Archive

Archive for April, 2015

“Học tập giải quyết vấn đề” là gì và được tiến hành như thế nào?

April 27, 2015 Leave a comment

Trong đề án cải cách giáo dục sau 2015 của Bộ giáo dục, có nhấn mạnh việc chuyển từ “dạy học tiếp cận nội dung” sang “dạy học tiếp cận năng lực”. Ở đó sẽ tiến hành “dạy học tích hợp” , “dạy học giải quyết vấn đề” với nội dung học tập thiết kế theo chủ đề. Xét ở phương diện kỹ thuật thuần túy tư duy của cơ quan quản lý giáo dục trung ương đã có sự dịch chuyển hợp xu thế. Tuy nhiên, nếu không có các nghiên cứu làm nền tảng, kết cục trong thực tế sẽ chỉ dừng lại ở dạng “phong trào” và giáo viên sẽ chỉ học lấy vài “kĩ thuật” ở lớp vỏ bên ngoài.

Bản thân việc sử dụng các thuật ngữ “dạy học tích hợp”, “dạy học tiếp cận năng lực”, “dạy học giải quyết vấn đề” ở mức độ nào đó đã thể hiện sự mơ hồ về triết lý-ý nghĩa ẩn sau chúng vốn là thành tựu giáo dục học có nguồn gốc từ Âu Mĩ. Đúng ra phải là “học tập tổng hợp”, “giáo dục năng lực” và “học tập giải quyết vấn đề”.

“Dạy học” là thuật ngữ thể hiện quán tính nhấn mạnh vai trò “truyền thụ tri thức” của người thầy và lối giáo dục “giáo hóa” học sinh trong khi “học tập” lại nhấn mạnh vào vai trò của học sinh-chủ thể của hoạt động.

Ở VN trong một thời gian dài, “dạy học nêu vấn đề” tồn tại thay vì “học tập giải quyết vấn đề” cũng thể hiện điều đó. Trong “dạy học nêu vấn đề”, người giáo viên “nắm” từ đầu đến cuối: nêu ra vấn đề và rút ra kết luận. Ngược lại trong “học tập giải quyết vấn đề”, học sinh có thể tự giác, chủ động lựa chọn, phát hiện vấn đề và tìm kiếm thông tin, phương thức giải quyết nó.

Xin post một bài dịch trích từ “Từ điển  giáo dục môn Xã hội” do Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản xuất bản năm 2000

Học tập giải quyết vấn đề

 

Mục đích và phương pháp học tập giải quyết vấn đề

 

Học tập giải quyết vấn đề là hoạt động học tập nhằm mục đích làm trưởng thành năng lực, thái độ, lòng mong muốn của học sinh bằng chính sức mạnh của bản thân học sinh dựa trên hệ thống phát triển tâm lý của học sinh. Ở điểm này, học tập hệ thống với tư cách là hoạt động học tập lấy mục đích là làm cho học sinh thu nhập tri thức dựa trên hệ thống lô-gic của các môn khoa học trở thành thứ có tính chất tham chiếu.

Học tập giải quyết vấn đề nhắm tới việc làm trưởng thành năng lực, thái độ, lòng mong muốn của học sinh thông qua sự chỉ đạo và trợ giúp của giáo viên với các hoạt động cụ thể của học sinh trong thực tiễn. Tức là các năng lực, thái độ, lòng mong muốn có được nhờ vào các hoạt động trải nghiệm trong thực tiễn. Nhờ vào việc tích lũy các trải nghiệm như thế, học sinh sẽ nhắm tới việc có được năng lực, thái độ, lòng mong  muốn thích hợp ở các tình huống cần thiết dựa vào chính bản thân mình. Tóm lại, học tập giải quyết vấn đề có thể tóm lược lại ở mấy điểm sau.

(1) Học tập giải quyết vấn đề nhắm tới mục đích làm trưởng thành năng lực, thái độ, lòng mong muốn của học sinh thông qua quá trình tìm kiếm tri thức của chính học sinh.

(2) Học tập giải quyết vấn đề được triển khai bằng phương pháp tiến hành các trải nghiệm trong thực tiễn với các hoạt động cụ thể để phát huy năng lực, thái độ và lòng mong muốn của học sinh.

Học tập giải quyết vấn đề trong môn Xã hội

 

Năng lực, thái độ, lòng mong muốn được nhắm đến trong môn Xã hội là năng  lực tự mình điều tra, thu thập thông tin về sự thật, suy nghĩ về ý nghĩa của nó, vừa trao đổi ý kiến với những người có lập trường khác nhau, vừa có thể đưa ra quyết định một cách có trách nhiệm hay xu hướng muốn hành động.

Do đó, trong hoạt động học tập cho dù học sinh điều tra, thu thập thông tin, suy nghĩ, thảo luận về ý nghĩa của chúng thế nào đi nữa thì cũng cần phải đưa ra quyết định của bản thân. Bằng việc tích lũy các trải nghiệm hoạt động học tập mang tính trí tuệ và tự chủ như thế, sẽ làm trưởng thành năng lực, thái độ, lòng mong muốn về các vấn đề trong đời sống xã hội của học sinh với tư cách là một thành viên của đời sống xã hội.

Tuy nhiên để học sinh tiến hành các hoạt động học tập tự chủ như cùng điều tra và thảo luận, chủ đề của hoạt động học tập phải là thứ gần gũi với học sinh. Tức là nó cần phải nằm trong phạm vi học sinh có thể tự mình điều tra và phải là đối tượng quan tâm, hứng thú của học sinh.

Vì vậy, chủ đề của hoạt động học tập trong học tập giải quyết vấn đề  cần được tuyển chọn từ trong cuộc sống hàng ngày của học sinh và là vấn đề học sinh có hứng thú. Nói cách khác, cần phải sử dụng các chất liệu mà từ đó học sinh dễ tìm ra chủ đề của bản thân.

Đối với học sinh, trong hoạt động mang tính tất yếu, việc phát huy năng lực, thái độ, lòng mong muốn  dựa trên cảm giác tất yếu của bản thân sẽ tạo ra sự trưởng thành của năng lực, thái độ, lòng mong muốn đó. Ở đây, căn cứ của nó là việc đưa ra các vấn đề thiết thực, trực diện trong cuộc sống hàng ngày của trẻ em. Nó có thể được diễn đạt như sau:

(1) Trong học tập giải quyết vấn đề của môn Xã hội, tiến hành các hoạt động học sinh tự mình điều tra, thu  thập thông tin, thảo luận.

(2) Trong hoạt động học tập nhằm nâng cao năng lực, thái độ, lòng mong muốn của học sinh cần lựa chọn chủ đề trong cuộc sống và là đối tượng quan tâm, hứng thú của học sinh.

Vấn đề” và “giải quyết”

 

“Vấn đề” không phải các chủ đề như “muốn điều tra”, “muốn thử làm”.

“Vấn đề” chỉ được hình thành khi  hoạt động đưa trẻ em vào nhận thức “muốn học để đạt được”, “muốn làm để đạt được” và coi nó như là vấn đề của bản thân và đặt học sinh trong trạng thái bế tắc không giải quyết được, từ đó có sự giác ngộ và quyết tâm muốn giải quyết bằng được.

Để xác lập được “vấn đề” cần phải có các điều kiện sau

(1) Hoạt động của học sinh coi  chủ đề là của bản thân

(2) Tình trạng bế tắc của hoạt động

(3) Sự giác ngộ về sự bế tắc

(4) Quyết tâm giải quyết

Trong trường hợp hoạt động được diễn ra có được vị trí như là vấn đề của bản thân học sinh thì học sinh sẽ có quyết tâm giải quyết bằng được nó. Vì thế cho dù nó là điểm nhỏ như thế nào đi nữa nhưng trẻ em cần phát hiện nó như là vấn đề và dốc toàn lực quyết tâm giải quyết. Trái lại cho dù hoạt động có tốt đến mấy và sự trở ngại có đi nữa nhưng nếu học sinh không phát hiện ra “vấn đề” thì sẽ không đạt được mục tiêu.

Trong việc tiến hành hoạt động hướng đến “giải quyết” học sinh  đương nhiên sẽ động viên trí tuệ, tìm kiếm thông tin và nỗ lực. Thông qua tính tất yếu này, học sinh sẽ có được trải nghiệm về trí tuệ và trưởng thành về năng lực, thái độ, lòng mong muốn. Bên cạnh đó cũng học được các tri thức, kĩ năng liên quan. Đồng thời tích lũy được các kinh nghiệm thực tiễn.

Trong học tập giải quyết vấn đề, thông qua việc tiến hành “giải quyết” làm cho học sinh trải nghiệm cố gắng, sự kiên trì và hoạt động. Thông qua các trải nghiệm như thế mục đích giáo dục nên con người tự lập sẽ đạt được.
(Từ điển giáo dục môn Xã hội, Gyosei, 2000)

Nguyễn Quốc Vương dịch

Advertisements

Cải cách hành chính giáo dục-nội dung bị lãng quên trong cải cách giáo dục Việt Nam

April 25, 2015 Leave a comment

Quan sát 4 cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử giáo dục Việt Nam sẽ nhận thấy một đặc điểm rất đáng chú ý: Cải cách giáo dục chủ yếu diễn ra trên phương diện cải cách chương trình-SGK và ở mức độ nào đó là sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân. Cũng có khi khởi đầu của cuộc cải cách giáo dục “từ trên xuống” có tính toàn diện ít nhất là ở phương diện đề án nhưng sau đó khi thực hiện nó thu lại thành “cải cách chương trình-SGK”.

Như vậy, cải cách giáo dục đã bỏ qua nhiều nội dung-phương diện quan trọng như: chấn hưng giáo dục quốc dân (giáo dục xã hội), cải cách tài chính giáo dục…

Đặc biệt các nhà làm chính sách và cả các chuyên gia, nhà nghiên cứu, công luận và giáo viên đã và đang  quên mất một nội dung quan trọng trong cải cách giáo dục.

Nó là gì?

Đó là “Cải cách hành chính giáo dục”. Xu hướng cải cách hành chính giáo dục hiện đại phải là chuyển từ trung ương tập quyền sang địa phương phân quyền và tự trị trường học.

Ở Việt Nam  hiện tại, những trí thức có gốc gác Tây học hoặc ngưỡng mộ giáo dục phương Tây đang đề cập đến vấn đề “tự chủ trường học” hoặc “tự trị trường học” . Tuy nhiên, các trường học mà họ đề cập đến chủ yếu là trường cao đẳng, đại học chứ không phải là trường phổ thông. Trong khi phân quyền và tự trị đối với giáo dục phổ thông (địa phương và các trường) rất quan trọng nếu không muốn nói là quyết định sự thành bại của cải cách giáo dục.

Tham chiếu với cuộc cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến (1945-1950) thì thấy ở Nhật Bản  cải cách hành chính giáo dục được thực hiện trước tiên bằng việc “cải tổ bộ giáo dục” (Luật tổ chức bộ giáo dục) và thiết lập các Ủy ban giáo dục (Luật hành chính giáo dục địa phương và Ủy ban giáo dục). Bằng  việc “hạn chế quyền hạn của bộ giáo dục” và “chuyển bộ giáo dục thành cơ quan trợ giúp, tư vấn chuyên môn” thay cho “chỉ đạo mệnh lệnh” cùng với sự ra đời và vận hành của hành chính giáo dục địa phương đứng đầu là Ủy ban giáo dục (thành phần đa dạng: giáo viên, phụ huynh, nhà nghiên cứu, viên chức), hành chính giáo dục  đã chuyển từ trạng thái “quản lý” , “kiểm soát” sang “tư vấn”, “chỉ đạo” và “giúp đỡ”. Nghĩa là nhiệm vụ-chức năng  của hành chính giáo dục là  tạo điều kiện tốt nhất cho các hoạt động giáo dục trường học được tiến hành nhằm đạt mục tiêu giáo dục.

Cải cách giáo dục Việt Nam muốn thành công cũng không thể bỏ qua điều đó.

Giáo dục lịch sử để làm gì?

April 24, 2015 Leave a comment

Thú vị là có rất nhiều người đủ mọi trình độ học vấn bao gồm cả các nhà sử học và giáo viên lịch sử kêu than phải đặt môn lịch sử vào đúng vị trí, vai trò của nó.
Nhưng…
Chưa  thấy ai  lý giải được một cách hợp lý rằng “học lịch sử là cần thiết”. Loanh quanh rồi cũng quy về mấy mệnh đề chung chung: học lịch sử để yêu nước, học lịch sử để biết truyền thống, để rút ra bài học, để tự hào dân tộc, để hình thành nhân cách…

0001
Con người là động vật hoạt động vì lợi ích của bản thân. Học lịch sử nó phải đem lại lợi ích thiết thực thì người ta mới học. Giáo viên khi dạy lịch sử ở trường phổ thông cũng không nhất thiết phải nhắc đi nhắc lại với học sinh “học lịch sử để làm gì” nhưng cần phải hiểu nó một cách thấu đáo ở trong đầu dưới dạng “tự kỷ ám thị”. Đơn giản vì nó giống như một thứ triết lý chi phối toàn bộ hoạt động chỉ đạo học sinh học tập.
Thiếu nó thì người thầy sẽ lạc đường hoặc mù mờ không rõ mình sẽ đi đâu về đâu. Một khi thầy còn đi lạc thì làm sao “chỉ đạo” (dẫn đường) cho học sinh?
Với tôi, tôi kiên trì quan điểm cho rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa, thông tin hóa và xu thế phổ cập của các giá trị phổ quát hiện nay, giáo dục lịch sử ở Việt Nam phải nhắm đến hình thành người công dân có tư duy độc lập và tinh thần tự do. Muốn có con người đó nhất thiết phải có hai trụ cột:
Một là nhận thức lịch sử khoa học.
Hai là phẩm chất công dân.

Hiến chương thành phố và xã hội công dân

April 22, 2015 Leave a comment

Ở nước Nhật hiện đại, mỗi thành phố thường có “Hiến chương” riêng. Hiến chương của thành phố thể hiện mục tiêu-triết lý của thành phố đó và thường được khắc vào bảng đồng hoặc bia đá dựng trước tòa thị chính. Đằng sau tấm bảng khắc hiến chương là phong trào công dân và sự tiến triển từ xã hội dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện) sang dân chủ trực tiếp-nơi các công dân trực tiếp tham gia vào việc quản lý xã hội kể cả tư pháp (Nhật Bản hiện tại áp dụng chế độ người dân thường trải qua một khóa huấn luyện có thể tham gia xét xử tại tòa tức chế độ “Saibanin”).

Bản thân tòa thị chính không có cổng và tường bao cũng như không có nhân viên bảo vệ có vũ trang đã nói lên rất nhiều điều. Bên trong các phòng ban làm việc của nhân viên tòa thị chính cũng không có vách ngăn. Công dân thành phố có thể đi lại bên trong hoặc ngắm nhìn họ làm việc.

Giới thiệu với các bạn vài tấm ảnh tôi chụp tòa thị chính thành phố Kanazawa tỉnh Ishikawa, Nhật Bản và Hiến chương thành phố.

IMG_1659

Hiến chương công dân Kanazawa

 Chúng tôi, những người yêu Kanazawa tự hào về sắc màu bốn mùa của Kenrokuen, dòng chảy thanh khiết của sông Saigawa, Asanogawa, màu xanh phong phú của núi non và phố phường  cùng văn hóa truyền thống thơm ngát sẽ nỗ lực  xây dựng  môi trường lao động  tràn đầy hi vọng và sinh khí, xây dựng thành phố  với nền giáo dục và văn hóa tràn đầy tính sáng tạo.

– Mở ra cửa sổ tâm hồn tới thế giới và tương lai

– Hướng đến  cuộc sống sinh động và tươi sáng

– Bảo vệ tâm hồn và thiên nhiên tươi đẹp của quê hương

– Mọi người cùng nắm tay xây dựng thành phố

– Cùng nhau xây dựng Kanazawa đầy cá tính của ngày mai

IMG_1651IMG_1654IMG_1655IMG_1656IMG_1657IMG_1658
IMG_1661

Hoa anh đào-vẻ đẹp của mùa xuân Nhật Bản

April 12, 2015 Leave a comment

Tôi vừa đi ngắm hoa anh đào ở con sông gần nhà. May mắn gặp ngày nắng đẹp. Nơi đây trước kia là đồng ruộng, từ khi trường đại học di chuyển đến mới thành phố phường. Chính quyền, NPO và người dân địa phương đã biến nơi đây thành địa phương có thiên nhiên phong phú với rừng, sông, nước, chim trời, thú ….
Xin giới thiệu với các bạn vài bức ảnh tôi mới chụp sáng nay ở bờ sông gần nhà. Một con sông nhỏ bình thường như bao con sông khác ở nước Nhật.
Hoa anh đào đẹp nhưng là hoa nước Nhật.
Ngắm hoa

Không khỏi nhớ cố hương.

IMG_1472IMG_1472IMG_1473IMG_1480IMG_1482IMG_1483IMG_1487IMG_1488IMG_1471

Giáo dục trường học ở Nhật Bản

April 12, 2015 Leave a comment

Giáo dục trường học

Giáo dục trường học là giáo dục được tiến hành bằng  ngôn ngữ giảng dạy trong trường học.

Khái quát

Giáo dục trường học có mối quan hệ mật thiết với giáo dục công. Giáo dục công là giáo dục có tính chất công do nhà nước, chính quyền tự trị địa phương hay pháp nhân trường học tiến hành thông qua trường học.  Bản thân giáo dục ngoài giáo dục trường học còn có giáo dục gia đình và giáo dục xã hội và bằng việc liên kết, kết hợp giữa chúng mà giáo dục đạt được mục tiêu.

Giáo dục trường học ở Nhật Bản

Giáo dục trường học ở Nhật bản ở nghĩa hẹp chỉ giáo dục được tiến hành ở trường học theo quy định của điều 1 Luật giáo dục trường học (Bộ luật số 26 năm Showa thứ 22). Nói một cách cụ thể nó bao gồm các trường tiêu biểu như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và thời kỳ từ khi học sinh 6 đến 15 tuổi là giáo dục nghĩa vụ. Tuy nhiên, cho dù không tương ứng với giáo dục trường học ở nghĩa hẹp đi nữa thì các trường hợp giáo dục được coi là thuộc về giáo dục trường học cũng có ý nghĩa lớn ở Nhật Bản hiện đại. Đặc biệt, các trường như Senshu gakko (trường chuyên tu, bao gồm trường chuyên tu THPT, trường cao đẳng nghề) hay Kakushu gakko (trường Kakushu) mặc dù không được quy định trong điều 1 Luật giáo dục trường học nhưng nó vẫn nằm trong quy định của Luật giáo dục trường học vì vậy mà nó được coi như là giáo dục trường học.

Giáo dục trường học được tiến hành theo tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản và Luật giáo dục cơ bản (Bộ luật số 25 năm Showa 22) và được chế định bởi Luật giáo dục trường học và các bộ luật khác dưới ảnh hưởng của Hiến pháp là Luật giáo dục cơ bản. Ví dụ như trong Luật giáo dục trường học, giáo dục trường học cấp trung học phải đạt được mục tiêu sau (Luật giáo dục trường học khoản 3 điều 51) :

  1. Giáo dục phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ quốc gia-xã hội
  2. Làm cho học sinh quyết định được con đường của mình trong tương lai tùy theo cá tính của bản thân, nâng cao văn hóa nói chung và học tập thành thạo kĩ năng chuyên môn dựa trên sự tự giác về sứ mệnh phải làm trong xã hội.
  3. Giáo dục sự lý giải sâu rộng về xã hội và năng lực phê phán lành mạnh, nỗ lực xác lập cá tính.

Nhất nguyên hóa  nhà trẻ và mẫu giáo

Nhà trẻ là cơ sở phúc lợi trẻ em dựa trên Luật phúc lợi trẻ em và nó khác với trường mầm non là cơ sở giáo dục dựa trên Luật giáo dục trường học. Tuy nhiên những năm gần đây, xu hướng “Nhất thể hóa nhà trẻ và mẫu giáo” (nhất nguyên hóa nhà trẻ và mẫu giáo)  xuất hiện và nếu như sự đang ký các đặc khu theo sự xác lập Luật phân chia khu vực đặc biệt được công nhận thì việc xây dựng các cơ sở nhất thể hóa cả nhà trẻ và mẫu giáo có thể thành hiện thực. Ví dụ như vào năm 2003 ở Nanajo no Machi của tỉnh Guma đã công nhận “khu vực đặc biệt nhất thể hóa nhà trẻ và mẫu giáo” và tiến hành  mở cửa cơ sở hợp nhất nhà trẻ và mẫu giáo.

Trường đại học và giáo dục trường học

Trường đại học nông nghiệp là cơ sở giáo dục đào tạo người làm nông nghiệp dựa trên Luật hỗ trợ cải cách nông nghiệp và có vị trí khác với giáo dục trường học tuy nhiên trong những năm gần đây phần lớn các cơ sở này đã được coi là trường chuyên tu do tiếp nhận khóa trình chuyên môn của trường chuyên tu.

Nói chung, cơ sở có tên là đại học không có vị trí cố định và không có quy định về đại học trong Luật giáo dục trường học. Tuy nhiên có rất nhiều trường chuyên tu có tên gọi “Trường đại học….” và những trường này có vị trí như là giáo dục trường học. Trong các trường Shocho Daigakko, có các trường tiến hành giáo dục tương ứng với đại học hay sau đại học và các cơ sở được công nhận là cơ quan cấp học vị, được đánh giá có pháp nhân độc lập. Khi tốt nghiệp các cơ sở này thì căn cứ theo quy định số 2 mục 4 điều 104 Luật giáo dục trường học, người học có thể nhận học vị cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ.

Phạm vi của giáo dục trường học

Hệ thống trường học chính thức của Nhật theo quy định của điều 1 Luật giáo dục trường học bao gồm:

– Trường mầm non

– Trường tiểu học

– Trường trung học cơ sở

– Trường trung học cơ sở và trung học phổ thông

– Trường trung học phổ thông

– Trường Trung học chuyên môn

– Đại học

– Đại học-cao đẳng

– Đại học viện (Sau đại học). Phần lớn nằm trong các đại học.

– Trường giáo dục đặc biệt (Tokubetsu shien gakko)

Hệ thống trường phi chính quy –Các trường không phải là trường chuyên tu, trường trung học chuyên tu, trường cao đẳng nghề không được sử dụng tên gọi đó (Khoản 2 điều 135)

– Trường chuyên tu (điều 124)

– Trường trung học chuyên tu – khoản 1 điều 126 (trường chuyên tu có khóa trình trung học)

– Trường cao đẳng nghề -khoản 2 điều 126 (trường chuyên tu có khóa trình nghề)

– Trường kakushu-điều 134.

Các cơ sở không phải là trường học (trừ các cường chuyên tu, kakushu)

– Nhà trẻ-cơ sở phúc lợi trẻ em được quy định bởi Luật phúc lợi trẻ em. Trực thuộc bộ sức khỏe, lao động và phúc lợi。

– Trường đại học (daigakkuko) (trừ trường chuyên tu và kakushu): không được quy định trong Luật giáo dục trường học và không tồn tại thành hệ thống. Tuy nhiên thực tế có rất nhiều trường có tên gọi “Trường đại học…” tồn tại. Ngoại trừ các trường có tên là trường chuyên tu hay Kakushu, các cơ sở này đều không trực thuộc Bộ giáo dục.

– Các Trường đại học ngắn hạn không được quy định trong Luật giáo dục trường học và cũng không tồn tại thành hệ thống. Sự phân biệt nó với Daigakkuko không rõ ràng.

– Các trường chưa được công nhân: không có quy định về mặt luật pháp

– Các cơ sở đào tạo nghề nghiệp-cơ sở phục vụ đào tạo nghề nghiệp được quy định bởi Luật xúc tiến phát triển năng lực nghề nghiệp. Ngoài ra còn có các trung tâm dạy nghề, trung tâm văn hóa, Free-school…

Nội dung-các giai đoạn của giáo dục trường học

Giáo dục trường học ở Nhật Bản được chia thành các giai đoạn chủ yếu sau

  1. Giáo dục trước khi đi học (nhà trẻ)
  2. Giáo dục sơ cấp (tiểu học)=giáo dục phổ thông
  3. Giáo dục trung học cơ sở bậc thấp (giáo dục trung học cơ sở)=giáo dục phổ thông
  4. Giáo dục trung học phổ thông (bao gồm cả trường hợp nhất THCS và THPT)=giáo dục phổ thông+giáo dục chuyên môn.
  5. Giáo dục bậc cao (Đại học-sau đại học, cao đẳng, cao đẳng nghề)= giáo dục nói chung+giáo dục chuyên môn

Về nội dung giáo dục nó được chia ra theo từng giai đoạn như dưới đây:

  1. Giáo dục phổ thông (từ tiểu học đến trung học)
  2. Giáo dục nói chung (giáo dục bậc cao)
  3. Giáo dục chuyên môn (giáo dục trung học-giáo dục bậc cao)
  4. Giáo dục trợ giúp đặc biệt

Giáo dục trường học và đào tạo nghề nghiệp

Cơ sở phát triển năng lực nghề nghiệp công cộng dựa trên Luật xúc tiến phát triển năng lực nghề nghiệp (trường phát triển năng lực nghề nghiệp, Trường đại học phát triển năng lực nghề nghiệp, Đại học ngắn hạn phát triển năng lực nghề nghiệp, Trường phát triển năng lực nghề nghiệp cho người khuyết tật, Trung tâm xúc tiến phát triển năng lực nghề nghiệp) không phải là giáo dục trường học (trực thuộc Bộ giáo dục) mà là cơ sở đào tạo nghề nghiệp vì vậy có vị trí khác với trường học. Việc phân biệt rõ giữa cơ sở phát triển năng lực nghề nghiệp công với giáo dục trường học đã trải qua các diễn biến sau.

Vào cuối thập niên 90 thế kỷ XX trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và dân số độ tuổi 18 suy giảm  việc đảm bảo học sinh của các trường chuyên tu gặp khó khăn, thêm nữa vào năm 1997, Luật xúc tiến phát triển năng lực nghề nghiệp được sửa đổi và các trường đại học phát triển năng lực nghề nghiệp với tư cách là cơ sở phát triển năng lực nghề nghiệp công được thiết lập đã tạo ra các vấn đề lớn. Do đó Tổng liên hiệp hội các trường chuyên tu và kakushu toàn quốc đã chủ trương “sự chồng chéo của các cơ sở phát triển năng lực nghề nghiệp công  và giáo dục trường học của các trường chuyên tu tạo ra áp lực cho dân từ phía nhà nước. Nên phân biệt rõ sự phân chia vai trò”. Kết quả của việc vận động mạnh mẽ đối với bộ giáo dục, Bộ lao động và Liên minh nghị viên đã tạo ra kết quả là vào năm 1998 Bộ giáo dục và Bộ lao động  đã công bố ý kiến chung cho rằng nên tránh sự chồng chéo giữa giáo dục trường học và đào tạo nghề nghiệp. Cùng năm bọ giáo dục đã  ra thông báo tới các Ủy ban giáo dục ở các đô đạo phủ tỉnh với nội dung “Các cơ sở như Trường đại học phát triển năng lực nghề nghiệp, Trường đại học ngắn hạn phát triển năng lực nghề nghiệp… là cơ sở đào tạo nghề dựa trên Luật xúc tiến và phát triển năng lực nghề nghiệp trực thuộc Bộ lao động, các “trường học” dựa trên Luật giáo dục trường học có tính chất hoàn toàn khác biệt… Cần chú ý không được làm cho học sinh lẫn lộn giữa cơ sở đào tạo nghề và trường học”.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: Wikipedia tiếng Nhật

 

Giáo dục gia đình ở Nhật Bản

April 11, 2015 Leave a comment

Giáo dục gia đình

Giáo dục gia đình chỉ việc bố mẹ trợ giúp trang bị cho con những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống như ngôn ngữ, thói quen đời sống, giao tiếp (kĩ thuật cần thiết để sống).

Khái quát

Gia đình là đơn vị xã hội con người nhỏ nhất tiếp sau cá nhân. Con người khi sinh ra ở thế giới thì chưa phải là “động vật có tính xã hội”. Nói cách khác thì ở trạng thái hoàn toàn chưa được tiếp nhận giáo dục  con người này chỉ là động vật (thú) có hình dáng con người. Vì vậy để có cuộc sống thật sự là người, cần tiến hành giáo dục tùy theo các giai đoạn của trẻ với tư cách là giáo dục ở giai đoạn cơ bản nhất.

Khó có thể đo đếm hết ảnh hưởng mà cá nhân tiếp nhận  trong gia đình trong quá trình trưởng thành. Nó rất rộng trải dài từ việc ăn uống, thói quen đến tư thế và tư duy.

Dạng thức

Khi sống trong xã hội văn minh có rất nhiều thói quen như sáng dậy rửa mặt, ăn sáng, đánh răng, phương pháp giao tiếp như từ ngữ cần thiết cho hội thoại nói chung, cách nhờ vả người khác, cách sử dụng nhà vệ sinh, cách lau dọn. Đây là những thứ giáo dục gia đình trang bị cho con.

Thông thường thì bố mẹ thị phạm các điều trên, cho trẻ làm, nếu trẻ làm tốt thì khen  thưởng. Ngược lại khi làm sai thì trách phạt tuy nhiên nếu trách phạt quá độ sẽ gây ra hậu quả xấu. Vì vậy về cơ bản ở giai đoạn đầu nếu như không phải việc gì nghiêm trọng thì không đa phần không trách phạt.

Cùng với quá trình trưởng thành trẻ sẽ học cách tiếp xúc với bố mẹ, anh chị em và hàng xóm, người khác và ghi nhớ các việc được học ở trường thông qua đời sống. Ngay cả việc dùng tiền tiêu vặt như thế  nào cũng là có thể nói là được bắt đầu từ giáo dục gia đình. Do cùng với quá trình trưởng thành của trẻ mà nội dung học rất phong phú tùy theo các phương diện của cuộc sống cho nên cũng có thể nói bản thân cuộc sống hàng ngày là giáo dục gia đình.

Ngoài ra cũng có trường hợp tiến hành giáo dục một cách tích cực sử dụng các trò chơi trí tuệ hay các giáo tài chuyên dụng.

Các vấn đề đặt ra

Ngày nay đang xuất hiện xu hướng các gia đình bận rộn hoặc không đủ sự trưởng thành về tinh thần phó mặc các hành vi giáo dục cơ bản này cho xã hội. Thông thường quan điểm giá trị “bố mẹ nuôi dạy con là đương nhiên” là giá trị quan thường thấy tuy nhiên cũng xuất hiện các hiện tượng như bố mẹ bất mãn, căng thẳng, phó mặc hoặc sử dụng bạo lực với con (ngược đãi trẻ em) do nhiều lý khác nhau. Ngoài ra cũng xuất hiện vấn đề bố mẹ gặp khó khăn, căng thẳng khi tiếp xúc và giáo dục con.

Người ta cho rằng đây là sự thiếu sót về năng lực của bố mẹ tuy nhiên cũng có thể nói đây là vấn đề biến đổi của giá trị quan xã hội nói chung. Cho dù thế nào thì tình trạng ngược đãi trẻ con cũng đem lại kết quả bất hành cho những người có liên quan vì vậy việc cải thiện, phòng chống, trợ giúp là cần thiết.

Đặc biệt người ta gọi việc thiếu năng lực làm cha mẹ như trên là thiếu “năng lực giáo dục thế hệ sau” (Generativity).  Ở các trung tâm tư vấn trẻ em hay các nhà trẻ công lập hiện nay đều tiến hành tư vấn qua điện thoại. Ngoài ra ảnh hưởng của việc gia tăng các gia đình hạt nhân nơi ông bà không sống cùng cũng có ảnh hưởng lớn. Việc có sự trợ giúp của ông bà trong gia đình hay không cũng có ảnh hưởng lớn đối với trẻ. Hiện nay có xu hướng vợ chồng không quan tâm hay không hiểu biết  gia tăng. Người ta cũng cho rằng việc phân công giáo dục gia đình giữa vợ và chồng nhằm làm giảm gánh nặng có thể hạn chế được vấn đề ngược đãi trẻ em.

Quan hệ với các cơ quan giáo dục khác

Cùng với việc trường học nghỉ 2 ngày/tuần việc cha mẹ giáo dục con như thế nào trong hai ngày nghỉ đó đã trở thành nan đề của cha mẹ. Các câu lạc bộ Gakudo, đoàn thiếu niên thể thao, các Juku học tập đã  và đang cùng giáo dục trẻ em cùng với gia đình. Ngoài ra cũng có các công ty có liên quan đến giáo tài học tập trợ giúp giáo dục gia đình bằng việc triển khai kinh doanh trợ giúp học tập thông qua Internet.

Do tình trạng kinh tế khó khăn và ly hôn gia tăng các gia đình thiếu tri thức đối với giáo dục gia đình tăng lên cùng với  sự suy giảm năng lực giáo dục của nhà trường đã tạo ra ảnh hưởng xấu đối với giáo dục trẻ em. Người ta lo lắng rằng việc suy giảm năng lực giáo dục của các trường học tiến hành giáo dục yutori đã làm rộng thêm khoảng cách ở phương diện học lực và phát triển của trẻ em ở giai tầng giàu có và giai tầng nghèo khó.

Ghi chú

Liên quan đến giáo dục gia đình, gần đây xuất hiện xu hướng cha mẹ  lúng túng hoặc lạc đường do sự biến đổi của xã hội, quan điểm về giá trị và sự hỗn loạn thông tin. Vì vậy gần đây xuất hiện cả các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu giải quyết sự khó khăn trong tâm lý này của các phụ huynh.

Tuy nhiên trong giáo dục gia đình thì đây không phải là giáo dục chuyên môn mà chỉ là dạng thức được tiến hành một cách theo thói quen trong mối liên lạc giữa cha mẹ và con cái.  Những năm gần đây, cùng với già hóa dân số đã xuất hiện xu hướng văn hóa giáo dục giáo đình khó truyền tải đến con cái. Tuy nhiên nhờ vào sự phát triển của các phương tiện truyền thông liên lạc như điện thoại hay internet mà ngay cả các gia đình hạt nhân vẫn có thể nhận được sự tư vấn của ông bà.

Cho dẫu vậy thì các phương tiện như Tivi hay phương tiện truyền thông cung cấp một khối lượng lớn thông tin làm phát sinh sự hỗn loạn. Các sách nuôi dạy con cũng được xuất bản ngày một nhiều và ở Nhật Bản những năm gần đây sự phát triển của các tạp chí giáo dục trẻ em cũng rất ấn tượng. Trong đó có cả giáo dục trẻ em thông quan giáo dục từ xa và cũng có người cảm thấy bất an khi thấy con không theo kịp chương trình đó. Hội học thuật liên quan đến giáo dục gia đình bao có Hội giáo dục gia đình Nhật Bản và Đại học chuyên về giáo dục gia đình là Đại học  Yashima Gakuen.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: Wikipedia

%d bloggers like this: