Archive

Archive for November, 2014

Ý nghĩa của cơ chế ‘một chương trình, nhiều sách giáo khoa’

November 28, 2014 Leave a comment
Bộ giáo dục thay vì lo lắng biên soạn sách giáo khoa thì hãy tập trung vào 2 việc chính: biên soạn chương trình khung và thành lập Hội đồng thẩm định sách giáo khoa với quy chế thẩm định cụ thể.

Chủ trương thực hiện “một chương trình – nhiều sách giáo khoa (SGK)”của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một quyết định hợp lý, góp phần đưa giáo dục Việt Nam xích lại gần dòng chảy của giáo dục thế giới.

Tuy nhiên, khi quan sát những tranh luận đang diễn ra xung quanh việc thực hiện quyết định này, tôi nhận ra rằng bài toán cơ chế trên vốn đã được thế giới giải quyết từ thời cận đại  nhưng ở Việt Nam dường như nó vẫn đang là một bài toán khó.

Từ kinh nghiệm của giáo dục Nhật Bản, tôi cho rằng để giải quyết bài toán cần phải lý giải được ý nghĩa sâu xa của việc thực hiện cơ chế này.

Hai công việc Bộ giáo dục cần làm

Cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” ở Nhật Bản được gọi ngắn gọn là cơ chế “kiểm định SGK”. Cơ chế này cho phép nhiều nhà xuất bản tư nhân và tác giả được tham gia vào quá trình biên soạn và xuất bản sách giáo khoa.

Bản thảo các SGK sau khi hoàn chỉnh sẽ được trình lên Hội đồng thẩm định của Bộ Giáo dục. Những bản thảo đạt tiêu chuẩn sẽ được công nhận và xuất bản trở thành SGK. Ủy ban giáo dục ở các địa phương, hiệu trưởng các trường phổ thông… sẽ lựa chọn cho địa phương, trường mình những cuốn sách phù hợp.

Cơ chế trên được thực hiện từ sau năm 1945 trong công cuộc tái thiết Nhật Bản thời hậu chiến.

Trong cơ chế này Bộ giáo dục Nhật Bản chỉ làm hai việc:

Một là tổ chức biên soạn ra văn bản gọi là “hướng dẫn học tập”. Đây là văn bản nêu tóm tắt về mục tiêu, nội dung và phương pháp tổ chức học tập đối với từng cấp học cũng như từng môn học ở trường phổ thông.

Văn bản hướng dẫn học tập theo cách gọi của Việt Nam có thể được gọi là “chương trình khung”. Ngoài phần trích dẫn mục tiêu giáo dục tổng quát được dẫn lại từ “Luật giáo dục cơ bản”, “Luật giáo dục trường học”, nội dung học tập và phương pháp tổ chức học tập ở đây được nêu ra rất vắn tắt và chỉ mang tính chất gợi ý.

Trong những bản hướng dẫn học tập đầu tiên trước năm 1950, Bộ giáo dục Nhật Bản luôn nhấn mạnh rằng đây chỉ là một phương án tham khảo. Trên bìa bản hướng dẫn học tập có ghi rõ chữ “tham khảo”.

Từ năm 1950 trở lại đây, Bộ giáo dục Nhật Bản có xu hướng tăng cường tính bắt buộc của văn bản này nhưng nó vấp phải sự phản đối của các giáo viên và trên thực tế nó cũng chỉ được giáo viên coi là một phương án tham khảo.

Cho đến nay ở Nhật Bản, cứ khoảng 10 năm bản hướng dẫn học tập lại được sửa đổi một lần để cập nhật những lý luận, nội dung mới. Bản hiện hành được ban hành tháng 3/2008. Như vậy, với Việt Nam, việc quan trọng Bộ giáo dục cần làm là tìm kiếm các chuyên gia có khả năng để thảo ra một “chương trình khung” có tính chiến lược (ít nhất là 10 năm) và có tính thuyết phục cao.

Hai là tổ chức và điều hành Hội đồng thẩm định SGK. Cơ chế kiểm định SGK chấp nhận sự cạnh tranh bình đẳng của các bản thảo từ nhiều nhà xuất bản vì vậy vai trò của Hội đồng kiểm định là rất lớn.

Sự khách quan và công tâm của Hội đồng này ở Việt Nam cần được quy định rõ ràng và hoạt động của nó phải luôn được giám sát chặt chẽ. Theo kinh nghiệm từ Nhật Bản, thành viên của Hội đồng nên bao gồm các đại diện đến từ giới xuất bản, hành chính giáo dục, giáo sư đại học, nhà nghiên cứu, giáo viên phổ thông, nhà báo…

Tóm lại, để việc thực hiện cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” không gặp trở ngại và có hiệu quả, Bộ giáo dục thay vì lo lắng biên soạn SGK hãy tập trung vào hai công việc chính: biên soạn chương trình khung và thành lập Hội đồng thẩm định sách giáo khoa với quy chế thẩm định cụ thể.

tuan-le-sach-12-1651-1417060190.jpg

Cơ chế ‘một chương trình- nhiều sách giáo khoa’ vẫn đang là một bài toán khó tại Việt Nam.

Ý nghĩa sâu xa của việc thực hiện  cơ chế “một chương trình – nhiều SGK”

Một khó khăn lớn đặt ra cho giới làm giáo dục nước ta khi tiếp cận và thực thi “một chương trình – nhiều SGK” là  thiếu bề dày kinh nghiệm và nền tảng lý luận.

Theo dõi các tranh luận xung quanh chủ đề này, có thể dễ dàng nhận ra rằng rất ít người lý giải và nhận thức sâu sắc rằng mục đích thuộc về bản chất của cơ chế trên là nhằm xác lập và thúc đẩy các thực tiễn giáo dục của các giáo viên ở hiện trường. Vậy thì thực tiễn giáo dục là gì?

Có thể hiểu một cách đơn giản rằng thực tiễn giáo dục là tất cả những gì người giáo viên thiết kế, tiến hành và thu được ở hiện trường giáo dục. Các thực tiễn giáo dục này là kết quả nghiên cứu chuyên môn tâm huyết, tự chủ và sáng tạo của các giáo viên trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu giáo dục, chương trình khung, SGK, tình hình thực tế của nhà trường, học sinh.

Thực tiễn giáo dục có thể không hoàn toàn trùng khớp hay chỉ là sự minh họa, diễn giải những gì được trình bày trong SGK. Nói một cách ngắn gọn nó là sản phẩm của sự sáng tạo mang đậm dấu ấn của người thầy, của ngôi trường mà người thầy đang dạy học.

Để dễ hiểu xin lấy một ví dụ. Ở Nhật Bản trong bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội tiểu học” có chỉ đạo giáo viên phải sử dụng các tư liệu, số liệu thống kê giúp học sinh lớp 4 hiểu được những vấn đề nông nghiệp Nhật Bản  hiện đại đang đối mặt.

Các bộ SGK đương nhiên có phần bài viết với những số liệu thống kê về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi giáo viên tùy theo tình hình thực tế ở địa phương và khả năng của mình mà thiết kế và thực thi các “thực tiễn giáo dục khác nhau”.

Ví dụ như cô Kawasaki, một giáo viên tiểu học ở Osaka,  khi dạy chủ đề này đã điều tra thực tế  nông nghiệp địa phương và thiết kế một chủ đề  học tập có tên “Hai nông gia chuyên nghiệp: ông Fujita và ông Naito”.

Cô Kawasaki đã phỏng vấn ông Naito, một nông gia có tiếng ở thành phố Takatsuki nơi trường đặt, thu thập các thông tin cần thiết để tổ chức cho học sinh tìm hiểu về mối quan hệ giữa “thực phẩm” và nông dược” rồi tranh luận về hai phương thức sản xuất của ông Naito (không dùng nông dược) và ông Fujita (dùng nông dược).

Như vậy, bằng việc sử dụng các thông tin thu thập được từ thực tế địa phương, giáo viên đã thiết kế và thực hiện “thực tiễn giáo dục” của mình thay vì truyền giảng, thuyết minh lại các tri thức trong sách giáo khoa.

 Ở đây, sách giáo khoa trở thành một trong những tư liệu tham khảo giúp học sinh điều tra thông tin và sử dụng làm căn cứ khi tranh luận. Từ chỗ giúp học sinh hiểu sâu sắc về tình hình nông nghiệp địa phương mình sống qua một trường hợp điển hình, học sinh sẽ hiểu được tình hình của toàn bộ nền nông nghiệp nước Nhật.

Nói một cách khác “thực tiễn giáo dục” là nơi thể hiện hài hòa nhất mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục với chương trình, SGK và giáo viên. Tiêu chí hàng đầu để đánh giá và phê bình các thực tiễn giáo dục chính là mục tiêu triết lý giáo dục được luật hóa.

Cần khuyến khích các thực tiễn giáo dục

Cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” về bản chất là sự xác nhận tính tương đối của chân lý và sự đa dạng của phương cách tiếp cận chân lý. Các thực tiễn giáo dục sẽ là linh hồn của cơ chế này. Thiếu vắng các thực tiễn giáo dục, cơ chế này sẽ không phát huy được tác dụng và mất hết ý nghĩa.

Thực tiễn giáo dục sẽ là thứ thúc đẩy sự sáng tạo, tự chủ và tinh thần tự do truy tìm chân lý của giáo viên. Người giáo viên giờ đây không đơn thuần là người đọc hiểu các tri thức được viết trong sách giáo khoa và truyền đạt lại nó cho học sinh. Giáo viên sẽ phải nghiên cứu  thực sự để  tìm  cách “chuyển hóa” các nội dung giáo dục sang dạng trung gian là các tư liệu hoặc số liệu thực tế để học sinh  trải nghiệm, nghiên cứu, lý giải từ đó hình thành ở học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết.

Những người làm quản lý giáo dục cần nhận thức rõ điều này để tạo điều kiện tốt cho giáo viên tự chủ, tự do tiến hành các thực tiễn giáo dục. Những thực tiễn giáo dục này sau đó cần được chính bản thân giáo viên thực hiện tổng kết lại.

Những thực tiễn được tổng kết sẽ trở thành nguyên liệu quý phục vụ nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm chuyên môn. Những thực tiễn có chất lượng cần được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành để đồng nghiệp xa gần và giới nghiên cứu phản biện, góp ý…

Sự tiến hành liên tục và sáng tạo của hàng nghìn, hàng triệu giáo viên tạo ra các thực tiễn giáo dục phong phú  ở tất cả các môn học trên toàn quốc sẽ tạo ra cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên, góp phần quan trọng làm nên thành công của cải cách giáo dục.

Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: VNEXPRESS

Advertisements

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (VII)

November 25, 2014 Leave a comment

Năm 2011 (năm Heisei thứ 23)  

Đây là bản “Hướng dẫn học tập” lần thứ 8 kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Nó không thực hiện giáo dục yutori hay nhồi nhét mà thực hiện giáo dục năng lực sống –là năng lực cân bằng giữa tri thức, đạo đức, thể lực. Người ta cũng gọi là “Thoát yutori”.
Bộ trưởng bộ giáo dục đương thời là Nakayama Nariaki vào năm 2005 đã yêu cầu sửa đổi toàn diện bản “Hướng dẫn học tập” trước đó trong hội nghị thẩm định giáo dục trung ương liên quan đến vấn đề suy giảm học lực. Tiếp nhận điều này năm 2007 Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương đã công bố “Báo cáo” cho dù còn nhiều vẫn đề tồn tại. Bộ giáo dục trên cơ sở báo cáo đã nhấn mạnh giáo dục “năng lực sống” thay cho “yutori” hay “nhồi nhét” trong bản “Hướng dẫn học tập”, bao gồm giáo dục các tri thức, kĩ năng cơ bản, năng lực tư duy, năng lực phê phán, năng lực biểu hiện.

Bản “Hướng dẫn học tập” dành cho trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được công bố năm 2008. Bản “Hướng dẫn học tập” dành cho mầm non được thực hiện vào năm 2009 (năm Heisei thứ 21), ở tiểu học được thực hiện vào năm 2011 (năm Heisei 23), ở THCS năm 2012 (năm heisei 24).

Năm 2009 bản “Hướng dẫn học tập” THPT được công bố và được thực hiện từ năm 2013 (năm Heisei 25) từ năm thứ nhất (lớp 10) (một bộ phận nội dung đã được thực hiện từ 2010).
Kể từ năm 1980 số giờ học có xu hướng giảm nhưng lần này lại bắt đầu tăng lên. Tổng số giờ học dành cho 6 năm tiểu học tăng thêm 278 giờ thành 5645. Tổng số giờ học ở THCS tăng thêm 105 giờ nâng tổng số lên 3045.

Số giờ dành cho Thời gian học tập tổng hợp mới được thiết lập ở bản “Hướng dẫn học tập” trước đó được cắt giảm phần lớn và tổng số giờ học dành cho 5 môn chủ yếu (Quốc ngữ, Sô học-Toán học, Khoa học, Xã hội, Tiếng Anh)  cùng Sức khỏe-thể dục tăng lên.
Thiết lập “Hoạt động ngoại ngữ” ở lớp 5, lớp 6 tiểu học. Ở trường THPT đổi tên tiếng Anh I, II thành “Oral Communication I, II”, “Reading”, “Writing” trở thành “Tiếng Anh giao tiếp I. II.III. Cơ bản” và về nguyên tắc giờ học được tiến hành bằng tiếng Anh.

Các nội dung ở Toán học-Số học, Khoa học… vốn bị cắt giảm trước đó giờ được phục hồi. Tăng cường giáo dục văn hóa truyền thống (cổ văn, di sản văn hóa, võ thuật..)
Từ tháng 4 năm Heisei 24 (2012) trong môn Thể dục ở THPT  Võ thuật  và Khiêu vũ trở thành bắt buộc với cả nam và nữ. Về võ thuật theo nguyên tắc học sinh được chọn trong số Judo, Kiếm đạo, Sumo. Phần lớn các trường chọn Judo nhưng cũng có trường chọn các môn khác.

Tháng 11 năm 2010, cùng với việc  cải cách bảng Hán tự thường dụng, một phần trong nội dung liên quan tới “cách đọc”chữ Hán của quốc ngữ trong “Hướng dẫn học tập THCS”  được sửa đổi.

Tháng 1 năm 2014 nhằm tăng cường giáo dục về vai trò của các cơ quan có liên quan trong việc phòng chống thiên tai và giáo dục về lãnh thổ Nhật Bản , một bộ phận trong “Giải thích bản Hướng dẫn học tập THCS” môn Xã hội và một bộ phận trong “Giải thích Hướng học tập THPT” môn Công dân được sửa đổi.
Về lãnh thổ, trong môn học thuộc lĩnh vực địa lý đã ghi rõ “Takeshima là lãnh thổ của Nhật Bản, hiện tại đang bị Trung Quốc chiếm giữ một cách bất hợp Pháp vì vậy (chúng ta) đang tiếp tục tiến hành phản đối Hàn Quốc” và “Senkakuto là lãnh thổ của Nhật Bản và hiện tại Nhật Bản đang quản trị hữu hiệu, vấn đề quyền sở hữu cần giải quyết là không tồn tại”.

Ngoài ra ở môn học-lĩnh vực Lịch sử cũng  viết “Nhật Bản có quá trình sáp nhập Takeshima, Senkakuto vào lãnh thổ một cách chính thức, dựa trên căn cứ chính đáng của luật pháp quốc tế”.

Trong môn học-lĩnh vực Công dân, cũng đưa thêm vào nội dung làm sâu sắc lý giải về việc “ vấn đề lãnh thổ còn tồn tại chưa giải quyết liên quan đến Takeshima-lãnh thổ của Nhật Bản”, đề cập đến lập trường của Nhật Bản….

Về thảm họa thiên nhiên, trong môn học-lĩnh vực Địa lý cũng đưa vào nội dung Nhật Bản là nơi thường xảy ra các thiên tai đa dạng như động đất lớn , điển hình là Động đất Đông Nhật Bản, bão..  các tổ chức có liên quan như phòng hỏa, cảnh sát, cảnh sát biển, quân phòng vệ và các đoàn thể địa phương, nhà nước cùng người dân, người tình nguyện đã tiến hành các hoạt động cung cấp thông tin, cứu trợ người bị bạn, điều hành các nơi sơ tán nhằm bảo vệ tính mạng và sự an toàn của người dân.

Trường Phân loại  môn giáo khoa   Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Đời sống, Âm  nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức, hoạt động ngoại ngữ, Thời gian học tập tổng hợp, Hoạt động đặc biệt (hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ trường học)
Trung học cơ sở Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật-gia đình, Ngoại ngữ (các trường triển khai các môn tự chọn cho học sinh lựa chọn) Đạo đức, Thời gian học tập tổng hợp, Hoạt động đặc biệt (hoạt động cấp lớp, nghi lễ trường học)
Trung học phổ thông  Giáo khoa chung cho các khoa Quốc ngữ Quốc ngữ tổng hợp, Cấu trúc quốc ngữ, Văn hiện đại A, Văn hiện đại B, Cổ điển A, Cổ điển B Thời gian học tập tổng hợp, Hoạt động đặc biệt (hoạt động homeroom, hoạt động hội học sinh, nghi lễ trường học)
Địa lý-Lịch sử Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B, Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Địa lý A, Địa lý B
Công dân Xã hội hiện đại, Luân lý, Kinh tế-chính trị
Toán học Toán học I, Toán học II, Toán học III, Toán học A, Toán học B, Toán học ứng dụng
Khoa học Khoa học và đời sống con người, Vật lý cơ sở, Vật lý, Hóa học cơ sở, hóa học, Sinh vật cơ sở, Sinh vật, Địa học cơ sở, Địa học, Nghiên cứu chủ đề khoa học.
Sức khỏe-thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc I, Âm nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ thuật I, Mĩ thuật II, Mĩ thuật III, Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ III, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Tiếng Anh giao tiếp cơ bản, Tiếng Anh giao tiếp I, Tiếng Anh giao tiếp II, Cấu trúc tiếng Anh I, Cấu trúc tiếng Anh II, Tiếng Anh hội thoại
Gia đình Gia đình cơ bản, Gia đình tổng hợp, Thiết kế đời sống
Tổng hợp Xã hội và thông tin, Khoa học thông tin
Môn giáo khoa do trường tự thiết lập
 Giáo khoa được thiết kế chủ yếu trong Ban (khoa) chuyên môn Công nghiệp, Nông nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Gia đình, Hộ lý, Thông tin, Phúc lợi, Khoa học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh, môn do trường học tự thiết lập

Ở THPT các môn “Quốc ngữ tổng hợp” “Toán học I”, “Thể dục”, “Sức khỏe” là bắt buộc.
Trường hợp học môn tiếng Anh trong môn Ngoại ngữ ở THPT thì “Tiếng Anh giao tiếp I” là bắt buộc.

Đối với môn Địa lý-Lịch sử ở THPT học sinh chọn 1 môn trong hai môn “Lịch sử thế giới A”, “Lịch sử thế giới B” và một môn trong 4  môn “Lịch sử Nhật Bản A”, “Lịch sử Nhật Bản B”, “Địa lý A”, “Địa lý B”  để học (tổng cộng 2 môn)

Đối với môn công dân học sinh phải học môn “Xã hội hiện đại” và hai môn khác là “Luân lý”, “Kinh tế-chính trị”

Đối với môn Khoa học, học sinh chọn 2 trong số các môn “Khoa học và đời sống con người”, “Vật lý cơ sở”, “Hóa học cơ sở”, “Sinh vật cơ sở”, “Địa học cơ sở” trong đó bắt buộc có môn “Khoa học và đời sống”, đồng thời học thêm một môn học có tên “cơ sở” tổng cộng là 3 môn.

Đối với môn Nghệ thuật ở THPT học sinh phải chọn một trong các môn “Âm nhạc I”, “Mĩ thuật I”, “Công nghệ I”, “Thư pháp I”.

Đối với môn Gia đình, học sinh phải học một trong các môn “Gia đình cơ bản”, “Gia đình tổng hợp”, “Thiết kế đời sống”.
Đối với môn Thông tin của trường THPT, học sinh chọn học một trong các môn “Xã hội và thông tin”, “Khoa học thông tin”

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia  tiếng Nhật.

 

 

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (VI)

November 24, 2014 Leave a comment

Năm 1992 (năm Heisei thứ 4)

 Xuất hiện quan niệm về học lực mới. Đây là bản “Hướng dẫn học tập” được sửa đổi nhắm tới giáo dục phát huy cá tính và nội dung giáo dục được cắt bỏ thêm. Thiết lập mới môn Đời sống, tăng cường giáo dục đạo đức và thực hiện giáo dục con người có trái tim phong phú có thể tự mình ứng phó với sự thay đổi của xã hội.

“Hướng dẫn học tập” được công bố vào năm 1989 (năm Heisei nguyên niên) và được thực hiện ở trường tiểu học năm 1992 (năm Heisei thứ 4), ở trường THCS năm 1993 (năm Heisei thứ 5). Ở trường THPT nó được thực hiện bắt đầu từ năm thứ nhất vào năm 1994 ( năm Heisei thứ 6).

Tổng số giờ học trong 6 năm tiểu học là 5785, trong đó tổng số giờ dành cho Quốc ngữ, Số học, Khoa học và Xã hội là 3659. Tổng số giờ học dành cho 3 năm THCS là 3150.

Ở năm thứ 1, 2 (lớp 1, 2)   tiểu học, môn Khoa học và Xã hội bị đình chỉ và đưa vào môn Đời sống. Ở các trường THPT môn Xã hội được cấu tạo lại thành môn Địa lý-lịch sử và Công dân (Lịch sử thế giới A và Lịch sử Nhật Bản A có cấu tạo lấy lịch sử cận hiện đại làm trung tâm, các môn Lịch sử thế giới B và Lịch sử Nhật Bản B có cấu tạo nội dung là thời cổ đại. Địa lý A lấy địa lý tự nhiên làm trung tâm trong khi Địa lý B có nội dung là học tập địa chí và địa lý học hệ thống). Đồng thời cả học sinh nam cũng phải học môn Gia đình.

Trường
Phân chia môn giáo khoa

Môn học, phân môn
Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Đời sống, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ), nghi lễ trương học,
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật gia đình

Đạo đức, hoạt động đặc biệt (hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ nhà trường)

Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-Thể dục, Kĩ thuật gia đình, các môn đặc biệt cần thiết khác.
Trung học phổ thông  Giáo khoa liên quan đến khoa phổ thông Quốc ngữ Quốc ngữ I, Quốc ngữ II, Cấu trúc quốc ngữ, Văn hiện đại, Ngôn ngữ hiện đại, Cổ điển I, Cổ điển II, Đọc hiểu cổ điển. Hoạt động đặc biệt (Hoạt động Home-room, Hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ trường học)
Địa lý lịch sử Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B, Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Địa lý A, Địa lý B
Công dân Xã hội hiện đại, Luân lý, Kinh tế xã hội
Toán học Toán học I, Toán học II, toán học III, Tonas học A, Toán học B, Toán học C
Khoa học KHoa học tổng hợp, Vật lý IA, Vật lý IB, Vật lý II, Hóa học IA, Hóa học IB, Hóa học II, Sinh vật IA, Sinh vật IB, Sinh vật II, Địa học IA, Địa học IB, Địa học II
Sức khỏe thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc I, Âm nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ Thuật I, Mĩ thuật ii, Mĩ thuật III, Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ III, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Tiếng Anh I, Tiếng Anh II, Oral CommunicationA,

Oral communication B

Oral communication C,

Reading,Writing, Tiếng Đức, Tiếng Pháp

Gia đình Gia đình tổng quát, Kĩ thuật đời sống, Đời sống tổng quát
Các môn học đặc biệt cần thiết khác.
Giáo khoa liên quan đến giáo dục chuyên môn Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Hộ lý, Khoa học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh, và các môn học đặc biệt cần thiết khác.

Đối với môn Ngoại ngữ thuộc môn giáo khoa tự chọn ở trường THCS, học sinh từ năm thứ nhất chọn học một trong các ngoại ngữ : Tiếng Anh, Tiếng Đức, Tiếng Pháp.

Quốc ngữ I, Toán học I, Thể dục, Sức khỏe ở THPT là môn bắt buộc.

Đối với Môn Lịch sử-Địa lý ở THPT  học sinh bắt buộc phải học một trong hai môn Lịch sử Thế giới A (hoặc B) và một môn Địa lý A (hoặc B).
Đối với môn Công dân  của trường THPT học sinh phải học môn Xã hội hiện đại và 2 môn: Luân lý, Kinh tế-chính trị.
Đối với môn Khoa học ở THPT học sinh phải học 2 môn  trong số 5 môn là Khoa học tổng hợp, Vật lý IA (hoặc IB), Hóa học IA (hoặc IB), Sinh vật IA (Hoặc IB) , Địa học IA  (hoặc (IB).

Đối với môn Nghệ thuật ở THPT học sinh chọn học một trong các môn Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I.

Đối với môn Gia đình ở THPT học sinh chọn học một trong các môn Gia đình tổng quát, Kĩ thuật đời sống, Đời sống tổng quát.

Năm 2002 (năm Heisei thứ 14)

Đây là bản “Hướng dẫn học tập” sửa đổi lần thứ bảy kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Bản “Hướng dẫn học tập” này thực hiện tuyển chọn nghiêm ngặt nội dung giáo dục, thiết lập “Thời gian học tập tổng hợp”, giáo dục cho học sinh cơ bản-nền tảng, “năng lực sống” như năng lực tự học, tự tư duy.

Bản “Hướng dẫn học tập” ở Tiểu học được công bố năm 1998 (Năm Heisei thứ 10) và được thực hiện năm 2002 (năm Heisei thứ 14). Bản “Hướng dẫn học tập” của THPT được công bố năm 1999 (năm Heisei thứ 11) và được thực hiện từ năm thứ nhất (lớp 10)  năm 2003. Một phần nội dung được thực hiện trước từ năm 2000 (năm Heisei thứ 12)

Tổng số giờ học của 6 năm tiểu học là 5367 trong đó số giờ học của Quốc ngữ, Số học, Khoa học,  Xã hội, Đời sống là 3148. Tổng số giờ học dành cho 3 năm THCS là 2940.
Chế độ trường học năm ngày/tuần được thực hiện toàn diện. Ở trường THCS Tiếng Anh trở thành môn bắt buộc (Trên thực tế thì đại bộ phận các trường đã thực hiện từ trước đó). Ngoài ra, “Thời gian học tập tổng hợp” từ trường tiểu học-trung học cơ sở cho tới THPT được đặt ra và ở THPT có thêm môn Thông tin và Phúc lợi. Mặt khác, Nội dung học tập các môn giáo khoa đã được cắt giảm mạnh. Quy định về hoạt động câu lạc bộ ở trường THCS, THPT cũng bị  xóa bỏ.

Cho đến lúc này bằng việc sửa đổi bản “Hướng dẫn học tập”  con đường giáo dục “yutori” đã từng bước được thực thiện nhưng việc thực thi bản “Hướng dẫn học tập” vào năm 2002 với việc thực hiện chế độ trường học 5 ngày/tuần, thiết lập “Thời gian học tập tổng hợp”, là sự thay đổi lớn lao so với trước đó do đó người ta cho rằng “Giáo dục yuori” thực sự bắt đầu từ năm 2002.

Trường Phân loại môn giáo khoa Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Đời sống, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ nhà trường), Thời gian học tập tổng hợp
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật-gia đình, Ngoại ngữ Đạo đức, hoạt động đặc biệt (hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, nghi lễ trường học), Thời gian học tập tổng hợp
Giáo khoa tự chọn Quốc ngữ , Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật-Gia đình, Ngoại ngữ, môn giáo khoa đặc biệt cần thiết khác.
Trung học phổ thông Giáo khoa liên quan đến giáo khoa phổ thông Quốc ngữ Cấu trúc quốc ngữ I, Cấu trúc quốc ngữ II, Quốc ngữ Tổng hợp, Văn hiện đại, Cổ điển, Đọc hiểu cổ điển Hoạt động đặc biệt (hoạt động homeroom, hoạt động hội học sinh, nghi lễ trường học), Thời gian học tập tổng hợp
Địa lý-Lịch sử Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B, Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Địa lý A, Địa lý B
Công dân Xã hội hiện đại, Luân lý, Kinh tế-chính trị
Toán học Toán học cơ bản, Toán học I, Toán học II, Toán học III, Toán học A, Toán học B, Toán học C
Khoa học Khoa học cơ bản, KHoa học tổng hợp A, Khoa học tổng hợp B, Vật lý I, Vật lý II, Hóa học I, Hóa học II, Sinh vật I, Sinh vật II, Địa học I, Địa học II
Sức khỏe-thể dục Thể dục, sức khỏe
Nghệ thuật Âm nhạc I, Âm nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ thuật I, Mĩ thuật II, Mĩ thuật III, Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ II, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Oral communication I, Oral communication II, Tiếng Anh I, Tiếng Anh II, Reading, Writing
Gia đình Gia đình cơ sở, Gia đình tổng hợp, Kĩ thuật đời sống
Thông tin Thông tin A, Thông tin B, Thông tin C
Môn giáo khoa do nhà trường đặt ra
Giáo khoa liên quan đến giáo dục nghề nghiệp Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Gia đình, Hộ lý, Thông tin, Phúc lợi khoa học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, tiếng Anh, môn trường học tự thiết lập

Đối với môn Quốc ngữ ở trường THPT học sinh phải học một trong các môn Cấu trúc quốc ngữ I, Quốc ngữ tổng hợp.

Đối với môn Địa lý-Lịch sử ở THPT học sinh phải  chọn học 3 môn Lịch sử thế giới A (hoặc B), Lịch sử Nhật Bản A (hoặc B), Địa lý A (hoặc 3 ).

Đối với môn Công dân ở THPT học sinh phải chọn học môn Xã hội hiện đại và 2 môn khác là Luân lý, Kinh tế-chính trị.

Đối với môn Toán ở THPT học sinh phải học 1 môn trong các môn Toán học cơ bản, Toán học I.
Đối với môn Khoa học ở THPT, học sinh phải học 2 môn trong số các môn Khoa học cơ sở, Khoa học tổng hợp A, Khoa học tổng hợp B, Vật lý I, Hóa học I, Sinh vật I, Địa lý I (bắt buộc phải chọn ít nhất một môn trong số các môn sau: Khoa học cơ sở, Khoa học tổng hợp A, Khoa học tổng hợp B)

Môn Thể dục-sức khỏe ở THPT là bắt buộc

Đối với môn Nghệ thuật ở THPT học sinh phải học một trong các môn : Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I.

Ở môn Ngoại ngữ THPT đối với trường hợp lựa chọn tiếng Anh thì phải học một trong hai môn  Oral Communication I, Tiếng Anh I.

Đối với môn gia đình ở THPT học sinh phải học một trong các môn Gia đình cơ sở, Gia đình tổng hợp, Kĩ thuật đời sống.

Đối với môn Thông tin ở THPT học sinh phải học một trong các môn Thông tin A, thông tin B, Thông tin C.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia tiếng Nhật.

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (V)

November 24, 2014 Leave a comment

Năm 1980 (năm Showa thứ 55)  

Được gọi là chương trình “Yutori” (nhàn nhã, thong thả-ND), bản hướng dẫn học tập này có sự cắt giảm về nội dung học tập giáo khoa.

Chương trình hiện đại hóa trở nên quá tải và làm phát sinh những vấn đề ở hiện trường giáo dục như sự bất hoàn bị của cơ sở vật chất, giáo viên, khiến cho đông đảo học sinh không theo được và rút kinh nghiệm từ đó mà nội dung giờ học được cắt giảm.

Vào năm 1976 trong Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương việc cắt giảm nội dung học tập đã được đưa ra. Do trường tư không tiến hành cắt giảm cho nên đã bắt đầu phát sinh khoảng cách với trường công.

Không phải tất cả nội dung học tập đều được cắt giảm mà ngược lại số chữ Hán còn tăng thêm cho nên cũng có ý kiến phê phán là “yutori” không hề được tạo ra. Nó cũng ảnh hưởng đến chế độ các cụm trường và đây cũng là thời kỳ việc suy giảm thành tích học lên cao của các trường công lập trở nên rõ ràng.

Bản “Hướng dẫn học tập” của trường tiểu học được công bố vào năm 1977 (năm Showa thứ 52) và được thực hiện từ năm 1980 (năm showa thứ 55). Bản “Hướng dẫn học tập” dành cho THCS được thực thi từ năm 1981 (năm Showa thứ 56). Bản “Hướng dẫn học tập” của trường THPT được công bố năm 1978 (năm Showa thứ 53) và được thực hiện đối với năm thứ nhất từ năm 1982 (năm Showa thứ 57)
Tổng số giờ học dành cho 6 năm tiểu học là 5785 trong đó số giờ dành cho Quốc ngữ, Số học, Khoa học và Xã hội là 3659. Tổng số giờ học ở THCS là 3150.
Sự lựa chọn các môn tự chọn ở THCS tăng lên. Tiêu chuẩn học tập các môn ở trường THPT cũng được dung hòa.

Trường  Phân loại môn giáo khoa Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động trẻ em, hoạt động lớp, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ trường học, chỉ đạo lớp)
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật gia đình Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động học sinh, hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ)  nghi lễ trường học, chỉ đạo lớp
Môn giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật Gia đình, các môn cần thiết khác.
Trung học phổ thông Giáo khoa liên quan đến giáo dục phổ thông Quốc ngữ Quốc ngữ I, Quốc ngữ II, Cấu trúc quốc ngữ, Văn hiện đại, Cổ điển Hoạt động đặc biệt (homeroom, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ nhà trường)
Xã hội Xã hội hiện đại, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý, Luân lý, Kinh tế-chính trị
Toán Toán học I, Toán học II、Đại số-Hình học,Giải tích cơ sở Vi phân-Tích phan、Xác suất-thống kê
Khoa học Khoa học I、Khoa học II、
sinh vật, hóa học, vật lý, Địa học.
Sức khỏe-thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm Nhạc I, Âm Nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ thuật I, Mĩ thuật II, Mĩ thuật III.
Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ III, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Tiếng Anh I, Tiếng Anh II, Tiếng Anh IIA, Tiếng Anh IIB, Tiếng Anh IIC, Tiếng Đức, Tiếng Pháp, các môn liên quan đến ngoại ngữ khác.
Gia đình Gia đình tổng quát
Môn học cần thiết đặc biệt khác
Các môn giáo khoa liên quan đến giáo dục chuyên môn Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Hộ lý, Khoa học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh và các môn đặc biệt cần thiết khác.

Đối với môn ngoại ngữ-môn giáo khoa tự chọn ở trường THCS, về nguyên tắc học sinh từ năm thứ nhất chọn học một môn trong số các môn Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, và các ngoại ngữ khác.

Các môn Quốc ngữ I, Xã hội hiện đại, Toán học I, Khoa học I, Thể dục, Sức khỏe là bắt buộc (tuy nhiên trường hợp đặc biệt có thể chọn học hai môn Luân lý và Kinh tế-chính trị thay cho Xã hội hiện đại).
Đối với môn Nghệ thuật ở THPT thì học sinh phải học một trong các môn Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I.
Đối với môn gia đình ở THPT tất cả các học sinh nữ bắt buộc phải học môn Gia đình tổng quát.
Đối với môn Tiếng Anh IIA ở THPT nó tương đương với “Oral-communication” của khóa trình hiện hành, Tiếng Anh IIB tương tương với “Reading”.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (IV)

November 24, 2014 Leave a comment

Năm 1971 (năm Showa 46)

Đây là bản “Hướng dẫn học tập”  được gọi là “Chương trình hiện đại”. Nó thực hiện hiện đại hóa nội dung giáo dục bằng việc đưa vào nội dung giáo dục tương ứng với sự phát triển của thời đại.

Việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tao Sputnik năm 1957 (năm Showa thứ 32) đã khiến cho Mĩ choáng váng.

Chính phủ Mĩ để đối phó với Liên Xô đã tăng cường giáo dục trường học và phát triển khoa học kĩ thuật. Cùng với nó là phong trào “hiện đại hóa nội dung giáo dục” được diễn ra từ tiểu học cho đến THPT.
Phong trào này có ảnh hưởng tới Nhật Bản và chương trình có nồng độ khoa học cao được biên soạn nhưng do giờ học diễn ra gấp gáp nên bị phê phán là “giờ học Shinkansen”. Thời đó nội dung học tập không có gì khác biệt nhiều  giữa trường công lập và tư thục.
Kết quả là học sinh không tiêu hóa được sách giáo khoa và có trường hợp xảy ra việc học sinh bỏ qua nhiều bài, nội dung giáo dục để tốt nghiệp, lên lớp.

Bản “Hướng dẫn học tập” ở trường tiểu học được công bố năm 1968 (năm Showa thứ 43) và được thực hiện từ năm 1971 (năm Showa thứ 46). Bản “Hướng dẫn học tập” trường THCS được công bố năm 1969 (năm Showa 44 ) và được thực hiện từ năm 1972 (năm Showa thứ 47). Bản “Hướng dẫn học tập” ở trường THPT được công bố năm 1970 (năm Showa thứ 45) và được thực hiện từ năm thứ 1 năm 1973 (năm Showa thứ 48).

Tổng số giờ học ở 6 năm tiểu học là 5841 trong đó tổng số giờ học Quốc ngữ, Số học, Khoa học, Xã hội là 394. Tổng số giờ học trong 3 năm THCS là 3535.
Việc phân chia môn Xã hội và khoa học  thành A, B trong khóa trịnh cũ bị đình chỉ. Môn Địa lý A (Địa lý hệ thống) và Địa lý B (Địa chí) được thiết lập.

Trường Phân loại  giáo khoa Môn học , phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật – gia đình. Đạo đức, hoạt động đặc biệt (hoạt động học sinh, hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ), chỉ đạo lớp, nghi lễ trường học
  Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Gia đình, các môn học cần thiết khác
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc ngữ Quốc ngữ hiện đại 、
Cổ đại I A, Cổ điển IB, Cổ điển II
Homeroom, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ trường học
Xã hội Luân lý-Xã hội, Kinh tế-chính trị, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý A, Địa lý B
Toán học Toán học tổng quát, Toán học I, Toán học IIA, Toán học IIB, Toán học III, Toán học ứng dụng.
Khoa học Khoa học cơ bản, Vật lý I, Vật lý II, Hóa học I, Hóa học II, Sinh vật I, Sinh vật II, Địa học I, Địa học II
Sức khỏe –thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc I, Âm nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ thuật I, Mĩ thuật II, Mĩ thuật III, Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ III, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Tiếng Anh sơ cấp, Tiếng Anh A, Tiếng Anh B, Tiếng Anh hội thoại, tiếng Đức, tiếng Pháp, các môn học khác liên quan đến ngoại ngữ.
Gia đình Gia đình tổng quát
Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Hộ lý, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật…và các môn học cần thiết khác.

Đối với môn ngoại ngữ thuộc môn giáo khoa tự chọn ở THCS về nguyên tắc học sinh chọn một trong các môn Tiếng Anh, Tiếng Đức, Tiếng pháp và các ngoại ngữ khác.

Các môn Quốc ngữ hiện đại, Cổ điển IA, Luân lý-xã hội, Kinh tế-chính trị, Thể dục-sức khỏe là bắt buộc. Tuy nhiên, nếu như học sinh chọn học  Cổ điển IB thì không cần học cổ điển IA.
Đối với môn Xã hội ở THPT học sinh phải học 2 môn trong số các môn Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý A (hoặc B)
Đối với môn Toán học, học sinh phải học một trong các môn Toán học tổng quá, Toán học I.

Đối với môn Khoa học, học sinh phải học một môn là Khoa học cơ bản hoặc 2 môn trong số các môn Vật lý I, Hóa học I, Sinh vật I, Địa học I.
Đối với môn Nghệ thuật ở trường THPT học sinh phải học 1 trong các môn Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I
Đối với môn Gia đình ở THPT, học sinh nữ bắt buộc phải học môn Gia đình tổng quát (trừ trường hợp đặc biệt)

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia tiếng Nhật

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (III)

November 24, 2014 Leave a comment

 Bản “Hướng dẫn học tập” năm 1951 (năm Showa 26)

Bản “Hướng dẫn học tập” này được thực hiện từ năm 1951. Tổng số giờ học ở trường tiểu học là 5780 koma. Tổng số giờ học ở trường THCS là 3045. Môn Tự do nghiên cứu bị đình chỉ và ngoài các môn giáo khoa còn có các hoạt động (trường tiểu học), hoạt động đặc biệt (trường THCS). Ở trường THCS, Luyện chữ được kết hợp với môn Quốc Ngữ và môn Quốc Sữ nhập vào môn Xã hội. Môn Thể dục được đổi thành môn Sức khỏe. Môn nghề nghiệp được đổi thành môn Nghề nghiệp-gia đình.

Trường Phân loại môn giáo khoa Môn học , phân môn
Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Số học, Xã hội, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Âm nhạc, thủ công, thể dục-sức khỏe, nghề nghiệp-gia đình
Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Nghề nghiệp-Gia đình
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc Ngữ Quốc ngữ (A), Quốc ngữ (B), Hán văn
Xã hội Xã hội tổng quát, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự
Toán học Toán học tổng quát
Giải tích (1)
Hình học, Giải tích (2)
Khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh vật, Địa học
Sức khỏe-thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc, Vẽ, Chế tạo đồ vật, Thư pháp
Gia đình Gia đình tổng quát, Gia đình, Sức khỏe, Kế toán gia đình, Thực phẩm, Trang phục
Ngoại ngữ
Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Kĩ nghệ gia đình ,
ngoài ra còn có môn cần thiết khác.

Môn Quốc ngữ A ở THPT  cùng với môn Xã hội tổng quát, Sức khỏe, thể dục là bắt buộc.

Đối với Môn Xã hội ở THPT , học sinh phải chọn một trong các môn Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự.
Đối với môn toán ở trường THPT học sinh phải chọn một trong các môn Toán học tổng quát, Giải tích (1), hình học, Giải tích (2)
Đối với môn Khoa học ở trường THPT học sinh phải chọn một trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa học.

Năm 1956 (năm Showa thứ 31)

Năm này chỉ có bản “Hướng dẫn học tập” ở THPT được sửa đổi.

Năm 1956 (năm Showa thứ 31) “Hướng dẫn học tập” được thực hiện từ năm thứ nhất (lớp 10)  (năm thứ 2, 3 vẫn giữ nguyên) .

Số giờ chỉ đạo hoạt động giáo dục đặc biệt (1-3 giờ/tuần) được quy định

Trường Phân loại môn giáo khoa Môn học , phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc ngữ Quốc ngữ (A) Quốc ngữ B (Hán văn) Hoạt động giáo dục đặc biệt (Hoạt động homeroom, Hoạt động hội học sinh, Hoạt động câu lạc bộ)
Xã hội Xã hội, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn
Toán học Toán học I, Toán học II, Toán học III, Toán học ứng dụng
Khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh vật, Địa học
Sức khỏe-Thể dục Thể dục, sức khỏe
Nghệ thuật Âm nhạc, Mĩ thuật, Công nghệ, Thư pháp
Ngoại ngữ Ngoại ngữ thứ nhất, Ngoại ngữ thứ hai
Gia đình Gia đình tổng quát, Trang phục, Thực phẩm, Sức khỏe gia đình, Kế toán gia đình, Kinh tế gia đình
Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, các môn học cần thiết khác.

Môn Quốc ngữ (A), Xã hội, Toán học I, Thể dục, Sức khỏe là bắt buộc ở cấp THPT .

Đối với môn Xã hội ở THPT, học sinh phải chọn 2 trong các môn Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn.

Đối với môn Khoa học ở THPT, học sinh phải chọn 2 trong các môn Vật lý, Hóa học, Địa lý , Sinh vật, Địa học.

Năm 1961 (năm showa 36)

Đây là chương trình coi trọng tính hệ thống. Thời gian dành cho Đạo đức được thiết lập, thực hiện minh xác hóa tính chất với tư cách là tiêu chuẩn khóa trình giáo dục nhằm nâng cao  giáo dục khoa học kĩ thuật. Bản “Hướng dẫn học tập” có tính cưỡng chế đối với các trường công lập được ban hành.

Bản “Hướng dẫn học tập” ở tiểu học, trung học cơ sở được công bố năm 1958  (năm Showa thứ 33), và ở tiểu học được  thực hiện từ năm 1961 (năm Showa thứ 36), ở THCS được thực hiện từ năm học 1962 (năm Showa thứ 37). Tuy nhiên riêng Đạo đức được thực hiện từ tháng 10 năm 1958. Ngoài ra công nghiệp dược  cũng được đưa vào thêm năm 1962 (năm Showa 37). Bản hướng dẫn học tập ở THPT được  thực hiện từ năm thứ 1 (lớp 10) năm 1963 (năm Showa 38).

Tổng số giờ học trong 6 năm ở Tiểu học là 5821, Tổng số giờ học dành cho Quốc ngữ, Số học, Khoa học, Xã hội là 3941. Tổng số giờ học trong 3 năm ở THCS là 3360.

Môn Nghề nghiệp-Gia đình ở THCS được đổi thành môn Kĩ thuật-Gia đình. Các môn Cổ điển, Lịch sử Thế giới, Địa lý, Toán học II, Hóa học, Tiếng Anh được chia thành hai môn là A và B tùy theo năng lực, và con đường tiến thân của học sinh cho học sinh lựa chọn học tập. Điều này  khiến cho số môn học tăng lên. Môn Ngoại ngữ ở trường THPT trở thành bắt buộc và quy định dành cho  các môn học tăng lên.

Trường Môn giáo khoa Môn học , phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Số học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật-gia đình. Đạo đức, hoạt động giáo dục đặc biệt (Hoạt động hội học sinh, Hoạt động câu lạc bộ, Hoạt động lớp)
Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Gia đình, công nghiệp dược, Toán, Âm Nhạc, Mĩ thuật
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc ngữ Quốc ngữ hiện đại, Cổ điển A, Cổ điện B I, Cổ điển B II. Hoạt động giáo dục đặc  biệt (hoạt động homeroom, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ)
Xã hội Luân lý-Xã hội, Kinh tế-chính trị, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử Thế giới, B
Lịch sử thế giới B, Địa lý A, Địa lý B
Toán học Toán học I, Toán học II A, Toán học IIB, Toán học III, Toán học ứng dụng
Khoa học Vật lý A, Vật lý B, Hóa học A, Hóa học B, Sinh vật, Địa học
Sức khỏe-Thể dục Sức khỏe, Thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc I, Âm nhạc II, Mĩ thuật I, Mĩ Thuật II, Công nghệ I, Công nghệ II, Thư pháp I, Thư pháp II
Ngoại ngữ Tiếng Anh A, Tiếng Anh B, Tiếng Đức, Tiếng Pháp, các môn học liên quan đến ngoại ngữ khác
Gia đình Gia đình tổng quát
Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Âm nhạc, Mĩ thuật và các môn cần thiết khác

Đối với môn ngoại ngữ-môn giáo khoa tự chọn ở THCS, về nguyên tắc học sinh chọn học một trong các môn Tiếng Anh, Tiếng Đức, tiếng Pháp.

Các môn ở THPT như Quốc ngữ hiện đại, Luân lý-Xã hội, Kinh tế-chính trị, Toán học I, Thể dục-sức khỏe là bắt buộc.

Đối với môn Quốc ngữ học sinh phải học một trong hai môn Cổ điển A hoặc là Cổ điển BI .

Đối với môn Xã hội ở THP, học sinh ban (Khoa) phổ thông  phải học 3 môn là Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới A hoặc B, Địa lý A hoặc B. Học sinh khoa (ban)  Nghề, Âm nhạc, Mĩ thuật phải học một trong các môn Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới A hoặc B và một trong các môn Địa lý A hoặc Địa lý B.
Đối với môn Toán ở THPT, học sinh khoa (ban) Phổ thông, Âm nhạc, Mĩ thuật phải học một trong hai môn là Toán học IIA hoặc Toán học IIB. Học sinh khoa (ban) nghề phải chọn một trong hai môn Toán học IIA (hoặc IIB) và Toán ứng dụng.

Đối với môn Khoa học ở THPT, học sinh khoa (ban) phổ thông phải học 4 môn Vật lý A (hoặc Vật lý B), Hóa học A (hoặc Hóa học B), Sinh vật, Địa học. Học sinh khoa  (ban) nghề, âm nhạc, mĩ thuật phải học 2 môn trong các môn Vật lý A (hoặc B), Hóa học A (hoặc B), Sinh vật, Địa học.

Đối với môn nghệ thuật ở THPT học sinh khoa (ban) phổ thông, nghề phải học 1 trong các môn Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I. Học sinh khoa (ban)  âm nhạc phải học 1 trong các môn Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I. Học sinh khoa  (ban) Mĩ thuật phải học 1 trong các môn Âm nhạc I, Thư pháp I.

Đối với môn ngoại ngữ ở THPT học sinh phải học một trong các môn.

Đối với môn Gia đình ở THPT học sinh nữ ban  phổ thông bắt buộc phải học môn Gia đình tổng quát.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (II)

November 24, 2014 Leave a comment

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP”

Năm 1947 (năm Showa thứ 22)

Đây là bản “Hướng dẫn học tập” được đưa ra không lâu sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. Nó được xây dựng từ quan điểm là văn bản hướng dẫn nên quyền của các trường học rất lớn. Từ đó cho đến năm 1953 (năm Showa thứ 28) bản “Hướng dẫn học tập” có tên  là tài liệu tham khảo (shian).

Ở trường tiểu học, các môn học có từ trước chiến tranh thế giới thứ II như Tu thân, Địa lý, Lịch sử bị đình chỉ, môn Xã hội ra đời và nam, nữ học sinh cùng học môn Gia đình. Môn Nghiên cứu tự do cũng được thiết lập.

Trường  Phân loại môn giáo khoa Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Số học, Xã hội, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục, Nghiên cứu tự do
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Luyện chữ, Xã hội, Quốc sử, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Thể dục, Nghề nghiệp (Nông nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Công nghiệp, Gia đình)
Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ,  Luyện chữ, Nghề nghiệp, Nghiên cứu tự do
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc ngữ Quốc ngữ, Hán tự (kanji)
Xã hội Xã hội đại cương、Quốc sử、Lịch  sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự、
Toán học Toán học cơ bản, Giải tích (1), Hình học, Giải tích (2)
Khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh vật, Địa học
Thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc, Hội họa, Thư pháp, Chế tạo đồ vật
Gia đình Gia đình tổng quát, Gia đình, Sức khỏe, Kế toán gia đình, Thực phẩm, Trang phục
Ngoại ngữ
Môn liên quan đến Nông nghiệp, Môn liên quan đến công nghiệp, Môn học liên quan đến Thương nghiệp, Môn học liên quan đến Thủy sản, Môn học liên quan đến kĩ nghệ gia đình, Môn học liên quan đến các nghề nghiệp khác.

Các môn nghề nghiệp ở trường THCS học sinh có thể lựa chọn học một môn tùy theo nguyện vọng và cơ sở vật chất của trường.

Các môn Quốc ngữ, Xã hôi đại cương và Thể dục là bắt buộc.

Đối với môn  Xã hội ở trường THPT học sinh bắt buộc phải chọn 1 môn trong các môn Quốc sử, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự.

Đối với môn Toán học ở trường THPT học sinh chọn  một trong các môn Toán học tổng quát, Giải tích (1), Hình học, Giải tích (2) .

Đối với môn Khoa học ở trường THPT học sinh  phải chọn một trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa học.

Bản “Hướng dẫn học tập” đối với trường THPT được thực hiện từ năm 1948 (năm Showa thứ 23) nhưng đến năm 1949 (năm Showa thứ 24)  lại được sửa đổi. Bảng trên là lấy từ bản “Hướng dẫn học tập” năm 1949.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia tiếng Nhật. 

%d bloggers like this: