Archive

Archive for March, 2015

Môn Công dân trong trường học Nhật Bản

March 31, 2015 Leave a comment

Công dân là một môn giáo khoa trong giáo dục trường học ở Nhật Bản. Nó  thường được gọi là “môn Công dân” (Kominka)

Khái quát

Môn Công dân là môn giáo khoa được thiết lập ở trường trung học phổ thông (THPT).

Trong bản Hướng dẫn học tập ở trường THPT hiện nay, mục tiêu của môn Công dân là “làm cho học sinh quan sát một cách chủ thể xã hội hiện đại dựa trên tầm nhìn rộng lớn, làm sâu sắc sự lý giải đồng thời giáo dục sự tự giác về lẽ sống với tư cách là con người, giáo dục các phẩm chất công dân cần thiết trong tư cách là người xây dựng nên quốc gia, xã hội hòa bình, dân chủ”.

Trong môn Công dân, học sinh sẽ học về chính trị, kinh tế và xã hội nói chung. Trong môn Công dân ở trường THPT có ba phân môn là Xã hội hiện đại, Luân lý, Kinh tế-chính trị.

–  “Xã hội hiện đại” (số tín chỉ tiêu chuẩn là 2) có nội dung chủ yếu  bao gồm hai trụ cột: (1) Vấn đề của chúng ta-những người sống trong xã hội hiện đại

(2) Lẽ sách vơi tư cách là con người trong xã hội hiện đại.

– “Luân lý” (số tín chỉ tiêu chuẩn là 2)  có nội dung chủ yếu gồm 2 trụ cột:

(1) Những vấn đề của thời thanh niên và lẽ sống với tư cách là con người

(2) Hiện đại và luân lý.

–  “Kinh tế-chính trị”  (Số tín chỉ tiêu chuẩn là 2) có nội dung bao gồm 3 trụ cột:

(1) Chính trị hiện đại

(2) Kinh tế hiện đại

(3) Các vấn đề của xã hội hiện đại.

Về nguyên tắc học sinh phải chọn môn “Xã hội hiện đại” và một trong hai môn “Luân lý”, “Kinh tế-chính trị”. Bên cạnh đó trong kỳ thi ở trung tâm tuyển sinh vào đại học (kỳ thi chung quốc gia-chú thích của người dịch) có thiết lập một môn giả định 4 tín chỉ tương đương với môn Địa lý-Lịch sử B gọi là “Luân lý, Kinh tế-chính trị” với nội dung bao gồm luân lý và chính trị, kinh tế.

Môn Công dân ở kỳ thi đại học

Ở phần lớn các trường đại học quốc lập môn học bao gồm các phân môn công dân ở trên cùng với Địa lý-Lịch sử trở thành hai môn bắt buộc trong kỳ thi ở trung tâm tuyển sinh đại học. Trong số những đại học “cửa vào rất hẹp” có những trường không chấp nhận thí sinh dự thi nếu như môn thí sinh đã dự thi ở trung tâm tuyển sinh vào đại học không phải là “Luân lý, Kinh tế-chính trị”. Tuy nhiên các trường đại học lấy Công dân làm môn thi trong các kỳ thi thứ hai (kỳ thi do từng trường đại học ra đề riêng-chú thích của người dịch) chỉ là thiểu số ví dụ như Đại học học nghệ Tokyo, Đại học kinh tế Takazaki…Ở các đại học tư thục thì loại trừ Đại học Keio, Đại học Jochi,  Kinh tế-chính trị trở thành môn quan trọng có thể được chọn thay thế cho Địa lý-Lịch sử. Các đại học có thể sử dụng Luân lý chỉ chiếm số ít ví dụ đại học quốc lập có Đại học học nghệ Tokyo, Đai học Tsukuba, đại học tư thục có Đại học Aichi, khoa Văn đại học Chuo.

Môn Xã hội và môn Công dân

Học sinh học về cơ cấu cơ bản của chính trị, kinh tế, xã hội trong môn Xã hội ở trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS). Ở môn Xã hội trong trường THCS các nội dung học tập về chính trị-kinh tế-xã hội được gội là “lĩnh vực công dân” (Komintekibunya).

Trước đó ở THPT cũng tồn tại môn Xã hội nhưng trong bản Hướng dẫn học tập công bố năm 1989 và thực hiện từ năm 1994 thì môn Xã hội ở trường THPT được tái cơ cấu và phân chia thành hai môn là môn Công dân và môn Địa lý-Lịch sử.

Môn Công dân trước chiến tranh

Trong số các môn học ở trường Trung học tồn tại từ năm 1931 đến năm 1947 có “môn Công dân”. Đây là môn giáo khoa “giáo dục công dân”, giáo dục các tri thức, phẩm chất được coi là cần thiết trong tư cách là thành viên tham gia vào sự phát triển của xã hội.

Ở Nhật Bản giáo dục công dân được bắt đầu sớm nhất  ở Trường học bổ túc thực nghiệp năm 1890 với “các nội dung cần có trong tư cách công dân” kèm theo nghề nghiệp. Tuy nhiên nó thực sự bắt đầu vào cuối thời kỳ Taisho khi chế độ bầu cử phổ thông được du nhập và tầm quan trọng của giáo dục xã hội dâng cao.

Năm 1931, giáo dục với mục đích giáo dục “làm rõ bản nghĩa của hiến chính tự trị, các nội dung ở phương diện kinh tế,  pháp chế, xã hội thích hợp với cuộc sống hàng ngày” đã thay cho “pháp chế kinh tế”. Tuy nhiên do xảy ra các vấn đề như sự xuất hiện của chủ nghĩa quân phiệt và vấn đề luận giải về vị trí Thiên hoàng mà nó được sửa đổi vào năm 1937. Mục tiêu giáo dục trở thành “làm cho hiểu biết về nguồn gốc quốc thể, quốc hiến của nước ta đặc biệt là tinh thần và sự công bố hiến pháp của thần quốc, thấy được sự khác biệt  của quan niệm căn bản thống trị ở nước ta so với nước khác”. Đây là giáo dục có phương châm trái ngược với giáo dục công dân hiện đại ở Âu Mĩ và là giáo dục có triết lý giáo dục thần dân đế quốc dựa trên tư tưởng quân chủ chủ nghĩa.

Sau khi Nhật Bản bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhờ sự du nhập chủ nghĩa dân chủ theo mô hình phương Tây, giáo dục công dân hiện đại đã được đặt ra. Do đó vào tháng 10 năm 1945, Ủy ban đổi mới giáo dục được thành lập và tiến hành tranh luận về cải cách giáo dục công dân nhưng do sự thực thi của Luật giáo dục trường học năm 1947 cho nên nó được kết hợp vào môn Xã hội.

Về sau, lĩnh vực công dân cũ được đổi tên thành “lĩnh vực chính trị-xã hội-kinh tế” và cái tên Công dân được phục hồi. Sau đó, do sự sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 1977 và năm tiếp theo mà phương châm thống nhất giáo dục “phẩm chất công dân” từ tiểu học tới THPT được đưa ra và việc xóa bỏ mục “sự giác ngộ nhân quyền cơ bản” vốn có trước đó đã trở thành vấn đề chú ý.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: Wikipedia tiếng Nhật

http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%85%AC%E6%B0%91_(%E6%95%99%E7%A7%91)

 

Advertisements

Bài tập cho Ủy ban thẩm định giáo dục trung ương: Đừng để chuyển đổi biến  thành “không chuyển”  

March 29, 2015 Leave a comment

Tranh luận về cải cách giáo dục trường học là vấn đề cấp bách. Chúng tôi lo lắng rằng một khi mục đích và nội dung chủ yếu của cải cách không thích hợp với hiện trường trường học thì sự chuyển đổi cần thiết sẽ trở thành “không chuyển”. Thứ cần thiết không phải là mô hình trên bảo dưới nghe mà phải là sự phản ánh đầy đủ  ý kiến xuất phát từ hiện thực trường học và hướng về trẻ em hàng ngày.

 

Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương-cơ quan tư vấn của Bộ trưởng giáo dục hiện đang họp “kỳ họp thứ 8” với chủ đề sửa đổi toàn diện bản Hướng dẫn học tập.

Bản Hướng dẫn học tập được coi là tiêu chuẩn của giáo dục trường học từ tiểu học cho đến trung học phổ thông có ảnh hưởng lớn đến phương hướng của cải cách. Cứ khoảng 10 năm một lần nó lại được sửa đổi tùy theo tình hình thời đại. Lần này nội dung tư vấn rất rộng nhưng việc đặt trọng tâm vào chỉ đạo “học như thế nào” cùng với “dạy cái gì” trong học tập giáo khoa là đặc trưng lớn.

Chìa khóa của nó là “Active learning” (học tập chủ động). Nó chỉ học tập năng động ở đó học sinh tự mình phát hiện vấn đề, trao đổi ý kiến và tiến hành giải quyết. Đây là sự thoát khỏi giờ học kiểu truyền đạt tri thức một chiều. Đó là trụ cột của việc ứng phó với thời đại toàn cầu hóa.

Ngoài ra Hội đồng cũng nêu ra rằng trong xã hội đó “cần phải đưa ra ý kiến và giao lưu thay vì ngập ngừng”, tăng cường giáo dục tiếng Anh từ giai đoạn tiểu học và đến lớp 5, lớp 6  biến nó thành môn giáo khoa chính thức, ở trường THPT chú trọng năng lực thảo luận, thương thuyết.

Theo dự kiến bản báo cáo sẽ được đưa ra sau 2  năm thảo luận. Theo như lẽ thông thường thì phương pháp giờ học, sách giáo khoa, kiểm tra đánh giá học lực trong kỳ thi  tuyển sinh vào đại học cũng sẽ thay đổi.

Nhưng có cách nào để ngăn chặn sự bận rộn trên thực tế  ở trường học hay không? Có những ý kiến cho rằng: “Cho dù nói là học tập chủ động nhưng không nắm rõ nó là cái gì. Thật là khó”, “Từ trước đến giờ đã bao lần cải cách mà giờ lại cải cách nữa khiến cho ở hiện trường bối rối”.

Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương cần phải nghiên cứu sự thực thi chính sách từ trước đến nay, thuyết minh ý đồ, phương thức cải cách sao cho thật dễ hiểu và trong giới hạn có thể cần phải dựa trên các quan điểm, ý kiến được chứng minh rõ ràng bởi thực tế. Có thể nói tương tự như vậy đối với một trong các  chủ đề bàn luận là đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.

Ý tưởng “Trường học hợp tác” cũng là một chủ đề bàn luận quan trọng. Trường học Nhật Bản vốn bị coi là “bận rộn nhất thế giới” vì giáo viên phải phân chia thời gian cho các công việc trường học và câu lạc bộ. Ý tưởng đưa ra là liệu có thể liên kết với các chuyên gia ở bên ngoài để ứng phó đa chiều với tư cách như là một “trường học hợp tác” đối với các vấn đề như bắt nạt, nghèo đói, khuyết tật trong phát triển.

Nếu như chuyển đổi được mô hình trường học đóng kín kiểu cũ nơi mọi thứ đổ dồn lên lưng giáo viên thì sẽ tạo ra sự thay đổi lớn. Ở đó không phải chỉ có chính sách về tài chính mà sự lý giải và hợp tác của gia đình, địa phương cũng không thể thiếu.

Hãy vừa học cách thức giải quyết của các địa phương và trường học đi trước vừa phát huy nhận thức chung có được trong sự tranh luận rộng mở.

Xã luận báo Mainichi  27/3/2015

http://mainichi.jp/opinion/editorial/

Nguyễn Quốc Vương dịch

Giáo dục yutori ở Nhật Bản (6): Kết quả

March 28, 2015 Leave a comment

Kết quả của giáo dục yutori

Giáo dục yutori (ở đây chỉ giáo dục tiến hành dưới bản Hướng dẫn học tập được công bố trong khoảng từ năm Heisei thứ 10 tới năm Heisei thứ 11) được cho là đã gây ra sự suy giảm học lực tuy nhiên kết quả của nó vẫn chưa được đánh giá một cách xác định. Có cả chỉ số cho thấy học lực tăng lên và giảm đi.

Năm ra đời  và kết quả điều tra học lực quốc tế.

Sự thay đổi về thứ tự năng lực đọc hiểu, năng lực toán, khoa học của PISA.

Từ năm 2000 trở đi kết quả của PISA và TIMSS thường được đưa ra với tư cách như là chỉ số đo đạc học lực của học sinh.

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng các chỉ số này được sử dụng như là công cụ để thể hiện việc học lực suy giảm. Ngoài ra cũng có ý kiến cho  rằng do điều kiện không được xác định cho vên việc phán đoán học lực cao hay thấp chỉ dựa trên kết quả này cần phải thận trọng.

Dưới đây là bảng thể hiện năm sinh và các chỉ số, thứ tự của PISA, TIMSS

                 Bảng biểu kết quả PISA, TIMSS
Năm ra đời PISA TIMSS(THCS năm thứ 2) TIMSS( Tiểu học năm thứ 4) Ghi chú
Năng lực đọc hiểu Năng lực toán học Năng lực khoa học Toán học Khoa học Số học Khoa học
Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự Điểm số Thứ tự
1980 605 3 571 3 giáo dục trước bản hướng dẫn học tập

Sau năm 2002

1984 522 8 557 1 550 2 579 5 550 4 597 3 574 2
1987 498 14 534 6 548 1 Sauk hi triển khai bản Hướng dẫn học tập sau năm 2002
1988 570 5 552 6
1990 498 15 523 10 531 5
1992 570 5 554 3 565 3 543 3
1993 520 8 529 9 539 5
1996 536 4 538 7 547 4 570 5 558 4 568 4 548 4 2012

Trước khi triển khai bản Hướng dẫn học tập (THCS) năm 2012

2000 585 5 559 4 Lớp 4 tiểu học : Ngay trước khi thực hiện bản Hướng dẫn học tập

Năm 2011

Điều tra mức độ đạt được trong học tập của học sinh của OECD (PISA) 

Trong kết quả PiSA của OECD công bố tháng 12 năm 2004, năng lực đọc tụt từ vị trí số 8 xuống vị trí số 14, toán học từ số 1 xuống số 6 (Tính kiểu thống kê thì đứng nhóm số 1), Khoa học giữ nguyên vị trí số 2 (nhóm số 1).

Trong kết quả PISA công bố tháng 12 năm 2007 thì năng lực đọc từ vị trí 14 xuống vị trí 15 (tính kiểu thống kê thì đứng nhóm số 9-16), Toán học từ vị trí số 6 xuống số 10 (nhóm số 4-9), khoa học từ vị trí số 2 xuống số 6 (nhóm số 2-5). Nghĩa là các vị trí ở tất cả các lĩnh vực đều sụt giảm. Về 48 vẫn đề được thực hiện chung ở năm 2003 và 2006 thì tỉ lệ trả lời chính xác trung bình năm 2003 là 56.1%, năm 2006 là 53.4%, giảm gần 2.7%. Trong so sánh tỉ lệ trả lời chính xác thì năm 2006 so với năm 2003 có 8 vấn đề tăng lên, trong khi 40 vấn đề khác giảm xuống. Trong đó có một vấn đề tăng trên 5 điểm nhưng có 10 vấn đề  điểm suy giảm.

Trong PISA công bố tháng 12 năm 2010, năng lực đọc tăng từ vị trí 15 lên vị trí số 8 (nhóm 5-9), toán học từ vị trí số 10 lên số 9 (nhóm 8-12), khoa học từ vị trí số 6 đến số 5 (nhóm 4-6). Nghĩa là kết quả tăng ở tất cả các lĩnh vực và năng lực đọc tăng lên một cách có ý nghĩa. Tỉ lệ chính xác đối với cùng một vấn đề so sánh với PISA 2009 như sau: năng lực đọc từ 58.4% lên 61.7%, toán học từ 51.9% lên 54.4%, khoa học từ 59.5% lên 61.8%.

Nguyễn Quốc Vương dịch
Nguồn: WIKIPEDIA

Giáo dục yutori ở Nhật Bản (6): Chế độ trường học 5 ngày trong tuần và Thời gian học tập tổng hợp

March 28, 2015 Leave a comment

Các mục liên quan đến giáo dục yutori

Chế độ trường học học 5 ngày trong tuần

Trong các trường học công lập, thứ bảy của tuần thứ 2 trong tháng đã trở thành ngày nghỉ kể từ tháng 9 năm 1992, đến năm 1995 thứ bảy của tuần thứ 4 cũng trở thành ngày nghỉ và từ năm 2002 tất cả các ngày thứ bảy trong tháng học sinh đều nghỉ học (thực hiện toàn diện trường học học 5 ngày/tuần)

Điều này được quyết định bởi quy chế thực hiện Luật giáo dục trường học (Điều 61) và không được sửa đổi tính đến thời điểm năm 2014 do đó ở các trường công về nguyên tắc ngày thứ bảy là ngày nghỉ. Ở các trường tư do phương châm giáo dục của các trường khác nhau cho nên cách thức ứng phó với ngày thứ bảy cũng khác nhau. Có trường học thực hiện hoàn toàn tuần học 5 ngày nhưng cũng có những trường thực hiện tuần học 6 ngày như trước năm 1991.

Bộ giáo dục cho rằng việc thực hiện tuần học 5 ngày là cần thiết để giáo dục “năng lực sống”

Thời gian học tập tổng hợp

 Đây là môn học được đặt ra khi sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 1998 và được triển khai từ năm 2002. Trong trường hợp lòng mong muốn của giáo viên, học sinh cao thì giờ học tổng hợp dễ thành công và đây cũng là yếu điểm của nó tuy nhiên vấn đề dựa trên tiêu chuẩn nào để đánh giá cơ bản thời gian học tập tổng hợp thành công hay thất bại đang là vấn đề tồn tại. Trên thực tế, có những trường sử dụng thời gian học tập tổng hợp một cách có ý nghĩa và cũng có không ít trường sử dụng nó như là thời gian giờ học bổ sung để nhằm nâng cao học lực của môn học truyền thống với tiêu chuẩn đánh giá rõ ràng.   Ngoài ra cũng có chỉ trích cho rằng nó làm suy giảm học lực và “năng lực tư duy một cách chủ thể” của học sinh. Về sau bản Hướng dẫn học tập năm 2008 được sửa đổi và ở bản Hướng dẫn học tập mới thời gian dành cho Thời gian học tập tổng hợp đã bị cắt giảm.

Đánh giá tuyệt đối

Cùng với sự sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 1998, sự đánh giá tuyệt đối bằng phương pháp đánh giá đi kèm với sự sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 2008 đã được tiếp tục cho đến thời điểm hiện tại 2014..  Cùng với sự sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 1998, sự đánh giá tuyệt đối bằng phương pháp đánh giá đi kèm với sự sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 2008 đã được tiếp tục cho đến thời điểm hiện tại 2014.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: Wikipedia

(còn tiếp)

Chuyện trẻ em Việt Nam đi học ở Nhật Bản

March 27, 2015 17 comments


Ở Việt Nam lễ khai giảng thường diễn ra vào tháng 9 nhưng ở Nhật lại là tháng tư- đúng mùa hoa anh đào nở. Với cả người Nhật và người Việt thì chuyện lần đầu đưa con đến trường là vô cùng quan trọng. Trong quá trình giúp đỡ bạn bè đưa con nhập học ở Nhật trong tư cách là “thông ngôn” tôi có lượm lặt được vài thông tin  xin được kể lại như là “chuyện đó đây”.  Trước tiên là chuyện ở nhà trẻ, trường mầm non.

Ảnh: internet

Ảnh: internet

Đăng ký vào trường

Ở Việt Nam chuyện xin cho con đi học thường là chuyện…ốm người  và cần đến “quan hệ” nhưng ở Nhật Bản có vẻ như nó không có gì phức tạp trừ phi bạn lỡ sống ở khu vực đang phải đối mặt với tình trạng thiếu trường cho trẻ .

Thường thì phụ huynh người Việt sẽ tìm kiếm  nhà trẻ, trường mầm non  nào đó gần nơi mình ở. Ở Nhật Bản không tồn tại chế độ hộ khẩu vì thế cứ sống ở đâu thì coi như “dân” ở đó. Người Nhật hay người nước ngoài đều thế không có sự phân biệt. Sau khi đến nước Nhật sau một thời hạn nhất định (thường là một tuần) người nước ngoài sẽ phải đến tòa thị chính để làm thủ tục đăng ký lấy thẻ người nước ngoài. Thủ tục này xong coi như họ trở thành “cư dân” ở địa phương đó. Mọi giấy tờ liên lạc liên quan đến phúc lợi, thuế, cuộc sống đều  sẽ được gửi đến địa chỉ này. Khi chuyển đi, sẽ lại phải đến tòa thị chính nơi ở mới để đăng ký và nhân viên ở đây sẽ ghi địa chỉ mới lên mặt  sau của tấm thẻ.  Không có sự vụ gì nghiêm trọng sẽ không bao giờ có chuyện cảnh sát đến nhà hỏi thông tin. Đương nhiên không có chuyện kiểm tra tạm trú, tạm vắng. Ở đường cảnh sát có thể kiểm tra thẻ người nước ngoài nhưng ở nhà dù là nhà thuê bạn sẽ là chủ. Không ai được quyền tự ý bước vào nhà bạn nếu bạn không mời hoặc cảnh sát mang theo giấy khám nhà của tòa án. Chủ nhà cũng không bao giờ gõ cửa phòng bạn. Theo luật Nhật Bản ngay cả trong trường hợp bạn không nộp tiền nhà, chủ nhà sẽ phải gửi đơn ra tòa dân sự và nếu có phán quyết của tòa với sự làm chứng hợp pháp mới được phép mở cửa vào nhà bạn để…dọn đồ bạn ra ngoài.

Cách tìm trường nhanh nhất là hỏi những người Việt đã từng có con đi học ở khu vực đó hoặc nhờ người Nhật quen biết giúp đỡ. Phụ huynh nào “cao thủ” hơn trong trình độ tiếng Nhật  có thể lên tòa thị chính hỏi để được tư vấn hoặc lên internet vào các diễn dàn đọc để xem “danh tiếng” và “tai tiếng” của trường như thế nào.
Sau khi quyết định trường cho con vào học, phụ huynh sẽ lên tòa thị chính hoặc đến thẳng trường xin một bộ hồ sơ đăng ký vào trường. Thường trong hồ sơ sẽ có 3 nguyện vọng. Việc quyết định vào học trường nào là do tòa thị chính chỉ  định và họ sẽ thông báo cho nhà trường và phụ huynh trước năm học mới. Thường thường do cân nhắc đến yếu tố “nước ngoài” tòa thị chính có xu hướng bố trí con em người nước ngoài vào những trường mà giáo viên đã từng có kinh nghiệm nuôi dạy trẻ em quốc tế.

Thuyết minh về trường và dặn dò chuẩn bị

Sau khi nhận được thông báo được nhận vào trường, phụ huynh sẽ được nhà trường liên lạc mời đến gặp trước khi tiến hành khai giảng. Tiếp phụ huynh sẽ là hiệu trưởng. Trong buổi gặp này hiệu trưởng sẽ trao cho phụ huynh các tài liệu cần thiết như : tài liệu  giới thiệu về nhà trường, những đồ dùng nhà trường phát cho học sinh, …. Hiệu trưởng và nhân viên phụ trách cũng sẽ thuyết minh cho phụ huynh nghe đầy đủ về  các thông tin liên quan đến nhà trường: cơ cấu tổ chức, tư cách pháp nhân, số lượng nhân viên, triết lý giáo dục, học phí, các khoản thu ngoài học phí, hình thức liên lạc với gia đình và cách thức nộp tiền…Để đảm bảo công bằng cơ hội giáo dục, các khoản phí phải nộp sẽ tương ứng với thu nhập của phụ huynh. Nghĩa là gia đình nào thu nhập cao sẽ phải đóng phí cao hơn gia đình có thu nhập thấp.
Đặc biệt, nhà trường sẽ giới thiệu cho phụ huynh địa chỉ liên lạc cần thiết (tòa thị chính, hiệu trưởng) khi phát hiện thấy con bị ngược đãi.
Hiệu trưởng cũng sẽ dặn dò phụ huynh chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho con dùng ở trường. Đặc biệt đồ dùng nào cũng đều phải có dán tên học sinh kèm theo dấu hiệu của “lớp” (thường được quy định bởi màu sắc và biểu tưởng ví dụ quả chuối màu vàng, con thỏ màu trắng).  Giáo viên trực tiếp lấy số đo từ học sinh để đặt may quần áo thể thao…

Phụ huynh cũng sẽ phải viết “địa chỉ liên lạc khẩn cấp” để nhà trường gọi khi cần thiết.

Thông tin về sức khỏe của học sinh: đã tiêm những vắc xin gì, có bị phản ứng thuốc bao giờ không, có bị bệnh nặng không, có kiêng thức ăn gì không… sẽ được hỏi và ghi chép lại cẩn thận. Thường ở Nhật sẽ có cuốn sổ y tế ghi chép quá trình trưởng thành và các loại thuốc điều trị, tiêm phòng của trẻ để phụ huynh sao cho nhà trường nhưng Việt Nam không có nên được tiến hành bằng….phỏng vấn.
Giáo viên cũng sẽ dẫn phụ huynh đi tham quan một vòng quanh trường và hướng dẫn cách đi, để giày dép, quần áo khi vào trường….
Những nghi thức của lễ nhập học (khai giảng)  cũng được thông báo cẩn thận. Phụ huynh và học sinh sẽ phải đến trước 30 phút để chuẩn bị.

Sau khi nghe xong thuyết minh, phụ huynh sẽ phải đóng dấu  (kí) vào nơi xác nhận đã được nghe thông tin đầy đủ và đồng ý cung cấp thông tin cá nhân cho trường.
Dường như trẻ em người Việt thích nghi khá nhanh với môi trường mới. Chú bé 5 tuổi vừa mới tới Nhật Bản hôm trước nay cùng tôi và bố mẹ tới trường khi về đã nói luôn “con thích đi học”. Chú bé cũng thắc mắc mãi là “Tại sao cô giáo lại mang đồ chơi cho con chơi nhỉ?”
Mà thích cũng phải. Mới vào trường cô trò chẳng hiểu nhau nòi gì nhưng đã được cô hiệu trưởng mang cho một thùng đồ chơi tha hồ ngồi xếp. Lúc về còn được cô cho một gói kẹo.
Giáo viên ở các nhà trẻ, mầm non Nhật Bản  thường được đào tạo và tuyển chọn khá khắt khe cho dù là nhân viên chính thức hay bán thời gian. Các cô lại xinh nữa nên dễ hiểu không chỉ các cháu thích đi học mà bố các cháu cũng rất chăm chỉ đưa đón con…

Nguyễn Quốc Vương 

(còn tiếp)

Giáo dục yutori ở Nhật Bản (5)

March 27, 2015 Leave a comment

Thế hệ tiếp nhận giáo dục yutori

Bảng đối chiếu  giữa năm sinh và bản Hướng dẫn học tập
Màu đỏ chỉ giáo dục được tiến hành dưới bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1998(được thực hiện từ năm 2002). Màu cam, màu xanh lá cây là chỉ giáo dục được tiến hành dưới bản Hướng dẫn học tập trước đó.

Màu xanh da trời là chỉ giáo dục được thực hiện dưới bản Hướng dẫn học tập từ đó trở đi. Màu vàng xanh lá cây, màu hồng là giáo dục giai đoạn chuyển tiếp-hòa trộn giữa giáo dục trước và sau khi sửa đổi. Từ giờ về sau trừ phi bản Hướng dẫn học tập được sửa đổi, giáo dục sẽ được tiến hành theo như bảng này.

Thời kỳ tiến hành chế độ giáo dục liên quan tới các thế hệ tiếp nhận giáo dục Yutori được thể hiện như bảng dưới đây.

Cách xem bảng
Màu Trắng Đỏ Vàng Vàng xanh Xanh da trời
Giáo dục được thể hiện Giáo dục trước khi thực hiện giáo dục yutori Giáo dục yutori Giáo dục giai đoạn chuyển tiếp Giáo dục có một phần “thoát yutori” Giáo dục thoát yutori
Sự biến đổi của các thế hệ tiếp nhận giáo dục yutori và thoát yutori
Năm sinh Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5 Lớp 6 THCS năm thứ 1 THCS năm thứ 2 THCS năm thứ 3 THPT-Thi vào đại học
1986 850 910 980 1015 1015 1015 1050 1050 1050 Giáo dục trước giáo dục yutori
1987 850 910 980 1015 1015 1015 1050 1050 980 Giáo dục yutori
1988 850 910 980 1015 1015 1015 1050 980 980
1989 850 910 980 1015 1015 1015 980 980 980
1990 850 910 980 1015 1015 945 980 980 980
1991 850 910 980 1015 945 945 980 980 980
1992 850 910 980 945 945 945 980 980 980
1993 850 910 910 945 945 945 980 980 980
1994 850 840 910 945 945 945 980 980 980
1995 782 840 910 945 945 945 980 980 980
1996 782 840 910 945 945 945 980 980 980 Giáo dục có một bộ phận thoát yutori
1997 782 840 910 945 945 980 980 980 1015 Giáo dục yutori
1998 782 840 910 945 980 980 980 1015 1015
1999 782 840 910 980 980 980 1015 1015 1015
2000 782 840 945 980 980 980 1015 1015 1015
2001 782 875 945 980 980 980 1015 1015 1015
2002 816 875 945 980 980 980 1015 1015 1015
2003 816 910 945 980 980 980 1015 1015 1015
2004 850 910 945 980 980 980 1015 1015 1015

Bổ sung

Năm sinh là tính trong trường hợp không lưu ban ở lại lớp. Những người sinh trước ngày 1 tháng 4 thì được coi thuộc về năm trước đó.

Ngoài ra ở THPT do giáo dục khi nhập học được tiếp tục duy trì cho đến khi tốt nghiệp cho nên những người sinh năm 1987, 1988 đang học THPT không được coi là giáo dục yutori và những người sinh năm 1994, 1995 cũng không được coi là tiếp nhận giáo dục thoát yutori, cả kỳ thi đại học về nguyên tắc vẫn ra trong phạm vi là giáo dục hiện hành khi đó. Thời kỳ chuyển tiếp là giáo dục thực hiện trước một bộ phận thoát yutori liên quan đến Số học, Toán học, Khoa học (Về sự biến đổi này mời tham khảo trang nhà của Bộ giáo dục)

Trong kỳ thi trung tâm các thí sinh học chương trình cũ vẫn có thể được dự thi theo chương trình đó như là một biện pháp trung gian.

(còn tiếp)
Nguyễn Quốc Vương dịch từ Wikipedia

Giáo dục yutori ở Nhật Bản (3)

March 26, 2015 Leave a comment

Giáo dục yutori và những điểm thay đổi

số giờ học

Sự biến đổi tổng số giờ học chia theo cấp lớp  của giáo dục  yutori và giáo dục trước đó.

 

Lớp   Giáo dục trước đó Giáo dục yutori
Lớp 1 tiểu học 850(23) 782(23)
Lớp 2 tiểu học 910(26) 840(24)
Lớp 3 tiểu học 980(28) 910(26)
Lớp 4 tiểu học 1015(29) 945(27)
Lớp 5 tiểu học 1015(29) 945(27)
Lớp 6 tiểu học 1015(29) 945(27)
Năm thứ nhất Trung học cơ sở 1050(30) 980(28)
Năm thứ hai THCS 1050(30) 980(28)
Năm thứ ba THCS 1050(30) 980(28)

(Con số trong ngoặc chỉ số giờ học trong mỗi tuần)

Sự biến đổi của số giờ học chia theo môn giáo khoa của giáo dục trước đó và giáo dục yutori (trường tiểu học)

 

Môn học Giáo dục trước đó Giáo dục yutori
Quốc ngữ 1601 1377
             Xã hội 420 345
Số học 1011 869
Khoa học 420 350
           Đời sống 207 207
Âm nhạc 418 358
Thủ công 418 358
Gia đình 140 115
            Thể dục 627 540
           Đạo đức 209 209
        Giờ học đặc biệt 314 209
Thời gian học tập tổng hợp 0 430
­Sự thay đổi số giờ học chia theo môn giáo khoa của giáo dục trước đó và giáo dục yutori (Trung học cơ sở)
Môn học Giáo dục trước đó Giáo dục yutori
Quốc ngữ 455 350
Xã hội 350~385 295
               Toán học 385 315
          Khoa học 315~350 290
Âm nhạc 140~175 115
Mĩ thuật 140~175 115
            Thể dục-sức khỏe 315~350 270
Kĩ thuật-gia đình 210~245 175
Ngoại ngữ (315~420) ※1 315
           Đạo đức 105 105
Hoạt động đặc biệt 105~210 105
     Các môn tự chọn 350~630 ※2 155~280 ※3
Thời gian học tập tổng hợp 0 210~335

※1. Môn Ngoại ngữ trong giáo dục trước đó nằm ở môn tự chon và mỗi cấp lớp có số giờ tiêu chuẩn là 105-140
※2. Các môn giáo khoa ngoài môn Ngoại ngữ có số giờ học trong phạm vi 35.
※3. Mỗi môn giáo khoa có số giờ nằm trong phạm vi 70 (năm thứ nhất là 30)

Nguyễn Quốc Vương dịch
Nguồn:WIKIPEDIA tiếng Nhật. 

%d bloggers like this: