Archive

Archive for May, 2016

Giáo dục lịch sử và Lịch sử học (sử học).

May 31, 2016 Leave a comment

 

Từ chỗ chỉ vài người nhạy cảm lo lắng, những vấn đề của giáo dục lịch sử ở VN đã trở thành vấn đề xã hội khi phần đông đều thừa nhận mức độ trầm trọng của nó.

Trong bối cảnh như thế rất dễ hiểu khi có những động thái nhằm cải thiện tình hình, giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, có vẻ như không có những biện pháp khoa học và hiệu quả. Trái lại có hai xu hướng tạo nên hiệu ứng ngược mà nói theo kiểu dân gian là “đau bụng cho uống nhân sâm”:

Xu hướng thứ nhất là dùng các yếu tố giải trí, giàu cảm tính để làm cho học sinh “thích thú” với môn Sử: dùng nhạc, hình ảnh, vũ điệu, công nghệ….

Xu hướng thứ hai là nhấn mạnh cần “tăng cường giáo dục truyền thống”, “tăng cường giáo dục lòng yêu nước”, “làm cho học sinh thuộc lịch sử dân tộc để giáo dục lòng tự hào”….

Hiệu quả ngược của xu hướng thứ nhất là làm cho học sinh say mê với các yếu tố giải trí, vụn vặt, không phát triển được tư duy lịch sử. Cách làm này cũng chỉ hấp dẫn được học sinh sau một thời gian ngắn ngủi. Đơn giản vì việc học như thế không đem lại khoái cảm trí tuệ cho học sinh. Bộ não sẽ sinh ra phản xạ phòng vệ một cách vô thức chống lại kiểu học đó khi nó tiến hành lâu dài.

Hiệu quả ngược của xu hướng thứ hai là làm cho học sinh mệt mỏi. Lý do nằm ở chỗ mối quan tâm của người lớn khác xa mối quan tâm của học sinh vì thế những thứ người lớn nghĩ là ghê gớm, to tát, cần thiết thì học sinh lại chưa quan tâm học quan tâm bằng con đường khác. Khi những chủ đề, các cách thức tiếp cận các chủ đề đó không phù hợp với phạm vi quan tâm, hứng thú của học sinh, học sinh sẽ cảm thấy mệt mỏi, chán nản và không tìm thấy ý nghĩa của việc lịch sử đối với cá nhân mình. Ví dụ “tình yêu quê hương đất nước” (tôi thích dùng cụm từ này hơn “lòng yêu nước”) chỉ thực sự nảy sinh khi học sinh cảm thấy mối liên hệ hữu hình và vô hình giữa cuộc sống của bản thân mình ở góc độ cá nhân với “không gian” và “thời gian” có tính lịch sử của quê hương. Muốn có điều đó thì giáo dục lịch sử phải lấy xuất phát điểm là những trải nghiệm của học sinh hay những vấn đề học sinh đang phải đối mặt trong cuộc sống thường ngày ở quê hương.

Điều này gần như là bất khả khi tư duy môn Sử như trên. Nên nhớ “quê hương” hay “đất nước” trong tâm thức học sinh là một thứ cụ thể chứ không phải là một thực thể trừu tượng.

Chiều tối nay trong khi chơi với con chờ cơm chín, tôi vô tình bật tivi và xem một chương trình giáo dục lịch sử của NHK. Chương trình giúp học sinh tìm hiểu về hoạt động của nhân vật lịch sử Oda Nobunaga, một daimyo lẫy lừng thời Chiến quốc ở Nhật. Trong chương trình có cả Rap, Hip-hop, có người mẫu, nghệ sĩ nổi tiếng, có giáo sư, có bảng đen, phấn trắng.

Nó làm tôi nhớ lại chuyện tôi phê bình một chương trình liên quan đến giáo dục lịch sử của Việt Nam trên VTV7. Ở đó người ta cho một MC là nghệ sĩ múa-hát dẫn chương trình, có sự tham gia của học sinh với đủ các màn Rap, nhạc… về thời Hùng Vương.

Sau khi tôi phê bình chương trình trên FB thì người của chương trình có viết thư điện tử cho tôi và giải thích là chương trình mới là thử nghiệm và đã được chuẩn bị kĩ, có học hỏi từ NHK. Đáp ứng yêu cầu của người làm chương trình tôi đã viết lại một lá thư dài phân tích những điểm bất hợp lý của chương trình.

Nhân dịp này, tôi sẽ viết thêm mấy ý.

Quả thật nếu nhìn bề ngoài thì chương trình của VN khá giống chương trình của NHK: cũng có các em học sinh ăn mặc sáng ngời, có nghệ sĩ dẫn chương trình, có các màn nhảy múa đọc Rap có nội dung lịch sử, có bảng đen, lớp học…

Nhưng…

Hình như phía VN đã chỉ học được cái vỏ bên ngoài. Họ đã không nhìn ra và thẩm thấu được tư duy và những nguyên lý học thuật ẩn sau chương trình đó.

Trong đó nguyên lý cơ bản nhất là mối quan hệ mật thiết giữa giáo dục lịch sử và sử học: Giáo dục lịch sử không phải chỉ đơn giản là truyền đạt nội dung thành tựu của sử học mà còn phải sử dụng các phương pháp của sử học và đặt ra các vấn đề cho sử học.

Chẳng hạn ở chương trình về Oda Nobunaga nói trên, thay vì xác lập một chủ đề “bất động” và tiến hành diễn giải, minh họa cho chủ đề, NHK đã thiết lập một chủ đề “động” dưới hình thức “vấn đề” (một câu hỏi): “Tại sao Oda Nobunaga lại có thể thắng dễ dàng nhiều đối thủ khác trong các trận chiến trong khi có số lượng quân lính ít hơn?”.

Để làm rõ vấn đề này, NHK đã cho các học sinh tham gia chương trình tiến hành các hoạt động:

– Điều tra thực địa (đến tận nơi diễn ra trận chiến để quan sát địa hình và xác định vị trí các bên bố trí trận địa)
– Phỏng vấn chuyên gia (nhà sử học chuyên nghiên cứu về Oda Nobunaga)

– Trải nghiệm (học sinh được cầm súng mô hình kê lên hàng rào chống kỵ binh của Oda Nobunaga để hiểu lợi thế của việc kê súng lên đó nhắm bắn quân địch so với việc tì súng lên vai).

Cuối cùng nhà sử học đưa ra kiến giải của bản thân và nêu ra vài giả thuyết khác.

Như vậy, đủ thấy sự khác biệt cơ bản giữa cách làm của VTV (Việt Nam) và NHK (Nhật Bản).

Tư duy của phía VN là truyền đạt tri thức có kết luận trong khi phía NHK là đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và mở ra vấn đề khác (không có kết luận cuối cùng).

Cách thức truyền đạt tri thức của phía VN là dùng nhạc, hình, nghệ sĩ để tạo cảm hứng, truyền tải sao cho hiệu quả thông tin dự tính tới người tiếp nhận. Trong khi cách thức giải quyết vấn đề đặt ra của NHK là dựa trên cơ chế làm việc của nhà sử học: thiết lập chủ đề, tìm kiếm tư liệu, xử lý tư liệu (điền dã, phỏng vấn…), tham chiếu các nghiên cứu khác ….

Không gian học tập của VTV7 chỉ là lớp học thuần túy trong khi ở NHK rất rộng: lớp học, di tích lịch sử, bảo tàng, vườn trường

Trục thời gian lịch sử trong chương trình của VTV7 có tính đơn tuyến-quá khứ thuần túy, bó hẹp trong giai đoạn Hùng Vương-rất xa và không tạo ra mối liên hệ với cuộc sống của học sinh. Trong khi đó trục thời gian lịch sử trong chương trình của NHK có tính “phức tuyến”, “đa chiều”: xuất phát từ hiện tại nhìn về quá khứ, rồi lại từ quá khứ trở lại hiện tại, tương lai (giai đoạn lịch sử tiếp theo thời Chiến quốc).

Trục thời gian của NHK gợi nhắc đến câu nói nổi tiếng của nhà sử học người Anh, H.Carr trong tác phẩm kinh điển “Lịch sử là gì?” được giới sử học trên thế giới đồng cảm ““lịch sử là quá trình tương tác liên tục giữa nhà sử học và sự thật, là sự đối thoại về những gì chưa dứt giữa hiện tại và quá khứ”.

Nói một cách ngắn gọn trong khi VTV coi các yếu tố giải trí như là xương sống của chương trình thì đối với NHK nó chỉ đóng vai trò như màn dạo đầu, lấp thời gian khi chuyển cảnh, chuyển không gian hoạt động của học sinh và khép lại chương trình.

Điều thú vị nữa là các học sinh tham gia trong chương trình của NHK được giới thiệu là những học sinh vốn “học kém môn lịch sử”.

 

Nguyễn Quốc Vương 

 

Advertisements

Đằng sau cuộc viếng thăm của Tổng thống Obama tới Hiroshima

May 29, 2016 Leave a comment

 

Obama là tổng thống Mĩ đương nhiệm đầu tiên đến thăm công viên kỉ niệm hòa bình Hiroshima. Đằng sau chuyến thăm lịch sử tới vùng đất bị ném bom nguyên tử được cả thế giới chú ý là yêu cầu của phía Mĩ đưa ra trong cuộc trao đổi trước đó giữa chính phủ Mĩ và chính phủ Nhật muốn nó được diễn ra dưới “hình thức trọng thể”.
Cả hai chính phủ Nhật-Mĩ đã có sự bàn bạc chi tiết về việc đặt hoa tưởng niệm hay đi bộ của tổng thống Obama và thủ tướng Abe khi đến tấm bia tưởng niệm các nạn nhân bị bom nguyên tử, bài diễn văn của Tổng thống Obama cũng như các bức ảnh, đoạn phim phát ra thế giới.

Tham quan tòa nhà bị bom nguyên tử như thế nào?

Theo thông tin từ phía ngoại giao thì chính phủ Mĩ yêu cầu cuộc viếng thăm ở công viên kỉ niệm hòa bình sẽ phải “diễn ra trong bầu không khí nghiêm trang” và khác với cuộc viếng thăm của Bộ trưởng ngoại giao các nước G7 trong đó có Bộ trưởng ngoại giao Mĩ Kerry vào tháng 4. Trong cuộc viếng thăm của các bộ trưởng ngoại giao G7, học sinh tiểu học ở địa phương đã phất cờ các nước để chào đón và các bộ trưởng mỉm cười vẫy tay chào lại.

Trong cuộc viếng thăm của Tổng thống Obama, phương án thủ tướng Abe sẽ cùng với tổng thống Obama tới đặt hoa tại bia tưởng niệm các nạn nhân bom nguyên tử được đưa ra tuy nhiên phía Mĩ yêu cầu chỉ có tổng thống Obama đặt hoa viếng. Vì thế mà hình ảnh đưa ra chỉ có cảnh Tổng thống Obama đứng một mình im lặng trước tấm bia tưởng niệm

Người của chính phủ Nhật Bản cho rằng “có lẽ đó là sự cân nhắc để tạo ra ấn tượng về quyết định thăm Hiroshima của Tổng thống Obama hướng đến xóa bỏ vũ khí hạt nhân”. Thay cho việc cả hai lãnh đạo cấp cao cùng đặt hoa, cả hai sẽ cùng đứng trước bia tưởng niệm sau khi đặt hoa xong để thể hiện trước thế giới rằng đồng minh Nhật-Mĩ đã vượt qua bi kịch.

Phía Mĩ đã thể hiện mối quan tâm tới việc tham quan tòa nhà bị bom nguyên tử nhưng để tránh đi qua nơi gần khu đất thuộc sở hữu của người dân nơi khó đảm bảo an ninh nghiêm ngặt, hai bên đã quyết định hai người sẽ cùng đi bộ từ bên trong công viên cho tới nơi quan sát tòa nhà bị bom nguyên tử.

Việc bàn bạc về thời gian có mặt và các địa điểm tham quan ở Bảo tàng tư liệu về bom nguyên tử đã gặp nhiều khó khăn. Cuộc trao đổi trước đó ở hiện trường đã diễn ra trong gần 2 tiếng đồng hồ dưới ánh nắng gay gắt.

Việc trao hạc giấy cho học sinh là tình huống bất ngờ

Đằng sau bối cảnh như thế là “tình thế phải cân nhắc tới ý kiến trong lòng nước Mĩ khẳng định tính chính đáng của việc ném bom nguyên tử” (theo nguồn tin từ văn phòng thủ tướng).

Chính phủ Nhật cũng không công khai trước kế hoạch tổng thống Obama tiến lại gần các nạn nhân bị bom nguyên tử. Ngoài ra các quan chức cao cấp của chính phủ Nhật cũng chỉ biết việc diễn văn của Tổng thống Obama sẽ kéo dài từ vài phút theo như dự định ban đầu thành 17 phút ngay trước khi nó diễn ra.

Tổng thống Obama cũng thể hiện cả hành động rất bất ngờ. Ở bảo tàng tư liệu về bom nguyên tử, đột nhiên tổng thống trao cho hai học sinh tiểu học ra đón hai con hạc giấy do ông tự gấp. Thủ tướng Abe buột miệng hỏi “Tổng thống gấp phải không?”. Một trong những người đi cùng kể lại “Thật bất ngờ khi tổng thống lấy ra hạc giấy. Không rõ ông gấp khi nào”.

Có thể thấy phía Mĩ mà tổng thống Obama là đại diện đã cân nhắc thật kĩ từ đầu đến cuối về những gì thuộc về Hiroshima.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Sankei.

http://www.sankei.com/politics/news/160529/plt1605290008-n2.html

Tổng thống Mĩ thăm Hiroshima: Tái hướng đến một thế giới không có hạt nhân

May 28, 2016 Leave a comment

 

“Không phải là sự căm thù hay là sự đòi hỏi xin lỗi. Những người tôi yêu thương đã mất vì bom nguyên tử còn bản thân tôi thì sống sót. Thật có lỗi. Tôi phải làm gì đây? Đấy là việc không lặp lại sự việc khủng khiếp đó nữa, là việc xóa bỏ vũ khi hạt nhân. Không phải là chuyện căm thù. Đây chỉ là cảm quan sứ mệnh về những người đã chết mà thôi”.

Ogura Keiko, 78 tuổi, nạn nhân của bom nguyên tử ở thành phố Hiroshima đã kể lại trải nghiệm bị bom nguyên tử của mình bằng tiếng Anh cho 1500 người nước ngoài nghe trong mỗi năm dù bản thân đã cao tuổi. Ý kiến của những người là nạn nhân của bom nguyên tử rất đa dạng nhưng không thể nói rằng tiếng nói yêu cầu phải xin lỗi là mạnh mẽ.

Tâm tình của những nạn nhân này có phải chăng đã bị chính phủ Mĩ hiểu sai trong nhiều năm? Có phải chính phủ Mĩ lo ngại sẽ xảy ra việc yêu cầu xin lỗi, một yêu cầu quá mức, nên đã không đến gần những nơi bị ném bom nguyên tử?

Hòa giải vượt qua “thần thoại”

Chúng tôi muốn sự “hiểu lầm” của cả hai bên chấm dứt.

Ngày 27, công viên kỉ niệm hòa bình Hiroshima đang bình yên trong buổi chiều tà đã chào đón thời khắc lịch sử. Tổng thống Mĩ Obama với thân hình cao lớn đã bước lại gần tấm bia tưởng niệm những nạn nhân bom nguyên tử, đặt hoa và nhắm mắt lại. Đây là cuộc viếng thăm đầu tiên của vị tổng thống Mĩ đương nhiệm. Đây là khoảnh khắc mà phần lớn người Nhật Bản bao gồm cả những nạn nhân bom nguyên tử chờ đợi suốt 70 năm qua.

Chúng tôi đánh giá cao quyết định của tổng thống Obama khi ông đã vượt qua nhiều trở ngại để đến Hiroshima cho dù ở nước Mĩ vẫn có ý kiến phản đối hay chủ trương thận trọng. Trong tuyên bố sau khi đặt hoa tưởng niệm, ông một lần nữa lại nêu lên sự cần thiết của việc từ bỏ toàn bộ vũ khí hạt nhân và bày tỏ rằng “Hiroshima-Nagasaki” nên là điểm xuất phát của “sự tự giác mang tính đạo lý” của nhân loại.

Trong lễ kỉ niệm cũng có cảnh tổng thống Obama ôm chặt nạn nhân bom nguyên tử đang khóc đẫm nước mắt. Cho dù chúng ta mong muốn tổng thống sẽ dành thời gian nhiều hơn để đối thoại với những nạn nhân và trong tuyên bố sẽ có phương án cụ thể nhưng dường như nỗi niềm của Nhật-Mĩ hơn 70 năm qua đã hướng về phía được giải tỏa. Chúng tôi muốn coi ngày này là điểm tái xuất phát mới hướng đến “thế giới phi hạt nhân”.

Các chính quyền trước đó của nước Mĩ coi việc viếng thăm các vùng đất bị ném bom nguyên tử là điều cấm kị. Tổng thống Truman, người đã ra lệnh ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki năm 1945 đã từng nói rằng việc dùng bom nguyên tử giúp kết thúc sớm chiến tranh và “cứu mạng cho rất nhiều thanh niên (binh sĩ) Mĩ”.

Năm 2007, quan chức cao cấp của chính quyền Bush đã thể hiện quan điểm rằng bom nguyên tử đã cứu mạng hàng vạn người của phía Đồng minh và hàng trăm vạn người Nhật. Vì vậy mà không cần thiết phải xin lỗi hay thăm viếng những nơi bị ném bom nguyên tử.
Tuy nhiên, cho dù trong chủ trương nhất quán đó có lô-gic nhất định nào đó thì cũng vẫn không thể nào xóa bỏ được sự thật rằng hai quả bom nguyên tử lần đầu tiên được sử dụng trong lịch sử loài người đã giết hại hàng chục vạn người dân và để lại di chứng nặng nề cũng như nỗi đau tinh thần cho nhiều người khác. Có lẽ vấn đề xin lỗi hay không xin lỗi chủ yếu là vấn đề của nước Mĩ. Nhưng, nếu như nhìn nhận sự thật đó một cách nhẹ nhàng thì dù thế nào lô-gic này của nước Mĩ cũng thiếu tính nhân đạo.

Sự giải thích khó khăn của nước Mĩ, thứ “thần thoại” liên quan đến hành động ném bom nguyên tử nên chấm dứt. Ở thời điểm tổng thống Obama diễn thuyết về ý tưởng “thế giới phi hạt nhân” và nêu rõ “Nước Mĩ với tư cách là nước duy nhất sử dụng vũ khí hạt nhân có trách nhiệm đạo lý đối với hành động đó” thì “thần thoại” đã chao đảo mạnh. Chúng tôi cho rằng bằng chuyến thăm của tổng thống Obama tới Hiroshima, một chân trời mới đã mở ra vượt qua “thần thoại”.

Năm 1944, khi đang xảy ra chiến tranh, liên quan tới vấn đề “Tube Alloys” (bom nguyên tử), Tổng thống Mĩ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchil sau khi “thảo luận kĩ” đã thống nhất với nhau rằng sẽ không sử dụng đối với Đức mà sẽ dùng ở Nhật. Đằng sau chuyện đó là tình hình phức tạp không thể giải thích chỉ bằng “thần thoại” của phía Mĩ.

Đối với bóng tối của lịch sử đó Nhật-Mĩ cần phải trao đổi ý kiến chân tình.

Vai trò của Nhật Bản “hậu Obama”

Nhưng, “thế giới phi hạt nhân” còn rất xa xôi. Mối quan hệ Mĩ-Nga vẫn tiếp tục xấu và Trung Quốc không có động thái nào đối với việc cắt giảm vũ khí hạt nhân. Sự mở rộng vũ khí hạt nhân của Ấn Độ, Pakistan những nước không tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) cũng là điều khó chịu.

Vấn đề hạt nhân của Iran cho dù đã nhìn thấy kết luận thì sự xung đột với Israel- nước chắc chắn sở hữu vũ khí hạt nhân vẫn đáng lo ngại. Trên hết việc Bắc Triều Tiên phát triển đầu đạn hạt nhân loại nhỏ và trắng trợn đe dọa cộng đồng quốc tế là nguồn gốc chính của nỗi bất an.

Thêm nữa, người ta cho rằng chính quyền Obama đã dùng một khoản ngân sách khổng lồ là 1000 tỉ đô la trong vòng 30 năm tới để hiện đại hóa vũ khí hạt nhân. Cũng không thể bỏ qua khả năng sự đối lập Trung-Nga có thể phát triển thành chạy đua vũ trang. So với thời điểm Tổng thống Obama nhận giải Nobel hòa bình vào năm 2009 thì bầu không khí xóa bỏ vũ khí hạt nhân đã nguội lạnh và thế giới rõ ràng đang ở trong tình trạng nguy hiểm.

Nhưng, không được coi việc viếng thăm của Tổng thống Obama đến Hiroshima đơn thuần chỉ là nghi thức. Nhiệm kỳ của tổng thống Obama còn 8 tháng nữa. Chúng tôi mong rằng tổng thống sẽ sử dụng thời gian còn lại để tạo ra di sản (sự nghiêp chính trị) cụ thể tạo ra bước tiến tới “thế giới phi hạt nhân”.

Cả giá trị thực sự của Nhật Bản, nước duy nhất bị ném bom nguyên tử cũng trở thành vấn đề đặt ra. Nếu như Trump (Đảng cộng hòa), người công nhận vũ trang hạt nhân của Nhật, Hàn trở thành tổng thống tiếp theo, cũng có thể ý tưởng về “thế giới phi hạt nhân” sẽ lại trở thành tờ giấy trắng. “Hậu Obama”, cần phải giác ngộ rằng Nhật Bản sẽ trở thành người chủ đạo trong phong trào hướng tới “thế giới phi hạt nhân”.

Điều đáng lo lắng là nhận thức nguy cơ và cái nhìn luân lý xung quanh vấn đề hạt nhân đang trở nên hời hợt trên phạm vi thế giới. Năm nước được công nhận là nước sở hữu vũ khí hạt nhân trong hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân có xu hướng thể hiện đặc quyền và không chịu nỗ lực trong việc cắt giảm vũ khí hạt nhân.
Những động thái như những nước không có vũ khí hạt nhân từ bỏ Hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân và xây dựng hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân cũng không phải là không tưởng.

Chúng tôi muốn coi chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Hiroshima là cơ hội. Chúng ta phải phòng chống việc tự hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân như thế nào? Điều cần thiết là cái nhìn với tư cách là “nhân loại” và điều cần học hỏi chính là “cảm quan về sứ mệnh” của những nạn nhân bị bom nguyên tử.

Nguyễn Quốc Vương dịch
Nguồn: xã luận báo Maichini ngày 28.5.2016.

Quá ngột ngạt, giáo viên thỉnh cầu Bộ trưởng Giáo dục

May 19, 2016 Leave a comment

– Trao đổi với VietNamNet về hiện tượng “tâm thư giáo viên gửi Bộ trưởng Giáo dục”, anh Nguyễn Quốc Vương, một thầy giáo Lịch sử hiện đang làm nghiên cứu về lịch sử giáo dục ở Nhật Bản cho rằng sự ngột ngạt của người thầy hiện nay là rất lớn.

Thay đổi vụn vặt làm rối loạn hiện trường giáo dục

Anh có quan sát gì về hiện tượng tâm sự, thỉnh cầu của giáo viên gửi Bộ trưởng Giáo dục trong thời gian gần đây?

Đối với tôi, hiện tượng này rất dễ hiểu và không có gì đáng ngạc nhiên.

Sự bức xúc, bất an ở giáo viên là một thực tế. Từ thực tế đó, họ khao khát thay đổi bởi có lẽ họ đã từng thất vọng nhiều lần với các cuộc “cải cách” và gánh chịu hậu quả.

Sự vận hành của hệ thống giáo dục Việt Nam dựa trên bộ máy hành chính giáo dục có tính “trung ương tập quyền” – tức là quyền lực của các bộ, sở mạnh – và mang nặng tính “quan liêu” theo chiều dọc từ trên xuống, tính phân quyền và tự chủ địa phương yếu.

Vì thế, những vấn đề của giáo dục cuối cùng sẽ đè lên vai giáo viên và học sinh – những người đứng cuối cùng trong hệ thống thang bậc này.

Sự ngột ngạt, bức xúc của giáo viên là rất lớn.

Trong khát vọng thay đổi, người giáo viên sẽ nhìn vào hệ thống hành chính giáo dục đó và đặt kỳ vọng vào bộ trưởng như một lô-gic thông thường và dễ hiểu.

thư gửi Bộ trưởng, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, đổi mới giáo dục, cải cách giáo dục
Học sinh Trường Tiểu học Tỏa Tình (tỉnh Điện Biên) tự học theo nhóm với sự hướng dẫn của giáo viên. Ảnh: Hạ Anh

Trong những điều đó, theo anh đâu là những nút thắt thật sự căn cốt của giáo dục cần được ưu tiên tháo gỡ?

Tôi nghĩ cải cách giáo dục là giải một bài toán đã nhìn thấy kết quả và cách làm.

Một bài toán nhiều người đã giải và đã giải thành công rồi thì không phải là bài toán khó hay bất khả.

Vấn đề đối với Việt Nam là có dám làm quyết liệt, thật sự và làm bằng phương thức nào cho êm đềm, ổn thỏa hạn chế rủi ro, giải quyết được các “di sản” do lịch sử để lại mà thôi.

Nhìn vào lịch sử cải cách giáo dục trên thế giới thì thấy không có cuộc cải cách giáo dục nào nằm ngoài nhu cầu và công cuộc cải cách về chính trị-kinh tế-xã hội.

Khi tư duy về cải cách giáo dục, đặc biệt là các cuộc cải cách giáo dục nhằm giải quyết cơ bản các vấn đề có tính chất trầm trọng, lâu dài, ảnh hưởng lớn thì cần đặc biệt lưu ý đến đặc điểm này. Nếu không, cải cách giáo dục sẽ rơi vào vòng quay bất tận của những sửa chữa và thay đổi vụn vặt làm rối loạn hiện trường giáo dục.

Vậy làm thế nào để tránh được rối loạn này?

Theo tôi, cải cách giáo dục sẽ có hai phương thức cần được tiến hành song song để hỗ trợ, thúc đẩy, tương tác lẫn nhau.

Thứ nhất là “cải cách giáo dục từ trên xuống” tạo ra sự thay đổi từ vĩ mô và trên diện rộng, tác động trực tiếp vào hệ thống giáo dục.

Cải cách này sẽ tạo ra sự thay đổi nhanh, mạnh trên phạm vi lớn nhưng gắn bó chặt chẽ với các cải cách vĩ mô về chính trị – kinh tế-xã hội nên trên thực tế, tính độc lập của nó sẽ bị hạn chế.

Trách nhiệm tiến hành cuộc cải cách này thuộc về các cơ quan nắm giữ quyền lực và những người được giao phó trọng trách trong các cơ quan đó.

Thứ hai là “cải cách từ dưới lên”. Sự thay đổi này được tạo ra bởi chính các giáo viên, học sinh và các trường học.

Trong lý luận và thực tiễn giáo dục hiện đại trên thế giới, ngiáo viên sẽ là người cuối cùng quyết định “dạy cái gì” và “dạy như thế nào” cho học sinh.

Cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” (sách giáo khoa kiểm định) hoặc “tự do sách giáo khoa” hỗ trợ và đảm bảo cho giáo viên nghiên cứu, tiến hành các “thực tiễn giáo dục” của riêng mình.

Bởi thế, mặc dù chia sẻ chung triết lý-mục tiêu giáo dục và dựa trên cùng nền tảng pháp lý, 1.000 giáo viên là 1.000 “thực tiễn giáo dục”.

Các “thực tiễn giáo dục” này tạo ra một dòng chảy làm thay đổi giáo dục và thay đổi đất nước theo hướng tốt đẹp khi tạo ra các công dân hành động ưu tú một cách trực tiếp và bền vững.

Trong hoàn cảnh của Việt Nam, tôi nghĩ không chỉ trông chờ vào “cải cách từ trên xuống” và giáo viên cần phải chủ động, tích cực tạo ra “cải cách từ dưới lên”.

Đương nhiên, hoàn cảnh Việt Nam có nhiều điểm khác với thế giới gây ra sự bất lợi cho người giáo viên muốn cải cách nhưng muốn có sự thay đổi tốt đẹp thì người giáo viên phải hành động và sáng tạo.

Phụ huynh, học sinh cần ủng hộ và trợ giúp các giáo viên như thế.

Không gì mạnh hơn “thực tiễn giáo dục”

Có điều gì anh thấy chưa ổn từ những bức thư, những dòng tâm sự?

Đã từng là giáo viên phổ thông nên tôi thấy những lá thư của thầy cô là rất thật, cho dù có thể có nhiều vấn đề búc xức khác thầy cô chưa tiện trình bày.

Nói ra sự thật rất khó. Tâm lý e ngại, sợ sệt cấp trên, đồng nghiệp, sợ cuộc sống cá nhân bị ảnh hưởng tồn tại trong một thời gian dài và đè nặng hàng ngày làm cho giáo viên sợ nói ra những điều mà “ai cũng biết cả nhưng không ai nói”. Nhiều người dám nói ra vì sự thôi thúc nội tâm và sau đó trả giá đắt đã khiến cho giáo viên thường chọn im lặng hoặc an phận.

Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng hiện tượng những lá thư như thế cũng nói lên một phần nào đó nhận thức về cơ hội thay đổi “từ dưới lên” chưa thật sự sâu sắc.

Ngay cả trong những nền giáo dục dân chủ và tiên tiến nhất cho dù trách nhiệm của bộ trưởng giáo dục là rất lớn thì mọi sự thay đổi tốt đẹp của giáo dục cũng không phải hoàn toàn đến từ các mệnh lệnh hay chỉ đạo của bộ trưởng.

Ngay cả cải cách giáo dục “từ trên xuống” cũng sẽ không đi đến đâu nếu vấp phải sự bảo thủ từ giáo viên. Suy cho đến cùng, chính các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy mới là các “nhà cải cách giáo dục”.

Ở Việt Nam, nhìn vào lịch sử nước nhà thì thấy hầu như các thay đổi tốt đẹp ban đầu đều bắt nguồn từ các sự kiện có tính chất “tự phát”, “cá nhân”, “mô hình” thậm chí là “xé rào”, “khoán chui”…

Không gì mạnh hơn thực tiễn. Nếu các “thực tiễn giáo dục” được tạo ra và có hiệu quả tôi nghĩ tác động xã hội của chúng rất lớn.

Từng là giáo viên, và nay đang nghiên cứu ở lĩnh vực giáo dục – lịch sử, anh có định viết thư hoặc bày tỏ nguyện vọng gì với tân Bộ trưởng Giáo dục?

Trách nhiệm của bộ trưởng sẽ nằm ở phía “vĩ mô” nhằm tạo ra, thúc đẩy cuộc cải cách từ trên xuống.

Giáo viên, những người làm giáo dục cần phải tận dụng các cơ hội, các điều kiện thuận lợi để cải cách từ dưới lên.

Nhiều người thường nghĩ giáo viên Việt Nam yếu kém về phương pháp dạy học nên chất lượng giáo dục thấp. Tôi thì không cho là như vậy.

Giáo viên Việt Nam thực ra rất giỏi về kĩ thuật dạy học và học rất nhanh. Chỉ có điều, việc tiếp cận với thông tin về giáo dục thế giới từ lý luận đến các thực tiễn khá hạn chế.

Điều này làm hạn chế cái nhìn rộng hơn những gì xảy ra xung quanh. Trong lối tư duy đó nhiều giáo viên sẽ “tự nhận” mình là “lính” trong khi gọi bộ trưởng là “tư lệnh”.

Nhưng tôi nghĩ giáo viên là người thầy-một người làm công việc đầy tính chủ động, tự chủ và sáng tạo thay vì máy móc thực hiện các mệnh lệnh hành chính của cấp trên.

Muốn cải thiện tư duy này trong khi công tác đào tạo giáo viên chưa có nhiều cải cách đáng kể, giáo viên cần phải tự cứu mình thông qua con đường tự học. Sự phổ cập internet và các phương tiện xuất bản khác là một điều kiện tốt để giáo viên tự tìm lấy đường đi.

Xin cảm ơn anh!

VN xếp sau Trung Quốc về số lượng lưu học sinh ở Nhật

May 14, 2016 Leave a comment

Theo kết quả điều tra của Cơ quan hỗ trợ sinh viên Nhật Bản có tư cách pháp nhân hành chính độc lập, năm 2015 lần đầu tiên số lượng lưu học sinh người nước ngoài học ở Nhật vượt con số 20 vạn, mức cao nhất từ trước đến nay.

Tuy nhiên việc thực hiện mục tiêu tăng số lượng lưu học sinh nước ngoài lên 30 vạn vào năm 2020 của chính phủ sẽ gặp khó khăn căn cứ vào tình hình hiện tại.

Số lượng lưu học sinh người nước ngoài học tại Nhật Bản năm 2015 là 208.379 người, tăng 24.224 người so với năm trước (13.2%).

Đây là năm thứ ba liên tục số lượng lưu học sinh người nước ngoài ở Nhật Bản gia tăng.

Cụ thể, có 152.062 người học tại các trường cao đẳng, đại học, sau đại học, 56.317 người học tại các trường Nhật ngữ.

Tỉ lệ lưu học sinh người nước ngoài phân chia theo quốc tịch như sau: Trung Quốc (45.2%), Việt Nam (18.7%), Nepal (7.8%), Hàn Quốc (7.3%), Đài Loan (3.5%), Indonesia (1.7%), Myanmar (1.3%), Malaisia và Mĩ (1.2%). 97, 2% số lưu học sinh người nước ngoài ở Nhật là người châu Á, 1.3% là người Âu Mĩ, 0.8% là người Trung Đông, 0.7% là người châu Phi, trung nam Mĩ, 0.3% là người châu Đại Dương.

Đặc trưng nổi bật là số lượng du học sinh người châu Á chiếm trên 90%.

So với năm trước số lượng lưu học sinh người Trung Quốc và Hàn Quốc suy giảm trong khi lưu học sinh các nước khác lại tăng mạnh như: Nepal (55.5%), Việt Nam (47.1%), Mynamar (42.4%). Nhìn vào con số này có thể thấy học sinh đến từ các nước đang phát triển ở châu Á này đang quan tâm tới Nhật Bản.

Tỷ lệ lưu học sinh học phân chia theo chủng loại trường học như sau:ở bậc sau đại học: Quốc lập (61.7%), công lập (4.4%), tư thục (33.9%); bậc đại học: quốc lập (16.3%), công lập (2.6%), tư thục 81.1%.

Ở bậc sau đại học trường đại học quốc lập tiếp nhận khoảng 60% lưu học sinh trong khi ở bậc đại học các trường đại học tư thục thu hút trên 80% lưu học sinh.

Tỷ lệ lưu học sinh người nước ngoài phân chia theo khu vực cư trú như sau: Kanto (49.9%), Kinki (18.1%), Kyushu (12.0%), Chubu (9.7%), Chugoku (4.7%), Tohokku (2.6%), Hokkaido (1.8%), Shikoku (1%). Lưu học sinh chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn và nó đặt ra các vấn đề cần phải giải quyết từ giờ về sau.

Tỷ lệ lưu học sinh phân chia theo lĩnh vực học tập như sau: Khoa học xã hội (36.2%), khoa học nhân văn (24.8%), Kĩ thuật công nghệ (16.2%), nghệ thuật (3.7%), nông học (2.2%). Nhìn tổng thể lĩnh vực xã hội- nhân văn thu hút trên 60% lưu học sinh.

Chính phủ Nhật Bản hiện đang theo đuổi mục tiêu đạt “30 vạn lưu học sinh” vào năm 2020 tuy nhiên theo dự đoán mục tiêu này sẽ rất khó đạt được. Những đặc điểm nhìn thấy từ cuộc điều tra như lưu học sinh chủ yếu đến từ các nước châu Á, lĩnh vực học tập được quan tâm nhất là khoa học xã hội-nhân văn sẽ trở thành những yếu tố cân nhắc quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách thu hút lưu học sinh của Nhật Bản trong thời gian tới.

Có lẽ cần phải suy nghĩ về chính sách lưu học sinh đáp ứng nhu cầu của lưu học sinh người nước ngoài trên cơ sở suy nghĩ lại về hiện thực như lưu học sinh chủ yếu đến từ các nước châu Á, lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu là xã hội nhân văn.

  • Nguyễn Quốc Vương(theo Sankei)

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/du-hoc/303931/vn-xep-sau-trung-quoc-ve-so-luong-luu-hoc-sinh-o-nha-t.html

Cá chết, người nhiễm bệnh: Nước Nhật từng trả giá rất đắt

May 8, 2016 Leave a comment

Trước sức ép ngày càng mạnh của dân chúng và giới trí thức, các biện pháp toàn diện đã được thực thi tích cực.Có lẽ người Việt Nam nào khi đến hoặc sống ở Nhật cũng đều chia sẻ chung ý nghĩ “nước Nhật có môi trường thật tuyệt”. Nhưng hơn nửa thế kỉ trước, nước Nhật cũng đã từng đối mặt với ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và phải trả giá cho chúng.

Từng trả giá đắt cho ô nhiễm

Vụ ô nhiễm công nghiệp quy mô lớn đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử Nhật Bản là vụ ô nhiễm ở mỏ đồng Ashio, thành phố Nikko, tỉnh Tochigi. Mỏ đồng được phát hiện năm 1550 và bắt đầu được khai thác theo quy mô công nghiệp vào thời Minh Trị. Đến đầu thế kỉ XX, ước tính sản lượng đồng khai thác được ở đây chiếm tới 25% sản lượng đồng toàn Nhật Bản.

Hoạt động khai khoáng đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường khủng khiếp kéo dài hơn một thế kỉ ở lưu vực sông Watarase thuộc hai tỉnh Gunma và Tochigi. Khí độc và mưa a-xít đã làm cho các làng mạc xung quanh biến thành hoang mạc, không cây cỏ nào sống nổi và các ngọn núi bị lở loét.

Nước mưa cuốn đất bị nhiễm độc ở mỏ đồng xuống sông làm chết cá và tràn vào đồng ruộng làm nhiễm độc đất canh tác. Ngay dưới thời Minh Trị đã có hàng trăm người nhiễm độc. Cho đến tận năm 1971, gạo ở khu vực quanh mỏ đồng qua kiểm tra vẫn nhiễm Cadimi.

Tiếp đó, trong những năm 60-70 của thế kỉ XX, khi nền kinh tế nước Nhật tăng trưởng cao độ làm thế giới kinh ngạc, bốn vụ ô nhiễm môi trường tàn khốc đã xảy ra. Chúng được đặt tên theo tên bốn căn bệnh gây ra cho người dân sống trong khu vực ô nhiễm “Bệnh Minamata” (lần 1), “Bệnh Minamata 2”, “Bệnh hen ở thành phố Yokkaichi” và “Bệnh Itaiitai”.

Vụ ô nhiễm “Bệnh Minamata” lần 1 diễn ra ở vịnh Minamata thuộc tỉnh Kumamoto. Thủy ngân từ nước thải của nhà máy công nghiệp đã làm nhiễm độc cá, người dân ăn cá và bị nhiễm bệnh, chủ yếu là các căn bệnh về thần kinh. Vụ ô nhiễm “bệnh Minamata” lần 2 diễn ra ở lưu vực sông Agano, tỉnh Niigata và cũng gây ra hậu quả khủng khiếp tương tự.

“Bệnh hen ở thành phố Yokkaichi” là hậu quả của việc các nhà máy ở thành phố Yokkaichi tỉnh Mie thải ra khí độc gây nên các bệnh về đường hô hấp. “Căn bệnh Itaiitai” phát sinh do gạo và các thực phẩm khác bị nhiễm Cadimi ở tỉnh Toyama.

Nước Nhật đã phải mất nhiều tiền của, công sức và một khoảng thời gian tương đối dài để giải quyết hậu quả của của năm vụ ô nhiễm trên. Chẳng hạn tại mỏ đồng Ashio (đóng cửa năm 1973), quá trình khắc phục hậu quả ô nhiễm, phủ xanh mỏ đồng và biến nơi đây thành khu du lịch hiện vẫn đang được tiến hành.

Trong vụ ô nhiễm “bệnh Minamata 1”, Nhật Bản cũng mất 23 năm để đánh bắt và tiêu hủy hết số cá đã nhiễm độc trong vịnh, mất 13 năm để xử lý số bùn nhiễm độc dưới lòng vịnh.

Cá chết hàng loạt, Ô nhiễm môi trường, Nhật Bản, Fukushima, Thảm họa kép Nhật BảnCá chết hàng loạt, Ô nhiễm môi trường, Nhật Bản, Fukushima, Thảm họa kép Nhật Bản
Khách tham quan trước những bức ảnh các nạn nhân của “bệnh Minamata” tại triển lãm. Ảnh: Hereandnow.wbur.org

Sức ép từ người dân

Khi ô nhiễm xảy ra, phản ứng của chính phủ lúc đầu tương đối chậm chạp, bởi đằng sau đó là mối quan hệ chằng chéo giữa giới chính trị và giới công nghiệp cũng như tư duy ưu tiên mục tiêu phát triển kinh tế. Tuy nhiên trước sức ép ngày càng mạnh của dân chúng và giới trí thức, các biện pháp toàn diện đã được thực thi tích cực.

Sau khi “Luật môi trường cơ bản” ra đời năm 1993, hàng loạt các bộ luật và quy chế liên quan đến môi trường liên tiếp được ban hành.

Người dân, từ chỗ phản ứng với các vụ ô nhiễm môi trường một cách lẻ tẻ đã tập hợp lại, lập ra các tổ chức bảo vệ môi trường, các tổ chức dân sự để đấu tranh, với nhiều hình thức như biểu tình, hội họp, báo chí và khởi kiện đòi bồi thường.

Chẳng hạn, năm 1987, trong phiên toà lần thứ ba, những nạn nhân của căn bệnh Minamata đã thắng trong vụ kiện nhà nước và chính quyền tỉnh Kumamoto.

Trong các vụ ô nhiễm khác, người dân Nhật cuối cùng cũng giành được thắng lợi trong hành trình tìm công lý, buộc các công ty gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại và có các biện pháp khắc phục hậu quả.

Tạo ra những “công dân hành động”

Cơ chế dân chủ trong giáo dục Nhật Bản với sự phân tán quyền lực trong hành chính giáo dục và cơ chế kiểm định sách giáo khoa, thừa nhận “thực tiễn giáo dục” của giáo viên đã giúp cho giáo dục trường học ở Nhật Bản ứng phó nhanh và hiệu quả với ô nhiễm môi trường.

Cá chết hàng loạt, Ô nhiễm môi trường, Nhật Bản, Fukushima, Thảm họa kép Nhật Bản

Mỏ đồng Ashio hiện  tại đã trở thành điểm du lịch. Đây là thác nước nhân tạo đổ vào hồ nước trước khia là hồ nước thải. Ảnh: Nguyễn Quốc Vương

Thuật ngữ “giáo dục môi trường” được bắt đầu sử dụng ở Nhật Bản những năm 70 của thế kỷ XX và sau đó ngày càng phổ biến. Giáo dục môi trường được tiến hành thông qua tất cả các môn giáo khoa và các hoạt động giáo dục tại trường học. Trường học không chỉ giúp học sinh có được các tri thức, kĩ năng mà còn chú trọng giáo dục nên thái độ, mối quan tâm tới môi trường và hành động tạo ra môi trường tốt hơn.

Những mục tiêu trên được thực hiện thông qua suốt 3 cấp học, với từng cấp có sự phân công trọng tâm riêng phù hợp. Ví dụ học sinh lớp 1-5 tiểu học sẽ được giáo dục cảm thụ, trải nghiệm thiên nhiên. Học sinh lớp 6 (tiểu học) và học sinh THCS sẽ được giáo dục nhận thức về các vấn đề môi trường mà bản thân và cộng đồng đang đối mặt để nắm được “mối quan hệ nhân quả, năng lực nắm vững mối quan hệ tương hỗ và năng lực giải quyết vấn đề”.

Ở bậc học THPT, học sinh được giáo dục tư duy tổng hợp về các vấn đề môi trường, tư duy phê phán, sự lựa chọn thông minh, ý chí quyết định, thái độ và năng lực tham gia tích cực, chủ động vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường.

Các giáo viên đã cùng học sinh thiết lập chủ đề học tập về môi trường và tiến hành các hoạt động học tập dựa trên các thông tin, dữ liệu thu thập được từ tài liệu và đặc biệt là từ điều tra thực tế ở địa phương. Chẳng hạn khi học về nước và ô nhiễm nguồn nước, giáo viên thường dẫn học sinh trực tiếp tham quan các nhà máy nước sạch, nhà máy xử lý nước thải, điều tra tình trạng ô nhiễm ở các ao hồ, sông ở gần trường…

Các giờ học được diễn ra dưới hình thức thảo luận, tranh luận và có trưng bày các sản phẩm thu được như sách tự viết, tạp chí, báo tự làm. Kết thúc chủ đề học tập, học sinh có thể tóm tắt kết quả học tập, viết thư, nguyện vọng, phương án giải quyết ô nhiễm, cải thiện môi trường gửi tới tòa thị chính, tòa báo hoặc phân phát cho người dân địa phương.

Có thể nói chính giáo dục trường học ở Nhật Bản đã tạo ra những “công dân hành động”- hạt nhân của phong trào môi trường.

Nguyễn Quốc Vương

Khi tôi đến Nhật vào ngày đầu tiên mười năm trước đây, trong buổi lễ đón tiếp du học sinh, tôi nhớ mãi có một giáo sư phát biểu đại ý rằng “chúng tôi mong các bạn đến đây học cả điều hay và điều dở của nước Nhật. Những điều hay các bạn ứng dụng còn những điều dở thì đừng bao giờ lặp lại”.

Có lẽ câu nói của ông rất đúng với câu chuyện về ô nhiễm môi trường. Nước Nhật trong quá trình phát triển kinh tế công nghiệp đã trả giá đắt vì ô nhiễm môi trường.

Tháng 3/2011, sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima xảy ra sau trận động đất, sóng thần vùng Đông Bắc Nhật Bản đã lại làm người Nhật lo ngại về ô nhiễm môi trường.

Trong bối cảnh ấy, ngay cả nhà văn Murakami Haruki, người vốn sống lặng lẽ, tránh xa đám đông và rất ít trực tiếp đề cập tới “đấu tranh cải tạo xã hội” khi sáng tác cũng lên tiếng mạnh mẽ phản đối điện hạt nhân trong bài diễn văn nhân dịp nhận giải thưởng văn học Ở Barcelona (9/6/2011):

Bây giờ, 66 năm sau vụ ném bom nguyên tử, nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1 đã phát tán phóng xạ suốt 3 tháng và tiếp tục làm ô nhiễm thổ nhưỡng, biển, không khí ở khu vực xung quanh. Chưa có ai biết được khi nào thì chặn được phóng xạ và chặn nó như thế nào. Đây là thảm họa hạt nhân lớn lần thứ hai trong lịch sử mà người Nhật đã trải qua nhưng lần này không phải là chuyện bị ai nó ném bom. Chính người Nhật chúng tôi đã tạo ra, tự tay mình gây ra sai lầm, tự mình làm mất lãnh thổ, tự mình làm hại cuộc sống của bản thân.

Sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima đã gây ra nỗi đau tinh thần dai dẳng khi người dân ở trong phạm vi bán kính 30km tính từ nhà máy phải sơ tán và đến giờ vẫn không thể trở về nhà. Điều đó giải thích tại sao những vần thơ của Wago Ryoichi, một thầy giáo dạy ở ngôi trường gần nhà máy điện nguyên tử Fukushima lại làm cho nhiều người Nhật cảm động đến thế.

Trong những ngày tháng kinh hoàng ấy, Wago Ryoichi đã dùng mạng Twitter phát đi những câu thơ ông viết về quê hương. Chỉ trong một thời gian ngắn, tài khoản của ông có đến hàng vạn người theo dõi.

Xin giới thiệu một vài đoạn thơ của ông. Có lẽ đó cũng là lời cảnh tỉnh chúng ta trong những ngày tháng đầy lo âu này.

“Nhà ga nơi khu phố anh có đổ nghiêng không? Đồng hồ có chỉ đúng thời gian hiện tại? Chúc ngủ ngon. Không đêm tối nào không gọi đến bình minh. Kẻ du hành, người đưa tiễn, người đón đưa, người trở về. Đi nhé, mừng anh trở lại. Chúc ngủ ngon. Xin hãy trả lại nhà ga cho khu phố của tôi”.

“Hãy trả lại phố xưa, hãy trả lại làng, hãy trả lại biển hãy trả lại gió. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại sóng, hãy trả lại cá, hãy trả lại tình yêu, hãy trả lại ánh mặt trời. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại chén rượu, hãy trả lại bà, hãy trả lại lòng tự hào, hãy trả lại Fukushima. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi.”

“Phóng xạ đang rơi

Đêm khuya yên tĩnh”

“Với bạn quê hương là gì?

Với tôi quê hương là tất cả

Tôi sẽ chẳng bao giờ từ bỏ quê hương”

Nguyễn Quốc Vương

 

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/303324/ca-chet-nguoi-nhiem-benh-nuoc-nhat-tung-tra-gia-rat-dat.html

Giáo dục hòa bình – chìa khóa của hòa giải

May 7, 2016 Leave a comment

07/05/2016 – 21:50 PM
Trong suốt 15 năm (1931-1945), nước Nhật đã tiến hành liên tiếp nhiều cuộc chiến tranh xâm lược. Những cuộc chiến tranh ấy đã tạo ra những vết thương sâu sắc và di chứng nặng nề cho cả Nhật Bản và những nước châu Á khác. Tuy nhiên, không đầy 20 năm sau Nhật Bản đã trở lại vũ đài quốc tế đầy ngoạn mục trong tư thế một cường quốc văn minh. Giáo dục – mà trọng tâm là giáo dục hòa bình, đã góp phần giúp Nhật Bản làm nên kỳ tích ấy.

Những “vết đen” của lịch sử

Trong 15 năm tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, quân đội Nhật đã gây nhiều tội ác đối với người dân châu Á và cả đối với người Nhật trong nước. Nhưng phải chờ đến một khoảng thời gian nhất định sau 1945 khi tinh thần của Hiến pháp 1946 thẩm thấu vào quốc dân và một thế hệ học sinh trưởng thành trong nền giáo dục dân chủ, những tội ác đó mới được phơi bày. Các nhà sử học cùng những chứng nhân của lịch sử đã làm rõ những vụ thảm sát của quân đội Nhật, những cuộc đàn áp của chính quyền phát xít nhằm vào những người phản đối chiến tranh. Đấy là vụ thảm sát Nam Kinh, các cuộc bắt bớ, tra tấn và giam cầm của cảnh sát đặc biệt nhằm vào những người Nhật yêu hòa bình, phản đối chiến tranh, tấn bi kịch của người dân Okinawa khi bị đẩy vào giữa hai làn đạn của quân Đồng minh và quân đội Nhật vào những ngày cuối cùng của chiến tranh…

Trong khi tiếp cận những sự thật bi thảm ấy, người Nhật đã đặt ra câu hỏi “Tại sao chiến tranh lại xảy ra?”, “Tại sao người Nhật đương thời đã không thể ngăn chặn nổi chiến tranh?”. Những câu hỏi ấy trở thành tiền đề để người Nhật phản tỉnh nhìn lại quá khứ.

Tôn trọng sự thật

Nước Nhật sau 1945 rất khác so với nước Nhật trước đó. Nếu như trước 1945 chỉ cần ai đó nói những điều trái với thánh chỉ của Thiên hoàng hay quan điểm của chính phủ, họ sẽ bị coi là “phi quốc dân” và trở thành mục tiêu tấn công dưới mọi hình thức. Nhưng ở nước Nhật dân chủ sau 1945, sự đa dạng về tư tưởng được pháp luật bảo hộ. Vì thế, trước một sự thật lịch sử, đặc biệt là những “vết đen” của lịch sử, các nhận thức về nó rất đa dạng. Tuy nhiên, dòng chảy chủ lưu trong khối dân sự vẫn là tinh thần tôn trọng sự thật và hướng sự giải thích sự thật đến các giá trị nhân văn. Tấm bia ở công viên hòa bình Okinawa và tấm bia Hanaoka là sự minh chứng cho điều ấy.

Đối với người Nhật, trận chiến Okinawa (26.3-23.6.1945) giữa quân Nhật và quân đội Đồng minh chủ yếu là quân Mỹ là một tấn thảm kịch. Đây là trận chiến có quy mô lớn nhất trên đất Nhật trong chiến tranh thế giới thứ hai và là cuộc đối đầu quy mô lớn cuối cùng giữa Nhật và Mỹ. Trong trận chiến này cả hai bên đã sử dụng một lượng vũ khí, phương tiện chiến tranh khổng lồ vì thế người Mỹ mô tả cuộc chiến như là “Typhoon of Steel” (Cơn bão thép). Kết quả phía Nhật chết và mất tích hơn 18 vạn người, trong đó có hơn 9 vạn dân thường. Phía Mỹ chết và mất tích hơn 1,2 vạn người. Trong trận chiến đẫm máu này, người dân Okinawa đã bị đẩy vào tấn bi kịch “tự sát tập thể” và bị chính quân Nhật giết hại. Để tưởng niệm các nạn nhân và nguyện cầu hòa bình, năm 1965, công viên quốc gia về dấu tích cuộc chiến Okinawa được xây dựng trên đảo lớn Okinawa với diện tích 81,3km2. Ở đây lưu giữ lại rất nhiều vết tích của cuộc chiến và có cả công viên kỷ niệm hòa bình Okinawa với nhiều tổ hợp công trình như: bia tưởng niệm, bảo tàng tư liệu, tháp hòa bình, nghĩa địa chôn người tử nạn trong cuộc chiến Okinawa…

Bia tưởng niệm khắc hơn 240.000 tên tuổi nạn nhân cuộc chiến Okinawa từ dân thường đến binh lính hai phía tại Công viên Hòa bình Okinawa. Ảnh AFP-JIJI

Thứ trở thành điểm nhấn của tư duy tôn trọng sự thật và hướng đến hòa bình, hòa giải là những tấm bia tưởng niệm dựng trong công viên. Đây là tấm bia nguyện cầu cho thế giới mãi mãi hòa bình, khắc tên toàn bộ những người đã chết không phân biệt dân thường hay quân nhân, người Nhật hay người nước ngoài. Ở đó có tên của người Nhật xếp theo từng tỉnh và tên của người Mỹ, người Triều Tiên, người Anh… Bia được dựng vào tháng 6.1995 nhân kỷ niệm 50 năm kết thúc cuộc chiến Okinawa-Thái Bình Dương. Số người được khắc tên tính đến thời điểm 23.6.2010 là 24.931 người. Ở Hanaoka, tỉnh Akita có một tấm bia khác được dựng cũng với tinh thần như thế. Tấm bia này khắc những dòng chữ:

Trong chiến tranh Thái Bình Dương để bù đắp lực lượng lao động thiếu hụt chính phủ quân phiệt Nhật đã cưỡng bức khoảng 4 vạn người Trung Quốc tới Nhật lao động. Trong số trên có 986 người được đưa vào đội Kagoshima để lao động tại mỏ khai thác khoáng Hanaoka và trong số đó có 8 người đã chết trên đường di chuyển.

Những người này đã bị đưa vào ký túc xá sâu trong núi và phải lao động tàn khốc, sinh hoạt tồi tệ dưới sự giám sát nghiêm ngặt vì thế liên tiếp có người tử vong.

Buổi tối ngày 30.6.1945 khoảng 800 người sống sót đã nhất tề khởi nghĩa. Trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa vòng vây của hiến binh, cảnh sát, quân đồn trú tại địa phương cuối cùng toàn bộ những người Trung Quốc này bị bắt. Quân Nhật đem họ phơi nắng dưới trời nóng thiêu đốt trong sân tòa nhà Kyoraku suốt ba ngày ba đêm không cho ăn uống để điều tra khiến cho nhiều người liên tiếp gục ngã. Vào tháng Bảy số người chết được ghi nhận là 100 nhưng sự bi thảm ở đây không lời nào diễn tả được. Ngày nay Hiệp ước hòa bình quan hệ hữu hảo Nhật-Trung mặc dù đã được ký kết nhưng chúng ta cần phải không quên sự thật trước đó để xây đắp quan hệ hữu hảo không lặp lại chiến tranh giữa hai dân tộc Nhật-Trung.

Tấm bia này được dựng vào tháng 5.1996 trong lễ bế mạc phong trào tìm kiếm hài cốt các nạn nhân của người Trung Quốc để gửi cho người thân của họ với thành viên chủ chốt là các giáo viên trực thuộc Hội Các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản. Sự kiện bi thảm này cũng được nhiều giáo viên ở địa phương đưa vào các giờ học lịch sử.

Thông tin đa chiều, thực chứng

Trong bối cảnh tồn tại nhiều luồng tư tưởng, nhiều nhận thức lịch sử và luôn diễn ra các cuộc tranh luận gay gắt, giáo dục hòa bình đóng vai trò như chiếc chìa khóa hướng đến sự hòa giải và kiến tạo các giá trị văn minh. Ở Nhật giáo dục hòa bình được tiến hành thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục trong trường học. Nó được coi là một trong các trụ cột lớn của giáo dục nhân quyền, giáo dục lý giải quốc tế, giáo dục hòa đồng và giáo dục về giới.

Những chủ đề thường được đưa ra trong giáo dục hòa bình là “vũ lực”, “hậu quả chiến tranh”, “tình hình quốc tế-trong nước”. Khi học về vũ lực, giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được rằng việc dùng vũ lực để giải quyết mọi vướng mắc, mâu thuẫn giữa các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo trên thực tế chỉ đem lại bất hạnh và bi kịch. Khi học về “hậu quả của chiến tranh”, các giờ học tập trung vào sự bi thảm của hai vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima, Nagasaki, trận chiến Okinawa…

Sách giáo khoa lịch sử, nhờ sự đấu tranh bền bỉ của giới sử học và giáo dục lịch sử, đã dần dần được biên soạn với những thông tin ngày càng đa chiều, thực chứng. Ở đó những “vết đen” của lịch sử đã được đề cập.

Lời thề bất biến

Bảy mươi năm sau chiến tranh, nước Nhật đang có những thay đổi lớn trong chính sách ngoại giao và an ninh. Tuy nhiên với người dân Nhật, ba nguyên lý “hòa bình”, “dân chủ”, “tôn trọng con người” mãi mãi không bao giờ thay đổi. Tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử và khoan dung đối với các nhận thức khác biệt để hòa hợp và hòa giải ở Nhật tồn tại và phát triển được là nhờ dựa trên nền tảng ấy. Ngay cả Thủ tướng Abe, người vốn bị dư luận chỉ trích vì những hành động cứng rắn, trong diễn văn kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai (14.8.2015) cũng bày tỏ tinh thần ấy:

… Sự thật là nước ta đã làm cho bao nhiêu người vô tội phải chịu những khổ đau và tổn thất không gì đo đếm được. Lịch sử là thứ khắc nghiệt và không thể nào làm lại. Mỗi người đều đã có cuộc đời, giấc mơ và gia đình yêu mến. Giờ đây, khi nếm trải sự thật đương nhiên này, không biết nói gì hơn ngoài nỗi buồn đau.

Từ những hy sinh quý giá từ trước đến nay ấy mà giờ đây có hòa bình. Đấy là điểm xuất phát của Nhật Bản sau chiến tranh. Không được để cho sự bi thảm của chiến tranh lặp lại lần thứ hai. Sự biến, xâm lược, chiến tranh. Cả sự uy hiếp, sử dụng vũ lực cũng không được dùng như là phương tiện giải quyết tranh chấp quốc tế lần thứ hai. Phải chia tay vĩnh viễn với sự cai trị thực dân và tạo ra thế giới nơi quyền tự quyết của tất cả các dân tộc được tôn trọng.

Cùng với sự ăn năn sâu sắc về cuộc đại chiến trước kia, nước chúng ta đã thề như thế. Chúng ta đã tạo ra đất nước dân chủ và tự do, tôn trọng pháp luật và duy trì lời thề bất chiến. Trước những bước đi với tư cách là quốc gia hòa bình trong suốt 70 năm, chúng ta vừa mang trong mình lòng tự hào điềm tĩnh vừa nhất quán duy trì phương châm không đổi ấy.

Nước chúng ta đã nhiều lần thể hiện sự phản tỉnh thống thiết và cảm xúc hối lỗi về những điều đã làm trong cuộc đại chiến trước đó. Để thể hiện ý nghĩ đó bằng hành động, chúng ta đã khắc sâu lịch sử những nỗi khổ đau mà người dân châu Á láng giềng như Indonesia, Phillipines, các nước Đông Nam Á, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc đã trải qua và sau chiến tranh đã nhất quán dốc lòng vì hòa bình và sự phồn vinh.

Lập trường như trên của các nội các trong quá khứ vẫn là thứ không hề thay đổi từ giờ về sau.

Có lẽ lời phát biểu trên của Thủ tướng Abe cũng là một lời hứa. Giống như lời hứa được khắc trên tấm bia tưởng niệm các nạn nhân của bom nguyên tử trong công viên hòa bình ở Hiroshima: Xin hãy ngủ yên. Bởi vì sai lầm sẽ không lặp lại.

Nguyễn Quốc Vương

http://nguoidothi.vn/vn/news/nguoi-tre/dung-lai-nguoi/3366/gia-o-du-c-ho-a-bi-nh-chi-a-kho-a-cu-a-ho-a-gia-i.ndt

%d bloggers like this: