nào đáng kể bằng chứng là trong vùng đã có vụ lúa bội thu. Tuy nhiên trên thực tế thì không phải vậy. Tanaka trong buổi vừa đi bộ vừa diễn thuyết vào tháng 10 năm 1903 với chủ đề “Vụ lúa bội thu trên vùng đất ô nhiễm” đã khẳng định: “Nguyên nhân được mùa nhất quyết không phải là do tác dụng của các biện pháp phòng tránh. Đó là do trận lụt năm ngoái đã đem đất mới phủ lên vùng đất bị ô nhiễm”.

Năm 1904 khi biết Chính phủ Minh Trị sẽ tiến hành đại dự án xây dựng hồ chứa nước trong vùng và ngôi làng Yutana sẽ nằm dưới lòng hồ, Tanaka quyết định dọn nhà đến sống ở đây. Ông trở thành người lãnh đạo của phong trào đấu tranh đòi đóng cửa mỏ đồng. Tanaka cùng với nông dân trong vùng đặc biệt là nông dân làng Yutana đã đấu tranh quyết liệt chống “sáp nhập” với làng khác, chống “thu mua ruộng đất”, phản đối “cưỡng chế di dời”…Nhưng  những cố gắng của Tanaka đều vô vọng. Năm 1906 toàn bộ ngôi làng bị mua với giá rẻ với lí do khu đất ở đây thuộc danh sách “đất bất hợp pháp”. Trong số 2500 người dân ở đây có trên 100 người bao gồm Tanaka quyết ở lại đến cùng dù đất đã bị bán. Đến năm 1907, chính quyền tỉnh Tochigi cưỡng chế người dân phá hủy các ngôi nhà và cho phá đê làm ngôi làng ngập chìm trong nước. Những người nông dân không khuất phục tiếp tục dựng nhà tạm nán lại trên mảnh đất của mình nhưng đến năm 1917 thì họ cũng phải dời bỏ đến sống ở các khu phố khác. Ngôi làng mang tên Yutana đến đây hoàn toàn xóa sổ.

Năm 1913, Tanaka qua đời tại ngôi làng bị ô nhiễm. Ông chết không để lại tài sản gì ngoài chiếc túi bên trong đựng hiến pháp, kinh thánh và cuốn sổ ghi nhật kí. Đám tang Tanaka có khoảng 5 vạn người nông dân tham dự làm chấn động dư luận nước Nhật.

Sau cuộc hành trình 400 năm, ngọn núi Ashio lại dần trở về nguồn cội. Sau khi mỏ đồng đóng cửa vào năm 1973, những hoạt động khắc phục ô nhiễm và tái bảo tồn thiên nhiên được cấp tập tiến hành. Khu mỏ đồng Ashio cùng với những dấu tích của nó trở thành di sản văn hóa quốc gia vào năm 2007. Năm 2008 dấu tích nhà kho chứa thuốc nổ và khu vực hầm mỏ được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Hồ nước mang tên Yutana có hình trái tim được hoàn thành vào năm 1990 trở thành nơi điều tiết và cung cấp nước cho các thành phố vệ tinh. Màu xanh dần phủ lại nơi này. Vào ngày nghỉ khu vực quanh hồ đã trở thành nơi tiến hành các hoạt động vui chơi ngoài trời, dã ngoại, thể thao. Đoàn tàu trước đó vốn được dùng để chở công nhân vào hầm mỏ và chở quặng ra trở thành phương tiện đưa du khách thưởng ngoạn đường hầm. Những đoạn đường hầm rộng và an toàn nhất được gia cố để đón khách du lịch. Những bức tượng tái hiện cảnh lao động dưới hầm mỏ qua từng thời đại được dựng khắp nơi. Khi dạo trong đường hầm du khách cũng sẽ có cơ hội được tham quan một bảo tàng nho nhỏ nơi ghi lại những bước thăng trầm của mỏ đồng. Ở đó có bộ sưu tập tiền qua từng thời đại, có cảnh phu phen lao động nặng nhọc dưới lòng đất sâu, có những bức ảnh chụp từng đoàn người nông dân trên hành trình đi tìm công lí. Và tất nhiên ở đó có chân dung Tanaka  Shozo với bộ râu dài bạc trắng, vầng trán rộng đầy nếp nhăn và đôi mắt u sầu. Tanaka Shozo cùng với nữ thi sĩ phản chiến Yosano Akiko đã trở thành những nhân vật lịch sử được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều người yêu mến. Tư tưởng và hành động của họ đã vượt rất xa thời đại họ sống. Và cũng bởi sự tiên phong này họ chịu không ít đắng cay. Tanaka Shozo đã đơn độc giữa quốc hội, bị bắt, bị thẩm vấn và chết khi công lý chưa được thực thi. Yosano Akiko không bị bắt như Tanaka  nhưng bị coi là “đồ phản quốc” và trên mặt báo chí đương thời rất nhiều thi sĩ, triết gia công khai kêu gọi đuổi bà ra khỏi nước Nhật. Một vòng quay hoàn hảo của mỏ đồng Ashio cũng như số phận của những nhân vật lịch sử cận đại Nhật Bản: Tanaka Shozo,Yosano Akiko… vừa giống như ví dụ minh họa cho sự trớ trêu của lịch sử vừa là bằng chứng hiển nhiên chứng minh cho sự bất diệt của chân lý.

Nguyễn Quốc Vương 
Trích từ bản thảo “25 nhân vật Nhật Bản”

Saigo Takamori (1827-1877):  Anh hùng trong cuộc Minh Trị duy tân

October 18, 2014 Leave a comment

download (1)

Vào mùa xuân  đất nước Nhật Bản rực rỡ trong sắc hoa anh đào. Bởi hoa anh đào chỉ nở trong vòng có một tuần nên dù bận mấy người Nhật cũng thu xếp thời gian cùng người thân đi ngắm hoa. Nếu bạn đến Tokyo vào mùa hoa anh đào nở, chắc chắn bạn bè người Nhật sẽ gợi ý bạn đến thăm công viên Ueno. Khi dạo bước trong công viên bạn sẽ thấy bức tượng tạc một người đàn ông đi bộ dắt theo con chó. Người đàn ông trong bộ trang phục Nhật Bản đó là Saigo Takamori-người anh hùng của Minh Trị duy tân.

Saigo Takamori sinh năm 1827, là con của một võ sĩ ở phiên Satsuma (nay là tỉnh Kagoshima). Ông là con trai cả trong gia đình có 6 anh chị em gồm 4 nam hai nữ. Khi còn nhỏ Saigo Takamori được gọi là “Saigo lớn” để phân biệt với em trai là Saigo  Tsugumichi. Thời niên thiếu Saigo tỏ ra không có gì đặc biệt trái lại ông thường bị bạn bè bỏ rơi, trêu chọc do chậm chạp và ít nói. Lớn lên Saigo trở thành chàng thanh niên có thân hình cường tráng, mắt to, vai rộng. Saigo đặc biệt yêu thích môn vật Sumo và thích đi dạo một mình trong núi. Thói quen này về sau đã được Saigo duy trì suốt cả cuộc đời. Ông cũng say mê đọc các cuốn sách của học giả người Trung Quốc Vương Dương Minh. Người ta nói rằng những câu văn ông viết sau này đã thể hiện ít nhiều ảnh hưởng những gì ông đọc được thời trai trẻ. Ông cũng có hứng thú với tư tưởng Thiền của Phật giáo.

Trong số các nhân vật lãnh đạo phong trào Duy tân sau này, Saigo là nhân vật duy nhất không mấy quan tâm đến văn hóa phương Tây. Tư tưởng tiến bộ của Saigo có được đều là từ các giá trị văn hóa phương Đông. Uchimura Kanzo trong cuốn sách “Những người Nhật Bản tiêu biểu” (xuất bản năm 1908) đã nhận định tư tưởng nhất quán của Saigo có thể khái quát lại ở hai điều: một là thống nhất quốc gia và hai là chinh phục Đông Á.

Trong cuộc đời trai trẻ, Saigo Takamori chịu ảnh hưởng lớn  từ hai nhân vật lịch sử:  Shimazu  Nariakira (phiên chủ của Satsuma) và Fujita Toko (phiên chủ Mizuto).

Shimazu Nariakira là người trầm tĩnh, có năng lực quan sát tốt và ngay từ sớm ông đã nhận ra cần phải cải cách Nhật Bản. Ông nhận thức được nguy cơ và thực thi một loạt cải cách trong lãnh địa của mình. Ông cũng là người tiến hành phòng thủ chống lại sự công phá của người Anh năm 1863 ở Kagoshima và là người mạnh dạn đón tiếp trọng thể người Pháp lên bờ. Shimazu Nariakira là người có sức hấp dẫn lớn đối với Saigo, thủ hạ dưới quyền. Từ đó cho tới mãi về sau Saigo luôn giữ niềm kính trọng đối với ông. Trái ngược với Shimazu Nariakira, phiên chủ Fujita Toko lại là người nhiệt tâm, sôi nổi. Khi Saigo Takamori tìm gặp Fujita Toko, ông đã nói với đệ tử xung quanh rằng: “Người truyền đến đời sau cái chí trong tâm óc ta không phải ai khác chính là thanh niên này”.

Sau khi gặp Fujita Toko ở Edo trở về,  Saigo tham gia vào thế lực đảo Mạc hàng đầu khi đó ở tây Nhật Bản. Trong thời gian này Saigo Takamori được nhà sư Getsuko, một người chống Mạc phủ, yêu cầu bảo vệ khỏi sự truy sát tàn bạo của quân Mạc phủ. Saigo nhận lời nhưng rồi khi biết không thể nào bảo vệ nổi nhà sư, Saigo đã cùng với nhà sư nhảy xuống biển vào đêm trăng sáng. Gia nhân vớt được cả hai người nhưng chỉ có Saigo Takamori giữ được tính mạng.

Sau cuộc tấn công pháo kích của hạm đội Anh năm 1863, Saigo trở lại Kagoshima và phục hoạt phong trào chống Mạc phủ tuy nhiên lần này ông thận trọng hơn. Với vai trò trung gian của Saigo, Mạc phủ Tokugawa và  phiên Choshu đã đạt được sự hòa giải. Tuy nhiên một năm sau thì quan hệ này bị  phá vỡ và Mạc phủ tiến hành “chinh phạt Choshu”. Phiên Satsuma dưới sự chỉ huy của Saigo đã từ chối lệnh cử binh tham gia chinh phạt. Chính sách của Satsuma vào thời điểm này đã mang ý nghĩa quyết định đối với cuộc cách mạng Duy tân về sau và là điểm xuất phát cho “liên hợp Satsuma-Choshu” nổi tiếng. Khi quân chinh phạt thất bại toàn diện, sự suy sụp của chính quyền Mạc phủ đã đến rất nhanh và đó là thời cơ cho lực lượng tiến bộ lấy danh nghĩa thiên hoàng hành động.

Năm 1868, quân đội thiên hoàng tiến từ Kyoto về Edo (Tokyo) để tiến hành trận tiến công cuối cùng tiêu diệt chế độ Mạc phủ Tokugawa đã kéo dài 260 năm. Những người ủng hộ thiên hoàng muốn tiến hành một cuộc tổng công kích  ngày 15 tháng 3 vào Edo  nơi Tokugawa đang ở. Tổng tư lệnh lúc đó là Saigo.

Nước Nhật kể từ năm 1603 tồn tại một thứ chính quyền kép. Thiên hoàng ở Kyoto được coi như là nguyên thủ quốc gia nhưng không có thực quyền. Quyền lực thực sự nằm trong tay tướng quân của dòng họ Tokugawa đóng ở Edo. Chế độ Mạc phủ với chính sách bế quan tỏa cảng, phân biệt sĩ nông công thương được thiết lập và duy trì. Tuy nhiên vào nửa sau thế kỉ 19, Mạc phủ Edo bị Mĩ, châu Âu  gây áp lực đòi mở cửa các cảng biển cho họ vào  giao thương buôn bán. Cùng thời gian đó, ở Nhật Bản cũng xuất hiện lực lượng ủng hộ hiện đại hóa đất nước. Thế lực ủng hộ hiện đại hóa đất nước này kết lại thành liên minh lấy trung tâm là Satsuma (quê hương của Saigo và hiện nay là tỉnh Kagoshima) và Choshu (hiện nay là tỉnh Yamaguchi).

Trước đó một năm, Tokugawa Yoshinobu người được chọn làm tướng quân (Shogun) đã dự cảm được tình hình nên đột nhiên trao trả quyền lực cho thiên hoàng. Yoshinobu cũng mong mỏi việc hiện đại hóa Nhật Bản trong khi duy trì ảnh hưởng của gia đình Tokugawa. Tuy nhiên, những người lãnh đạo của Satsuma và Choshu bao gồm Saigo tuyên bố rằng sẽ không thể có việc hiện đại hóa đất nước nếu dòng họ Tokugawa không bị đánh đổ hoàn toàn. Những người này đứng đầu là Saigo đã tích cực chuẩn bị cho một cuộc tổng công kích vào Edo. Để đối phó, Mạc phủ dự định sẽ nổi lửa thiêu rụi thành phố Edo nếu lực lượng đối lập tiến vào.

Katsu Kaishu, người thống lĩnh quân đội của Mạc phủ cảm thấy e sợ về tình huống này. Ông yêu cầu thủ hạ là Yamaoka Teshu đưa một lá thư tới tay Saigo trong đó đưa ra những điều kiện của việc đầu hàng. Bất chấp hiểm nguy, Teshu, một kiếm sĩ  của  phái Thiền,  đã  tiến về phía kẻ địch để gặp Saigo. Cảm phục sự dũng cảm của ông, Saigo đã gặp mặt Teshu tại khu dinh thự ở Shinagawa (Tokyo) vào ngày 14 tháng 3, chỉ một ngày trước cuộc tổng công kích đã định.

Katsu  đã  thuyết phục Saigo bằng câu nói: “Người của Satsuma hay người của Tokugawa thì cũng đều là người Nhật cả. Việc giết hại lẫn nhau sẽ không đem lại điều gì”. Saigo chấp nhận yêu cầu của Katsu. Yoshinobu dời khỏi Edo yên bình và Edo  được bảo vệ nguyên vẹn.

Sau đó Saigo trở thành thành viên của chính phủ Minh trị. Ông chủ trương “chinh phục” Triều Tiên nhưng những viên chức cấp cao khác trong chính phủ như Iwakura Tomomi, Okubo Toshimichi… phản đối. Bất mãn Saigo từ chức và trở về quê hương Kagoshima. Ở đó ông mở một ngôi trường và dạy con trai của những người vốn là Samurai.

Năm 1877, các Samurai của Kagoshima, những người bất mãn với chính quyền Minh trị nổi dậy. Saigo được mời làm thủ lĩnh để đánh lại lực lượng của chính quyền. Cuộc chiến tranh này được sử sách gọi là “Cuộc chiến tranh Tây Nam”. Quân đội của Saigo bị đánh bại và ông tự sát. Khi ấySaigo   50 tuổi.

Xuất thân là võ sĩ lại nắm giữ những chức vụ cao đầy quyền lực như Đại tướng lục quân, Tổng chỉ huy cấm vệ quân ở kinh thành nhưng Saigo là người vô cùng giản dị. Từ trang phục cho đến thói quen sinh hoạt ông vẫn duy trì như khi còn là một võ sĩ bình thường. Trang phục Saigo mặc là trang phục của Satsuma. Ông thường mặc áo bông sợi và đi guốc thường. Lương tháng ngoài phần chi dùng cho bản thân ông đem giúp đỡ bạn bè, những người khó khăn. Không chỉ không quan tâm đến trang phục bên ngoài Saigo cũng không quan tâm đến tài sản. Ông đã từng sở hữu miếng đất tốt ở khu phố buôn bán Tokyo nhưng rồi lại bán lại cho nhà nước xây ngân hàng. Có người hỏi ông về giá cả miếng đất, ông chán bỏ đi không cả buồn nghe.

Trong cuộc đời mình Saigo có một thú vui nho nhỏ là chăm sóc chó. Mọi thứ tặng, biếu Saigo đều từ chối riêng thứ gì có liên quan đến chó thì ông vui vẻ nhận. Người ta nói rằng khi ông trao ngôi nhà ở Tokyo cho chủ mới người ta thấy ở đó có chiếc hộp đựng đầy các bức tranh vẽ chó. Trong một bức thư gửi cho nguyên soái Oyama, Saigo đã viết rất kĩ về vòng cổ chó: “Cảm ơn nguyên soái đã cất công gửi cho tôi mẫu vòng cổ chó. Tôi đã xem thấy nó tốt hơn cả đồ nhập khẩu. Nhưng giá như nó dài hơn độ 3 tấc thì đúng với thứ tôi mong đợi. Mong nguyên soái sẽ chế tạo cho tôi 4, 5 chiếc. Thêm nữa, làm ơn nới rộng ra và làm dài thêm 5 tấc”.

Saigo giỏi về quân sự nhưng không giỏi tranh cãi, biện luận. Người ta kể rằng có lần Saigo được mời vào dự yến ở trong cung. Ông vào đó trong bộ trang phục bình thường. Tiệc gần tan ông muốn về nhưng không tìm thấy đôi guốc ông đã tháo ra để ở cửa ra vào. Không muốn làm phiền ai Saigo để chân trần đi dưới mưa. Khi đến cửa thành Saigo bị lính cấm vệ gọi lại và hỏi xem ông là ai. Lính canh có ý nghi ngờ vì trông ông quá giống người bình thường. Ông đáp: “Đại tướng Saigo”. Nhưng lính canh không tin điều đó và không cho ông qua. Saigo đã đứng đợi ở đó dưới mưa chờ xem có ai đó quen có thể chứng nhận thân phận của ông đi qua. Cuối cùng thì xe ngựa của Bộ trưởng Iwakura Tomomi cũng đi qua gần đó. Kết cục ông được lính gác  công nhận lên xe ngựa ra ngoài.

Trong nhà Saigo có người hầu nam tên là Kumayoshi, nhân vật thân thiết với gia đình do phục vụ lâu năm. Người này đã kể về đời sống riêng tư của Saigo như sau: “Tôi đã sống cùng chủ nhân suốt 13 năm nhưng chưa lần nào thấy ông chủ quở mắng người hầu. Đại thể những việc quanh mình như thu dọn chăn đệm, mở cửa chủ nhân đều tự làm lấy. Tuy nhiên cũng chưa bao giờ thấy ông từ chối việc người khác có ý giúp mình. Cũng không bao giờ thấy ông từ chối lời đề nghị giúp đỡ của người khác. Tôi có cảm giác chủ nhân giống như một đứa trẻ ngây thơ và hồn nhiên vậy”.

Saigo không để lại cuốn sách nào nhưng những lời ông nói ở thời điểm này khác và những bài thơ ngắn vẫn được lưu lại. Có lần ông đã từng nhận xét: “Người không cần sinh mạng, không cần danh, không cần địa vị, không cần tiền là người khó đối đãi nhất. Nhưng cũng chính những người như thế mới có thể đi cùng với gian khó của cuộc đời. Và nữa cũng chính những người như thế sẽ là những nhân vật có thể cống hiến vĩ đại cho quốc gia”. Saigo  cũng  là người biết coi trọng người tài khi cho rằng: “Cho dù có luận bàn về chế độ hay phương pháp thế nào đi nữa mà không có người vận hành nó thì cũng hỏng. Trước hết phải là con người sau đó là hoạt động của phương pháp. Chính con người là vốn quý nhất và chúng ta cần phải nỗ lực trở thành những con người đó”.

Saigo là võ tướng nhưng cũng thích làm thơ. Thơ ông thường rất giản dị. Ví dụ như bài thơ dưới đây được Uchimura Kanzo dẫn ra trong cuốn sách “Những người Nhật Bản tiêu biểu” phần viết về Saigo:

“Ta có ngàn sợi tóc

Đen hơn mực

Ta có một trái tim

Trắng hơn mây

Cho dẫu tóc có thể cắt

Trái tim không thể nào cắt được”.

Hoặc một bài thơ khác:

Đường chỉ có một “đúng hay sai”

Trái tim thường như sắt thép

Nghèo khó tạo ra vĩ nhân

Công lao sinh ra trong khổ nạn

Và đây là một bài thơ khác ông viết về cảnh trong núi, nơi ông thường đi dạo:

 “Đất cao

Núi sâu

Đêm yên tĩnh

Không nghe thấy tiếng người

Chỉ nhìn chằm chằm vào chốn thinh không”.

Saigo  cũng là người từng đưa ra định nghĩa về văn minh vô cùng độc đáo: “Văn minh là việc mở ra và thực thi chính nghĩa. Nó không phải là nhà cửa hoành tráng, trang phục hoa mĩ và bề ngoài đẹp đẽ”.

Nguyễn Quốc Vương
Trích từ bản thảo “25 nhân vật lịch sử Nhật Bản”

Những nan đề của nước Nhật đương đại  

October 18, 2014 1 comment

Có nhiều bạn ấm ức rằng sao tôi cứ so sánh Việt Nam-Nhật Bản làm gì cho tủi thân và có bạn đáng yêu hơn bảo ” bạn ấy cuồng Nhật Bản nên với bạn ý cái gì của Nhật Bản cũng tốt”. Hehe. Chắc các bạn không đọc kĩ chứ trên blog của tôi những bài tôi dịch từ Hiragana times có nhiều bài người Nhật viết về “người Nhật xấu xí” vô cùng đanh đá!

Thể theo yêu cầu của các bạn, tôi sẽ tạm liệt kê ra đây những vấn đề mà nước Nhật đương đại đang phải đối mặt. Khi trò chuyện thân tình với người Nhật-nhất là những thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, họ thường nửa đùa nửa thật nói rằng: “Tôi rất yêu mến Việt Nam nên vì thế Việt Nam làm sao đừng trở thành như thế”.

Mỗi một vấn đề có thể cần đến một bài phân tích dài, với số liệu thống kê thực chứng nhưng ở đây tôi chỉ phác vài gợi ý kèm từ khóa trong tiếng Nhật để bạn nào quan tâm có thể tự tìm hiểu. Các số liệu thống kê các bạn có thể tìm ở phần “sách trắng” và “dữ liệu thống kê” trên các trang web của các bộ và văn phòng chính phủ Nhật Bản.

  1. Già hóa dân số(tiếng Nhật gọi là 高齢化、少子化).
    Biểu hiện rõ nhất của già hóa dân số là tỉ lệ sinh suy giảm, tỉ lệ người già tăng lên. Vấn đề này xuất hiện ở Nhật Bản từ lâu và ngày càng trầm trọng. Nó gây ra rất nhiều hệ lụy và tạo nên vòng luẩn quẩn: thiếu lao động, gia tăng gánh nặng tiền lương hưu và phúc lợi xã hội, suy giảm sức mua làm kinh tế trì trệ, hoang phế hóa các khu dân cư, đặt áp lực lên các thiết chế xã hội phải thích ứng với …người già. Rõ nhất có thể thấy là Nhật Bản phải sử dụng lực lượng lao động người nước ngoài bao gồm cả tu nghiệp sinh để bù đắp sự thiếu hụt lực lượng lao động trẻ. Chính sách về nhập cư để “hoa kỳ hóa” Nhật Bản đã được bàn thảo nhưng vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn. Rất nhiều trường học phải đóng cửa vì thiếu…học sinh…
    Nước Nhật đang lúng túng với vấn đề này vì để giải quyết phải có những chính sách liên hoàn, hệ thống và lâu dài.
  2. “Quá mật hóa” và “hoang phế hóa” (過密問題、過疎問題)

“Quá mật hóa” hiểu một cách đơn giản là hiện tượng dân số tập trung mạnh và nhanh với số lượng lớn ở các đô thị gây nên một loạt hệ lụy khác về kinh tế, xã hội, môi trường.

Ngược lại “hoang phế hóa” là hiện tượng dân số của địa phương nào đó suy giảm mạnh làm cho các chức năng kinh tế, xã hội…của nơi đó trì trệ và rơi vào khủng hoảng.

Hai hiện tượng này có liên quan rất chặt chẽ đến chính sách phát triển kinh tế vĩ mô và quy hoạch đô thị. Hiện tượng dân cư nông thôn đổ về thành phố kiếm sống sẽ gây ra cả hai hiện tượng trên.

  1. “Xã hội vô duyên” (無縁社会)

Đây là hiên tượng được diễn tả bằng thuật ngữ khá khó dịch sang tiếng Việt. Đây là hiện tượng các hộ độc thân tăng lên và mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên hời hợt. Thuật ngữ “xã hội vô duyên” là một từ mới được sinh ra và được sử dụng lần đầu tiên trong chương trình truyền hình của NHK năm 2010. Từ “duyên” ở đây có lẽ được dùng với nghĩa chỉ sợi dây liên hệ giữa con người với con người.

Hiện tượng xã hội này có liên quan mật thiết với hiện tượng kết hôn muộn (bankon) và già hóa dân số.

Nhịp sống xã hội công nghiệp và lối sống hiện đại cũng góp phần tạo nên nó. Ozaki Mugen trong “Cải cách giáo dục Nhật Bản” đã từng nhận định rằng “công nghiệp hóa” và “cá nhân hóa” là hai dòng chảy cơ bản của xã hội Nhật Bản từ thời cận đại.

Trong dòng chảy đó mối quan hệ giữa con người với con người trở nên “mỏng đi” và bị bao vây bởi sự “cô độc”. Mối quan hệ gia đình cũng bị phá vỡ khi con cái không sống cùng cha mẹ khi trưởng thành, các chức năng kinh tế, giáo dục, tôn giáo của gia đình chuyển sang cho các tổ chức khác. Những khó khăn của nền kinh tế, sự sụp đổ của chế độ tuyển dụng suốt đời, sự bảo vệ thông tin-quyền riêng tư nghiêm ngặt đã tạo nên những mối quan hệ “khách sáo” và “xa cách”.

“Xã hội vô duyên” là thủ phạm trực tiếp của nạn tự sát (Nhật Bản mỗi năm có khoảng 3 vạn người tự sát). Theo dõi truyền hình Nhật thì thấy rất nhiều trường hợp tự sát là trong lúc khó khăn thiếu người “đồng cảm”, “chia sẻ”….

……………

p/s: Dường như thiên đường mơ ước là một cái gì đó cộng giữa Nhật Bản và Việt Nam. Nhưng theo tôi hiểu đó không phải là một phép cộng số học đơn thuần.

%d bloggers like this: