Trang chủ > Giáo dục lịch sử ở Việt Nam, Sách của tôi (my books) > Những điều vẫn mới từ một tư liệu cũ

Những điều vẫn mới từ một tư liệu cũ


Kể từ thời cận đại, Nhật Bản luôn nằm trong mối quan tâm của người Việt. Sự quan tâm ấy một phần xuất phát từ tâm thức so sánh về những ngã rẽ của lịch sử và sự phát triển của hai nước. Trước kia, người Việt quan tâm tới cải cách Minh Trị và sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ hai là chủ yếu nhưng trong những năm gần đây người Việt lại có xu hướng quan tâm đặc biệt tới giáo dục Nhật Bản. Sự quan tâm, tìm hiểu đó có lẽ là nhằm trả lời cho câu hỏi “Tại sao Nhật Bản có được ngày nay?” từ đống đổ nát của chiến tranh? Để tìm được câu trả lời nhiều người sẽ nhìn vào giáo dục Nhật Bản hiện tại nhưng tôi lại muốn dùng tư duy lịch sử để tìm về xuất phát điểm của nền giáo dục ấy. Trong quá trình tìm kiếm ấy, tôi đã tìm thấy rất nhiều tư liệu quý. Bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” do Bộ giáo dục Nhật Bản thông qua và phát hành năm 1947 là một tư liệu như thế. Đọc nó và liên tưởng đến các cuộc tranh luận về giáo dục ở nước ta hiện nay, tôi thấy ở đây vẫn có những điều còn nguyên giá trị.

xahoi

Nhiệm vụ và mục tiêu của môn Xã hội

Môn Xã hội mà tên gọi đầy đủ là “Nghiên cứu xã hội” là môn học lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản trong cuộc cải cách giáo dục sau năm 1945. Đối với người Nhật đương thời, nó là môn học đầy lạ lẫm. Vì thế, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội, với tư cách là văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục đã dành hẳn mục đầu tiên có tên “Môn Xã hội là gì?” ở Lời nói đầu để trình bày về nhiệm vụ của môn học: “Nhiệm vụ của môn Xã hội được thiết lập lần này là làm cho thanh thiếu niên lý giải đời sống xã hội và giáo dục năng lực, thái độ xúc tiến sự phát triển xã hội đó”. Để hoàn thành được nhiệm vụ này, môn Xã hội phải giúp học sinh lý giải được đời sống xã hội trong đó quan trọng nhất là 3 mối quan hệ tồn tại tương hỗ: Mối quan hệ giữa con người với con người, mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữa cá nhân với chế độ xã hội và cơ sở vật chất.

Trên cơ sở lý giải sâu sắc và khoa học các mối quan hệ đó và phát triển kinh nghiệm của bản thân thông qua các hoạt động học tập phong phú, học sinh sẽ có được các năng lực, thái độ cần thiết. Các năng lực, thái độ này là thứ cần thiết cho học sinh trong quá trình phát triển đời sống xã hội của bản thân, làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn vì vậy đương nhiên chúng cũng trở thành “thái độ, năng lực cần thiết trong đời sống xã hội tương lai”.

Về mục tiêu, môn Xã hội chia sẻ mục tiêu chung của nền giáo dục mới là giáo dục nên người công dân dân chủ. Ở phương diện cụ thể, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội xác định 15 mục tiêu cơ bản mà môn học cần hướng đến. Những mục tiêu này cho đến nay, có lẽ vẫn còn nguyên giá trị. Xin tạm liệt kê vài mục tiêu:

(1) Giúp học sinh làm sâu sắc sự tự giác và phát triển nhân cách với tư cách là con người, tăng cường ý thức về tính liên kết của xã hội, cống hiến cho sự tiến bộ của đời sống cộng đồng và hành động với tư cách con người xã hội có lễ nghĩa.
(2) Làm cho học sinh lý giải về các loại xã hội như gia đình, trường học, các đoàn thể và mối quan hệ tồn tại tương hỗ cùng vai trò của các thành viên trong các xã hội đó.
(3) Làm cho học sinh biết phê phán một cách hợp lý các sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội, giáo dục thái độ tôn trọng và hành động theo trật tự xã hội và pháp luật, ngoài ra làm cho học sinh lý giải về ý nghĩa của tuyên truyền đối với các vấn đề chính trị, phát triển mối quan tâm, năng lực xúc tiến phúc lợi công cộng dựa trên tư duy khoa học tổng hợp của bản thân và tinh thần chính nghĩa, công bằng, khoan dung, hữu ái.
(5) Giáo dục năng lực quan sát khoa học môi trường tự nhiên và xã hội mà học sinh tiếp xúc hàng ngày.
(8) Giáo dục cho học sinh biết được giá trị của cái đẹp tự nhiên, tài nguyên các khu vực và cái đẹp nhân tạo, yêu mến bảo vệ chúng đồng thời giáo dục năng lực phát triển, sáng tạo chúng.
(10) Làm cho học sinh lý giải đầy đủ ý nghĩa đối với đời sống xã hội ở từng lĩnh vực nghề nghiệp, nâng cao thái độ tôn trọng đối với nghề nghiệp của người khác, giáo dục năng lực tiến hành đúng đắn sự lựa chọn nghề nghiệp của bản thân và hoạt động nghề nghiệp có năng suất cao.
(11) Làm cho học sinh hiểu giá trị của lao động trong cuộc sống hàng ngày đồng thời giáo dục năng lực cống hiến cho sự phát triển của sản xuất thông qua lao động và thái độ tôn trọng lao động.
Lấy học sinh làm trung tâm

Đặc điểm nổi bật nhất của bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội và giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến là chịu ảnh hưởng lớn của nhà giáo dục học người Mĩ- J.Dewey. Dưới ảnh hưởng đó, học sinh được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình học tập và kinh nghiệm xã hội của các em được coi là nền tảng, điểm xuất phát của học tập. Mục tiêu cụ thể của việc học tập cũng là nhằm vào phát triển các kinh nghiệm xã hội này. Vì vậy, ở từng khối lớp, trước khi đưa ra hướng dẫn về nội dung và phương pháp học tập, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội đều dành dung lượng đáng kể phân tích về đặc trưng tâm sinh lý của học sinh. Ví dụ, học sinh lớp 5, và 6 có đặc điểm “tư duy một cách cụ thể theo hành động”, “muốn tìm kiếm tình trạng phồn vinh vật chất với tư cách là chủ nhân đời sống xã hội hiện thực” cho nên giáo viên cần lưu ý “làm cho học sinh lý giải đời sống xã hội với trung tâm là đời sống con người về sản xuất cơ giới và phát minh, sáng chế”.

Coi trọng sự tự giác và kinh nghiệm của học sinh

Trên cơ sở phân tích, chỉ rõ nhược điểm lớn nhất của giáo dục trước chiến tranh là chỉ chú trọng truyền đạt và làm cho học sinh ghi nhớ, hiểu các kiến giải của người khác mà bỏ qua mối quan tâm, hứng thú, tư duy của học sinh, bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội nhấn mạnh sự tự giác, chủ động của học sinh trong vai trò là chủ thể học tập: “Học tập môn Xã hội lấy các vấn đề cụ thể trong đời sống của thanh thiếu niên làm trung tâm và được tiến hành thông qua các hoạt động tự giác hướng đến giải quyết các vấn đề đó. Cần phải đem lại cho thanh thiếu niên sự lý giải tri thức chân thật về đời sống xã hội nhưng học sinh chỉ có thể có được chúng thông qua bản thân tự tiến hành các hoạt động nhất định và trải nghiệm sự giao lưu với xã hội. Nguyên lý học thông qua làm là điều rất quan trọng trong môn Xã hội.”.
Nguyên lý “học thông qua làm” (learn by doing) là nguyên lý cơ bản trong lý luận của J.Dewey. Dựa trên nguyên lý này, giáo viên phải thiết kế và tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập phong phú và phù hợp. Thông qua sự tham gia và trải nghiệm giải quyết vấn đề, học sinh sẽ tự mình trưởng thành về tri thức, kinh nghiệm, năng lực, thái độ. Vì vậy, văn bản này cảnh báo lối dạy “y nguyên”, “trực tiếp” nội dung giáo dục cho học sinh là điều cấm kỵ.
Kiểm tra, đánh giá hướng vào sự phát triển của học sinh
Bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội ra đời đã gần 70 năm nhưng những quan điểm và chỉ đạo của nó về kiểm tra, đánh giá vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Ở đây, việc kiểm tra, đánh giá học sinh không hề tách rời việc tham chiếu mục tiêu môn học: “Môn xã hội hướng đến những mục tiêu của mình mà làm cho học sinh tiến hành học tập nhằm tự mình lý giải, thực hành các phương diện đời sống của bản thân và để kiểm tra xem những mục tiêu này đã đạt được chưa thì cần phải có rất nhiều thủ tục”.
Công việc chủ yếu , người giáo viên cần làm khi đánh giá hiệu quả học tập của học sinh sẽ là “kiểm tra xem học sinh đã làm phong phú, nâng cao đời sống của bản thân mình và những người xung quanh như thế nào”. Để thực hiện được việc đánh giá này giáo viên cần “quan sát thái độ, hoạt động của học sinh, quan sát cách thức hành động tương ứng với môi trường của học sinh”. Bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội cũng lưu ý: “Kết quả đánh giá này phải được sử dụng hiệu quả đối với bản thân học sinh. Nếu như học sinh nhìn vào kết quả mà phản tỉnh về nỗ lực học tập trong quá khứ và cố gắng tạo ra nền tảng tiến bộ đối với học tập trong tương lai thì sự đánh giá đó sẽ trở thành thứ có giá trị hơn.”.

Gần 70 năm sau ngày bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội ra đời, giáo dục Nhật Bản nói chung và giáo dục môn Xã hội nói riêng đã có nhiều thay đổi nhưng về cơ bản các quan điểm và nguyên lý nêu ra trong văn bản này vẫn còn nguyên giá trị và được tiếp tục sử dụng trong nền giáo dục Nhật Bản hiện tại. Khi đọc nó và liên tưởng đến những cuộc tranh luận ồn ào trong thời gian qua về giáo dục ở nước ta trong thời gian qua, chắc hẳn chúng ta sẽ rút ra được nhiều điều quý báu. Ở Nhật Bản nó cũng trở thành tư liệu có tính “kinh điển” cho những ai muốn tìm hiểu về giáo dục Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Nguyễn Quốc Vương 

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: