Archive

Archive for March, 2016

Tại sao người Nhật hiện đại thích sinh con gái

March 29, 2016 Leave a comment

Ở Nhật hiện nay, cứ 10 người được hỏi thì có tới gần 8 người nói rằng, nếu chỉ sinh một con, họ thích có bé gái.

Bài viết dưới đây là ghi nhận của nhà giáo Nguyễn Quốc Vương – người đã sống tại Nhật 7 năm, hiện là nghiên cứu sinh về lịch sử, giáo dục tại Nhật sau năm 1945 – về sự thay đổi trong tâm lý ưa thích sinh con trai của người dân nước này. 

Các số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy rõ xu hướng “thích đẻ con trai” của người Việt. Dù là nông thôn hay thành thị, vẫn có những gia đình tan vỡ chỉ vì lý do “không có con trai” hay nhiều cặp vợ chồng dù có 2, 3 con gái vẫn ngược xuôi tìm cách để có được “con trai nối dõi”.

Xét ở khía cạnh này, xã hội Nhật Bản hiện tại có xu hướng gần như là đối ngược với Việt Nam. Điều này có thể thấy qua kết quả thu được từ cuộc điều tra về xu hướng sinh đẻ của Bộ Sức khỏe và Lao động Nhật Bản. Trong cuốn sách mới xuất bản tháng 3/2016 có tên Năng lực cơ bản của phụ nữ, tác giả Bando Mariko, đã dẫn lại kết quả điều tra toàn quốc cho thấy: có đến 77,8% các cặp vợ chồng được hỏi bày tỏ “Nếu chỉ sinh một người con thì tôi thích sinh con gái”.

tai-sao-nguoi-nhat-hien-dai-thich-sinh-con-gai

Ảnh minh họa: Dariaratliff.

Bà Bando Mariko, một người từng nhiều năm phụ trách công tác chính sách phụ nữ trong chính phủ Nhật, cho rằng, kết quả nói trên phản ánh sự biến đổi sâu sắc của nước Nhật. Bà lý giải: Ở nước Nhật trong thời kỳ mà chế độ gia đình truyền thống nhiều thế hệ cùng chung sống thịnh hành thì con trai sẽ là người kế nghiệp. Vì vậy, khi người vợ sinh được con trai, hàng xóm, họ hàng ai cũng đến chúc mừng. Trong các gia đình này, con dâu là người ít nhiều phải chịu đựng sự “hy sinh” khi vừa phải làm mẹ, làm vợ, làm dâu. Để có được địa vị vững chắc và vị thế cao trong gia đình nhà chồng và cộng đồng, người con dâu phải đẻ được con trai.

Tuy nhiên, hiện nay trong bối cảnh dân số nước Nhật già hóa và tuổi thọ người dân tăng cao, nhu cầu phụng dưỡng về mặt kinh tế từ các con không còn quan trọng bằng giao lưu tinh thần, chăm sóc khi đau yếu. Do đó con gái sẽ trở thành lựa chọn tốt hơn con trai. Hơn nữa, ngày nay, đa số người Nhật nghĩ con trai một khi đã kết hôn sẽ trở thành “họ hàng” trong khi “con gái cho dù có lấy chồng thì vẫn là con gái mình”. Ngoài ra, đàn ông nước Nhật khi trưởng thành bận lao động tối mặt để kiếm tiền nên không có thời gian chăm sóc bố mẹ. Ngay cả những người con có hiếu nhất cũng nghĩ “chuyện chăm sóc bố mẹ để vợ lo”.

Cũng theo tác giả Bando Mariko, những người đàn ông “không biết làm việc nhà” thường là những người ít có khả năng đáp ứng kỳ vọng chăm sóc bố mẹ khi già.

Bởi vậy trong xã hội Nhật Bản hiện đại, chuyện trọng nam khinh nữ dù vẫn tồn tại, đặc biệt là ở lĩnh vực tuyển dụng và đãi ngộ lao động, nhưng chuyện thích sinh con trai hơn con gái gần như đã trở thành “chuyện của ngày xưa”.

Nguyễn Quốc Vương

link: http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/tai-sao-nguoi-nhat-hien-dai-thich-sinh-con-gai-3377646.html

Advertisements

Nghị sĩ phải là người nói giỏi tiếng dân

March 28, 2016 Leave a comment

26/03/2016  01:00 GMT+7

Diễn đàn quốc hội khắc nghiệt hơn sân khấu nhiều lần và người dân Nhật thường có cái nhìn lạnh lùng và nghiêm khắc với các chính trị gia, những người sống bằng tiền thuế của họ hơn nghệ sĩ.

Ở các nước châu Á khác chuyện nghệ sĩ tranh cử và trở thành nghị sĩ có thể là chuyện hiếm nhưng ở nước Nhật điều này rất đỗi bình thường.

Trong tiếng Nhật hiện đại có hẳn một từ được hình thành vào khoảng những năm 60 của thế kỷ trước chỉ những nhà chính trị vốn là nghệ sĩ. Họ được gọi bằng từ “Tarento Seijika”. “Seijika” có nghĩa là “chính trị gia” trong khi “tarento” có nguồn gốc là từ “talent” trong tiếng Anh. “Tarento” có nghĩa rất rộng khi chỉ những người có danh tiếng, được công chúng biết tới và thường xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Thông thường người Nhật quan niệm “tarento” là các nghệ sĩ hài, diễn viên truyền hình, nghệ sĩ biểu diễn….

Nghệ sĩ thành nghị sĩ: Xu hướng lâu đời

Trong lịch sử quốc hội Nhật, hiện tượng “người của công chúng” trở thành nghị sĩ xuất hiện rất sớm. Ngay sau khi Nghị viện đế quốc ra đời không lâu, tiểu thuyết gia Tokai Sanshi nổi tiếng với tiểu thuyết “Giai nhân kỳ ngộ” đã trúng cử vào nghị viện liên tiếp 8 lần liền kể từ cuộc tổng tuyển cử lần thứ 2 năm 1892.

Năm 1946, trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu hạ viện sau chiến tranh thế giới thứ hai, nghệ sĩ, nhà văn Ishida Ichimatsu (1902-1956) đã trúng cử và được coi là “chính trị gia nghệ sĩ” số 1. Truyền thông đương thời gọi ông bằng biệt danh “nghị viên nghệ sĩ”. Danh từ “Nghị viên tarento” được truyền thông nước Nhật sử dụng rộng rãi lần đầu tiên khi nghệ sĩ Fujhara Aki giành chiến thắng trong cuộc bầu cử thượng viện vào tháng 7/1962. Trước cuộc bầu cử bà không hề tham gia hoạt động chính trị cũng như chưa từng có phát ngôn nào liên quan đến chính trị vì vậy chiến thắng áp đảo của bà đã làm cho xã hội chấn động.

Tự ứng cử, nghệ sĩ tự ứng cử, Kết quả bầu ĐBQH, hiệp thương, hiệp thương ở tổ dân phố
Ảnh minh họa: nguoidaibieu

Những thành phố lớn thường là nơi có các ứng cử viên là nghệ sĩ. Thành phố Osaka thường có nghệ sĩ hài trúng cử nghị sĩ vì thế các phương tiện truyền thông đại chúng hay gọi các lá phiếu mà ứng cử viên ở đây giành được là “phiếu cười” hay “phiếu nghệ sĩ”. Nhiều chính trị gia hoạt động ở địa phương trong vai trò là thống đốc cũng từng là nghệ sĩ. Tiêu biểu nhất trong số này có lẽ là Higashikokuharu Hideo. Ông vốn là nghệ sĩ hài, trúng cử thống đốc tỉnh Miyazaki năm 2007, đến năm 2012 sau khi hết nhiệm kỳ thống đốc, ông tham gia ứng cử và trở thành nghị sĩ hạ viện.

Lợi thế của nghệ sĩ

Trong chiến dịch tranh cử họ không cần quảng cáo, truyền thông, diễn thuyết ngoài phố cử tri vẫn biết đến họ. Điều này có thể thấy rõ qua trường hợp trúng cử của Aoshima Yukio (1932-2006). Ông vốn hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật với các chức danh: nhà văn, đạo diễn điện ảnh, nhà thơ, diễn viễn và có một lượng người hâm mộ đông đảo. Ông không hề tiến hành bất cứ một hoạt động vận động tranh cử nào nhưng lần nào ông ứng cử cũng đều trúng cử.

Tuy nhiên cũng có những ý kiến phê phán việc các chính đảng, đoàn thể chính trị  đưa ứng cử viên là nghệ sĩ ra tranh cử chẳng qua là thủ đoạn giành lá phiếu của cử tri. Đáp lại sự phê phán này, những người ủng hộ cho rằng việc quan niệm như thế là phân biệt đối xử nghề nghiệp, điều mà luật pháp nghiêm cấm. Vì vậy, hiện tại quan điểm cho rằng việc quyết định ai thành nghị sĩ là thuộc về cử tri giành được sự ủng hộ rộng rãi.

Vừa là nghệ sĩ vừa là nghị sĩ dễ hay khó?

Ở Nhật Bản, theo luật bầu cử những người nổi tiếng khi ứng cử sẽ phải tạm ngừng các hoạt động biểu diễn trước công chúng và trên phương tiện truyền thông trừ các bản tin liên quan đến bầu cử và các chương trình theo luật định. Ngay cả đối với các chương trình đã sản xuất trước đó thì khi phát sóng cũng phải cắt đi phần diễn xuất của người ứng cử.

Sau khi trúng cử việc có tiếp tục hoạt động nghệ thuật hay không là do bản thân nghị sĩ quyết định. Luật pháp Nhật không cấm các nghị sĩ vừa hoạt động như chính trị gia vừa hoạt động nghệ thuật vì vậy trên thực tế có rất nhiều người đóng cả hai vai. Tuy nhiên, cũng có một vài quy định đặc biệt phải tuân thủ. Chẳng hạn các ứng cử viên là nghệ sĩ khi tranh cử thường dùng tên thường gọi hoặc nghệ danh nhưng khi đã trở thành nghị sĩ thì bắt buộc phải dùng tên thật.

Những năm gần đây, quy định này được bãi bỏ do người Nhật quan niệm nghị viên quốc hội là đại biểu của quốc dân tham gia lập pháp chứ không phải là thành viên của cơ quan hành chính vì vậy có thể dùng tên thường gọi. Tuy nhiên trong các trường hợp được bổ nhiệm làm việc ở các cơ quan hành chính như bộ trưởng các bộ thì khi ký giấy tờ của cơ quan phải dùng tên thật.

Việc các nghệ sĩ tham gia chính trường ở Nhật Bản hiện tại đã trở thành chuyện bình thường không còn gây ra sự ngạc nhiên trong công chúng nữa. Sự “dấn thân” này được nhiều người ủng hộ vì nó phù hợp với tinh thần “chủ quyền thuộc về quốc dân” của Hiến pháp nước Nhật Bản năm 1946. Nó cũng phù hợp với quan điểm thông thường của người Nhật coi “dân chủ là toàn dân trị nước”, vốn được trình bày rõ ràng trong cuốn sách giáo khoa “gối đầu giường” của người Nhật có tên “Trò  chuyện về tân Hiến pháp” được Bộ giáo dục Nhật Bản xuất bản năm 1947 và phát miễn phí tới từng người dân.

Diễn đàn quốc hội khắc nghiệt hơn sân khấu và người dân Nhật thường có cái nhìn lạnh lùng và nghiêm khắc với các chính trị gia- những người sống bằng tiền thuế của họ hơn nghệ sĩ.

Tuy nhiên, trên thực tế các nghệ sĩ trúng cử vào quốc hội ngày một nhiều và trong số đó có người tái cử nhiều lần. Điều đó chứng minh rằng trong nền chính trị dân chủ, người nghệ sĩ hoàn toàn có khả năng “trị quốc” và làm hài lòng người dân.

Nguyễn Quốc Vương, từ Nhật Bản

Link: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/296101/nghi-si-phai-la-nguoi-noi-gioi-tieng-dan.html

Bài tập về nhà của cô giáo Nhật khiến phụ huynh rơi nước mắt

March 28, 2016 Leave a comment

 

Cách ra bài tập về nhà và cách chữa bài của 1 cô giáo tiểu học ở Nhật đã làm nhiều người giật mình suy nghĩ lại về ý nghĩa đích thực của giáo dục.

Gia đình tôi đang sống ở thành phố Kanazawa, Nhật Bản. Một ngày nghỉ đẹp trời, tôi đưa con vào hiệu sách chơi. Tình cờ tôi đọc được một câu chuyện có thật về một giáo viên tiểu học. Câu chuyện này được ghi lại trong “Lời nói đầu” của một cuốn sách viết về hạnh phúc đang trở thành “best-seller” của nước Nhật.
Câu chuyện như sau:
Một ông bố ở thành phố nọ có cô con gái đang học tiểu học. Mỗi khi con gái đi học về ông thường có thói quen hỏi chuyện học hành ở trường. Một ngày nọ khi cô bé đi học về ông hỏi: “Nay có bài tập về nhà không con?”.
Cô bé đáp: “Có ạ. Bài tập là hãy để một ai đó trong gia đình ôm”.
Ông bố mỉm cười và cúi xuống ôm con thật chặt. Đến tối cả mẹ rồi chị, em trai khi nghe kể cũng ôm cô bé.
Bài tập về nhà
Khi cô giáo hỏi cả lớp xem đã làm bài tập về nhà chưa thì có vài bạn đứng lên ngượng ngùng cúi mặt nói: “Con không được ai ôm”.
Ngày hôm sau khi cô bé học về, ông bố lại hỏi: “Nay có bài tập về nhà không con?”. Cô bé đáp: “Nay cô giáo chỉ chữa bài tập về nhà thôi” rồi kể cho bố nghe câu chuyện ở lớp.
Ở đó khi cô giáo hỏi cả lớp xem đã làm bài tập về nhà chưa thì có vài bạn đứng lên ngượng ngùng cúi mặt nói: “Con không được ai ôm”. Thế là cô giáo cúi xuống ôm từng bạn một.
Bài tập về nhà của cô giáo nói trên thật đặc biệt tuy không phải là không ai có thể nghĩ ra. Thế nhưng cái cách chữa bài tập của cô mới thật đáng kinh ngạc.
Cô đã làm nhiều người giật mình suy nghĩ lại về ý nghĩa đích thực của giáo dục. Làm cha mẹ có lẽ ai cũng mong muốn con mình được sống và học hành trong thế giới tràn ngập tình yêu thương và sự cảm động.
Là một phụ huynh, tôi cũng muốn con mình được học những giáo viên như thế.
Hiện tại khi nhìn vào nền giáo dục ở bất cứ nước nào, người ta đều thấy ở đó những chuyển động của “cải cách giáo dục”. Cũng có thể nói không sợ sai rằng thời đại hiện nay là “thời đại của cải cách giáo dục”. Trong cuộc chạy đua cải cách giáo dục đó, trường học và giáo viên chịu áp lực lớn từ xã hội.
Bài tập về nhà
Những nghiên cứu gần đây cho thấy học sinh tới trường không còn ở trong tâm trạng háo hức nữa thay vào đó là lo lắng.

Sự kỳ vọng vào “điểm số”, tỷ lệ đỗ đạt cao trong các kỳ thi cùng chính sách “cải cách giáo dục từ trên xuống” mang đậm màu sắc mệnh lệnh đã khiến cho trường học và giáo viên mệt mỏi trong vòng quay tối mặt của bài tập và thi cử.

Trong cuộc chạy đua bất tận ấy, trường học dần dần không còn trở thành nơi “vui vẻ”. Ở đó cả giáo viên và học sinh trong vô thức dần quên đi mất ý nghĩa ban đầu của giáo dục.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy các hiện tượng bạo lực học đường, tự sát, bắt nạt trường học đã nảy sinh và đang ngày một trầm trọng trong bối cảnh đó. Học sinh tới trường không còn ở trong tâm trạng háo hức nữa thay vào đó là lo lắng.
Giống như nhiều nước khác, giáo dục nước Nhật sau 70 năm đại cải cách cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề như thế. Nhưng ở đó nhờ vào sự năng động và dân chủ của cơ chế hành chính giáo dục phân quyền, vẫn có  những người giáo viên thầm lặng như kể trên, bằng các “thực tiễn giáo dục” của mình làm cho trường học lấy lại ý nghĩa ban đầu.

 Theo Nguyễn Quốc Vương / Trí Thức Trẻ

Người Nhật thích đẻ con trai hay con gái?

March 19, 2016 Leave a comment

 

Ở Việt Nam chưa cần đến số liệu điều tra xã hội vẫn có thể thấy rõ xu hướng “thích đẻ con trai” của người Việt. Còn người Nhật thì sao? Người Nhật thích đẻ con trai hay con gái?

Thật đáng ngạc nhiên là kết quả thống kê thu được từ điều tra xã hội cho thấy người Nhật thích đẻ con gái hơn con trai. Trong cuộc điều tra về xu hướng sinh đẻ của Bộ sức khỏe, lao động và phúc lợi Nhật Bản gần đây, có đến 77.8% các cặp vợ chồng được hỏi trả lời “Nếu chỉ sinh một người con thì tôi thích sinh con gái”.

Theo Bando Mariko, người có nhiều năm phụ trách công tác phụ nữ trong chính phủ Nhật và là tác giả của tác phẩm “bán chạy” nổi tiếng “Phẩm cách của phụ nữ” thì kết quả nói trên phản ánh sự biến đổi sâu sắc của nước Nhật. Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây có tựa “Năng lực cơ bản của phụ nữ” bà lý giải rằng ở nước Nhật trong thời kỳ mà chế độ gia đình truyền thống nhiều thế hệ cùng chung sống thịnh hành thì con trai sẽ là người kế nghiệp. Vì vậy, khi người vợ sinh được con trai, hàng xóm, họ hàng ai cũng đến chúc mừng. Trong các gia đình này, con dâu là người ít nhiều phải chịu đựng sự “hy sinh” khi vừa phải làm mẹ, làm vợ, làm dâu. Để có địa vị vững chắc và vị thế cao trong gia đình nhà chồng bao gồm những thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà nhưng không cùng huyết thống, người con dâu phải đẻ được con trai.

Tuy nhiên, hiện nay trong bối cảnh dân số nước Nhât già hóa và tuổi thọ người dân tăng cao, nhu cầu phụng dưỡng về mặt kinh tế từ các con không còn quan trong bằng giao lưu tinh thần, chăm sóc khi đau yếu. Do đó con gái sẽ trở thành lưa chọn tốt hơn con trai. Hơn nữa ở nước Nhật hiện tại đa số người Nhật nghĩ con trai một khi đã kết hôn sẽ trở thành “họ hàng” trong khi con gái cho dẫu có lấy chồng thì vẫn là con gái. Đàn ông nước Nhật khi trưởng thành tối mặt lao đông để kiếm tiền nên không có thời gian chăm sóc bố mẹ. Ngay cả những người con có hiếu nhất cũng nghĩ “chuyện chăm sóc bố mẹ để vợ lo”.

Cũng trong cuốn sách này Bando Mariko cho rằng những người đàn ông “không biết làm việc nhà” thường là những người ít có khả năng đáp ứng kỳ vọng chăm sóc bố mẹ khi già.

Những điều vẫn mới từ một tư liệu cũ

March 10, 2016 Leave a comment

Kể từ thời cận đại, Nhật Bản luôn nằm trong mối quan tâm của người Việt. Sự quan tâm ấy một phần xuất phát từ tâm thức so sánh về những ngã rẽ của lịch sử và sự phát triển của hai nước. Trước kia, người Việt quan tâm tới cải cách Minh Trị và sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ hai là chủ yếu nhưng trong những năm gần đây người Việt lại có xu hướng quan tâm đặc biệt tới giáo dục Nhật Bản. Sự quan tâm, tìm hiểu đó có lẽ là nhằm trả lời cho câu hỏi “Tại sao Nhật Bản có được ngày nay?” từ đống đổ nát của chiến tranh? Để tìm được câu trả lời nhiều người sẽ nhìn vào giáo dục Nhật Bản hiện tại nhưng tôi lại muốn dùng tư duy lịch sử để tìm về xuất phát điểm của nền giáo dục ấy. Trong quá trình tìm kiếm ấy, tôi đã tìm thấy rất nhiều tư liệu quý. Bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” do Bộ giáo dục Nhật Bản thông qua và phát hành năm 1947 là một tư liệu như thế. Đọc nó và liên tưởng đến các cuộc tranh luận về giáo dục ở nước ta hiện nay, tôi thấy ở đây vẫn có những điều còn nguyên giá trị.

xahoi

Nhiệm vụ và mục tiêu của môn Xã hội

Môn Xã hội mà tên gọi đầy đủ là “Nghiên cứu xã hội” là môn học lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản trong cuộc cải cách giáo dục sau năm 1945. Đối với người Nhật đương thời, nó là môn học đầy lạ lẫm. Vì thế, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội, với tư cách là văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục đã dành hẳn mục đầu tiên có tên “Môn Xã hội là gì?” ở Lời nói đầu để trình bày về nhiệm vụ của môn học: “Nhiệm vụ của môn Xã hội được thiết lập lần này là làm cho thanh thiếu niên lý giải đời sống xã hội và giáo dục năng lực, thái độ xúc tiến sự phát triển xã hội đó”. Để hoàn thành được nhiệm vụ này, môn Xã hội phải giúp học sinh lý giải được đời sống xã hội trong đó quan trọng nhất là 3 mối quan hệ tồn tại tương hỗ: Mối quan hệ giữa con người với con người, mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữa cá nhân với chế độ xã hội và cơ sở vật chất.

Trên cơ sở lý giải sâu sắc và khoa học các mối quan hệ đó và phát triển kinh nghiệm của bản thân thông qua các hoạt động học tập phong phú, học sinh sẽ có được các năng lực, thái độ cần thiết. Các năng lực, thái độ này là thứ cần thiết cho học sinh trong quá trình phát triển đời sống xã hội của bản thân, làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn vì vậy đương nhiên chúng cũng trở thành “thái độ, năng lực cần thiết trong đời sống xã hội tương lai”.

Về mục tiêu, môn Xã hội chia sẻ mục tiêu chung của nền giáo dục mới là giáo dục nên người công dân dân chủ. Ở phương diện cụ thể, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội xác định 15 mục tiêu cơ bản mà môn học cần hướng đến. Những mục tiêu này cho đến nay, có lẽ vẫn còn nguyên giá trị. Xin tạm liệt kê vài mục tiêu:

(1) Giúp học sinh làm sâu sắc sự tự giác và phát triển nhân cách với tư cách là con người, tăng cường ý thức về tính liên kết của xã hội, cống hiến cho sự tiến bộ của đời sống cộng đồng và hành động với tư cách con người xã hội có lễ nghĩa.
(2) Làm cho học sinh lý giải về các loại xã hội như gia đình, trường học, các đoàn thể và mối quan hệ tồn tại tương hỗ cùng vai trò của các thành viên trong các xã hội đó.
(3) Làm cho học sinh biết phê phán một cách hợp lý các sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội, giáo dục thái độ tôn trọng và hành động theo trật tự xã hội và pháp luật, ngoài ra làm cho học sinh lý giải về ý nghĩa của tuyên truyền đối với các vấn đề chính trị, phát triển mối quan tâm, năng lực xúc tiến phúc lợi công cộng dựa trên tư duy khoa học tổng hợp của bản thân và tinh thần chính nghĩa, công bằng, khoan dung, hữu ái.
(5) Giáo dục năng lực quan sát khoa học môi trường tự nhiên và xã hội mà học sinh tiếp xúc hàng ngày.
(8) Giáo dục cho học sinh biết được giá trị của cái đẹp tự nhiên, tài nguyên các khu vực và cái đẹp nhân tạo, yêu mến bảo vệ chúng đồng thời giáo dục năng lực phát triển, sáng tạo chúng.
(10) Làm cho học sinh lý giải đầy đủ ý nghĩa đối với đời sống xã hội ở từng lĩnh vực nghề nghiệp, nâng cao thái độ tôn trọng đối với nghề nghiệp của người khác, giáo dục năng lực tiến hành đúng đắn sự lựa chọn nghề nghiệp của bản thân và hoạt động nghề nghiệp có năng suất cao.
(11) Làm cho học sinh hiểu giá trị của lao động trong cuộc sống hàng ngày đồng thời giáo dục năng lực cống hiến cho sự phát triển của sản xuất thông qua lao động và thái độ tôn trọng lao động.
Lấy học sinh làm trung tâm

Đặc điểm nổi bật nhất của bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội và giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến là chịu ảnh hưởng lớn của nhà giáo dục học người Mĩ- J.Dewey. Dưới ảnh hưởng đó, học sinh được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình học tập và kinh nghiệm xã hội của các em được coi là nền tảng, điểm xuất phát của học tập. Mục tiêu cụ thể của việc học tập cũng là nhằm vào phát triển các kinh nghiệm xã hội này. Vì vậy, ở từng khối lớp, trước khi đưa ra hướng dẫn về nội dung và phương pháp học tập, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội đều dành dung lượng đáng kể phân tích về đặc trưng tâm sinh lý của học sinh. Ví dụ, học sinh lớp 5, và 6 có đặc điểm “tư duy một cách cụ thể theo hành động”, “muốn tìm kiếm tình trạng phồn vinh vật chất với tư cách là chủ nhân đời sống xã hội hiện thực” cho nên giáo viên cần lưu ý “làm cho học sinh lý giải đời sống xã hội với trung tâm là đời sống con người về sản xuất cơ giới và phát minh, sáng chế”.

Coi trọng sự tự giác và kinh nghiệm của học sinh

Trên cơ sở phân tích, chỉ rõ nhược điểm lớn nhất của giáo dục trước chiến tranh là chỉ chú trọng truyền đạt và làm cho học sinh ghi nhớ, hiểu các kiến giải của người khác mà bỏ qua mối quan tâm, hứng thú, tư duy của học sinh, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội nhấn mạnh sự tự giác, chủ động của học sinh trong vai trò là chủ thể học tập: “Học tập môn Xã hội lấy các vấn đề cụ thể trong đời sống của thanh thiếu niên làm trung tâm và được tiến hành thông qua các hoạt động tự giác hướng đến giải quyết các vấn đề đó. Cần phải đem lại cho thanh thiếu niên sự lý giải tri thức chân thật về đời sống xã hội nhưng học sinh chỉ có thể có được chúng thông qua bản thân tự tiến hành các hoạt động nhất định và trải nghiệm sự giao lưu với xã hội. Nguyên lý học thông qua làm là điều rất quan trọng trong môn Xã hội.”.
Nguyên lý “học thông qua làm” (learn by doing) là nguyên lý cơ bản trong lý luận của J.Dewey. Dựa trên nguyên lý này, giáo viên phải thiết kế và tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập phong phú và phù hợp. Thông qua sự tham gia và trải nghiệm giải quyết vấn đề, học sinh sẽ tự mình trưởng thành về tri thức, kinh nghiệm, năng lực, thái độ. Vì vậy, văn bản này cảnh báo lối dạy “y nguyên”, “trực tiếp” nội dung giáo dục cho học sinh là điều cấm kỵ.
Kiểm tra, đánh giá hướng vào sự phát triển của học sinh
Bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội ra đời đã gần 70 năm nhưng những quan điểm và chỉ đạo của nó về kiểm tra, đánh giá vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Ở đây, việc kiểm tra, đánh giá học sinh không hề tách rời việc tham chiếu mục tiêu môn học: “Môn xã hội hướng đến những mục tiêu của mình mà làm cho học sinh tiến hành học tập nhằm tự mình lý giải, thực hành các phương diện đời sống của bản thân và để kiểm tra xem những mục tiêu này đã đạt được chưa thì cần phải có rất nhiều thủ tục”.
Công việc chủ yếu , người giáo viên cần làm khi đánh giá hiệu quả học tập của học sinh sẽ là “kiểm tra xem học sinh đã làm phong phú, nâng cao đời sống của bản thân mình và những người xung quanh như thế nào”. Để thực hiện được việc đánh giá này giáo viên cần “quan sát thái độ, hoạt động của học sinh, quan sát cách thức hành động tương ứng với môi trường của học sinh”. Bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội cũng lưu ý: “Kết quả đánh giá này phải được sử dụng hiệu quả đối với bản thân học sinh. Nếu như học sinh nhìn vào kết quả mà phản tỉnh về nỗ lực học tập trong quá khứ và cố gắng tạo ra nền tảng tiến bộ đối với học tập trong tương lai thì sự đánh giá đó sẽ trở thành thứ có giá trị hơn.”.

Gần 70 năm sau ngày bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội ra đời, giáo dục Nhật Bản nói chung và giáo dục môn Xã hội nói riêng đã có nhiều thay đổi nhưng về cơ bản các quan điểm và nguyên lý nêu ra trong văn bản này vẫn còn nguyên giá trị và được tiếp tục sử dụng trong nền giáo dục Nhật Bản hiện tại. Khi đọc nó và liên tưởng đến những cuộc tranh luận ồn ào trong thời gian qua về giáo dục ở nước ta trong thời gian qua, chắc hẳn chúng ta sẽ rút ra được nhiều điều quý báu. Ở Nhật Bản nó cũng trở thành tư liệu có tính “kinh điển” cho những ai muốn tìm hiểu về giáo dục Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Nguyễn Quốc Vương 

Mây và sóng trong “Bách nhân nhất thủ”

March 9, 2016 Leave a comment

Fujiwara no Tadamichi (1097-1164) là một vị quan to nhưng cũng là thi nhân vô cũng lãng mạn. Bài thơ dưới đây của ông về sau được đưa vào “Bách nhân nhất thủ”.

Không rõ tôi nhớ có nhầm không nhưng hình như trong văn học Việt Nam thời trung đại rất ít các tác phẩm viết về biển khơi. Văn học biển ở Việt Nam hình như…không có thì phải. Đấy là một nỗi buồn và cũng là một sự tiếc nuối.

Nguyên tác
わたの原 漕ぎ出でて見れば ひさかたの 雲居にまがふ 沖つ白波
Dịch sang tiếng Nhật hiện đại
大海原に船を漕ぎ出してみると、遠くの方では、雲と見わけがつかないような白波が立っているのが見える。(まことにおもしろい眺めではないか)

Dịch thơ

 


Chèo thuyền ra đến biển khơi
Chỉ mây lẫn sóng trắng trời phía xa

Nguyễn Quốc Vương's photo.

Nỗi buồn mùa thu

March 8, 2016 Leave a comment

 

Hình như thi sĩ nào cũng cảm thấy buồn trước phong cảnh mùa thu dù là ở Việt Nam hay Nhật.
Đây là nỗi buồn của nhà sư-thi sĩ Ryozen (sống vào thời Heian, không rõ năm sinh năm mất)
Nguyên tác:

さびしさに 宿を立ち出でて ながむれば いづくも同じ 秋の夕暮

Dịch sang tiếng Nhật hiện đại

寂しくて家を出てあたりを眺めてはみたが、この秋の夕暮れの寂しさはどこも同じであるものだ。

Dịch thơ

Cô đơn ra ngắm quanh nhà
Chiều thu cũng thế gần xa đều buồn

Nguyễn Quốc Vương's photo.
%d bloggers like this: