Archive

Archive for July, 2015

Du học Nhật Bản: không có chỗ cho người mơ mộng

July 24, 2015 Leave a comment

24/07/2015 – 14:31 PM
Được đến Nhật Bản du học là mơ ước của rất nhiều thanh niên, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục nước nhà đang lâm trọng bệnh. Chớp thời cơ, các công ty du học Nhật Bản mọc lên như nấm sau mưa và đưa ra khá nhiều thông tin hấp dẫn như “du học Nhật Bản chỉ với 50-60 triệu đồng”, “du học Nhật Bản vừa học vừa làm kiếm 30 triệu đồng/tháng”, “du học Nhật Bản đảm bảo giới thiệu việc làm 100%”.

Với một nước nghèo và kém xa Nhật Bản về trình độ phát triển như Việt Nam, những thông tin đó với đa số thanh niên là những thông tin hấp dẫn. Nhưng sự thật thì sao?

Du học sinh Việt tại Nhật Bản. Ảnh: TL 

Bằng trải nghiệm của bản thân và những gì nghe được, quan sát được trên đất Nhật Bản, tôi thấy rằng hầu như những thông tin như trên chỉ giống như miếng phó mát đặt trong chiếc bẫy để nhử những người nhẹ dạ, mơ mộng viển vông.

“Du học Nhật Bản chỉ với 50-60 triệu đồng” liệu có khả thi?

Chi phí du học là một trong những nỗi lo lắng đầu tiên đối với các gia đình có con em muốn đi du học tự túc. Đánh vào tâm lý đó nhiều công ty tư vấn du học đưa ra thông tin chỉ cần 50-60 triệu đồng là có thể “du học Nhật Bản”. Đó có phải là một khả năng thực tế? Đọc kỹ các mẩu quảng cáo của những công ty này có thể thấy ở đó ẩn chứa sự mập mờ. 50-60 triệu đồng họ nêu ra là chi phí tư vấn, làm hồ sơ dịch thuật gửi sang Nhật Bản, liên hệ trường, xin “visa” hay đó là toàn bộ chi phí du học?

Trên thực tế mức giá hấp dẫn đó nếu được thực hiện đúng như quảng cáo thì cũng chỉ là khoản phí đầu tiên để học sinh có được “visa” đến Nhật. Nhật Bản nổi tiếng vì sự đắt đỏ. Do đó, khoản tiền 50-60 triệu đồng này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng chi phí du học. Ở đây tôi sẽ tính toán khái lược các chi phí cần thiết cho một học sinh tốt nghiệp THPT muốn du học tự túc 100% ở Nhật Bản. Giả định rằng học sinh này sau khi chi 50-60 triệu đồng để có được “visa” du học, thì ngay khi đến Nhật sẽ phải đóng một loạt các khoản tiền không nhỏ.

Thứ nhất là học phí. Thông thường học sinh tốt nghiệp THPT muốn thi vào các trường cao đẳng, đại học ở Nhật sẽ phải học một hoặc hai năm ở trường tiếng Nhật. Học phí các trường tiếng Nhật này không hề rẻ: trung bình khoảng 60-70 vạn yên Nhật (tính theo tỷ giá hiện tại vào khoảng 107-125 triệu đồng). Có những trường chấp nhận cho học sinh đóng theo tháng nhưng cũng có những trường yêu cầu học sinh nộp làm hai đợt vào đầu các học kỳ. Nếu học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng hoặc đại học thì ngay khi làm thủ tục nhập học sẽ phải đóng một khoản phí “nhập học” khoảng 28-30 vạn yên (50-53 triệu đồng). Tiếp đó là học phí. Tùy theo từng loại hình trường mà mức học phí sẽ khác nhau. Thông thường các trường quốc lập hay công lập sẽ có mức học phí thấp hơn so với các trường tư. Tuy nhiên đầu vào các trường quốc lập, công lập thường khó hơn các trường tư. Cho dẫu vậy, học phí của các trường quốc lập, công lập so với thu nhập của người Việt cũng không hề…nhỏ: trung bình khoảng 70 vạn yên/năm (trên dưới 125 triệu đồng)

Thứ hai là chi phí sinh hoạt. Để sống được ở Nhật với mức sống tối thiểu, học sinh cần phải có tiền để chi cho các khoản sau: tiền bảo hiểm y tế quốc dân (khoảng 2.500 yên/tháng), tiền nhà (2-3 vạn yên/tháng, nếu ở chung nhiều người thì mất khoảng 1-1.5 vạn yên/tháng), tiền ăn (2-2.5 vạn yên/tháng). Ngoài ra, còn cần tiền đi lại (đi xe buýt ở Nhật tối thiểu mất 220 yên/lượt), tiền sách vở, tiền khám chữa bệnh, tiền tiêu vặt… Nói chung, để sống được ở mức tối thiểu một học sinh ở Nhật sẽ cần đến khoảng 8 -10 vạn yên (14 – 18 triệu đồng).

Như vậy, đến đây có thể tính toán đại khái được tổng chi phí cho một học sinh du học tự túc hoàn toàn với thời gian học trường tiếng Nhật một năm và bốn năm học đại học. Xin để ngỏ phép tính cộng này cho các bạn có ý định  du học Nhật Bản. Nhưng chắc chắn khi tính ra kết quả bạn sẽ phải suy nghĩ nghiêm túc khi liên hệ với tình hình kinh tế của gia đình. Tất nhiên, các trường cao đẳng, đại học đều có chính sách miễn giảm học phí và học bổng dành cho sinh viên nước ngoài nhưng thành tích học tập là yếu tố có tính quyết định và trên thực tế tỷ lệ sinh viên giành được học bổng đủ để trang trải cuộc sống cũng không lớn. Ngoài ra, trong trường hợp rủi ro không thi được vào các trường cao đẳng, đại học sau khi tốt nghiệp trường tiếng Nhật, học sinh sẽ không gia hạn được visa và phải về nước.

Du học sinh nước ngoài, trong đó có người Việt Nam, thường làm các việc như: phát báo, rửa bát, chạy bàn trong quán ăn, dọn phòng khách sạn…Ảnh: TL

Vừa học vừa làm kiếm mỗi tháng 30 triệu đồng?

Phải nói ngay rằng thông tin mùi mẫn và “câu khách” này của nhiều trung tâm tư vấn du học Nhật Bản là …đúng. Tuy nhiên, tiếc thay nó chỉ đúng với một vài trường hợp mà không đúng với tất cả. Thủ thuật của họ là lấy các trường hợp tốt điển hình ra để khái quát cho đại trà nói chung. Và cho dù có kiếm được 30 triệu đồng/tháng đi nữa thì với mức chi phí như trên, cũng chưa đủ để học sinh tự lập và…gửi tiền về nhà như đồn thổi.

Xã hội Nhật Bản vốn coi trọng sự tự lập. Chuyện sinh viên Nhật đi làm thêm trong khi đi học rất bình thường. Nhà trường cũng coi chuyện đó là hiển nhiên, thậm chí có những trường có cả bộ phận trợ giúp sinh viên tìm kiếm việc làm thêm. Ở Nhật cũng có rất nhiều các tạp chí “zero yen” (miễn phí) đăng tải thông tin việc làm thêm. Ai muốn làm chỉ việc đọc xem việc nào phù hợp và gọi điện hẹn phỏng vấn. Sau khi phỏng vấn nếu ưng ý họ sẽ nhận vào làm. Tuy nhiên với các học sinh Việt Nam mới sang khi tiếng Nhật còn “ấm ớ” thì việc này không dễ. Những ai không được trường giới thiệu việc làm sẽ phải cậy nhờ người quen. Gần đây nghe nói có cả hiện tượng người Việt đứng ra làm trung gian giới thiệu việc làm để kiếm chác, lừa đảo các học sinh mới sang. Du học sinh nước ngoài, trong đó có người Việt Nam, thường làm các việc như: phát báo, rửa bát, chạy bàn trong quán ăn, dọn phòng khách sạn…

Tùy theo từng địa phương mà mức lương trả theo giờ sẽ khác nhau nhưng trung bình khoảng 800 yên/giờ. Như vậy, để kiếm được 30 triệu đồng (gần 17 vạn yên)/tháng học sinh sẽ phải lao động trên 200 giờ, tức là mỗi ngày khoảng trên 6 tiếng. Với cường độ lao động như vậy lấy đâu ra sức khỏe và thời gian để học? Hơn nữa, với visa du học, việc lao động với thời gian lao động lớn như trên là bất hợp pháp. Nếu bị phát giác sẽ bị trục xuất về nước bởi luật Nhật Bản quy định người có visa du học chỉ được phép lao động dưới 28 tiếng/tuần và phải xin giấy phép do Sở di trú cấp (Giấy cho phép tham gia các hoạt động ngoài trường học). Đương nhiên vẫn có những nơi trả tiền mặt cho học sinh để lách luật nhưng số đó không nhiều và học sinh vẫn luôn là người đối mặt với rủi ro. Tiết kiệm, ăn uống thất thường và lao động quá sức thường dẫn đến bệnh tật. Chi phí y tế ở Nhật khá đắt dù đã có bảo hiểm trả 70%. Nếu không có sức khỏe và ý chí cá nhân tốt, trước sức ép của cuộc sống, thanh niên xa nhà rất dễ rơi vào trạng thái trầm cảm và chán nản.

Ngay cả người Nhật với người Nhật cũng phải mất rất nhiều thời gian và thử thách để thiết lập quan hệ bạn bè, thân quen. Ảnh: TL

Nhật Bản không phải là thiên đường lấp lánh

Nhiều học sinh mơ ước đến Nhật Bản du học chỉ vì đọc sách, báo hay xem phim hoạt hình nên thích nước Nhật, muốn đến để khám phá, hưởng thụ cuộc sống. Tiếc thay Nhật Bản hay bất cứ một nơi nào khác trên thế giới cho dù văn minh, tiên tiến hơn Việt Nam đều không phải “thiên đường”.

Trong vòng quay của nhịp sống công nghiệp hối hả, áp lực cuộc sống ở Nhật khá nặng nề. Người Nhật hiện tại ai ai cũng phải lao động cật lực để sống. Mỗi năm nước Nhật có trên dưới ba vạn người tự sát vì bế tắc trong cuộc sống. Xét ở những khía cạnh cơ bản, xã hội Nhật Bản tương đối khác so với xã hội Việt Nam. Một bên là xã hội công nghiệp dựa trên nền tảng: lý tính, hợp lý, hiệu quả, kỷ luật, luật pháp và một bên là xã hội nông nghiệp coi trọng: tình cảm, quan hệ gia đình… Vì vậy khi sống trong xã hội Nhật Bản, người Việt, nhất là thanh niên, sẽ gặp nhiều khó khăn từ ngôn ngữ đến phong tục, tập quán sinh hoạt đến phong cách làm việc để hòa nhập. Văn hóa Nhật Bản lại phân biệt “trong-ngoài ” rất mạnh. Ngay cả người Nhật với người Nhật cũng phải mất rất nhiều thời gian và thử thách để thiết lập quan hệ bạn bè, thân quen. Vì thế hiển nhiên người nước ngoài ở Nhật sẽ phải vượt qua khó khăn gấp nhiều lần để tạo dựng các mối quan hệ thân thiết. Không vượt qua được, người Việt sẽ chỉ sinh hoạt và giao tiếp với người Việt là chủ yếu và chuyện du học ở Nhật nhưng không nói được tiếng Nhật trở thành chuyện…không hiếm!

Xa nhà, cuộc sống khó khăn cả vật chất và tinh thần, cộng với bản thân chưa từng được rèn luyện tự  lập, nhiều người đã không giữ được mình hoặc bị lôi kéo rẽ vào con đường phạm pháp. Phổ biến nhất là trộm cắp đồ trong siêu thị gửi về nước bán hoặc bán qua mạng internet cho người Việt Nam. Những tin tức về người Việt ăn cắp bị bắt giữ, bị phạt tù trên truyền thông Nhật không phải là quá hiếm.

Có thể du học Nhật Bản với chi phí rất thấp hoặc tự lo được mọi chuyện nếu đủ bản lĩnh, cả ở phương diện ý chí và tài năng. Ảnh: TL

Có nên du học Nhật Bản không?

Với những khó khăn và nguy cơ chồng chất như trên, liệu học sinh Việt Nam có nên du học Nhật Bản? Nếu bạn được học bổng 100% hoặc gia đình có tiềm lực kinh tế ở ngưỡng an toàn, chuyện đó không có gì đáng nói. Du học là một khát vọng đáng trân trọng và là chìa khóa mở ra nhiều cánh cửa trong tương lai. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp đó bạn cũng cần phải có một sức khỏe tốt, một ý chí sắt đá và kế hoạch du học rõ ràng.

Bạn cũng có thể du học Nhật Bản với chi phí rất thấp hoặc tự lo được mọi chuyện nếu bạn đủ bản lĩnh, cả ở phương diện ý chí và tài năng. Xã hội Nhật Bản tuy khắc nghiệt nhưng cũng là xã hội có chỗ cho sự phát triển của tài năng. Cả Nhật Bản và Việt Nam trong quá khứ khi mới tiếp xúc với văn minh phương Tây cũng đã có rất nhiều những người đi du học chỉ với hai bàn tay trắng và thành công. Nhưng bạn nhớ cho, họ là các vĩ nhân. Nếu bạn chỉ có ý chí và tài năng cũng chỉ ở mức bình thường, hãy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định.

Du học Nhật Bản không có chỗ cho những người mơ mộng, viển vông.

Nguyễn Quốc Vương

link: http://nguoidothi.vn/vn/news/giao-duc-du-hoc/cong-du-hoc/5809/du-hoc-nhat-ban-khong-co-cho-cho-nguoi-mo-mong.ndt

Advertisements

Tại sao không phải là ‘con đại gia đỗ thủ khoa’?

July 24, 2015 Leave a comment

Tại sao bao nhiêu năm nay vẫn cứ là mô-típ con nhà nghèo học giỏi. Sau rất nhiều ngẫm nghĩ, tôi ước hai điều.

Lâu nay, sau mỗi kỳ thi Olympic quốc tế hay đại học, trên các trang báo lại tràn ngập tin, bài về các tấm gương “con nhà nghèo học giỏi” như: bố mẹ sửa khóa con giành huy chương vàng quốc tế, bố mẹ ăn xin nuôi con thi đỗ thủ khoa đại học, sống 10 năm trong ống cống nuôi con thủ khoa đại học, bố mẹ phu hồ con trai đạt 2 huy chương vàng Olympic, Bố lái xe, mẹ bán thịt bò, con HCV Vật lý quốc tế, học trò nghèo quê lúa giành HCV Olympic Toán Quốc tế 2015…

Còn nhớ, báo chí từng đăng một câu chuyện rất ấn tượng về một tiến sĩ Đại học Harvard xuất thân từ một gia đình TQ rất nghèo khó. “Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi”, vị tiến sĩ này kể về đời mình.

thủ khoa, huy chương vàng, Olympic, đại gia, học giỏi, đại học, nghèo, biệt thự, xe sang, hot girl
Lễ vinh danh thủ khoa các trường Đại học tại Hà Nội năm 2010. Ảnh: Gdtd.vn

Tôi cũng sinh ra trong một gia đình nghèo (có lúc là đói theo đúng nghĩa đen) và khốn khổ mới học xong đại học. Trong sâu thẳm lòng mình, tôi hiểu sự hi sinh thầm lặng của các bậc phụ huynh và những nỗ lực hơn người của biết bao học sinh trong các bài báo kia. Nhưng đọc xong, tôi không dứt ra khỏi được dòng suy nghĩ “tại sao bao nhiêu năm nay vẫn cứ là mô-típ con nhà nghèo học giỏi”? Và sau rất nhiều ngẫm nghĩ, tôi ước hai điều.

Một là, sẽ có ngày những tấm gương tuổi trẻ mà báo chí ca ngợi sẽ không phải chỉ là “nhà nghèo thi đỗ thủ khoa” hay “giành huy chương vàng kỳ thi quốc tế”. Mà bên cạnh đó, sẽ có thêm những bạn trẻ cống hiến cho sự tiến bộ của xã hội, có phát minh, sáng chế hay làm ra các sản phẩm, dịch vụ được tín nhiệm rộng rãi trên quy mô quốc tế.

Hai là, thay vì “bố sửa khóa”, “mẹ bán hàng rong” sẽ là “bố em cũng là một nhà toán học có tên tuổi”, “mẹ em cũng là một nhạc sĩ tiếng tăm trong khu vực”, “bố em là một doanh nhân sở hữu những công ty hàng đầu quốc gia và đang tài trợ cho nhiều dự án phát triển văn hóa cộng đồng”…

Không được phép quên xuất thân hay coi thường người khác chỉ vì xuất thân hay địa vị xã hội. Nhưng nếu mặc định xuất phát điểm thấp như một sự tự hào lặp đi lặp lại, chúng ta sẽ chẳng thể tiến lên được.

Nhiều người nghĩ rằng hoàn cảnh khó khăn khiến con người cố gắng và tạo nên thành công. Nhưng tôi lại nghĩ, tại sao chúng ta không tư duy rằng, nếu những tài năng đó được nuôi dưỡng trong những điều kiện tốt hơn thì thành quả của họ không chỉ có vậy? Trong môi trường tốt, các tài năng đó sẽ có điều kiện để học âm nhạc, khiêu vũ, thể thao, sáng tạo văn chương nghệ thuật và tham gia các hoạt động cộng đồng thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội thay vì ngày đêm “học gạo” để thoát nghèo hay để trở thành người “thành đạt”.

Đương nhiên khát vọng cá nhân “học để thoát nghèo” hay học để có địa vị xã hội cao hơn không có gì là xấu, nhưng nếu tất cả chỉ dừng lại ở đấy thì thật lãng phí và đáng tiếc. Và không phải ai xuất thân nghèo khó cũng chỉ nghĩ đến chuyện “thoát nghèo”. Có nhiều người vẫn có khát vọng lớn lao và cuộc sống đầy nhân văn. Cũng không ai lựa chọn được xuất thân hay bố mẹ. Nhưng giá như gia đình các em không phải khổ và các em không phải chịu áp lực “áo cơm” thì tốt biết bao nhiêu.

Cũng lại trên báo chí, lâu nay mô-típ thường gặp gắn với con nhà giàu là gì? Đó là cậu ấm, cô chiêu, thiếu gia, ái nữ… với thú chơi siêu xe, sắm hàng hiệu, yêu hotgirl, nhà biệt thự… Và hẳn không ít người định kiến rằng đã là con nhà đại gia ắt học hành là thứ yếu.

Tuy nhiên, trái với tư duy thông thường cho rằng “con nhà giàu hay hư hỏng”, tôi nghĩ giàu có hay xuất thân “thượng lưu” sẽ là một điều kiện tốt tạo đà cho tài năng phát triển toàn diện và đạt đến đỉnh cao. Điều đó sẽ thành hiện thực nếu các gia đình thuộc diện này giúp con cái hiểu rằng bản thân cuộc sống phong phú và rộng lớn hơn chuyện kiếm tiền và lẽ sống của đời người không chỉ dừng lại ở việc truy tìm lợi ích vật chất của bản thân. Ở đó các tài năng ngay từ nhỏ sẽ có được môi trường tốt nhất để theo đuổi đam mê, sống cuộc đời phong phú thay vì phải vừa nỗ lực theo đuổi đam mê vừa vật lộn với gánh nặng áo cơm.

Nguyễn Quốc Vương
Link:http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/252143/tai-sao-khong-phai-la–con-dai-gia-do-thu-khoa–.html

Lớp trưởng là chủ tịch: Đừng 
“chế Mercedes thành công nông”!

July 19, 2015 Leave a comment

19/07/2015 16:21 GMT+7

TT – Tuổi Trẻ ghi nhận ý kiến ông Nguyễn Quốc Vương (NCS giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa, Nhật Bản) về dự thảo điều lệ trường tiểu học do Bộ GD-ĐT đưa ra, trong đó có mô hình trường học mới (VNEN).

Ông Nguyễn Quốc Vương
Ông Nguyễn Quốc Vương

Ông Nguyễn Quốc Vương nói:

Ở Việt Nam các từ “chủ tịch”, “phó chủ tịch” vốn thường chỉ được sử dụng phổ biến trong thế giới người lớn. Tuy nhiên, tôi cho rằng chuyện gọi “chủ tịch” hay “lớp trưởng” không quan trọng. Ban đầu dẫu lạ thì dùng mãi cũng sẽ quen.

Trong trường học nước ngoài, cách gọi này rất phổ biến. Vấn đề nằm ở chỗ việc thay đổi tên gọi cùng sự ra đời của hội đồng tự quản có phát huy được mục đích phát huy quyền làm chủ, tinh thần tự giác của học sinh hay không.

Bản chất của việc tồn tại các hội đồng tự quản (ở nước ngoài có trường hợp gọi là ủy ban tự trị) này là tạo điều kiện cho học sinh thực hành làm “công dân dân chủ” và “người lãnh đạo dân chủ”. Giáo dục trường học tác động đến học sinh không chỉ thông qua chương trình giáo dục, mà còn thông qua môi trường và các hoạt động khác.

Chẳng hạn đời sống ở trường tiểu học Nhật Bản được tạo thành từ ba thành tố: (1) các môn giáo khoa, (2) giáo dục đạo đức, (3) hoạt động đặc biệt (nghi lễ trường học, hoạt động lớp, hoạt động câu lạc bộ). Vai trò của hội đồng tự quản hay chủ tịch thể hiện rõ nhất ở thành tố thứ ba nói trên.

Vì vậy nếu muốn học sinh được trải nghiệm làm “công dân dân chủ”, “nhà lãnh đạo dân chủ” mà chỉ học theo nước ngoài bằng việc thay đổi hình thức thì sẽ khó đạt được thành công.

Cách thức cải cách theo mô hình nước ngoài với lối tư duy “học hỏi có chọn lọc” cho “phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam” phần lớn dẫn tới hành động “chếMercedes thành công nông”. Nếu chỉ học cái vỏ bên ngoài mà gạt bỏ triết lý, bản chất, nền tảng của mô hình tiên tiến sẽ chỉ gây nên sự lãng phí và rối loạn.

Chủ tịch hay hội đồng tự quản cũng sẽ không làm học sinh có ý thức dân chủ cao hơn nếu như vẫn còn tồn tại phương thức đánh giá hạnh kiểm (đạo đức) trong trường học và người giáo viên vẫn phải hằng ngày lo sợ với bao thứ từ cơm áo gạo tiền tới sổ sách, giấy tờ và những đợt thanh tra, kiểm tra từ nhiều cấp.

Đối thoại hậu bài viết “Đơn thuốc cho giáo dục lịch sử”

July 18, 2015 Leave a comment

– Sau bài viết “Đơn thuốc nào cho căn bệnh giáo dục lịch sử ở Việt Nam”, tôi nhận được sự quan tâm, phản hồi của bạn đọc qua Facebook, email, điện thoại và bình luận trên Vietnamnet. Sau khi đọc đi đọc lại hơn 70 bình luận của bạn đọc, tôi muốn viết thêm vài dòng.

Có  “hàn lâm”, “giáo điều” và viển vông?

Nhiều bạn đọc tỏ ra nghi ngờ những luận điểm đã nêu ra và cho rằng quá “hàn lâm”, “học thuật”, “giáo điều” xa rời với thực tế, chỉ có thể áp dụng với nhà nghiên cứu.

Nghi ngờ đó là dễ hiểu. Bởi vì hơn 60 năm qua, tư duy dạy học là“truyền đạt tri thức”vẫn thống trị. Nhiều người (đang hoặc đã là học sinh – HS) cũng được giáo dục lịch sử theo tư duy này.

Trong các giờ học kiểu truyền đạt, giáo viên sẽ là người lựa chọn nội dung và tiến hành giải thích, minh họa để HS ghi nhớ, lý giải. Ở đó, mối quan hệ giữa Sử học (khoa học lịch sử) và Giáo dục lịch sử là quan hệ một chiều. Giáo dục lịch sử đơn giản chỉ là sự tiếp nhận và truyền đạt các thành tựu của Sử học.

Nhìnra thế giới, cách dạy này không còn phổ biến. Luận điểm dạy lịch sử như là một môn Khoa học và sử dụng tích cực các phương pháp của Sử học trong học tập lịch sử không phải là một phát hiện gì mới của tôi.

giáo dục Lịch sử
Một nhóm học sinh lớp 10 Trường THPT FPT (Hà Nội) kiểm tra thông tin trên mạng sau khi xem nhóm khác nhập vai biểu diễn một sự kiện Lịch sử của đời Trần, trong bài học môn Lịch sử. Ảnh: Lê Anh Dũng

Các nước có nền giáo dục tiên tiến đã nghiên cứu công phu và sử dụng từ lâu. Ở Nhật, sau 1945 với sự xuất hiện của môn Nghiên cứu xã hội(môn học tổng hợp Địa lý, Lịch sử, Công dân), cách thức học tập lịch sử kiểu “nghiên cứu” được tiến hành rộng rãi.

Trong các giờ học môn này, HS sẽ không phải là người thụ động nghe, ghi chép những gì giáo viên giảng giải mà dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ thiết lập các chủ đề nghiên cứu, tìm kiếm thông tin có liên quan, xử lý các thông tin và thể hiện kết quả nghiên cứu dưới nhiều hình thức: báo, tập san, poster (ápphích), bài luận…

Các phương pháp học tập phổ biến sẽ là : Role-playing (đóng vai), Poster-presentation (thuyết trình-tranh luận sử dụng áp phích kết hợp thông tin chữ viết và thông tin thị giác), thảo luận, tranh luận đối mặt (Debate), điềutra-phỏng vấn, điền dã, điều tra bằng bảng hỏi…

Không gian học tập sẽ mở rộng không chỉ giới hạn trong lớp học mà sẽ bao gồm cả gia đình, bảo tàng, thư viện trường, khu phố, quảng trường, Internet…

Thời gian học tập cũng không phải chỉ trên lớp mà sẽ  là bất cứ thời điểm nào HS muốn. Ngay cả khi đi chơi cùng cha mẹ ở bảo tàng, công viên, siêu thị… HS cũng có thểthu thập được thông tin cần thiết.

Có bạn sẽ bảo “Đó là chuyện của nước Nhật.Việt Nam nó khác. Không làm được đâu”.

Xét trên bình diện rộng, nhận xét có phần chua chát ấy không hề sai hay cực đoan. Nhưng trong bối cảnh hiện tại thì có thể thực hiện được ở phạm vi nhất định, thông qua các “thực tiễn giáo dục”. Nhiều “thực tiễn” đơn lẻ này kết hợp lại sẽ tạo thành cuộc cải cách giáo dục “từ dưới lên” tạo ra hiệu ứng tích cực.

Trước khi trở thành nghiên cứu sinh tại Nhật Bản, tôi đã có gần 3 năm (9/2011-3/2014) làm giáo viên thỉnh giảng môn Lịch sử  ở Trường THCS và THPT Nguyễn Tất  Thành (Hà Nội). Trong quá trình dạy (chủ yếu là HS lớp 6 và 8), tôi đã vận dụng những điều đã trình bày tóm lược trong bài viết nói trên vào thực tế.

Trước khi thực hiện, tôi cũng có chút lo lắng như độc giả. Tuy nhiên, kết quả thành công ngoài dự kiến.

HS đã đón nhận nồng nhiệt và học tập say mê dù áp lực điểm số hay thi cử ở môn Lịch sử rất nhẹ, gần như là không có. Những giờ kiểm tra một tiết thay vì là “quãng thời gian lo sợ” đã trở thành khoảng thời gian các em được thoải mái viết những gì mình tâm đắc.

Tôi đã đánh máy và lưu giữ gần 1.000 bài kiểm tra của HS các lớp phục vụ nghiên cứu. 1.000  bài đều khác nhau, mặc dù vẫn chia sẻ các điểm chung.

Các bài viết tiêu biểu sau đó được tôi in ra đóng thành tập tặng cho các lớp để HS đọc và giao lưu, tranh luận. Nhiều phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm cũng quan tâm mượn đọc và có những ý kiến đóng góp bổ ích.

Tôi mong muốn đến khi có điều kiện sẽ xuất bản toàn bộ các bài viết này thành sách. Không có hàm ý khoe khoang hay tự mãn ở đây, tôi chỉ muốn dẫn lại việc“thăm dò tín nhiệm”giáo viên qua mỗi học kỳ đối với mình đều cho kết quả tốt (từ 80  – 94%),

Đương nhiên, những “thí nghiệm” của tôi chỉ mới được tiến hành ở HS lớp 6 và lớp 8 trong phạm vi hẹp là một  trường ở thành phố với 200-300 HS.

Từlý luận đã nghiên cứu và thực tiễn đã làm, tôi cho rằng dạy môn Lịch sử như mộ tmôn Khoa học là hoàn toàn có thể. Vấn đề còn lại là sự giác ngộ và trách nhiệm của những người có liên quan.

Có cần thừa nhận tính đa dạng trong nhận thức lịch sử của HS  hay không?

Trọng tâm bài viết của tôi là là bàn tới mục đích của giáo dục lịch sử(một số bạn đọc bị hút vào chuyện “tư duy lạc hậu của phóng viên VTV khi thực hiện phóng sự – theo tiêu đề  được biên tập viên đặt lại).

Chắc hẳn  bạn đọc  đều nhận ra một thực tế khá “hài hước” là SGKcàng viết nhiều về nhân vật anh hùng, chiến tranh cách mạng, giáo viên càng lấy nội dung đó làm trọng tâm để dạy, thi cử; càng nhằm vào giai đoạn lịch sử hiện đại thì HS lại càng…không nhớ và nhầm lẫn lung tung.

Tại sao vậy? Đơn giản vì tư duy coi quá trình  dạy học là truyền đạt-ghi nhớ trong thời đại đa giá trị và thông tin hóa đã trở thành lạc hậu. Nó đi ngược lại quy luật giáodục và tâm lý.

HS cũng như con người nói chung  sẽ chỉ nhớ những gì nằm trong “vùng quan tâm, hứng thú” hoặc khi thấy ở nó có ý nghĩa gì đó đối với bản thân. Giáo viên càng chăm chăm vào việc “làm cho HS ghi nhớ” thì HS càng…quên. Nhưng nếu giáo viên nhắm đến việc hình thành nhận thức khoa học thông qua phương pháp khoa học, HS sẽ ghi nhớ một cách tự nhiên và “vô thức”.

Ví dụ, khi dạy tôi chẳng cần ép HS ghi nhớ Hiệp ước Nhâm Tuất mà nhà Nguyễn kí với Pháp năm 1862 có những nội dung có hại cho chủ quyền dân tộc như thế nào. Nhưng thông qua phép toán “lịch sử” yêu cầu HS tính đại thể xem số bạc nhà Nguyễn phải bồi thường cho Pháp có “giátrị” lớn thế nào khi quy đổi ra tiền hoặc thóc gạo trong mối tương quan với dân số thời  đó và bây giờ, HS sẽ tựnhiên “nhớ” được nó.

Trong học tập lịch sử, nếu cần nhớ thì cái quan trọng là nhớ cái “tinh thần” của sự kiện. Chi tiết khi cần sẽ tra cứu. Giáo viên hay nhà nghiên cứu cũng vậy thôi.

Nhiều bạn đọc phản đối luận điểm nói trên vì cho rằng học lịch sử mà không nhớ thì học thế nào, không nhớ đượcQuang Trung là ai thì làm sao biết về cội nguồn dân tộc. Trong bài viết, tôi khẳng định đó là bất thường. Nhưng nếu dạy lịch sử chỉ chăm chăm làm cho HS nhớ Quang Trung là Nguyễn Huệ thì….chuyện các em nhầm lẫn “anh em” hay “bạn chiến đấu” không  có gì khó hiểu.

Ở đây cũng có một điểm quan trọng cần lưu ý. Trong vô thức, nhiều giáo viên dạy lịch sử chỉ coi trọng việc truyền đạt các sự kiện lịch sử  cùng các  đánh giá, nhận định, ý nghĩa được định sẵn(trong chương trình, SGK, sách giáo viên, chuẩn kiến thức-kĩ năng) tới HS và mong các em ghi nhớ.

Tuy nhiên, sản phẩm của HS trong quá trình học tập lịch sử là “nhận thức lịch sử” với 3 thành tố chủ yếu: Nhận thức về sự thật (thời gian, không gian, nhân vật), nhận thức về cơ cấu (bản chất, mối quan hệ giữa các thành tố sự kiện, hiện tượng) và nhận thức về giá trị (tốt hay xấu, có ý nghĩa hay không có ý nghĩa, có giá trị gì với bản thân hay không…).

Mỗi HS là một thế giới riêng nên “nhận thức lịch sử” ở các em – cho dù học cùng một thầy, một cuốn sách giáo khoa  – vẫn có tính chủ thể (đa dạng).

Không thừa nhận tính chủ thể này tạo ra xu hướng dạy học kiểu áp đặt, nhồi nhét, cưỡng bức tư tưởng.

Để đối phó, HS sẽ phải tìmcách che giấu đi cảm xúc, suy nghĩ thật sự của bản thân để trình bày cho “vừa ý thầy” hoặc để  “đạt điểm cao” mặc dù trong đầu các em, nhận thức mang tính chủ thể không hề biến mất.

Đó là lý do giải thích tại sao nhiều HS không thích học môn Lịch sử ở trường và có điểm số môn này rất tệ nhưng lại rất quan tâm đến các vấn đề lịch sử và thích nghe “kể chuyện lịch sử”, xem phim lịch sử… Thực chất, đó là biểu hiện của việc HS tìm kiếm sự “tựdo trong nhận thức”.

Ở đó, tính đa dạng của nhận thức lịch sử được thừa nhận và HS được trải nghiệm “khoái cảm trí tuệ” khi tiếp nhận các “hình ảnh lịch sử” đa chiều và tự xây dựng “hình ảnh lịch sử” cho bản thân.

Môn Lịch sử trong trường phổ thông muốn tồn tại được trong sự yêu mến của HS và thậm chí của cả…giáoviên dạy môn này thì phải thừa nhận sự đa dạng trong nhận thức và  coi đó là tiền đề để tiến hành giáo dục. Đương nhiên, sẽ lại xuất hiện lo lắng rằng nếu vậy sẽ “đối phó” thế nào nếu HS nhận thức lung tung  hay suy diễn ngớ ngẩn? Nỗi lo đó dễ hiểu  nhưng không khó giải quyết.

Nhận thức lịch sử ngoài tính chủ thể còn có tính thực chứnglô-gic. Khi dạy lịch sử như một môn khoa học, giáo viên sẽ phải chú ý giúp cho tính thực chứng và lô-gic trong nhận thức của HS tăng lên.

Nhận thức lịch sử của HS ban đầu thường non nớt nhưng trải qua học tập với các phương pháp của sử học như đã trình bày cùng với phương pháp thảo luận thì sẽ được mài sắc và ngày càng trở nên “khoa học hơn”. Vai trò của giáo viên là nằm ở đó thay vì truyền đạt các “chân lý” đã được quyết định sẵn.

Nếu kéo dài kiểu dạy học lịch sử minh họa trong thời đại ngày nay sẽ gây nên hậu quả khó lường: Con người chỉ biết tin vào các chân lý được định sẵn và tìm kiếm “đáp án”cho những vấn đề đặt ra từ  những gì viết trong SGK hoặc  lời nói của giáo viên nà không tìm tòi sáng tạo.
Cũng cần phải lưu ý rằng nhận thức lịch sử thường có mối liên hệ rất mật thiế tvới tinh thần nhân ái, khoan dung. Nếu nhận thức lịch sử chỉ có một và con người khăng khăng nhận thức đó là chân lý tuyệt đối, họ sẽ có xu hướng độc đoán và coi những nhận thức khác với mình như kẻ thù cần tiêu diệt. Xu hướng ấy có hại cho sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng trong thời đại toàn cầu hóa khi đa giá trị được thừa nhận rộng rãi.

Mối liên hệ giữa sự sa sút của các môn khoa học xã hội với sự gia tăng của các tội ác phi nhân hiện nay có thể được giải thích dưới góc độ ấy.

Một giờ học thành công: Dẫn dắt nhau tiệm cận chân lý

Trước khi kết thúc bài viết này, tôi muốn đưa ra một sự so sánh. Đương nhiên sựso sánh này cần tới sự khoan dung, rộng lượng của độc giả. Đó là nếu như coi bài viết của tôi là một bài giảng về lịch sử và các bình luận của độc giả là ý kiến phát biểu, tranh luận của HS thì tôi nghĩ đó là một giờ học thànhcông. Không phải giờ học nào cũng cần đến kết luận cuối cùng. Sự tranh luận sẽ còn tiếp diễn để liên tục mài sắc trí tuệ của cả người dạy và người học để dẫn dắt nhau tiệm cận chân lý.

Đương nhiên, tôi không có ý dám coi mình là “thầy” của độc giả mà ngược lại. Trong thâm tâm, với tư cách là một người làm giáo dục và trách nhiệm của một công dân, tôi rất mong không chỉ Lịch sử mà các môn xã hội khác ở Việt Nam  rồi cũng sẽ có những giờ học như thế.

  • Nguyễn Quốc Vương

    Link: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/251222/doi-thoai-hau-bai-viet–don-thuoc-cho-giao-duc-lich-su-.html

“Đơn thuốc nào cho căn bệnh nặng “giáo dục lịch sử”

July 14, 2015 Leave a comment

Trong bài viết có tiêu đề , tác giả Nguyễn Quốc Vương (nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử tại Nhật Bản) nhìn nhận: Phóng viên đã dùng chính tư duy “lạc hậu” (học lịch sử là học thuộc) để tiếp cận vấn đề. Dưới đây là nội dung bài viết.

Quang Trung – Nguyễn Huệ là anh em: Lỗi của ai?

Quang Trung – Nguyễn Huệ là anh em hay bạn cùng chiến đấu?

Khi giáo dục lịch sử trở thành vấn đề xã hội

Các phương tiện truyền thông đang “sục sôi” trước nội dung  clip “Quang Trung và Nguyễn Huệ có mối quan hệ gì với nhau?”.. Đúng “định hướng” của phóng viên, các học sinh (HS) đã hồn nhiên đưa ra câu trả lời như: “Nguyễn Du là Nguyễn Huệ”, Nguyễn Huệ và Quang Trung là “anh em cùng một nhà”, “là bạn bè chiến đấu?”.

Nụ cười  của nữ sĩ tử khi vừa bước ra khỏi phòng thi môn Lịch sử trưa ngày 04/07/2015.Ảnh: Lê Anh Dũng

Đương nhiên, không phải cho đến lúc này và bằng clip nói trên, chuyện HS nhầm lẫn địa danh, nhân vật và sự kiện mới lộ ra trước công chúng. Trước đó khá lâu, hiện tượng “hàng ngàn điểm 0 môn Lịch sử” và gần đây là hiện tượng HS lớp 12 không chọn Lịch sử làm môn thi tốt nghiệp cũng đã nói lên sự bất ổn của môn học này trong trường phổ thông.

Trên thực tế, khi chấm các bài thi đầu vào đại học, tôi còn gặp cả những đoạn thí sinh viết …kinh khủng hơn nhiều. Tuy nhiên, những hiện tượng trên chưa nói hết được sự trầm trọng của căn bệnh giáo dục lịch sử ở Việt Nam hiện nay. Đề thi tuyển sinh đa phần là kiểm tra trí nhớ, cách thức đưa ra câu hỏi và tiếp cận vấn đề của phóng viên trong clip nói trên cũng tương tự. Chúng chủ yếu thử thách năng lực ghi nhớ. Chuyện HS nhầm lẫn “Nguyễn Huệ là Nguyễn Du” hay cho rằng “Quang Trung và Nguyễn Huệ là bạn chiến đấu” là bất thường. Nhưng vấn đề thực sự nghiêm trọng của giáo dục lịch sử ở Việt Nam không nằm ở chuyện đó.

Vấn đề nghiêm trọng nhất của giáo dục lịch sử hiện nay là gì?

Vấn đề đó nằm ở chỗ nó không làm cho HS và xã hội hiểu rõ được mục đích “học lịch sử để làm gì?”.Trở lại clip nói trên, các phóng viên khi hỏi HS đã giả định “HS có lẽ không nhớ (không biết)” để “gài bẫy” các em. Nói một cách thẳng thắn, phóng viên đã dùng chính tư duy “lạc hậu” (học lịch sử là học thuộc)  đang là một trong những nguyên nhân làm cho giáo dục lịch sử trì trệ để tiếp cận vấn đề.

Giáo dục lịch sử  trong trường học Việt Nam suốt từ 1950 đến nay  luôn chú trọng lịch sử chống ngoại xâm với một danh sách dài các anh hùng dân tộc. HS được học lịch sử từ tiểu học cho đến tận lớp 12. Đài báo hàng ngày không lúc nào ngưng nhắc đến các anh hùng này thế mà không “thuộc” thì đương nhiên là chuyện…kì quái, bất thường. Nhưng nếu  các em HS bình tĩnh và khôn ngoan một chút hỏi lại rằng: “Tại sao em phải biết Quang Trung là ai?” “Em nhầm Nguyễn Huệ với Nguyễn Du thì đã sao ạ?”. Hoặc “ghê gớm” hơn có thể hỏi “Học lịch sử để làm gì? Những người học giỏi môn Lịch sử có gì ưu tú hơn so với những người học dốt hay không học?”, (tôi đoán) phóng viên hoặc là lúng túng né tránh câu trả lời, hoặc là sẽ đáp lại rất “đúng bài”: “Học lịch sử là để yêu nước, học lịch sử để tự hào dân tộc, học lịch sử để rút ra bài học quá khứ, học lịch sử để trân trọng truyền thống dân tộc…“.

Cách trả lời đó vừa chung chung vừa mơ hồ. Nếu như HS phản biện lại rằng: “Nếu thế thì các thầy cô dạy lịch sử hay các nhà sử học là những người yêu nước nhất phải không ạ?” thì phóng viên và các thầy cô dạy Lịch sử  sẽ trả lời thế nào?

Trên thực tế, lối tư duy tiếp cận mục đích của giáo dục lịch sử nói trên  có mối quan hệ gắn bó với quan điểm sử học lấy “chủ nghĩa dân tộc” làm cơ cấu duy nhất và quan trọng nhất để nhận thức và giải thích lịch sử.

Lịch sử khi đó cho dù là lịch sử dân tộc hay lịch sử thế giới sẽ được nhìn chủ yếu từ phía quốc gia (nhà nước).

Khi tư duy như thế, mục đích của giáo dục lịch sử hiển nhiên có tính trừu tượng và các nội dung lịch sử được lựa chọn thường vượt ra ngoài mối quan tâm, hứng thú, trải nghiệm đời sống của HS khiến cho môn Lịch sử khó tạo ra sức hấp dẫn và thuyết phục ở trường học.

Tư duy này vốn đã từng rất thịnh hành trong thế kỷ XX nhưng từ thập niên 70 trở đi, giới sử học và giáo dục lịch sử trên thế giới đã không còn coi “chủ nghĩa dân tộc” là cơ cấu duy nhất và chủ yếu nhất để nhận thức và giải thích lịch sử.

Lịch sử  giờ đây được nhìn nhận đa dạng, đa chiều bởi nhiều “cơ cấu” khác nhau. Thay vì được nhìn từ phía quốc gia, lịch sử được nhìn từ phía “quốc dân” (đại chúng). Ở đó, các chủ đề học tập không chỉ là lịch sử chính trị mà sẽ là “lịch sử xã hội” như “Lịch sử phụ nữ”, “Lịch sử tiền tệ”, “Lịch sử phương tiện giao thông”, “Lịch sử nhà ở”… Thông sử cũng không phải là hình thái thống soái duy nhất mà nó được kết hợp khéo léo với “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng” trong nhà trường.

Nói một cách khái quát, khi sự đa dạng của thế giới và các giá trị phổ quát của loài người được thừa nhận rộng rãi, mục đích của giáo dục lịch sử phải hướng đến giáo dục “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”.

Hiểu một cách giản dị nhất thì giáo dục lịch sử phải giúp cho HS có cái nhìn và phương pháp khoa học để tìm hiểu, khám phá quá khứ, dùng các sự thật đã được khám phá đó để tham chiếu và giải thích hiện tại (nhận thức lịch sử khoa học), từ đó biết được cộng đồng mà mình là thành viên đang đứng ở đâu trong thế giới này, bản thân mình có vị trí như thế nào trong cộng đồng đó để rồi tự biết mình phải làm gì (phẩm chất công dân).

Xem xét ở ý nghĩa đó, vấn đề đáng nói nhất, nguy hiểm nhất của giáo dục lịch sử Việt Nam không phải là chuyện HS lẫn lộn Nguyễn Du với Nguyễn Huệ hay không nhớ được Quang Trung là ai…v.v.

Vấn đề lớn nhất nằm ở chỗ giáo dục lịch sử đã và đang  không tạo ra được những người công dân đúng nghĩa.

Bởi thế cho dẫu buồn cũng phải cay đắng thừa nhận một thực tế đầy mâu thuẫn rằng trong khi hiện thực xã hội ngổn ngang trăm mối và đất nước đang gặp hiểm nguy thì chủ nghĩa “makeno” (mặc kệ nó)  và sự “vô cảm” lại có vị trí  đầy ngạo nghễ.

Đơn thuốc nào?

Có một sự thật khá cay đắng và có phần “hài hước” là trong khi than khóc cho giáo dục lịch sử hiện tại và tìm cách cứu chữa, rất nhiều người  lại muốn dùng chính những thứ đã tạo ra căn bệnh đó để…chữa.

Các ý kiến đề đạt như “cần tăng cường các câu chuyện kể trong các giờ học lịch sử”, “cần sử dụng nhiều hơn các tranh ảnh minh họa cho sinh động”, “cần đưa thêm các thần thoại, truyền thuyết, câu chuyện về các danh nhân, anh hùng cách mạng… để tăng tính hấp dẫn của môn Lịch sử” không phải là chuyện hiếm và không phải không giành được nhiều sự ủng hộ từ công chúng.

Phương thuốc khả dĩ nhất có thể chữa được căn bệnh này là đơn thuốc hướng  thẳng vào gốc rễ của vấn đề.

Hiển nhiên, giáo dục lịch sử không phải là một thực thể hoàn toàn độc lập. Khi cứu chữa cho nó phải đồng thời hoặc tiến hành trước việc cứu chữa cho cả nền giáo dục nằm trong cải cách tổng thể  phương diện chính trị-xã hội.

Xem xét trong lịch sử cải cách giáo dục thì thấy không có cuộc cải cách giáo dục lớn nào đứng ngoài nhu cầu cải cách xã hội.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà các tác phẩm liên quan đến lịch sử như “Thế giới quốc tận”, “Tây dương sự tình”, “Khuyến học”của Fukuzawa Yukichi lại trở thành các sách bán chạy (best-seller) trong thời Minh Trị  hay  môn Nghiên cứu xã hội (thống hợp Lịch sử, địa lý, giáo dục công dân)  lại đóng vai trò trung tâm trong cải cách giáo dục nước Nhật sau 1945.

Ở phương diện “vi mô”, muốn cứu được giáo dục lịch sử, cần phải coi  và có cơ chế pháp lý đảm bảo cho môn “Lịch sử” trong nhà trường là một môn Khoa học.

Đã là một môn khoa học thì đương nhiên mục đích của nó phải minh xác, rõ ràng. Khi đó, đương nhiên môn  Lịch sử sẽ cần thiết cho tất cả mọi người thay vì chỉ là môn học để thi hoặc là phương tiện cho những người thi khối C vào đại học.

Để học “Lịch sử” như một khoa học, đương nhiên cả giáo viên và HS sẽ phải làm việc theo phương pháp khoa học.

Lối dạy truyền đạt các tri thức lịch sử và quan điểm đi kèm được quyết định sẵn vốn đang thịnh hành sẽ phải được thay thế bằng cách thức tổ chức hướng dẫn học tập mới.

Ở đó, người giáo viên sẽ hướng dẫn HS học tập trong vai trò là “nhà sử học nhỏ tuổi” để tiến hành các phương pháp học tập giống như phương pháp nghiên cứu của nhà sử học: tìm kiếm, xử lý tư liệu, phê phán tư liệu, thiết lập giả thuyết, phê phán-kiểm chứng giả thuyết, văn bản hóa kết quả nghiên cứu dưới nhiều hình thức đa dạng( bài biết, tập san, áp phích, bài báo…).

Một khi tiếp cận với tư duy đó, giáo dục lịch sử kiểu “nghiên cứu xã hội” với 3 hình thái (thông sử, lịch sử theo chuyên đề, lịch sử lội ngược dòng) sẽ được  phối hợp nhịp nhàng.

Tính chủ thể thể hiện sự sáng tạo của HS trong học tập lịch sử nằm trong nhận thức lịch sử sẽ được công nhận và làm nên sức hấp dẫn của môn học. Thông qua học tập, thảo luận các nhận thức thực chứng, lô-gic,  hợp lý và giàu sức thuyết phục sẽ tồn tại và có sức ảnh hưởng. HS sẽ thay đổi nhận thức liên tục trải qua quá trình học tập đó. Thông qua quá trình cọ xát và tư duy liên tục như thế  suốt từ tiểu học đến hết phổ thông, HS sẽ  trở thành những công dân ưu tú và thông thái. Xã hội được xây dựng và bảo vệ bởi những người công dân thông thái sẽ là xã hội có những nền tảng cơ bản, vững chắc để từng thành viên kiếm tìm hạnh phúc.

Nguyễn Quốc Vương
Nguồn: Vietnamnet.vn

Lời phê đặc biệt cho bài kiểm tra Sử lớp 8 của thầy giáo

July 13, 2015 Leave a comment

Thứ Hai, ngày 13/07/2015 14:01 PM (GMT+7)

Đây không chỉ là lời phê mà còn là lời cảm ơn của thầy giáo gửi tới học sinh lớp 8 của mình sau bài kiểm tra môn Lịch sử.

Nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Vương (đại học Kanazawa, Nhật Bản), từng là giáo viên thỉnh giảng trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành (trường thực hành thuộc Đại học sư phạm Hà Nội) chia sẻ bài viết nhân chuyện video “kiểm tra” kiến thức lịch sử của học sinh đang gây ồn ào.

“Tôi post lại lời phê của tôi đối với các bài kiểm tra (chung 1 đề ) cho học sinh lớp 8. Ở đây xin nhắc lại một điều trong thế giới này mọi thứ đều có “tính lịch sử” vì thế chuyện con người có mối quan tâm, ý thức về lịch sử là đương nhiên.

Vấn đề nằm ở chỗ giáo dục lịch sử trong nhà trường có tạo ra xúc tác để mối quan tâm đó trở nên mãnh liệt và hướng vào các “vùng” hữu ích cho cuộc sống cá nhân cũng như cộng đồng hay không? Nó có tạo điều kiện để biến các “ý thức lịch sử” đó trở thành nhận thức lịch sử khoa học hay không mà thôi.

Ngược lại, giáo dục lịch sử thông qua môn Sử sẽ hàng ngày, hàng giờ bóp chết mối quan tâm, ý thức đó hoặc tạo ra ở học sinh một mớ các “kiến thức” chắp vá, lộn xộn kiểu mảnh vỡ đầy thiên kiến và nhuốm màu …huyền thoại.

Gánh mớ kiến thức này trên vai, tự nhiên các học sinh “thuộc sử” lại trở thành những hòn đá cản đường tiến bộ.

 Lời phê đặc biệt cho bài kiểm tra Sử lớp 8 của thầy giáo - 1

Sau đây là “tâm thư” của thầy giáo Nguyễn Quốc Vương gửi học sinh:

“Các em học sinh lớp 8A3, 8A4 và 8A5 thân mến!

Khi viết những dòng này cho các em thầy vẫn chưa hết xúc động. Các em đã làm bài thật xuất sắc, vượt qua cả dự kiến ban đầu của thầy. Đọc bài các em viết, thầy có cảm giác mình được ngồi trên “Cỗ máy thời gian” của chú mèo Doremon để trở về “Nhật Bản giữa thế kỷ XIX”. Các em đã  biết “hóa thân” thành “người Nhật Bản đương thời  có chí lớn”  để trình bày “kế sách” của mình.

Ở đó, thầy được gặp Đại tướng Saigo Takamori, anh hùng đảo Mạc Sakamoto Ryoma, nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi, Thiên hoàng Minh Trị… Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, các em còn “hóa thân” thành “kiếm sĩ vô danh”, “một người ăn mày ở thành phố Edo”, “một du học sinh tại Anh quốc”, “một hồn ma chưa siêu thoát” thậm chí là “Gia Cát Lượng Khổng Minh”… để trình bày “kế sách”. Đó là sự sáng tạo tuyệt vời!

Trong bản “kế sách” của mình, các em đã biết đứng ở nhiều góc độ để phân tích bối cảnh lịch sử Nhật Bản và thế giới giữa thế kỷ XIX, so sánh trình độ văn minh của Nhật Bản và phương Tây, biết dùng các sự kiện lịch sử có thật như: Khởi nghĩa Xi-pay, Chiến tranh thuốc phiện, Đô đốc Perry đến Nhật Bản… để lập luận rất thuyết phục. Nhiều em đã biết chọn mốc thời gian đưa ra “kế sách” là năm 1867, 1868, giữa thế kỷ XIX và liên hệ, so sánh với sự kiện thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và cuộc Chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc. Điều này nói lên rằng các em đã hiểu đề rất sâu sắc và có cái nhìn chính xác về lịch sử. Nhiều em cũng đã biết lồng ghép một cách khéo léo nội dung của cuộc Duy tân Minh Trị vào “kế sách” của mình.

Đọc bài viết của các em, thầy nhận thấy các em có cái nhìn thật nhân văn và sâu sắc về người lính, về chiến tranh và hòa bình, về vai trò của nhân dân. Các em đã phát hiện ra cả những khía cạnh mà thầy chưa từng nghĩ đến. Cách nhìn của các em về lịch sử  gợi cho thầy nhiều suy ngẫm. Giữa những con chữ thầy cũng nhận ra các em đã suy tư một cách nghiêm túc về những vấn đề hệ trọng của Nhật Bản cũng như của bất kì một dân tộc nào khác trên thế giới: văn minh và khai sáng, dân trí và dân chủ, bình đẳng giới và văn hóa,  trình độ phát triển và chủ quyền dân tộc, hạnh phúc và tự do…

Thầy hiểu  đằng sau những suy tư đó là lòng yêu nước, trách nhiệm công dân và sự thiết tha đối với vận mệnh của dân tộc. Từ “công dân” được các em dùng rất nhiều lần và dùng thật chính xác. Đó không phải là một sự ngẫu nhiên  hay vô tình phải không các em?

Mặc dù bài được viết ngay trên lớp, đề ra bất ngờ và chịu áp lực tâm lý,  những “người Nhật Bản đương thời có chí lớn” vẫn đưa ra được các “kế sách”  dưới rất nhiều hình thức phong phú như: thư gửi người thân, bạn bè, tấu gửi lên Thiên hoàng, hịch kêu gọi nhân dân Nhật Bản, lời thuật lại một buổi thiết triều…

Sự phong phú này khẳng định rằng các em quả thực là những học sinh thông minh, sáng tạo và độc lập trong suy nghĩ. Các bản “kế sách” được viết với văn phong mang  đậm không khí thời đại,  ngôn ngữ của các nhân vật lịch sử rất chính xác.  Khi đọc bài các em viết,  thầy có cảm giác như mình đang thực sự sống trong xã hội Nhật Bản giữa thế kỷ XIX. Điều này thể hiện các em yêu môn Lịch sử, yêu tiếng Việt. Đó là sự động viên vô giá đối với thầy. Tuy nhiên, ở một số “kế sách”, thầy vẫn nhận thấy chỗ này, chỗ kia các em viết sai chính tả, hoặc nhầm lẫn mốc thời gian, sự kiện. Thầy đã chữa ở trong bài viết. Các em đọc để rút kinh nghiệm lần sau.

Sau khi chấm xong bài kiểm tra của các em, thầy chợt nảy ra ý định tặng các em một món quà nhỏ. Đố các em đoán được thầy định tặng quà gì? Món quà ấy là tập hợp các “kế sách” tiêu biểu ở ba lớp được thầy đánh máy và in thành tập lấy tựa đề “Học sinh Việt Nam vạch kế sách cho Nhật Bản giữa thế kỷ XIX”. Vào thời gian rảnh rỗi, các em có thể chuyền tay nhau đọc để học hỏi lẫn nhau.

Ở phần cuối, thầy tặng các em bài viết về hai nhân vật được nhắc đến nhiều trong “kế sách” là Fukuzawa Yukichi và Saigo Takamori. Hai bài viết này được trích từ cuốn sách “25 nhân vật lịch sử Nhật Bản” do thầy viết (thầy hi vọng cuốn sách sẽ sớm được xuất bản trong tương lai). Thầy cũng tặng các em một số bài thơ do các bạn thiếu nhi Nhật Bản viết đã được thầy dịch ra tiếng Việt. Thầy hi vọng các em sẽ có những cảm nhận thú vị.

Cuối cùng, thầy chúc các em học tốt và mỗi ngày lại có thêm nhiều niềm vui mới.

Thầy tin rằng các em rồi đây sẽ trở thành những người công dân ưu tú của đất nước.

Thầy thấy thật hạnh phúc và tự hào khi có những người học trò như các em.

Đề bài kiểm tra môn Lịch sử (thời gian 45 phút)

Vào giữa thế kỉ XIX, trước áp lực ngày một gia tăng của các nước đế quốc phương Tây, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn:

1. Cải cách, mở cửa để xây dựng đất nước theo mô hình các nước phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.
2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nhiều kế sách đã được đưa ra.
Em hãy đóng vai là một người Nhật đương thời có chí lớn để đưa ra kế sách cho Nhật Bản.

Bài làm

Ngày tháng năm 1868

Gửi Thiên hoàng Minh Trị mới lên ngôi!

Tôi viết thư này cho ngài giữa cảnh đất nước đang chịu áp lực của các đế quốc phương Tây. Cũng chính vì điều đó mà dân chúng khổ cực, đói rét, sợ hãi chiến tranh, sợ vì những mạng người bị mất đi ngày càng nhiều. Những kẻ tự cao, tự đại nào dám ngẩng mặt lên mà nói rằng đất nước Nhật Bản này là một cường quốc có thể đánh bại thực dân phương Tây?

Tôi chỉ là một trong những người dân đói khổ của đất nước này, nhưng tôi biết về súng đạn hiện đại, các loại vũ khí tối tân…– những thứ đã thay mặt thần chết cướp đi sinh mạng của hàng triệu người dân. Chúng ta cần phải thay đổi ý nghĩ bảo thủ. Nền độc lập là rất cần thiết nhưng ta giữ độc lập làm gì khi đất nước ta ngày càng đói khổ, lạc hậu, chưa kể đến việc phương Tây sẽ gây ra chiến tranh bất cứ lúc nào. Chúng sẽ thẳng tay tàn sát, mọi nơi sẽ đổ đầy huyết người.

Còn nếu chúng ta có thể chấp nhận việc mở cửa phong kiến, xây dựng Nhật Bản theo mô hình của phương Tây thì chúng ta sẽ bắt kịp thời đại, đất nước và nhân dân ta sẽ giàu có. Đừng suy nghĩ rằng chúng ta phải thể hiện khí thế dân tộc, phải đánh đuổi phương Tây bằng mọi giá. Bản thân đất nước ta cũng như các nước phong kiến đều không bằng các đế quốc phương Tây về mọi mặt.

Chúng ta cần thay đổi lý tưởng về xã hội, chính trị, phát triển nông nghiệp và công nghiệp theo mô hình phương Tây để đưa đất nước chúng ta đi lên, để sánh vai cùng các cường quốc. Đến lúc đó, không chỉ ngài và bộ máy nhà nước mà tất cả mọi người dân Nhật Bản đều có thể ngẩng cao đầu tự hào về đất nước này.
Xin hãy suy nghĩ về ý kiến của tôi!

Kính gửi
Ký tên
Doraemon Suzuki
(NQA, nữ, học sinh lớp 8)

Theo Tào Nga (Khám Phá)
Nguồn: http://eva.vn/tin-tuc/loi-phe-dac-biet-cho-bai-kiem-tra-su-lop-8-cua-thay-giao-c73a230046.html

Từ chuyện tổ chim ngẫm về giáo dục

July 10, 2015 Leave a comment

Câu chuyện tôi kể dưới đây diễn ra ở nước Nhật và là câu chuyện có thật. Có lẽ nó cũng giống như nhiều câu chuyện khác đang diễn ra hàng ngày ở nước Nhật.

Một chiều cuối tháng 5, tôi đến thăm một người bạn đang làm việc ở công ty X. Công ty chuyên nuôi gà đẻ nên đặt sâu trong thung lũng, cách xa khu dân cư. Đang ngồi chơi với bạn bên cửa sổ ký túc xá, tôi chợt nghe thấy tiếng trò chuyện có vẻ hơi gay gắt giữa hai người đàn ông. Tôi nhận ra giọng ông giám đốc công ty, còn người kia có lẽ là thư ký hay trưởng phòng nhân sự. Hai người đang nói chuyện về tổ chim én hay yến làm ở trên mái hiên một phòng ở trong ký túc xá nữ công nhân.

– Anh thấy chim làm tổ từ lúc nào?
– Dạ thưa, từ lần kiểm tra tuần trước.
– Đã trải báo ở bên dưới để hứng phân chưa?
– Dạ thưa, tôi đã cho người làm và mỗi ngày đều có người quét một lần.
– Tốt. Thế có chim non chưa?
– Tôi đã kiểm tra. Mới có trứng thôi. Bây giờ làm thế nào?

Không có tiếng trả lời. Một lát sau, tôi nghe tiếng ông giám đốc:

– Làm thế nào nhỉ? Lẽ ra phải chăng lưới để chim khỏi vào. Đã vào rồi thì… biết làm thế nào. Rắc rối thật!
– Hay chuyển tổ chim đi chỗ khác?
– Khó đấy! Tổ đang có trứng mà. Chuyển đi chim mẹ sẽ không tìm thấy tổ.
Hai người im lặng. Tôi kín đáo nhòm qua cửa sổ thấy ông giám đốc đang đi đi lại lại dọc hành lang còn người trẻ hơn tay cầm cuốn sổ đứng trầm ngâm.
– Thôi được! Tạm thời để nguyên đó xem sao. Anh nhớ dọn sạch phân và khử trùng cẩn thận. Tôi sẽ suy nghĩ…

Ông giám đốc nói rồi vội vã đi về phía văn phòng. Người đàn ông còn lại cắm cúi ghi chép gì đó vào sổ tay với vẻ mặt căng thẳng.

Có lẽ đối với người nước khác, phá một cái tổ chim hay tổ ong làm nơi cửa sổ hay mái nhà là việc rất dễ dàng. Sẽ không mất đến 5 phút để làm việc đó. Rất có thể nhiều người còn làm điều đó trong vui sướng vì ong non có thể đem ngâm rượu và trứng chim có thể thành mồi nhậu. Nhưng chuyện này với người Nhật không dễ.

Tại sao?

Có thể suy đoán rằng cảm giác tôn trọng sinh mệnh và thiên nhiên qua nhiều con đường như truyền thông, giáo dục, trải nghiệm gia đình đã được định hình trong họ và làm cho học có cảm giác “chùn tay” khi làm điều đó. Bởi thế ở Nhật Bản hiện đại, khắp nơi bát ngát là rừng. Chuyện khỉ rừng mò xuống ruộng ăn trộm bắp cải của nông dân hay gấu mò vào sân trường đại học không phải là chuyện hiếm. Sống hòa hợp và dựa vào thiên nhiên có lẽ là triết lý nhân sinh của người Nhật.

Bạn tôi bảo đối với công ty nuôi gà lấy trứng, dịch cúm gà do chim dã sinh mang đến thật sự là kẻ thù số một. Ở đây khi phỏng vấn tuyển nhân viên, giám đốc sẽ thẩm tra kỹ xem có ai nuôi chim ở nhà không. Những người có thú vui nuôi chim sẽ không bao giờ được nhận. Trong quá trình làm việc nếu phát hiện thấy ai nuôi chim, người đó sẽ bị đuổi việc vì trước khi vào làm họ đã ký vào cam kết.

Cũng không rõ rồi số phận tổ chim kia rồi sẽ ra sao nhưng câu chuyện giữa hai người đàn ông nói trên khiến tôi không sao dứt khỏi những dòng suy ngẫm.

Nguyễn Quốc Vương
Nhật Bản tháng 5/2015

Nguồn: Tạp chí Trồng Người số 4

%d bloggers like this: