Archive

Archive for September, 2015

Tết của ngày xưa

September 29, 2015 Leave a comment

Mỗi năm có một cái Tết. Tết ta thường nghỉ dài. Từ chiều ngày 30 tháng chạp đường phố Hà Nội vắng đến lặng người. Những người có gốc gác ở quê đã về ăn Tết cả. Có lần lúc còn là sinh viên ở trường sư phạm tôi cố nán lại đến chiều 30 xem Hà Nội đón Tết thế nào nhưng mới sáng 30 nhìn dòng người hối hả ra bến xe tôi không chịu nổi lại nhảy lên chiếc xe khách nhét chặt người đang ì ạch bò ra ngoài thành phố. Những năm ở Nhật cũng thế. Thường Tết đến thì tuyết rơi. Ngồi trong phòng ở ký túc xá trong đêm giao thừa mà nhìn tuyết rơi mù trời thấy nhớ nhà và cô đơn khủng khiếp. Nhưng nếu đón hai ba cái Tết liền ở quê thì lại có cảm giác buồn buồn. Chẳng biết Tết đang nhạt dần hay khi đã trưởng thành Tết không còn bao nhiêu ý nghĩa nữa.

Hồi nhỏ từ quãng tháng mười trở đi khi trời se lạnh là lại mong đến Tết. Lâu lâu tôi lại nhìn lịch rồi tính nhẩm xem còn mấy tháng nữa. Lúc bưởi nhà tôi chín vàng thì cũng vừa vặn là tháng chạp. Vào dịp ấy mẹ thường hay cho tôi đi chợ cùng để bán bưởi. Bán hết bưởi mẹ cho tôi ra hàng xén hay hàng pháo chơi thỏa thích. Tha hồ sờ nắn hay ngó nghiêng. Nhưng tôi chỉ xem thôi chứ không có tiền mua. Quần áo mới đã có mẹ mua. Mỗi năm mẹ mua cho một bộ. Chẳng hiểu sao lần nào mua mẹ cũng dẫn tôi ra cửa hàng đo cẩn thận mà khi mặc ống quần dẫn dài quét đất. Đi học phải xắn lên mấy nấc. Mẹ bảo “may dài ra một tí để lớn lên mặc thì vừa”. Nhưng phần lớn tôi chưa kịp lớn lên để mặc vừa thì cái quần ấy đã rách ở hai đầu gối và mông.
Mỗi phiên chợ vừa bán bưởi, bán hành mẹ lại mua dần đồ Tết: lá dong, miếng, măng, mộc nhĩ, bánh đa nem, mứt…những thứ có lẽ cả năm nhà tôi chỉ được ăn một lần. Vẫn nhớ năm nào mẹ mua 2 gói mứt là tôi mừng lắm, thích đến mất ngủ.

Chiều 28 Tết bố nhóm lò than để luộc lá dong gói bánh. Luộc xong mẹ rửa lá và lau ở ngay bờ giếng trong khi người làng mang ra sông. Giếng nhà bố tôi tự đào rất lớn và nhiều nước. Những ngày gần Tết hàng xóm thường gánh đôi thùng sang nhà tôi xin nước về luộc bánh hoặc để ăn. Họ xin và trữ nước trước ngày mùng một vì sau đó phải kiêng việc xin xỏ trong những ngày đầu năm mới.

Đêm 28 nhà tôi thịt lợn. Mỗi năm nhà tôi nuôi một con lợn để thịt ăn Tết. Có năm ăn với nhà các chú, các cậu. Có năm lợn nuôi không lớn bé quá thì nhà tôi ăn mình. Xem thịt lợn kinh nhất màn chọc tiết nhưng vẫn thích dậy sớm để xem bố và các chú bắt lợn. Đêm ấy hầu như anh em tôi không ngủ hoặc có ngủ cũng cứ thấp thỏm. Trước khi ngủ lại mặc cả với bố “Bố dậy nhớ gọi con”. Có năm thằng Đích con nhà cô út ra chơi ngủ lại để chờ xem thịt lợn. Lúc bố tôi gọi dậy mấy anh em thích chí nhảy choàng lên làm gãy luôn cả giường.

Mỗi lần mổ lợn xong bố lại lấy bơm xe đạp bơm căng bong bóng lợn cho mấy thằng chơi. Trong lúc người lớn tất bật làm cỗ và giã giò thì mấy anh em chơi đá bóng ở sân la hét nhảy nhót như phát rồ.

Sáng 29 nhà tôi gói bánh chưng. Lớn lên đi học đại học tôi mới biết hóa ra có nơi người ta chỉ gói mỗi bánh chưng vuông. Ở quê tôi nhà nào cũng gói cả bánh chưng vuông và bánh chưng dài. Bánh chưng vuông thường chỉ để dùng làm đồ lễ Tết hoặc đem thờ hiếm khi cắt ra ăn trong mấy ngày tết. Bánh chưng dài vừa dễ cắt ăn lại ngon hơn. Tôi thích ăn bánh chưng. Có lần đói bụng tôi đã thử và ăn hết nguyên một cái bánh chưng dài cắt được đầy một đĩa lớn. Nhìn tôi ăn mẹ mắng “Cái thằng ăn như chết đói. Ăn khỏe thế ai nuôi được”. Tầm 9-10 giờ đêm thì bánh chín. Tôi thường thức canh nồi bánh chưng với mẹ. Thi thoảng lại được mẹ sai kéo nước dưới giếng lên cho mẹ đổ vào nồi bánh. Bao giờ bánh chín mẹ cũng lấy hai cái mang lên nhà thắp hương để sáng mai cắt ra cho cả nhà ăn sáng.

Chiều ba mươi Tết tôi tự đi xe đạp mang bánh lên nhà ông ngoại và nhà cụ sinh ra bà nội tôi ở làng trên. Chiều tối cả nhà ăn cỗ rồi chờ đón giao thừa. Ngày đó chưa cấm pháo. Anh em tôi háo hức chờ giao thừa để xem xung quanh đốt pháo. Thức đến 9 giờ không cưỡng được cơn buồn ngủ hai thằng vừa chui vào chăn vừa ngáp. Gần đến giao thừa thì bố gọi dậy. Trời tối mò. Nhưng ở xung quanh chân trời chốc chốc lại sáng rực như ánh chớp. Khắp nơi người ta đang đốt pháo. Giao thừa đến pháo bốn bên nổ loạn xạ. Đốt nhiều nhất có lẽ là ở bên kia sông. Tiếng nổ vang rền và kéo dài mãi. Nhà tôi cũng đốt nhưng mỗi năm chỉ một bánh. Bố treo bánh pháo lên dây thép rồi châm ngòi bằng que đóm. Pháo nổ ! Hai thằng vừa túm tay bố vừa dòm. Pháo nổ xong hai thằng xô nhau vào sờ tìm pháo xịt. Chiều con bố thắp ngọn đèn treo soi khắp sân cho hai thằng nhặt. Những quả pháo ấy được đem đi giấu kĩ vì sợ thằng kia ..lấy trộm.

Mùng một tôi cũng phải dậy sớm vì nhà chú hoặc nhà hàng xóm dặn trước sang xông nhà. Trước lúc tôi đi mẹ cẩn thận dặn phải chúc Tết thế nào rồi chào hỏi ra sao. Dậy sớm rất lạnh, mắt mũi cay xè nhưng bù lại đi xông nhà được mừng tuổi. Mỗi năm tiền mừng tuổi cũng được 3-5 nghìn. Tiền ấy tôi để dành mua lưỡi hoặc chỉ câu.

Đi xông nhà họ hàng nội ngoại xong, tôi được bố mẹ cho đi chơi thỏa thích. Thích Tết một phần là vì thế, được chơi, được tiền mừng tuổi, tối không phải học bài và ngày không phải đi chăn trâu. Chẳng thế mà có lần cô giáo ra đề viết văn về ước mơ, tôi thật thà viết rằng “Ước mơ của em là một năm có hai lần Tết”. Cô giáo đọc bài tôi làm lũ bạn cười nhăn nhở. Tôi thì thản nhiên vì nghĩ bài văn ấy chẳng đáng là gì. Chị tôi còn viết văn tả con gà trống chuồng nhà tôi có 4 chân, lúc gáy hai chân nó bám vào cành chanh còn hai chân sau thì đạp xuống đất nữa kia. Mà bố tôi cũng thế. Bố kể hồi học tiểu học bố đã từng tả cảnh trăng tròn trong đêm 30 Tết. Thầy Quỳnh dạy văn cho bố 9 điểm kèm lời phê “Ơ hay! Đêm ba mươi Tết lại có trăng”.

29/9/2015

Advertisements
Categories: Tản văn-ghi chép

Ăn cỗ cưới ở quê

September 27, 2015 Leave a comment

 

 

Hồi nhỏ nếu là trẻ con ở quê có lẽ ai cũng thích được đi ăn cỗ cưới. Tôi cũng thế. Thích lắm. Mỗi lần có ai đó vào mời ăn cỗ cưới tôi lại thường mon men chơi vơ vẩn ở gần bàn uống nước để nghe trộm. Khi người khách về bao giờ bố hoặc mẹ cũng thông báo cho cả nhà biết là ai cưới và bao giờ có cỗ. Bố mẹ cũng không quên nói luôn những ai được đi ăn cỗ và vào ngày nào. Nhưng bố chẳng cần nói thì tôi cũng biết mình có được đi hay không. Nếu là họ hàng gần thì đương nhiên là tôi được đi còn nếu là họ hàng xa thì bố và mẹ sẽ đi. Nếu người đến mời chỉ là người làng thì chỉ có bố hoặc mẹ đi ăn cỗ mà thôi.

Cả làng tôi chỉ có ba họ chính: Nguyễn, Giáp và Quách. Họ Nguyễn là họ nhà tôi chiếm tỷ lệ lớn nhất sau đó đến họ Giáp và cuối cùng là họ Quách. Họ Nguyễn và họ Giáp có quan hệ thông gia khá mật thiết. Họ Quách thì từ xa đến không có quan hệ họ hàng gì với gia đình nhà tôi. Bố mẹ tôi cũng thường nói cho mấy chị em biết những nhà trong làng có quan hệ họ hàng thế nào để khi gặp biết đường chào hỏi nên nhà ai họ hàng thế nào tôi gần như rõ cả. Có đám tôi được bố hoặc mẹ đưa đi có đám tự đi một mình.

Hồi ấy đám cưới người ta chưa mừng bằng tiền để trong phong bì mà mang theo thóc, gạo, gà hoặc…pháo. Không chỉ cưới mà đám giỗ, đám tang hay dựng nhà đều thế cả. Cho đến lúc tôi cưới vợ vẫn có những người trong họ hàng mang gạo đến nhà tôi vì ngày xưa con họ cưới bố mẹ tôi mừng bằng gạo.
Đi ăn cỗ đám cưới rất vui vì được chơi thỏa thích. Bọn trẻ con nhảy nhót chơi đủ trò trong tiếng nhạc xập xình đến điếc cả tai. Những thằng học cùng lớp với tôi ở trong làng cũng có mặt ở đấy. Chúng nó được chơi đến khuya thậm chí có thằng ngủ luôn ở đấy nhưng tôi chỉ được chơi đến 7 giờ tối là bố bắt về vì phải học bài.

Hồi đó, pháo chưa bị cấm. Đi ăn cỗ cưới tha hồ xem đốt pháo. Khoảng tầm 10 giờ trưa trở đi là pháo nổ liên hồi vì đấy là lúc khách ở xa và thanh niên đến ăn cỗ. Cứ một toán thanh niên vào là lại có anh mang theo bánh pháo. Anh đi đầu xòe xiêm châm lửa vào bánh pháo xách trên tay. Pháo nổ đinh tai xòe khói mù mịt. Đến lúc bánh pháo chỉ còn một đoạn ngắn thì anh ta hoặc ném vọt lên trời cao hoặc ném bừa vào vườn hoặc bụi cây nào đấy. Lũ trẻ đang bịt tai xô đẩy nhau ở đằng sau nhặt pháo xịt khi ấy nhào tới để cướp pháo. Có thằng táo tợn còn dám thò chân dậm vào bánh pháo để dập cho nó tắt. Thường thì mỗi bánh pháo sẽ có một vài quả pháo cối to gấp vài lần quả pháo tép. Tiếng nổ của nó rất khiếp. Thằng nào mà nhặt được quả pháo cối thì sung sướng trong ánh mắt thèm thuồng của những thằng còn lại. Cũng có lúc xảy ra vài tai nạn. Có thằng ham quá thò tay nhặt quả pháo rơi xuống đất mà ngòi vẫn cháy. Pháo nổ ngay trên tay. Có thằng tay tóe máu.

Những quả pháo chưa kịp nổ được bọn trẻ cất đi thi thoảng đốt vài quả để chơi. Có lúc bọn tôi rủ nhau ra bến ngòi hoặc một cái ao nào đó rồi móc nắm đất nhét quả pháo vào đó. Thằng gan lỳ nhất trong bọn sẽ tự tay châm ngòi quả pháo quả pháo đó rồi ném xuống nước. Ục! quả pháo nổ dưới nước phát ra âm thanh trầm đục. Bọn trẻ con khoái chí nhảy nhót reo ầm ĩ. Cũng có lần bọn trẻ nghịch dại cắm pháo vào bãi cứt trâu để đốt. Pháo nổ  cứt trâu văng tung tóe. Những thằng đứng gần bị cứt trâu phủ từ đầu đến chân.

Chơi với pháo là trò chơi nguy hiểm. Rất may suốt thời gian ấy làng tôi không có vụ tai nạn pháo nào đáng kể. Sau này nghĩ lại thấy rùng mình nhưng không hiểu sao lúc ấy chơi với pháo chỉ thấy …thích.
Chơi mãi rồi cũng đến giờ ăn cỗ. Người lớn ngồi ăn trong nhà trên chiếu hoặc ở bàn ngoài sân còn bọn trẻ con hoặc là ngồi xổm hoặc là ngồi bệt ngay trên nền sân vì không có chiếu. Người lớn vừa đặt mâm và bê lại rá cơm lũ trẻ đã bu lại như đàn ruồi. Người lớn phải dàn xếp để bọn trẻ ngồi ăn trong trật tự. Hồi đó cả làng nghèo. Gọi là cỗ cũng nhưng ở mỗi mâm chỉ có mấy món do họ hàng tự nấu: một bát canh xương nấu với khoai tây hoặc củ mỡ, một đĩa thịt mỡ luộc, một bát thịt xáo, một bát rau bắp cải xào hoặc đỗ xào. Nhà nào giàu có hơn một tí thì có thêm đĩa xôi. Với tôi, đi ăn cỗ cưới tôi chỉ thích ăn độc một món canh xương nấu với khoai tây hoặc củ mỡ. Thường thì lũ trẻ không ăn đĩa xôi và đĩa thịt mỡ luộc mà để dành để ăn xong chia phần mang về. Người lớn chia phần cho từng đứa. Lúc về mỗi thằng một gói.

Trẻ con hồi đó thích đi ăn cỗ cũng một phần là được ăn ngon. Ở làng ngày đó nhà nào cũng khổ. Ở nhà tôi có âu mỡ mỗi lần mẹ đi đồng toàn phải dọa con ở nhà không được trèo lên ăn vụng. Nhưng lần nào cũng thế mẹ cứ đi vắng là anh em nhà tôi lại bắc ghế lên khoét mỡ ăn với cơm nguội.

Có lẽ những ai lớn lên không có trải nghiệm đói nghèo sẽ rất khó hình dung và cảm thông với sự thực trần trụi ấy.

Bây giờ tôi vẫn đi ăn cỗ cưới ở quê. Vừa ngồi vào mâm vừa gãi đầu gãi tai vì sợ…rượu. Ở quê họ hàng thì đông. Người quê lại mời rượu khéo mà tôi thì không uống được rượu. Trong đám cưới ở làng tôi, rượu được uống nhiều hơn nước. Rất hãi.

Cũng có những khi vừa ngồi ăn cỗ tôi vừa nhìn đám trẻ con. Trẻ con vẫn theo bố mẹ tới ăn cỗ nhưng dường như giờ chúng dửng dưng với cỗ. Cuối bữa cũng chẳng còn có chia phần. Pháo cũng không còn chỉ có tiếng nhạc inh tai và mùi khói bếp là vẫn thế.

27/9/2015

 

Categories: Tản văn-ghi chép

Ánh sáng từ những ngọn đèn dầu

September 26, 2015 Leave a comment

Năm 1996 nhà tôi bắt đầu dùng điện. Khi ấy bố tôi vừa dựng xong ngôi nhà trên bằng số gỗ ông trồng suốt hơn 20 năm nên tôi nhớ. Cũng chẳng nhớ cảm giác sung sướng khi lần đầu tiên thấy ánh điện sáng trong nhà mình thế nào nữa chỉ nhớ từ bữa đó mấy chị em không phải tranh nhau đèn dầu nữa.

Trước khi có điện, mọi sinh hoạt của gia đình tôi đều diễn ra dưới quầng sáng nhỏ nhoi của ngọn đèn dầu. Mỗi ngày vào khi chập choạng tối, thường thường mẹ sẽ quát tôi đi châm đèn cho mẹ. Hai chiếc đèn dầu được đặt trên bệ cửa sổ ở nhà trên, tôi cầm bật lửa và đóm lật lượt châm từng cái một. Cái nào hết dầu thì lấy chai dầu đặt dưới chân giường rót thêm vào. Bóng đèn nào bị muội ám đen thì dùng giẻ lau thấm nước lau sạch. Mẹ tôi gọi bóng đèn dầu là “bóng tam phong”. Cũng không hiểu tại sao mẹ gọi thế. Có những phiên chợ mẹ đi mua về cả một, hai xâu “bóng tam phong”. Mẹ mua để dự trữ vì có những hôm gió to ngọn đèn đặt trên bàn uống nước bị đổ làm vỡ bóng tam phong hoặc chính tay tôi làm vỡ. Mỗi lần tôi làm vỡ bóng đèn mẹ chạy lại vừa nhặt những mảnh thủy tinh vỡ ở xung quanh vừa cốc vào đầu tôi bảo “Đoảng!”. Mẹ chỉ cốc lấy lệ chứ không đau nhưng tôi sợ mẹ nhắc đi nhắc lại vì mẹ nhớ rất dai. Có khi mẹ nhắc lại cả những lần tôi đánh vỡ thứ gì đó từ hai, ba tháng trước.

Nhà có 4, 5 chiếc đèn nhưng mỗi tối tôi chỉ châm 2 chiếc để tiết kiệm dầu. Một chiếc đặt trên bàn uống nước ở nhà trên. Một chiếc mang xuống dưới bếp đặt trên chiếc ghế ngồi ăn cơm bố tự đóng bằng gỗ bạch đàn. Có đèn sáng bố tranh thủ băm rau lợn còn mẹ nấu cơm. Tôi thì hoặc chạy lăng xăng chơi ngoài sân hoặc ngồi trên hàng gạch ngăn cửa bếp hóng chuyện. Ăn cơm cũng chỉ có một ngọn đèn dầu đặt trên chiếc ghế đặt cạnh mâm. Cũng có buổi tối vào dịp đặc biệt nào đó như ngày tết mùng năm tháng năm hay rằm tháng bảy thì tự tay bố thắp ngọn đèn treo có tán lớn để ăn cơm. Trên bình đựng dầu của chiếc đèn ấy có dán nhãn hình đầu con trâu có cặp sừng giương lên ngạo nghễ. Chỉ có việc gì đó trong gia đình chiếc đèn ấy mới được thắp lên còn bình thường nó chỉ được dùng khi bố đi soi cá, cua hoặc nhái về cho lợn. Không ít lần tôi xách giỏ đi sau bố khắp các cánh đồng để soi nhái. Có lẽ vì thế mà từ nhỏ tôi đã không sợ ma và sau này không thích xem phim kinh dị. Vào tối 28 Tết tôi thường thức dậy cùng bố lúc 4 giờ sáng để vào nhà bà nội thịt lợn. Bố châm đèn treo và đưa cho tôi. Tôi xăng xái đi trước xách ngọn đèn đi trước còn bố lững thững theo sau.

Ăn tối xong cả nhà tôi thường ngồi trên chiếc chõng tre uống nước. Bố mang thêm hai, ba ngọn đèn tới. Bố tự tay lau từng chiếc bóng đèn, gạt sạch bụi và tàn tro bám trên từng chiếc bấc rồi châm đèn. Đèn châm xong là đến giờ ngồi vào bàn học. Mỗi chị em một cái. Lần nào mấy chị em cũng cố tranh lấy cái đèn sáng nhất. Cả mấy chị em tôi ngồi học dưới nhà ngang có cửa sổ mở ra cánh đồng. Bệ chiếc cửa sổ ấy là nơi tôi thường chui vào ngồi đọc sách. Đọc sách ở đó vừa gần giá sách lại vừa đỡ mỏi lưng. Bốn chị em ngồi trên ghế đẩu và chung một chiếc bàn dài. Chị cả ngồi trong cùng, ngoài cùng là tôi và sau này là thằng em út. Tôi nhỏ nên chỉ phải học chừng một tiếng còn hai chị học hai tiếng. 9 giờ tối tôi tắt đèn đi ngủ riêng hai chị phải học đến 10 giờ. Lúc học tôi hay cúi sát ngọn đèn nên bị cháy tóc. Có lần để ý thấy cả tiếng tóc cháy xèo xèo đưa tay lên sờ rồi ngửi thấy mùi khét lẹt. Đến lớp lũ bạn hay chế giễu tôi ngủ gật khi học bài. Kỳ thật tôi bị oan. Ngủ gật khi học thường là chị cả nhà tôi. Có lần chị ngủ gật gục xuống bàn tôi và chị thứ hai tắt đèn của chị đi mà chị không hề hay biết. Bố nhìn thấy chị ngủ gật lúc học thì thường cáu giận nên chị em tôi sợ. Mỗi lần học mà thấy chị cả ngáp lại phải vừa nhắc chị vừa trông chừng bố.

Cũng có những buổi tối trời lặng gió học xong cả ba chị em mang thau nước và ngọn đèn dầu xuống bãi rau của nhà gần cầu Chẹm. Chị cả để thau nước xuống giữa vườn rồi thả vào hai viên gạch sau đó đặt ngọn đèn dầu lên trên. Lũ thiêu thân, bớm và muỗi thấy sáng lao đến bay loạn xạ quanh ngọn đèn dầu rồi ngã vào thau nước. Tôi và chị thứ hai vớt lấy chúng gói vào tờ giấy để mang tới lớp nộp. Lúc đó nhà trường thường phát động những phong trào “kế hoạch nhỏ” như thế.

Đêm ở quê thường đen đặc đến nhức mắt nhưng tôi đã quen với ánh sáng của những ngọn đèn dầu. Suốt từ tiểu học cho đến hết cấp hai tôi học dưới quầng sáng nhỏ nhoi ấy. Tôi không thấy tối cũng chẳng thấy buồn. Nhưng không hiểu sao sau này khi có điện thì chỉ vài phút mất điện thôi cũng làm tôi khó chịu. Những lúc ấy đèn dầu lại được thắp lên nhưng đôi mắt dường như bất lực trước bóng tối phủ kín ở xung quanh. Lạ nữa là từ khi vào học cấp ba mỗi lần ngồi dưới mái hiên ngắm nhìn bầu trời lặng im đầy sao nhấp nháy hay ngồi bên cửa sổ nhìn ra cánh đồng trước mặt lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy vừa dịu nhẹ vừa thấm rất sâu. Mãi sau này khi đã đi làm ở thành phố mỗi lần về quê ngồi dưới mái hiên tôi vẫn còn nguyên nỗi buồn ấy. Đấy là nỗi buồn thật khó gọi tên và lý giải tại sao.
25/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Hai thế giới dưới ánh trăng xanh

September 24, 2015 Leave a comment

 

Khi tôi viết trên Facebook kể về những kỉ niệm thời thơ ấu ở làng có bạn đọc rồi tò mò hỏi “Trung thu ở làng anh thế nào? Anh kể chuyện trung thu đi anh”. Một câu hỏi rất khó trả lời. Đơn giản vì ký ức về tết trung thu trong tuổi thơ tôi hầu như không có. Nói đúng hơn trong suốt tuổi thơ tôi, vui tết trung thu giống như một chuyện xa vời.

Không chỉ có trung thu, những ngày lễ khác như Ngày lễ tình nhân, Quốc tế phụ nữ, Phụ nữ Việt Nam… cũng đều xa lạ với cuộc sống ở làng trong suốt quãng thời gian từ khi tôi vào tiểu học cho đến lúc rời trung học phổ thông.
Ở đấy sau lũy tre làng khi đêm xuống chỉ còn những ngọn đèn dầu leo lét sáng bên khung cửa sổ những nhà có con đi học hoặc sau này là quầng sáng nhỏ nhoi của những ngọn đèn điện mắc dưới hiên. Sau một ngày đồng áng và làm thuê mệt nhọc, 9-10 giờ đêm cả làng hầu như đã chìm trong giấc ngủ. Sau lũy tre làng tối đen điểm những vệt sáng lân tinh của bầy đom đóm vẫn có những cuộc hẹn hò trong bí mật của thanh niên, vẫn có những cặp đôi vừa nói chuyện rì rầm vừa rút rơm đun nồi cám lợn nơi góc bếp. Nhưng tôi dám chắc vào thời đó hầu như không có cô thôn nữ nào ở làng tôi nhận được hoa hồng hay sô-cô-la vào Ngày lễ tình nhân hay ngày Quốc tế phụ nữ… Những chuyện tặng hoa, tặng quà đầy màu sắc lãng mạn trong những ngày lễ ngày ấy chỉ là những chuyện trong tiểu thuyết. Mà ở làng tôi cũng chẳng có ai đọc sách hay tiểu thuyết vào thời ấy.

Cuộc sống ở thôn quê cũng không có chỗ cho ngày sinh nhật. Bố mẹ thậm chí cũng chẳng nhớ được chính xác ngày sinh của con. Mối bận tâm của họ dành cho cái ăn cái mặc. Nếu hỏi những người vừa qua tuổi ba mươi ở làng tôi bây giờ rằng vào thời ấu thơ đã từng bao giờ được bố mẹ tặng quà sinh nhật hay tổ chức tiệc mừng hay chưa thì tôi đoán chắc người được hỏi hoặc sẽ há mồm ngạc nhiên hoặc là cười ngượng ngập.

Trong suốt tuổi ấu thơ cho đến khi 18 tuổi tôi cũng chưa từng một lần được nhận quà hay thổi nến sinh nhật. Lần đầu tiên tôi được tặng quà sinh nhật là khi bước chân vào đại học.

Cuộc sống ở thôn quê trong rất nhiều trường hợp khác rất xa những gì trên màn ảnh hoặc những gì trong trí tưởng tượng của những người không sống ở nông thôn. Lớn lên, rời làng sống nơi thành phố và nếm trải cuộc sống muôn màu ở đây, mỗi khi trở về ngôi nhà của mẹ và ngồi dưới hiên ngắm nhìn bóng đêm ở ngoài phía lũy tre không hiểu sao trong lòng tôi buồn khó tả. Nỗi buồn ấy vừa sâu thăm thẳm vừa rất khó gọi tên. Nó giống như cảm giác cô đơn của một người bơ vơ giữa hai thế giới. Trung thu sắp đến, chỗ này chỗ kia bàn chuyện trung thu làm tôi tự nhiên cứ vẩn vơ nghĩ mãi về cảm giác ấy. Trăng trung thu sáng lắm. Bây giờ cả người lớn cũng vui đón trung thu với vô số trò vui. Nhưng tôi không chắc trong thế giới dưới ánh trăng xanh vào đêm rằm tháng tám có bao nhiêu người được phá cỗ ngắm trăng.

23/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Những chuyện ở quanh sân điếm

September 23, 2015 Leave a comment

Sau cầu Chẹm, sân điếm và ao làng là hai nơi tôi thường trốn ngủ trưa tới đó chơi. Cầu Chẹm thì gần, lúc nào mẹ gọi thì có thể nhảy qua bờ rào xương rồng về được còn chơi trong sân điếm và ao làng thì chịu.

Làng tôi có hai sân điếm. Người làng và lũ trẻ vẫn quen gọi là “sân điếm đội một” và “sân điếm đội hai”. Cũng có khi chúng được gọi là “sân tác đội một” và “sân tác đội hai”. Có lẽ cách gọi vắn tắt đó ra đời từ khi mô hình sản xuất hợp tác xã được áp dụng ở làng và làng bị chia ra thành hai đội sản xuất. Nhưng đấy là những thứ tôi biết được khi đã đi ra khỏi làng còn lúc ấy chỉ biết đấy là tên gọi. Có một hai lần, tôi chứng kiến cảnh làng giết trâu của hợp tác chia thịt cho từng gia đình. Trâu được lôi xuống bãi cỏ gần sân tác đội hai và bị cột chặt vào cái cọc tre ở đó. Một bác râu quai nón lực lưỡng trong làng giơ búa bổ thẳng vào đầu con trâu xấu số. 30 phút sau, thịt con trâu được chia đều thành hàng chục phần trên sân kho hợp tác. Mẹ tôi cấm tôi đi xem trò giết trâu ấy nhưng tôi vẫn lén lút xem. Có điều khi họ giơ búa lên thì tôi nhắm mắt.

Từ nhà tôi muốn đi vào sân tác đội hai phải đi một còn đường nhỏ chạy dọc con ngòi. Một đầu của con đường nối với cầu Chẹm, một đầu nối với đường làng và chỗ giao với đường làng là đầu sân tác đội hai. Mỗi khi trốn ngủ trưa vào đó chơi tôi thường chạy qua con đường này. Mùa lụt nước dâng lên ngập cả con đường. Những chỗ vốn là cống rãnh cho nước chảy qua sâu ngập đến cổ. Những khi ấy tôi tụt hết quần áo đội lên đầu rồi vừa dò đường vừa lội qua. Nếu đầu khô và quần áo khô lúc về mẹ sẽ không biết tôi vừa trốn đi chơi và nghịch nước.

Sân tác đội một thì nằm ở giữa làng. Từ sân tác đội hai đi thêm một đoạn rồi rẽ rái đi qua bờ ao làng là đến. Cũng có thể đi từ nhà tôi qua cổng làng rồi đi vào. Đường từ cổng làng vào sân tác đội một vừa nhỏ vừa tối vì tre phủ kín hai bên. Cả hai sân điếm đều lát gạch. Lũ trẻ chúng tôi thường tụ tập chơi đá bóng, đánh khăng, đánh đáo ở đây. Chơi vui nhất là đá bóng. Có những buổi trưa trời nắng như thiêu sờ lên đầu thấy tóc nóng bỏng tay nhưng bọn tôi vẫn đầu trần chân đất xô đẩy tranh nhau quả bóng cuốn bằng lá chuối khô trên nền sân gạch. Mới đá thì hay bị bỏng rộp dưới ngón chân cái. Da bị phồng lên tạo thành vết tròn trong đầy nước lúc vỡ ra rất xót. Nhưng sau vài trận thì da dưới chân sành lại không bị phồng lên nữa. Giữa chừng hay xong trận đấu bọn trẻ chạy vào những nhà quanh đấy kéo gàu nước giếng vừa uống vừa rửa mặt lẫn tay chân. Vào mùa lụt thì sau khi nghỉ cho mát đầu lũ trẻ nhảy ào xuống ngòi tắm. Cách đấy không xa là bến ngòi nơi có những tảng đá xanh lớn như chiếc chiếu được kê thành từng bậc để người làng tắm giặt. Chếch xa bến ngòi một chút là miếu thờ với mái nhọn gắn lưỡi cày nhìn ra con ngòi. Có lẽ ngôi miếu và bến ngòi được xây từ rất lâu khi làng mới lập.

Những trận bóng ở sân kho hợp tác thường chỉ kéo dài tới khoảng hai giờ chiều vì sau đó thằng phải về đi chăn trâu thằng phải đi kiếm củi. Chơi trưa chưa đủ có những đêm sáng trăng lũ trẻ lại rủ nhau ra đấy đá bóng.
Trước mặt sân tác đội một là những cái ao. Khác với làng khác làng tôi không có ao làng đúng nghĩa. Những cái ao giữa làng thuộc quyền sở hữu riêng. Bọn trẻ gọi tên chúng bằng tên người sở hữu: ao ông Lụa, ao Mộc, ao Xinh, ao ông Nhàn…Những cái tên đó thực ra là tên con hoặc cháu của chủ sở hữu. Ở làng tôi người ta thường tránh gọi tên thật. Tên thật chỉ dùng để gọi trẻ con, thanh niên hoặc khi chửi nhau. Trẻ con khi đánh nhau cũng thường gào thật to tên bố hoặc mẹ của thằng đối diện. Lớn lên nghĩ lại chỉ thấy buồn cười nhưng lúc đó thì tức dựng tóc gáy. Gào ở sân kho chưa đủ, có thằng táo tợn hơn còn chạy đến gần cổng nhà thằng vừa đánh mình để gào tên bố mẹ nó lên cho bõ tức. Mẹo này nghe chừng hiệu quả. Nhiều thằng bị bố mẹ cho no đòn là vì thế.

Những lúc không đá bóng lũ trẻ trong làng thường câu cá ở những chiếc ao này. Những đứa nhỏ tuổi dùng cần câu là cành tre với dây câu làm bằng chỉ may vá, lưỡi câu uốn bằng dây phanh xe đạp và mồi giun để câu các loài cá nhỏ như săn sắt, cá rô, tép mại… Những đứa lớn hơn thì câu cắm, câu quăng để bắt cá nhõn, cá trê. Câu cắm dùng cần câu vót bằng thanh tre với phần đầu cần vát mỏng tạo sự đàn hồi. Cần câu chỉ dài chừng sải tay với đoạn dây câu làm bằng dây cước gắn lưỡi câu cũng dài chừng đó. Mồi câu là cá rô đồng nhỏ hoặc con săn sắt (cá cờ). Cần câu được cắm trên bờ ao sao cho con cá làm mồi vừa chớm ngập trong nước để có thể bơi qua lại. Lúc móc lưỡi câu xuyên qua lưng con săn sắt hay cá rô bọn trẻ thường nhổ một bãi nước dãi vào vết móc. Không rõ việc ấy có tác dụng gì nhưng thằng nào cũng làm thế. Câu quăng thì dùng cần to, dài với dây câu bằng cước và có bàn quấn dây làm bằng gỗ hình tròn có rãnh. Những thằng khéo tay mới câu được kiểu này. Mồi câu làm bằng con nhái nhỏ. Con nhái được buộc chặt bằng chỉ vào lưỡi câu chỉ chừa hai chân thò ra sao cho khi kéo rê mồi trên mặt nước hai chân đó choãi ra giống hệt con nhái đang bơi. Buộc kĩ con mồi xong thì người câu lấy cỏ hoặc nõn lá tre gắn vào một đầu lưỡi câu, phần kia đút vào lỗ nhỏ ở cuống lưỡi câu. Làm thế để khi quăng lưỡi câu buộc con mồi ra xa ngoài ao nơi phủ kín bèo lưỡi câu sẽ không bị mắc vào bèo hoặc những cây dại mọc dưới nước. Cũng có những lần người lớn ra câu cùng lũ trẻ con và câu được những con cá nhõn lớn.

Mùa lụt nước từ ngoài ruộng tràn vào ngập hết bờ ao. Mỗi lần vào làng lại phải lội qua bì bõm. Thường thì khi đó là mùa hè. Đom đóm bay thành từng bầy ngoài phía rặng tre. Muốn bắt chúng thật dễ chỉ cần bắt lấy một con nhốt vào lọ thủy tinh rồi giơ ra những con khác sẽ bay tới và lúc đó chỉ việc giơ tay tóm. Nhưng trò bắt đom đóm nhanh chán vì bắt xong cũng chỉ nhốt vào lọ rồi nhìn. Đom đóm không cầm trên tay chơi được vì chúng rất hôi. Có những thằng nhát gan không bao giờ dám chơi vì người lớn hay dọa đom đóm là ma trơi. Hai chị gái của tôi cũng thế mỗi lần có gió to đom đóm bay giạt vào nhà là xanh mắt lên vì sợ.

Khi tôi vào học cấp ba thì những ngày tháng lang thang ở sân tác và ao làng chấm dứt. Đợt ấy ở làng thi đỗ vào cấp 3 trên huyện chỉ có tôi và một thằng nữa ở đầu làng. Cứ thế tôi đi xa dần khỏi lũy tre làng. Bây giờ hai sân kho hợp tác và ao làng vẫn còn đó nhưng không tìm ra chút gì của ngày xưa nữa. Những chiếc ao giờ đây đã trở thành những chiếc bể phốt lộ thiên chứa đây rác thải và phân lợn. Mỗi lần đi qua không khỏi rùng mình. Nghe bảo làng cũng có kế hoạch cải tạo lại tạo thành một chiếc ao lớn để trồng sen nhưng chưa làm được. Phần vì không có tiền để làm phần vì khó thu hồi đất. Có lần tôi đem chuyện này hỏi một người lãnh đạo trong làng, anh bảo “dân mình khó nói lắm phải bao giờ đến đáy mới nghe”. Nhưng ở đám cỗ thì tôi lại nghe người dân nói mọi việc không tiến triển vì cán bộ không dám làm cũng không kiên trì vận động người dân góp công góp của.

Ngẫm rồi chẳng biết ai đúng ai sai. Người ngoài nhìn vào thấy thật dễ nhưng có sinh ra và sống ở làng quê mới thấy cái quán tính ù lỳ tích tụ suốt ngàn năm lớn đến thế nào. Một cái bờ ruộng rộng nửa mét ngăn hai ruộng lúa chỉ qua vài năm bỗng nhỏ lại chỉ bằng chiếc đòn gánh.
Đấy là câu chuyện ở làng tôi mà cũng có thể là câu chuyện ở hàng nghìn làng quê khác.
23/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Những ký ức về mùa gặt

September 21, 2015 Leave a comment

Một

Ở Nhật trẻ con cũng chơi một trò giống như “trốn tìm” có tên là “làm quỷ”. Một đứa nhắm mắt làm quỷ cho những đứa còn lại đi trốn. Ai bị quỷ tìm thấy đầu tiên sẽ phải trở thành quỷ để quỷ được làm người.

Hồi nhỏ ở làng mấy chị em tôi cùng trẻ con hàng xóm cũng rất thích chơi trò này. Có điều ở làng tôi người ta gọi nó là “đánh nín”. Nhà tôi rộng lại có vườn nên bọn trẻ thường chơi “đánh nín” ở đấy. Để trốn quỷ chúng tôi chui vào gầm giường, leo lên gác chuồng trâu, trèo lên gác bếp, thậm chí chui cả vào cót thóc.

Một buổi chiều nọ vào mùa gặt khi mặt trời đang lặn mấy chị em tôi và bọn trẻ ở đồi Chẹm tụ tập ở sân nhà chơi đánh nín. Hai lần liền tôi đều phải làm quỷ. Lần thứ nhất thì do tôi rút được cái gằm ngắn nhất. Lần thứ hai thì bị quỷ tìm thấy đầu tiên. Tôi nghĩ nấp gần chỗ quỷ thì quỷ sẽ không ngờ tới nên núp ngay sau cột nhà nào ngờ bị tóm. Có lẽ thằng cu hàng xóm chơi trò bẩn “ti hí mắt lươn”.

Lượt thứ ba, để khỏi bị bắt làm quỷ tôi móc rơm tạo thành một cái hang rất sâu bên trong cây cơm ở trong sân nhà. Cuối mùa gặt nên cây rơm khi ấy đã cao và lớn lắm. Tôi chui vào cái hang vừa tạo rồi kéo rơm đã móc ra lấp kín lại. Hôm đó hai chị bị bố đánh mấy roi. Thằng làm quỷ tìm không thấy tôi nên bỏ cuộc không chơi nữa. Lũ trẻ quay sang chơi trò khác bỏ quên luôn tôi. Còn tôi nằm co tròn trong đống rơm làm một giấc ngon lành. Đến giờ ăn cơm không thấy tôi đâu cả nhà mới nháo nhác đi tìm từ chuôm cho đến ngòi và các xó xỉnh trong vườn. Tìm mãi không thấy. Để rồi cuối cùng khi mẹ tôi gần khóc thì chị cả đi ra lấy rơm nấu cơm thấy cây rơm khác với mọi ngày liền bới rơm và lôi thằng em ra ngoài khi tôi vẫn còn ngái ngủ.

Hai.

Mùa gặt trâu no vì có rơm tươi ăn nên thi thoảng tôi không phải chăn trâu ngoài đồng. Khi ấy mẹ bảo “Đi cắt lúa với mẹ”. Lúc còn học tiểu học thì tôi không phải cầm liềm cắt lúa chỉ ra đầu bờ ngồi chơi xem mẹ làm hoặc chạy lung tung bắt châu chấu và muỗm. Châu chấu thì bắt về cho gà ăn. Ở nhà mỗi năm tôi thường chọn lấy một con gà con vừa tách mẹ của nhà để nuôi riêng. Hàng ngày đi chăn trâu tôi bắt châu chấu hoặc đào giun cho nó ăn.

Hôm nào không bắt được châu chấu hay giun thì vào nhà ngang bốc gạo của mẹ cho ném cho nó. Đến khi lớn mẹ mang bán thì tôi được mẹ cho vài nghìn. Được tiền mẹ cho tôi giấu khắp nhà. Cứ giấu chỗ này một thời gian rồi lại cảm thấy không yên tâm nên đem giấu chỗ khác. Có lần tôi vo tròn giấu 2000 đồng lại rồi nhét vào một cái khe giữa hai viên ngói trên mái nhà phía trên bàn học. Không hiểu sao sau tìm lại mãi không thấy. Tiếc đến phát khóc mà không dám kêu vì sợ mẹ mắng. Châu chấu thì nhiều nên bắt dễ. Nếu mang theo vỉ ruồi theo mà đập thì chỉ một lát là đầy ống tay của mẹ. Muỗm thì phải chờ đến khi mẹ gặt gần xong ruộng lúa khi ấy bọn chúng sẽ túm tụm lại một góc tha hồ bắt. Muỗm béo nên chậm chạp chỉ việc thò tay ra tóm. Muỗm xanh cũng có mà muỗm vàng cũng có. Muỗm đó mang về nướng vàng ăn ngon không thể tả.

Xem mẹ cắt lúa hay bắt muỗm thì thích chứ gánh lúa thật…chán. Mẹ xếp cho mỗi đầu đòn xóc ba, bốn lượm lúa rồi đặt lên vai tôi. Ruộng gần nhà thì gánh ngon nhưng ruộng xa thì cái đòn xóc trên vai cứ nặng dần thít vào vai đau nhức. Nhưng nếu không gánh lúa thì mẹ không cho ra ruộng nên phải vừa gánh vừa nghỉ. Lúc nghỉ phải để thật khẽ để thóc không rụng ra đường. Thằng em tôi láu cá hơn nên trong buổi đầu tiên đi gánh lúa cho mẹ dưới đồng Bến, một cánh đồng cách nhà rất xa, giữa đường đã phát minh ra sáng kiến vĩ đại là đập lúa xuống đường để thóc rụng đi gánh…cho nhẹ.

Gánh vài lần thì quen. Không thấy vai đau nữa. Lớn lên một chút thì tôi gánh lúa bằng quang. Sau này vào đại học mỗi lần về nhà vào vụ gặt tôi vẫn gánh được lúa nhưng không đi được chân đất nữa. Sống ở thành phố, chân đã quen với văn minh giày dép.

Ba

Mùa gặt về đi chăn trâu rất sướng. Trâu no rơm nên ngoan dễ bảo. Những ruộng lúa đã gặt đi để lộ ra những bờ cỏ vừa tốt vừa non. Thả trâu ở đấy có thể yên tâm chơi thỏa thích. Những khi ấy tâm trí tôi thường đuổi theo những đàn chim. Mùa gặt chim kéo về từng bầy. Từ chèo bẻo, chim sẻ cho đến cu gáy, sáo đen. Chim chèo bẻo thường đậu thành từng đàn trên các bụi tre giữa đồng hoặc trên dây điện. Cũng có khi chúng lượn sát mặt ruộng đang gặt để bắt châu chấu. Chim cu gáy nhát hơn nên đậu trên đỉnh các ngọn tre hoặc bạch đàn ở các ngọn đồi gần cánh đồng. Chúng chờ cho người về hết mới sà xuống mặt ruộng. Tôi thường xách súng cao su tự làm rình mò và đuổi theo những con chim ấy. Cả mùa chẳng bắn rụng được cái lông chim nào nhưng vẫn thích. Có những buổi trưa trốn ngủ tôi rải rạ nằm dưới bụi tre nhà ông Đức cả mấy tiếng để rình bắn con cu gáy có cổ cườm đậu trên đỉnh ngọn măng ở giữa bụi tre. Mỗi lần giương súng cao su lên chưa kịp bắn con cu gáy đã hoảng hốt bay vọt đi. Hình như mắt nó tinh nhìn xuyên qua tán lá.

Bốn

Lúa chín nhà có gạo mới, rơm mới. Người no trâu no nhưng cả nhà tất bật ngày đêm. Ngày bố mẹ đi cắt lúa còn đêm mẹ giũ rơm bố đập lúa. Bố dùng kéo làm bằng hai thanh tre nối với nhau bằng sợi dây mây bện xoắn lại kẹp chặt lấy lượm lúa đã bó sẵn rồi đập mạnh vào tảng đá lớn được kê trên giá gỗ đặt giữa sân. Khi thóc văng ra hết thì bố mở néo, liệng lượm lượm lúa chỉ còn rơm ra cho mẹ giũ. Mẹ giũ sạch lượm lúa để chọn lấy những sợi rơm thẳng buộc lại rồi tách làm hai chân đặt trên tường. Cả bố lẫn mẹ đều làm nhanh thoăn thoắt. Những hôm sáng trăng sau khi học bài xong tôi tắt ngọn đèn dầu đặt vào bậu cửa sổ rồi chạy ra xem bố đập lúa. Có lúc khoái chí tôi và thằng em vật nhau ở giữa đống rơm mẹ vừa giũ ra. Mẹ quát “Đi ra! Nó nhặm lại khóc há mồm ra giờ”. Nhưng mẹ chỉ mắng lấy lệ nên hai thằng cứ nghịch mãi. Rơm chơi cũng nhặm thật nhưng chơi nhiều thì mệt cứ leo lên giường là mắt cứng lại rồi ngáy khò khò quên đi cả ngứa.

Cũng có hôm sáng trăng đập lúa xong bố bảo “Hai thằng có đi bơi không?”. Hai thằng thét “Có” rồi mỗi thằng một bên tóm tay bố đi xuống cầu Chẹm. Bơi dưới trăng thật thích. Mỗi cử động đều làm tỏa ra những vòng sáng lan xa lấp lánh. Bơi chán bố lên cầu ngồi bảo hai thằng đấm lưng cho bố. Hai thằng vừa đấm lưng cho bố vừa nghe bố chuyện hồi nhỏ bố đi câu cá. Cũng có lúc ba bố con nằm trên cầu Chẹm lặng im ngắm nhìn bầu trời. Ở đấy có vầng trăng sáng xanh cùng những đám mây trắng xốp có hình thù kì dị. Bao nhiêu năm đã qua nhưng hình dáng của những đám mây ấy đến giờ tôi vẫn nhớ.
21/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Theo mẹ đi chợ

September 20, 2015 Leave a comment

Ở nước Nhật mua bán rất tiện. Các cửa hàng tiện lợi mở cửa 24/24 giờ có ở khắp nơi. Siêu thị thì nhiều vô kể. Mua hàng ở Nhật cũng rất dễ. Chỉ việc vào siêu thị nhặt lấy những món hàng cần mua bỏ vào giỏ rồi mang ra quầy tính tiền là xong. Nhân viên thu ngân ở các siêu thị thường nói những câu tương tự nhau như cái máy. Không cần biết một chữ Nhật cắn đôi cũng có thể mua cả tấn hàng.

Nhưng nếu là người đã có tuổi thơ ở Việt Nam hẳn sẽ rất buồn vì nước Nhật hầu như không có chợ. Một vài nơi cũng có những khu chợ đặc biệt nhưng cho dù hàng hóa bày bán lộ thiên và ít nhiều có mặc cả, chợ của người Nhật thực chất vẫn là một siêu thị khổng lồ. Một năm cũng có một hai dịp người Nhật tổ chức nên các “phiên chợ tự do”. Vào dịp đó các gia đình có những món đồ cũ, mới không dùng nữa hoặc có đồ tự làm được sẽ mang tới bán ở một địa điểm được định trước như quảng trường, công viên, góc phố… Có người bán một vài cuốn sách, có người bán những vật dụng trong nhà như máy hút bụi, bàn là, nồi cơm điện… lại có những người bán đồ chơi hoặc quần áo trẻ con. Giá bán rẻ đến giật mình. Có những quyển sách hay món đồ giá bán chỉ có 10, 20 yên nghĩa là chỉ khoảng vài nghìn đồng tiền Việt.

Nhưng có lẽ trong mắt của người Việt kể cả các “phiên chợ tự do” ấy cũng không hẳn là chợ. Người Nhật vốn thích trật tự và im lặng. Không thể gọi là chợ vì ở đó thiếu vắng sự ồn ào, náo nhiệt. Ngay cả trong những khu chợ lớn đặc biệt nói trên chỉ có người bán cá là rao hàng ầm ĩ mà thôi.
Gần nhà tôi có hai cái chợ. Chợ Đồi Cống hay chợ Hòa Bình cách nhà tôi chừng 500 mét đường chim bay và chợ Than nằm ở phía bên kia sông Thương.

Chợ Hòa Bình họp vào các ngày 1, 3, 6, 8 âm lịch hàng tháng còn Chợ Than hình như họp vào các ngày còn lại. Ngày nhỏ mỗi lần có phiên chợ tôi và em trai đều ra cổng ngóng mẹ về. Lần thì mẹ mua cho chiếc bánh đa, lúc là bánh rán hay kẹo bột, cây mía. Còn hoa quả thì mùa nào thức ấy nhưng nhớ nhất là mẹ hay mua cho thị, ổi và táo. Mỗi lần nhận quà của mẹ thằng em lại giành lấy quyền chia quà. Cách chia phần của nó rất lạ. Có bốn chị em thì nó chia làm 5 phần. Nó lấy 2 phần. Vì thế tôi thường ăn hết quà rồi mà nó vẫn còn. Có xin phải nịnh mãi nó mới cho mà mỗi lần cho rất bủn xỉn. Rất ghét.

Có lần mẹ mua thị về hai anh em ngồi ở bậc thềm vừa ăn vừa đùa. Không hiểu vừa ăn vừa đùa thế nào nó bị hột thị to đùng thọt vào họng không thở được. Mặt nó tái nhợt. Tôi sợ quá cũng khóc òa lên. Bố chạy lại đặt nó lên đùi rồi bóp vào cổ họng khiến hột thị vọt ra. Hú vía. Từ lần đó bố cấm mẹ không được mua thị cho các con ăn.

Chờ quà và ăn quà mẹ mua cũng thích nhưng đi chợ với mẹ thích hơn. Mẹ không cho đi cũng cố đòi bằng được. Cứ túm lấy quang hay áo mẹ mà kéo mồm thì kêu “đi!đi”. Có hôm mẹ vui vẻ cho đi có hôm mẹ bực cứ gỡ tay ra. Có lần mẹ vừa gỡ tay vừa tôi vừa quát: “Đi đâu? Lên giời à?”. Kệ! Võ của tôi là lỳ và đòi dai. Hầu như lần nào tôi cũng thắng.

Lúc chưa đi học mỗi khi cùng mẹ đi chợ tôi thường được mẹ đặt vào thúng và gánh theo. Bên kia thúng là gạo hoặc hành tỏi, con gà… Lớn lên một chút thì tôi chạy trước còn mẹ gánh đi sau. Mẹ không cho tôi chạy phía sau vì sợ lạc.

Đi chợ với mẹ không phải chỉ để chơi mà còn phải trông hàng cho mẹ. Giữa chừng mẹ sẽ chạy đi mua thức ăn và vài món đồ lặt vặt. Tôi sẽ phải ngồi một mình trông hàng cho mẹ. Lúc ấy tôi có thú vui ngồi quan sát những người bán hàng ở xung quanh. Chẳng bao lâu tôi thuộc hết những mẹt hàng của người bán ở chợ Hòa Bình: bà Kiểm bán lưỡi câu, cô Hà bán thuốc lào, bác Toan “thọt” chữa xe đạp và bán đá lửa… Mua hàng xong lúc về mẹ thường mang theo một món quà. Khi thì là cái bánh rán lúc thì là quả chuối. Nhưng cũng có hôm mẹ không bán được hàng thì chẳng có
gì. Mặt mẹ buồn làm tôi sợ không cả dám đòi quà.

Đi chợ Hòa Bình thích nhất là được mẹ cho đi xem người ta bán lưỡi câu và pháo. Lưỡi câu bán ở hàng bà Kiểm. Bà người thị xã nhưng lên tận đây bán hàng. Trước mặt bà bày la liệt các loại lưỡi câu to nhỏ và các cuộn dây cước. Nhìn không biết chán. Mỗi lần có người tới mua bà lại nhặt từng lưỡi câu lên thả vào lòng bàn tay khách. Tôi thích lắm nhưng không có tiền mua. Mỗi lần đi câu tôi vẫn thường tự làm lưỡi câu bằng cách vặn sợi dây thép ở dây phanh xe đạp của bố đem mài nhọn rồi uốn. Dây câu thì làm bằng chỉ may vá của mẹ. Lưỡi câu tự làm cũng rất sắc nhưng chỉ câu được các loại cá nhỏ như cân cấn, sắt rồng, tép mại, cùng lắm là cá rô, cá mương. Những loại cá lớn hơn sẽ làm lưỡi câu bị xoạc ra khi giật mạnh. Lưỡi câu tự làm cũng không có ngạnh nên hay làm tuột cá giữa chừng. Muốn mua lưỡi câu và dây cước bà Kiểm bán phải chờ qua Tết khi tôi có tiền mừng tuổi.

Xem pháo cũng thích. Người ta bán đủ loại. Từ loại pháo diêm nhỏ tí xíu tới loại pháo đùng to bằng cỡ cổ tay người lớn. Rồi thì pháo tép, pháo cối, pháo thăng thiên… Thỉnh thoảng để dụ khách tới người bán châm lửa đốt thử vài quả. Bọn trẻ vừa bịt tai vừa hò reo nhảy nhót xung quanh. Vào dịp giáp Tết bác Toan “thọt” cũng bán pháo. Nhưng bác chỉ bán pháo thăng thiên. Có vẻ pháo bác bán là do bác tự làm. Pháo được gắn vào đầu một que tre, lúc bắn lên không trung quả pháo ré lên như thét. Sau khi nổ tạo thành một vệt khói xanh thì que tre rớt xuống. Bọn trẻ xúm quanh hàng bác mê tít. Nhưng cũng có đứa giật mình kêu “oái”. Lựa lúc bọn trẻ mê xem pháo, bác đã thò một chân ngắn hơn cắp vào đùi một thằng nào đó bằng ngón cái và ngón trỏ đau điếng. Nhưng đứa nào cũng thích bác vì bác vui tính lại có tài. Bác có thể vừa đi xe đạp vừa vác được hai cây tre ở trên vai từ trong làng tôi ra ngoài chợ.

Bên kia chợ Hòa Bình là chợ Than. Muốn đến chợ Than phải đi qua đò vượt sông Thương. Bến đò ấy gọi là Bến Than nhưng làng tôi ai cũng gọi tắt là bến đò. Mỗi lần cùng mẹ lên đò sang bên kia sông Thương, người chở đò cùng làng chỉ tính tiền mình mẹ. Nhiều người làng còn nợ cả tiền đò. Anh lái đò cằn nhằn trong miệng nhưng vẫn cho nợ. Lên đò phải đi qua một cánh đồng, một con đường làng hai bên dày đặc tre rồi vượt qua một con đê cao có rất nhiều cây đa cổ thụ mới tới chợ. Ở ngay chỗ rẽ vào đoạn đường làng có một cây thị rừng. Đến mùa thị chín, quả rụng đầy dưới gốc. Thị rừng chín rất thơm nhưng trái nhỏ và ăn rất chát. Trẻ con chỉ lấy nghịch chứ chẳng thèm ăn.

Chợ Than nằm dưới chân đê. Chợ ở xã khác nên mẹ sợ tôi lạc không cho đi đâu. Cả buổi tôi ngồi trên đòn gánh trông hàng cho mẹ hoặc nhìn mẹ bán hàng. Thi thoảng lại có người mẹ quen hay họ hàng đi qua bẹo má tôi. Bà ngoại tôi sinh ra ở đây. Nhà các ông, các bác bên ngoại cũng cách bến đò không xa mấy. Thi thoảng mẹ vẫn dẫn tôi vào đó chơi. Nhớ mãi nhà ông Cảnh có mấy cái lồng chim ngoài cửa nhốt mấy con chim gáy thấy khách vào cứ gù liên tục.

Tôi cứ theo mẹ đi chợ như thế cho đến khi học hết tiểu học. Vào đại học rồi mỗi lần nghỉ hè thi thoảng tôi vẫn đi chợ với mẹ. Hôm nào hàng nặng thì tôi gánh cho mẹ ra chợ. Người làng thấy tôi gánh thì chỉ trỏ, cười cười. Ý chừng trêu anh học trò dài lưng tốn vải. Lúc về hết hàng mẹ quẩy gánh đi trước còn tôi lững thững theo sau. Nhìn đôi chân mẹ bước đi tập tễnh sau lần phẫu thuật khi tôi vào đại học, tôi lại nhớ những ngày ngồi trong chiếc thúng mẹ gánh ngày xưa.

19/9/2015

%d bloggers like this: