Archive

Archive for October, 2015

Phát hành Ebook “Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản” miễn phí

October 27, 2015 Leave a comment

Kính gửi bạn đọc gần xa.

5000 cuốn sách  “Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản”  đầu tiên đã được in và đang trên đường đến tay những người ủng hộ dự án cũng như những người thuộc đối tượng được tặng.
Bản ebook miễn phí cũng đã có trên trang web Alezaa. Các bạn có thể đọc ebook tại đường link dưới đây.
http://alezaa.com/view?id=22201&app=122&ref=docsach.
Dự án vẫn tiếp tục tiếp nhận sự ủng hộ từ các bạn trong 2 tuần nữa. Bạn nào muốn tham gia xin vui lòng đọc chi tiết tại đường link dưới đây.
http://betado.com/campaigns/so-tay-giao-duc-gia-dinh/

Trân trọng cảm ơn tấm lòng và sự quan tâm của các bạn!

Người dịch: Nguyễn Quốc  Vương

Cập nhật: một bạn nào đó đã post bản PDF cuốn sách lên đây. Các bạn có thể tải về đọc.
https://drive.google.com/file/d/0BxCRILZZW86DbUp0QWx5Z2ZCckE/view?pli=1

Advertisements

Gọi vốn cho Sổ tay giáo dục gia đình

October 25, 2015 Leave a comment
Doanh nhân Sài GònVới mong muốn Sổ tay giáo dục gia đình đến với rộng rãi bạn đọc, những người làm nên tập sách hữu ích này đã chọn cách huy động vốn từ cộng đồng. 

Đọc E-paper

Đó là cuốn sách nhỏ nhắn, xinh xắn với tên gọi Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản, chứa đựng trong đó rất nhiều triết lý và hướng dẫn chi tiết hành vi giáo dục hiện đại, do Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản biên soạn.

Gói gọn trong 160 trang sách là những bài học được đúc kết ngắn gọn nhưng hiệu quả để các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi từ sơ sinh đến khi vào tiểu học có thể thiết lập sợi dây tình cảm giữa cha mẹ với con cái. Đồng thời, giáo dưỡng trẻ em trở nên những con người có tâm hồn phong phú.

Người chuyển ngữ cuốn sách là ThS. Nguyễn Quốc Vương, khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện đang làm nghiên cứu sinh tại Nhật Bản. Ông là tác giả của nhiều bài báo tâm huyết về cải cách giáo dục gần đây, cũng là người chuyển ngữ tác phẩm Cải cách giáo dục Nhật Bản của Ozaki Mugen…

“Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản vốn là cuốn sách được Chính phủ Nhật Bản phát tặng mọi gia đình Nhật. Và nhiều gia đình người Việt sinh sống ở Nhật, khi có con nhỏ cũng được tặng cuốn sách hữu ích này”, ông Nguyễn Minh Tuấn Giám đốc công ty CP sách Quảng Văn chia sẻ.

Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản đồng ý cho dịch và xuất bản cuốn sách này ở Việt Nam với điều kiện không được bán hoặc nhận tài trợ thông qua việc quảng cáo sản phẩm khác trên ấn phẩm này.

Ông Tuấn tiết lộ: “Đó chính là lý do chúng tôi chọn hình thức gây quỹ cộng đồng để trang trải các chi phí: dịch, biên tập, hiệu đính, thiết kế, dàn trang, in ấn… Cũng thông qua hình thức này, chúng tôi hy vọng thông điệp về tầm quan trọng không thể thay thế của giáo dục gia đình sẽ được lan tỏa”.

Dự kiến thời gian chiến dịch kéo dài 35 ngày. Đáng chú ý là ngay khi vừa công bố dự án trên website: betado.com, bắt đầu từ 10 giờ sáng ngày 5/10, kêu gọi cộng đồng chung tay hỗ trợ 100 triệu đồng để ấn hành 5.000 cuốn sách đầu tiên, thì chỉ sau 4 ngày, số tiền ủng hộ đã đạt được như mong muốn.

Theo ông Tuấn, dự án sẽ phân phát miễn phí sách đến những cá nhân, tổ chức, các gia đình có phụ nữ đang mang thai, có con trong độ tuổi mầm non và tiểu học thông qua hệ thống các nhà sách trên cả nước và các trường mầm non, tiểu học, các trung tâm giáo dục…

Đồng thời, xuất bản eBook miễn phí trên các kênh phân phối như Alezaa, Miki, Lạc Việt, anybook… để độ phủ cuốn sách được rộng rãi hơn. Ông Tuấn chia sẻ: “Chúng tôi hy vọng Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản sẽ giúp các bậc cha mẹ có thêm kiến thức để nuôi dạy con bằng sự tự tin của bản thân và tránh được những căng thẳng không cần thiết”.

Trong số sách in đợt đầu sẽ có 2.000 cuốn dành tặng cho các cá nhân, tổ chức đã ủng hộ dự án. 3.000 cuốn còn lại sẽ được tặng cho Chương trình Sách hóa nông thôn, Câu lạc bộ Không gian đọc và một số độc giả.

HOÀNG LÂM
Nguồn: http://www.doanhnhansaigon.vn/khoi-nghiep/goi-von-cho-so-tay-giao-duc-gia-dinh/1092457/

Mùa thu nước Nhật

October 25, 2015 2 comments

Phong đã đỏ
Trời đã xanh
Ở đây
Mùa thu đã tới

Quạ đen rền rĩ
Nhắc rằng chẳng phải cố hương

25/10/2015

Categories: Thơ

 Kinh nghiệm xây dựng chương trình môn lịch sử bậc phổ thông ở Nhật

October 23, 2015 Leave a comment

                  

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản hiện nay có nguồn gốc từ cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến sau 1945. Trong 70 năm kể từ 1945, giáo dục lịch sử Nhật Bản đã có nhiều thay đổi với nhiều cải cách. Ở mỗi lần cải cách chương trình lịch sử lại được sửa đổi và hoàn thiện. Nghiên cứu quá trình đó sẽ giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam. Trong bài viết này tác giả sẽ trình bày khái quát mấy nội dung chính.

  • Chương trình lịch sử trong trường phổ thông hiện tại
  • Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử
  • Mấy đặc trưng đáng chú ý trong chương trình môn lịch sử ở Nhật Bản
  1. Chương trình lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản hiện tại.

Chương trình lịch sử hiện tại là kết quả của rất nhiều lần thay đổi từ sau năm 1945. Tuy nhiên điểm lớn nhất vẫn duy trì xuyên suốt từ sau 1945 đến nay là sự tồn tại của môn Nghiên cứu xã hội (thường được gọi vắn tắt là môn Xã hội). Môn học hoàn toàn mới này được thiết lập lần đầu tiên năm 1947 từ tiểu học cho đến trung học phổ thông. Đến thập niên 90 của thế kỉ trước, xu hướng đòi giải thể môn Xã hội để tách các môn Địa lý, Lịch sử trở thành môn khoa học độc lập mạnh lên nhưng nó cũng vấp phải sự phản đối. Chương trình hiện tại có thể coi như là sự dung hòa của hai xu hướng: xu hướng nhấn mạnh triết lý, vai trò của môn Nghiên cứu xã hội và xu hướng nhấn mạnh sự độc lập của Lịch sử, Địa lý.

Cụ thể chương trình liên quan tới lịch sử ở trường phổ thông Nhật Bản hiện tại như sau:

1.1. Tiểu học (6 năm)

Ở lớp 1, 2 trước kia vốn tồn tại môn Xã hội nhưng từ thập niên 90 của thế kỉ trước trở đi thì được thay bằng môn Đời sống. Trong môn Đời sống sẽ có những nội dung có liên quan đến tri thức lịch sử.

Ở lớp 3, 4: Học sinh học về đời sống xã hội địa phương (mua bán, phương tiện giao thông vận tải, hoạt động kinh tế…). Ở lớp 5 trong môn Xã hội, học sinh được học về lãnh thổ và kinh tế sản xuất của Nhật Bản. Ở đây học sinh sẽ sử dụng phương pháp tư duy lịch sử để tìm hiểu các vấn đề xã hội hiện tại cũng như cuộc sống trong quá khứ và sự biến chuyển của nó đến hiện nay.

Ở lớp 6: Học sinh học Lịch sử và Chính trị Nhật Bản. Ở phần lịch sử học sinh sẽ học lịch sử từ cổ đại đến hiện đại với trung tâm là các nhân vật lịch sử và di sản văn hóa. Tuy nhiên đó không phải là học tập kiểu kể chuyện hay học tập nhân vật mà nhân vật và di sản văn hóa chỉ là phương tiện để học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử và xã hội đương thời.

Mặc dù phần lịch sử ở lớp 6 là thông sử nhưng nó vẫn được coi nằm trong môn Xã hội.

1.2. Trung học cơ sở (3 năm)

Ở Trung học cơ sở môn Xã hội tồn tại nhưng được chia ra làm ba “lĩnh vực”  (bunya) là “lĩnh vực địa lý” và “lĩnh vực lịch sử”, “lĩnh vực công dân” (hay kinh tế-chính trị). Tùy theo từng trường mà bố trí việc học ba lĩnh vực này khác nhau. Có trường cho học lịch sử và địa lý song song ở năm thứ nhất và thứ hai để năm thứ 3 học công dân. Có trường lại bố trí học theo kiểu “xếp chăn đệm”: năm thứ nhất học địa lý, năm thứ hai học lịch sử, năm thứ ba học công dân.

1.3. Trung học phổ thông (3 năm)

Ở cấp trung học phổ thông các môn học khá phong phú. Liên quan đến lịch sử có môn Lịch sử thế giới, Lịch sử Nhật Bản ngoài ra còn có một môn tổng hợp thuộc môn Xã hội có tên “Xã hội hiện đại”. Học sinh bắt buộc phải học Lịch sử nhưng trong môn Lịch sử lại có phân hóa thành Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B với cách thức trần thuật, sắp xếp chủ đề và mức độ khác nhau cho học sinh lựa chọn.

 

  1. Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử

Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử được định hình từ năm 1947. Văn bản thể hiện chương trình do Bô giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản ban hành có tên “Hướng dẫn học tập”. Bản “Hướng dẫn học tập” này có ba loại hay ba cấp độ.
Thứ nhất là bản “Hướng dẫn học tập tổng quát” trình bày về khóa trình giáo dục chung, tổng thể cho toàn bộ cấp học. Như vậy sẽ có 3 cuốn “Hướng dẫn học tập” dạng này dành cho ba cấp Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Thứ hai là bản “Hướng dẫn học tập” dành cho từng môn học trong từng cấp học. Ví dụ đối với môn Lịch sử sẽ có bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội tiểu học”, “Hướng dẫn học tập môn Xã hội trung học cơ sở”, “Hướng dẫn học tập môn Xã hội Trung học phổ thông” (qua đây có thể thấy môn Lịch sử vẫn được tư duy nằm trong cơ cấu môn Xã hội).

Thứ ba là văn bản có tên “Giải thích bản hướng dẫn học tập” dành cho từng môn ở từng cấp học. Văn bản này sẽ giải thích và hướng dẫn chi tiết các nội dung được trình bày tron bản “Hướng dẫn học tập”.

Chương trình môn Nghiên cứu xã hội lần đầu tiên được đưa ra năm 1947 và sau đó cứ khoảng 10 năm được sửa đổi một lần. Lần sửa đổi gần đây nhất là 2008 (đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở), 2011 (đối với cấp trung học phổ thông).

Ngoại trừ bản “Hướng dẫn học tập” đầu tiên được công bố năm 1947, các bản “Hướng dẫn học tập” về sau đều do “Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục” biên soạn. Hội đồng này được  lập ra trong Bộ giáo dục năm 1950 và đến năm 2001 thì hợp nhất với các Hội đồng khác như “Hội đồng thẩm định học tập suốt đời”, “Hội đồng thẩm định giáo dục sản xuất và giáo dục khoa học”…trở thành “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương”
Trên website của Bộ giáo dục Nhật Bản có công khai quy trình tạo ra bản “Hướng dẫn học tập” với vai trò chủ đạo của “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” như sau:
1.    Bộ trưởng đề nghị “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” biên soạn mới bản “Hướng dẫn học tập”.
2.    Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương  nghiên cứu, thảo luận và công bố kết quả bằng văn bản
3.    Kết quả được công bố rộng rãi để công chúng bình luận, đánh giá
4.    “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” tiếp nhận ý kiến đánh giá, thảo luận và đưa ra kết luận
5. Bộ trưởng Bộ giáo dục chính thức công bố bản “Hướng dẫn học tập
Ngay sau khi bản “Hướng dẫn học tập” được công bố, “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” lại tiếp tục làm việc để chuẩn bị cho việc sửa đổi văn bản này theo định kỳ khoảng 10 năm một lần cho phù hợp với tình hình thực tế và đưa vào các lý luận, kết quả nghiên cứu mới.
3. Một vài đặc trưng trong chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông  Nhật Bản.

3.1. Tính “mở”  trong tư cách tài liệu tham khảo, coi trọng tính địa phương

Trước năm 1950 các bản “Hướng dẫn học tập” đều đề rõ hai chữ “tham khảo” trên bìa với hàm nghĩa đây chỉ là một cách thức bố trí nội dung giáo dục cho giáo viên ở các trường tham khảo. Bản “Hướng dẫn học tập” đầu tiên năm 1947 ghi rõ: “Đây là cuốn sách được viết ra như là hướng dẫn nghiên cứu đối với bản thân từng giáo viên để làm sao phát huy được khóa trình giáo khoa mới tương ứng với yêu cầu mới của học sinh và yêu cầu của xã hội”.

Về sau Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao và khoa học công nghệ Nhật Bản có xu hướng tăng cường tính pháp lý của bản “Hướng dẫn học tập”. Chữ  “tham khảo” trên bìa biến mất nhưng trên thực tế thì các giáo viên ở các trường vẫn coi nó là một tài liệu tham khảo. Rất nhiều trường dựa trên đó tự nghiên cứu và sử dụng chương trình riêng. Các giáo viên khi giảng dạy cũng có quyền tự biên soạn nên chương trình của mình tạo ra các “thực tiễn giáo dục”.

Bản “Hướng dẫn học tập” cũng coi trọng “tính địa phương”. Đối với môn Xã hội tính địa phương này càng được coi trọng. Lý luận “môn Xã hội bắt rễ vào địa phương” với ý nghĩa sử dụng tài liệu ở địa phương, lấy xã hội địa phương làm đối tượng học tập được coi trọng.

3.2. Duy  trì hai kiểu họctập lịch sử đọc lập và nghiên cứu xã hội

Trong 70 năm qua trong lịch sử giáo dục lịch sử Nhật Bản luôn tồn tại hai xu hướng: Xu hướng nhấn mạnh vai trò của môn Nghiên cứu xã hội và xu hướng muốn Lịch sử, Địa lý tách ra làm hai khoa học độc lập. Sự tranh luận này đã dẫn tới cơ cấu “nhị nguyên” đang tồn tại hiện nay. Ở cấp tiểu học môn Xã hội chiếm địa vị thống soái, lên trung học cơ sở và trung học phổ thông thì tách ra thành Địa lý và Lịch sử (người Nhật gọi là môn Xã hội phân hóa) đi kèm với sự tồn tại của môn tổng hợp “Xã hội hiện đại”.

Vì vậy trong trường phổ thông Nhật Bản tồn tại hai kiểu học tập lịch sử.
Một là hình thức học tập lịch sử kiểu thông sử trong tư cách là môn khoa học độc lập.
Hai là hình thức học tập lịch sử theo kiểu nghiên cứu xã hội. Nghĩa là lấy các vấn đề của xã hội hiện tại làm chủ đề học tập, là điểm xuất phát từ đó dùng tư liệu và phương pháp sử học để giải thích, nhận thức, giải quyết nó.

Việt Nam hiện tại đang xúc tiến việc “tích hợp hóa” với sự ra đời của môn KHXH ở Trung học cơ sở và Trung học phổ thông cũng như các môn học có tính tổng hợp khác ở tiểu học. Trong cách làm này hiển nhiên xuất hiện nhu cầu cần phải giải quyết mối quan hệ giữa học tập lịch sử như là một khoa học độc lập và học tập lịch sử trong cơ cấu môn KHXH. Ở đó, kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ là một tham khảo hữu ích. Đương nhiên nó cần đến những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn.

Nguyễn Quốc Vương

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghê, Hướng dẫn học tập tổng quátHướng dẫn học tập môn Xã hội (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông từ 1947 đến nay)
  2. Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Từ điển giáo dục môn Xã hội, Gyosei, 2000
  3. Kaigo Tokiomi (chủ biên), Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến-Cải cách giáo dục I,  Nhà xuất bản Đại học Tokyo, 1975

Môn Sử ‘biến mất’ và thách thức chưa từng có của Bộ GD

October 23, 2015 Leave a comment

Một khi thực hiện chương trình này, giáo dục lịch sử trong trường phổ thông sẽ đứng trước những thử thách chưa từng có.  

LTS: Hơn hai tháng sau khi đăng tải trên mạng Dự thảo chương trình phổ thông tổng thể lấy ý kiến, Bộ GDĐT vừa có báo cáo phản hồi, trong đó một nội dung quan trọng là đề cập lo ngại xung quanh môn Lịch sử. Bài viết sau đây tiếp tục “mổ xẻ” những vấn đề đặt ra với việc giảng dạy môn học này trong tương lai.

Từ phát ngôn ‘thần đồng’ đến clip xé đề cương

Trong Dự thảo chương trình phổ thông tổng thể mới được Bộ GD&ĐT công bố, môn Lịch sử  “biến mất” ở tiểu học và trung học cơ sở với tư cách là môn học độc lập. Thay vào đó là sự xuất hiện của các môn học có tính chất “tích hợp”, như Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội (ở Tiểu học), khoa học xã hội (ở THCS).

Một khi thực hiện chương trình này, giáo dục lịch sử trong trường phổ thông sẽ đứng trước những thử thách chưa từng có.

Hai kiểu giáo dục lịch sử tồn tại song song

Với sự xuất hiện của các môn tích hợp ở tiểu học và môn Khoa học xã hội (KHXH) ở cấp THCS và THPT, đồng thời duy trì môn Lịch sử ở THPT, trên thực tế sẽ tồn tại hai kiểu giáo dục lịch sử. Kiểu thứ nhất là “giáo dục lịch sử trong môn Lịch sử”, vốn tồn tại ở Việt Nam suốt từ thời Pháp thuộc tới nay. Kiểu giáo dục lịch sử thứ hai là Giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội, vốn phổ biến trong các nước tiên tiến từ đầu thế kỉ 20.

Ở kiểu truyền thống, Lịch sử là một môn học độc lập, hình thức học tập (giảng dạy) chủ yếu là thông sử. Các sự kiện lịch sử được biên soạn theo trật tự thời gian tuyến tính và phân chia theo thời đại từ nguyên thủy tới cận – hiện đại.

Trong kiểu học tập này, lịch sử chính trị thường đóng vai trò trung tâm, nội dung SGK được biên soạn dưới dạng chương-bài. Mục tiêu của nó thường hướng vào sự ghi nhớ, lý giải của học sinh đối với các sự kiện, hiện tượng lịch sử.

Kiểu giáo dục lịch sử mới – nghiên cứu xã hội, lại được tiến hành thông qua 3 hình thái: “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng”. Ở đó “chủ đề” hay “vấn đề” sẽ là đơn vị nền tảng nội dung chương trình, sự kiện lịch sử sẽ không còn đơn thuần được tiếp cận theo chiều thời gian tuyến tính, mà có thể theo chiều ngược lại.

Trong “lịch sử lội ngược dòng”, các vấn đề trong xã hội hiện tại – kết quả của lịch sử sẽ trở thành đầu mối, xuất phát điểm để thầy trò lội ngược dòng thời gian tìm hiểu, khám phá.

lịch sử, tiểu học, bộ GDĐT, THCS, đổi mới giáo dục, thi, kiểm tra
Giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội đặt ra nhiều thách thức. Ảnh minh họa: Văn Chung

Bằng tư duy và phương pháp sử học, giáo viên sẽ giúp học sinh tìm hiểu được nguồn gốc, quá trình diễn tiến tạo ra và hiện trạng các vấn đề này, từ đó nghiên cứu, thảo luận phương hướng giải quyết. Phương pháp này lấy triết lý trung tâm là giáo dục nên phẩm chất người công dân dân chủ – quan tâm tới hiện thực, có tinh thần phê phán và mong muốn cải tạo hiện thực ngày một tốt đẹp hơn.

Như vậy, nhìn tổng thể, kiểu giáo dục lịch sử truyền thống trong môn Lịch sử độc lập có xu hướng coi trọng “quá khứ”, trong khi kiểu nghiên cứu xã hội nhấn mạnh và coi trọng “hiện tại”.

Thách thức đặt ra từ giờ về sau

Có thể thấy Bộ GDĐT đang tạo ra hai kiểu giáo dục lịch sử nói trên với sự xuất hiện của các môn tích hợp có sử dụng tri thức lịch sử và duy trì môn Lịch sử với tư cách là môn học độc lập ở THPT. Nhìn vào xu hướng thế giới, sự du nhập mới này là tiến bộ. Giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội giúp môn học trở nên hữu ích cho đời sống cá nhân và sự tiến bộ của cộng đồng, trong bối cảnh xã hội ngày càng đa giá trị hóa và thông tin hóa mạnh mẽ. Tuy nhiên thách thức đặt ra không hề nhỏ.

Thứ nhất, ở Việt Nam hiện chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, nổi bật về giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội. Các hình thái nằm trong nó, như “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng”… cũng hầu như chưa được nghiên cứu, thử nghiệm trong thực tiễn.

Có lẽ phải chờ Dự thảo chương trình các môn Lịch sử, KHXH… được công bố mới có thể đưa ra nhận xét chính xác. Nhưng nhìn vào Dự thảo chương trình phổ thông tổng thể, có thể thấy dường như các tác giả chưa ý thức được sự tồn tại song song của hai kiểu giáo dục lịch sử.

Thiếu vắng nền tảng lý luận và các thực tiễn làm cơ sở sẽ đưa cải cách tới hai nguy cơ. Một là không xác định được mục đích hướng tới của cải cách là gì. Hai là tạo ra các hỗn loạn ở hiện trường giáo dục, khi người giáo viên trực tiếp giảng dạy mất phương hướng.

Thách thức thứ hai là Việt Nam thiếu các công trình sử học có giá trị làm nền tảng cho giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội. Chẳng hạn, muốn thiết kế, thực hiện giáo dục lịch sử theo “chủ đề” hay “chuyên đề”, giáo viên phải căn cứ vào các công trình chuyên khảo đáng tin cậy. “Lịch sử theo chủ đề” thường chú trọng lịch sử xã hội, mà trước hết là lịch sử “ăn”, “mặc”, “ở”, “đi lại” của các cộng đồng. Nhưng thử hỏi hiện tại có bao nhiêu công trình sử học thực sự về các vấn đề này trên đất nước ta?

Hơn nữa, giáo dục lịch sử còn cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu của sử học. Trong khi, thực tế ở Việt Nam, trong một thời gian dài, điều này không được chú ý, giờ học lịch sử thường theo dạng “một chiều”, thầy nói trò nghe. Việc biến học tập lịch sử của học sinh thành quá trình “tác nghiệp” của “nhà sử học nhỏ tuổi” sẽ không đơn giản, nhanh chóng. Tái đào tạo và bồi dưỡng giáo viên sẽ là khâu quyết định thành công. Nhưng ai, đội ngũ nào sẽ làm điều đó?

Thách thức cuối cùng nằm ở phương pháp luận. Xưa nay trong giảng dạy, giáo viên thường nhấn mạnh và coi trọng “tri thức lịch sử” cùng tính “một chiều” của nhận thức hình thành ở học sinh. Các bài kiểm tra, bài thi được đánh giá cao khi trình bày chính xác sự kiện và diễn giải phù hợp với quan điểm lịch sử của giáo viên (cũng có thể hiểu là của SGK và chương trình).

Tuy nhiên, xét về bản chất, sản phẩm của quá trình học tập lịch sử ở học sinh là nhận thức lịch sử có tính chủ thể, mỗi học sinh là một chủ thể riêng biệt với sự phong phú về thế giới quan và trải nghiệm.

Đặc biệt khi du nhập giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội ở trên, với sự xuất hiện các vấn đề của “hiện tại”, chắc chắn nhận thức lịch sử của học sinh sẽ “muôn hình vạn trạng”. Trong quá trình thảo luận và trao đổi ý kiến, phê phán lẫn nhau, những nhận thức nào có tính lô-gic, chủ thể, thực chứng nhất sẽ đứng vững và được thừa nhận. Sự hấp dẫn của môn Lịch sử trong nhà trường là nằm ở chỗ này.

Nhưng nhìn từ thực tế, không thể không đặt ra câu hỏi “liệu rằng các cấp quản lý và giáo viên có sẵn sàng cho điều đó?”. Bởi nếu không, việc du nhập giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội sẽ chỉ dừng lại ở hình thức, không đem lại hiệu quả thực tiễn.

Sự “biến mất” của môn Lịch sử ở cấp tiểu học, THCS và địa vị “tự chọn” bấp bênh của  nó ở THPT hiện đang là tâm điểm quan tâm của giáo viên bộ môn này. Nhiều giáo viên phản đối quyết liệt, gọi đây là sự “khai tử” môn Lịch sử và lo lắng các thế hệ tiếp theo sẽ “không biết gì về lịch sử dân tộc”.

Về phía mình, Bộ GD&ĐT muốn thuyết phục được giáo viên giảng dạy lịch sử ở hiện trường, học sinh và công chúng, thì cần phải tính đến và chinh phục những thử thách trên.

Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/268443/mon-su–bien-mat–va-thach-thuc-chua-tung-co-cua-bo-gd.html

Tính “địa phương” trong giáo dục phổ thông – một bài học sâu sắc

October 23, 2015 Leave a comment

22/10/15 06:35

(GDVN) – Các phong trào giáo dục tại Nhật Bản đã có tác dụng lớn trong việc phục hưng địa phương đặc biệt là vùng nông thôn trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt.

LTS: Đọc những sách viết về lịch sử Nhật Bản những năm 60, 70 của thế kỉ trước, tác giả Nguyễn Quốc Vương (Nghiên cứu sinh tại Nhật Bản) bỗng giật mình vì thấy ở đó những hiện tượng, vấn đề giống hệt ở Việt Nam hiện tại. 

Đấy là khoảng cách ngày một rộng ra giữa nông thôn và thành thị với hàng loạt vấn đề nóng bỏng; là tình trạng lao động trẻ đổ về nông thôn làm cho mật độ dân số ở đô thị tăng cao trong khi các vùng quê rơi vào tình trạng “hoang phế hóa”. 

Cùng với công nghiệp hóa, các địa phương cũng đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng và các vấn đề xã hội. Nhưng rồi nước Nhật đã dần khắc phục được những vấn đề của địa phương bằng chính sách phát triển bền vững và giáo dục. 

Giáo dục Việt Nam đang ở trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư kể từ 1945. Những gì giáo dục Nhật đã và đang làm hướng vào những vấn đề của địa phương dưới đây hẳn sẽ là tham khảo hữu ích.

Phong trào “viết văn về đời sống” và “giáo dục quê hương”

Địa phương vốn được quan tâm khá sớm trong mối quan hệ với quốc gia ở Nhật. Kể từ thời Minh Trị, những tư tưởng tiến bộ về vai trò của địa phương đã dội vào giáo dục và tạo nên các phong trào giáo dục.

Hai phong trào tiêu biểu nhất trong số đó trước 1945 là phong trào “viết văn về đời sống” và “giáo dục quê hương”.

“Viết văn về đời sống” là hoạt động giáo dục ở đó giáo viên lấy các bài văn do chính học sinh viết một cách trung thực những suy nghĩ, cảm xúc về sự thực sinh động của đời sống hàng ngày làm tài liệu giảng dạy-học tập (giáo tài) và tiến hành thảo luận tập thể.

Nhờ các hoạt động đó, giáo viên làm cho học sinh nhận thức được những vấn đề của quê hương, nảy sinh tình cảm với quê hương và tinh thần trách nhiệm.

Hoạt động này không chỉ được tiến hành trong môn Quốc ngữ mà còn kết hợp với các môn học khác và thông qua các xuất bản phẩm như tạp chí, sách tạo thành phong trào trong toàn quốc. Nổi tiếng nhất là tạp chí “Akai Tori” (Con chim đỏ), nơi đăng tải những bài văn viết về hiện thực đời sống của học sinh trên cả nước.

Tạp chí “Viết văn về đời sống” năm 1929 trong bản Tuyên ngôn lần hai (năm 1930) đã nhấn mạnh tới bốn điểm:

(1) Quan sát các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày hay hiện thực cuộc sống hàng ngày.

(2) Lý giải các nguyên tắc vận hành, tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.

(3) Xây dựng cuộc sống tự trị nhờ vào sự hiệp lực của giáo viên và học sinh.

(4) Sáng tạo ra giáo dục đời sống lấy trung tâm là việc viết văn hay nói cách khác là tạo ra chương trình.

Ảnh minh họa. Vietnamnet

Đáng chú ý là từ trong phong trào đã xuất hiện hai xu hướng: “Viết văn điều tra” và “phong trào giáo dục tính Bắc phương”. “Viết văn điều tra” là phương pháp chỉ đạo học sinh tiến hành thu thập, điều tra thông tin về các hiện tượng xã hội rồi tiến hành “sáng tác tập thể”.

“Phong trào giáo dục tính Bắc phương” là phong trào viết văn chú trọng từ ngữ, phong tục, tập quán và những đặc trưng của vùng phía bắc nước Nhật-nơi thiên nhiên khắc nghiệt và nghèo khó. Phong trào đã thu hút được sự chú ý của dư luận toàn quốc.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nước Nhật đang bị chủ nghĩa quân phiệt thống trị với bộ máy trấn áp khổng lồ, một thời gian sau “Phong trào viết văn về đời sống” bị chính quyền bức tử.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi xã hội dân chủ được xây dựng, những người giáo viên tha thiết với “viết văn về đời sống” đã lập nên “Hội viết văn Nhật Bản” (1950).

Cuốn sách tập hợp các bài văn viết về đời sống của học sinh có tên “Trường học Yamabiko” khi xuất bản đã tạo ra tiếng vang lớn. “Viết văn về đời sống” đã có tác động đáng kể tới môn Nghiên cứu xã hội khi chia sẻ điểm chung về mục đích giáo dục nên “nhận thức xã hội” và “phẩm chất công dân” ở học sinh.

Yếu tố tạo ra thành công của cải cách giáo dục Nhật Bản

(GDVN) – Trong hai cuộc cải cách giáo dục lớn ở Nhật Bản có vai trò của các chuyên gia giáo dục nước ngoài đã có một vai trò không thể phủ nhận.

Cùng với phong trào viết văn về đời sống là phong trào giáo dục quê hương. Phong trào này diễn ra chủ yếu vào những năm 30 của thế kỉ XX. Ở đó giáo viên lấy quê hương với tự nhiên, cuộc sống, văn hóa làm nội dung giáo dục và dùng nó làm tài liệu để trực quan hóa nội dung học tập khác.

Giáo dục quê hương với tư cách là phong trào tạo lập mối quan hệ giữa giáo dục trường học và địa phương đã trở nên cực thịnh vào những năm 1930.

Phong trào giáo dục từ khối dân sự đã tác động đến Bộ giáo dục khiến cho vào năm 1927, Bộ giáo dục Nhật Bản xác định phương châm “địa phương hóa” nội dung giáo dục và tiến hành điều tra tình hình thực tế của giáo dục quê hương ở các trường học trên toàn quốc lấy trung tâm là các trường tiểu học trực thuộc trường sư phạm.

Năm 1930, Bộ giáo dục lại quyết định chi kinh phí xây dựng các cơ sở nghiên cứu giáo dục quê hương đặt trong các trường sư phạm trên toàn quốc. Năm 1931, Bộ giáo dục Nhật Bản, đưa thêm “Nghiên cứu địa phương” vào môn Địa lý.

Các phong trào giáo dục nói trên đã có tác dụng lớn trong việc phục hưng địa phương đặc biệt là vùng nông thôn trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt.

Môn Xã hội và môn Đời sống

Hòa bình và dân chủ là nền tảng khá thuận lợi cho giáo dục Nhật Bản sau 1945. Tuy nhiên trong hai thập kỉ đầu tiên sau chiến tranh, tăng trưởng kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị đã làm cho giáo dục lãng quên địa phương.

Để rồi đến thập kỉ 70, 80 khi hàng loạt vấn đề xảy ra ở địa phương như hoang phế hóa, ô nhiễm môi trường…giáo dục một lần nữa chú ý tới địa phương  bằng các lý luận và thực tiễn lấy địa phương làm nền tảng.

Môn Xã hội (Nghiên cứu xã hội), môn học ra đời năm 1947 có ở ba cấp học từ thập niên 70 đã chú ý đặc biệt tới giáo dục về địa phương. Trong chương trình môn Xã hội ở Nhật Bản hiện tại, ở tiểu học học sinh lớp 3 và 4 sẽ được học về đời sống xã hội địa phương từ sản xuất, sinh hoạt tới những vấn đề mà địa phương đang đối mặt.

Ở đó, học sinh bằng các hoạt động học tập điều tra, phỏng vấn, quan sát, phân tích số liệu thống kê sẽ tìm hiểu và khám phá địa phương.

Lý luận “môn Xã hội bắt rễ vào địa phương” cũng được coi trọng. Những vấn đề của toàn quốc sẽ được giáo viên giúp học sinh lý giải thông qua sử dụng các tài liệu ở địa phương hoặc cho nghiên cứu trường hợp ở địa phương.

Từ thập niên 90 môn Đời sống được đưa vào lớp 1 và lớp 2 trường tiểu học. Môn học này đã lấy cuộc sống sinh hoạt của học sinh ở gia đình và xã hội địa phương làm trọng tâm trong nội dung giáo dục.

Chẳng hạn trong bản “Hướng dẫn học tập”, văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục hiện hành, mục tiêu đầu tiên của môn Đời sống được xác định trong là “làm cho học sinh có mối quan tâm tới mối quan hệ giữa bản thân với con người và các địa điểm, vật chất công cộng phong phú ở xung quanh mình.

Chú ý tới ưu điểm của địa phương, có lòng yêu địa phương đồng thời suy nghĩ về vai trò và cách thức hành động của bản thân, có hành động an toàn và thích hợp với tư cách là một thành viên của tập đoàn, xã hội”.

Tại sao không dạy nghề mà chỉ là “định hướng nghề nghiệp”?

(GDVN) – Theo tôi, điểm bất ổn lớn nhất là quan điểm coi chương trình giáo dục phổ thông chỉ có vai trò “định hướng nghề nghiệp”.

Ở phần nội dung học tập, tài liệu này cũng nhấn mạnh việc học sinh “Hiểu được rằng cuộc sống của bản thân có mối quan hệ với những người đang lao động, sinh sống ở địa phương và các địa điểm phong phú, có tình cảm thân thiết và yêu mến đối với chúng, có thể sinh sống an toàn trong sự thân thiện với mọi người”.

Nhờ lý luận và thực tiễn giáo dục trên mà học sinh Nhật Bản có cơ hội để trải nghiệm và suy ngẫm về mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội địa phương.

Nền tảng giáo dục đó có quan hệ mật thiết với sự xuất hiện và phát triển của các phong trào công dân ở địa phương, sự hợp tác của người dân địa phương trong xây dựng quê hương và giải quyết các vấn đề chung trong đời sống.

Ở Việt Nam hiện tại, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa, những vấn đề của địa phương đang ngày càng trầm trọng: ma túy, bạo lực, ô nhiễm môi trường…

Bên cạnh đó, sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế-xã hội và nhịp điệu đời sống truyền thống ở nông thôn bị phá vỡ khiến cho vai trò giáo dục của xã hội địa phương mất đi làm cho thanh thiếu niên đối mặt với nguy cơ bị cuốn vào tệ nạn xã hội và lối sống trụy lạc.

Giáo dục Việt Nam hơn lúc nào hết phải chú ý đến địa phương. Xã hội địa phương phải trở thành nội dung học tập trong trường học. Địa phương phải trở thành không gian học tập với các hoạt động điều tra thực tế, quan sát, điền dã, điều tra xã hội học của học sinh.

Học sinh trong quá trình học tập sẽ vừa tìm hiểu, khám phá của địa phương, từ đó phát hiện ra những vấn đề của địa phương, đi tới hành động để địa phương ngày càng tốt đẹp hơn.

Từng giáo viên phải biết tận dụng cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” để chủ động, sáng tạo về nội dung giáo lục địa phương thông qua các thực tiễn giáo dục của bản thân.

Nguyễn Quốc Vương
Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Tinh-dia-phuong-trong-giao-duc-pho-thong–mot-bai-hoc-sau-sac-post162663.gd

Dự án sách ‘Sổ tay giáo dục gia đình’ nhận 100 triệu sau bốn ngày gây quỹ

October 23, 2015 Leave a comment

09/10/2015 – 17:53 PM
Gây quỹ cộng đồng thành công, sách “Sổ tay giáo dục gia đình” sẽ được in ấn, phát miễn phí cho phụ huynh trên cả nước. Sách được Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện làm nghiên cứu sinh tại Nhật) dịch.

» Trẻ em luôn tìm kiếm hơi ấm của cha mẹ

» Để trẻ có trái tim coi trọng tự nhiên

» Giáo dục phúc lợi

» Đừng nuôi con bằng chủ nghĩa hoàn hảo

Sổ tay giáo dục gia đình là cuốn sách được phát miễn phí tới từng hộ gia đình tại Nhật Bản. Nội dung sách trợ giúp các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi từ sơ sinh đến khi vào Tiểu học và Trung học Cơ sở trong việc giáo dục, chăm sóc con cái.

Tủ sách “Người mẹ tốt” mong muốn đưa cuốn sách này về Việt Nam. Để chi trả các chi phí liên quan như dịch, biên tập, hiệu đính, thiết kế, in ấn, vận chuyển… những người thực hiện dự án đã lựa chọn hình thức kêu gọi vốn cộng đồng (crowdfunding).

Kế hoạch của dự án là kêu gọi vốn trong 37 ngày, mục tiêu là có được 100 triệu đồng để in 5.000 bản sách phát miễn phí. Tuy nhiên, sau bốn ngày gây quỹ, dự án đã cán đích, hiện nhận được 102 triệu đồng ủng hộ.

du-an-sach-so-tay-giao-duc-gia-dinh-nhan-100-trieu-sau-bon-ngay-gay-quy

Bản thiết kế cuốn “Sổ tay Giáo dục Gia đình”.

Trên trang gây quỹ, những người thực hiện dự án công bố: “5.000 bản sách bắt đầu được tiến hành in ấn”. Dự án vẫn tiếp tục nhận tiền ủng hộ, vì quỹ càng lớn, số sách được in ra và phát miễn phí càng nhiều.

Nguyễn Khánh Dương – người có kinh nghiệm với các dự án gây quỹ cộng đồng ở Việt Nam – nhận xét: “Hai năm nay, quan sát các dự án gây quỹ, trường hợp cuốn Sổ tay Giáo dục Gia đình khiến tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đây là kết quả xứng đáng cho một sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận”.

Cuốn Sổ tay Giáo dục Gia đình do liên bộ Giáo dục, Y tế và Nội vụ của Nhật Bản thực hiện. Sách được Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện làm nghiên cứu sinh tại Nhật) dịch. Anh nói: “Giáo dục đang là điểm nóng ở khắp các diễn đàn trong và ngoài nước. Tuy nhiên khi bàn luận và thực thi giáo dục, người ta thường chỉ chú ý tới giáo dục trường học và giáo dục xã hội mà lãng quên giáo dục gia đình”. Đó là lý do khi bắt gặp cuốn sách Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vương quyết định dịch ra tiếng Việt, với mong muốn mang lại thông tin tham khảo cho độc giả trong nước.

Cuốn sách gồm chín chương, có chương cung cấp thông tin giúp cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái như Dạy con, Nhịp điệu cuộc sống của trẻ emAn toàn và sức khỏe… Một số chương sách vừa hướng dẫn phụ huynh cách giáo dục con, đồng thời tăng cường sợi dây gắn kết tình cảm gia đình như: Sự quan tâmVui chơi của trẻ, Cá tính ước mơ của trẻ (hướng dẫn cách tôn trọng và nuôi dưỡng ước mơ cho con)…

Lam Thu

Nguồn: http://www.nguoidothi.vn/vn/news/gia-dinh/cha-me-thoi-@/7218/du-an-sach-so-tay-giao-duc-gia-dinh-nhan-100-trieu-sau-bon-ngay-gay-quy.ndt

%d bloggers like this: