Archive

Archive for June, 2016

Mời các bạn đón đọc sách “Lịch sử học là gì?”

June 27, 2016 Leave a comment

Trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn sách mới nhất do tôi dịch, Ban tu thư Đại học Hoa Sen và NXB Đại học quốc gia TP. HCM xuất bản.

Cuốn sách này sẽ được phát hành sắp tới đây.

Đó là cuốn “LỊCH SỬ HỌC LÀ GÌ?”, tác giả: giáo sư Odanaka Naoki, Giáo sư Đại học Tohokku (Nhật Bản).

13533083_651264081698741_7096109113942387908_n[1]

Trên thực tế cuốn sách này tôi đã dịch xong từ khi học xong cao học vài năm về trước. Đã có 2 nhà xuất bản và một nhà sách tiếp cận bản thảo nhưng sau đó ngại gần xuất bản vì sợ sách học thuật khó bán được. Có nhà xuất bản còn gợi ý tôi “chung vốn” để in. Tôi chỉ là một anh khoá nghèo, nên đương nhiên tôi từ chối.

Cơ duyên FB đã dẫn bản thảo cuốn sách đến Đại học Hoa Sen và Ban tu thư Đại học Hoa Sen.

Nhân đây, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn đối với cô Bùi Trân Phượng đã chủ động tiếp cận bản thảo và tạo điều kiện giúp đỡ cuốn sách ra đời, cảm ơn chú Mai Sơn và chú Phạm Viêm Phương đã phê bình, giúp đỡ để bản dịch thêm hoàn thiện. Cảm ơn các anh Trần Trọng Dương, Nguyễn Đức Thành, Phong Thiền, chú Nguyễn Bá Dũng đã đọc bản dịch và quan tâm đến cuốn sách.

Như các bạn đã biết khoảng 10-15 năm trở lại đây giáo dục lịch sử ở Việt Nam đã trở thành một “điểm nóng” của dư luận xã hội. Những hiện tượng liên quan đến giáo dục lịch sử như: “hàng ngàn điểm 0 môn lịch sử”, “học sinh xé đề cương môn Sử”, “học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em”, BTV truyền hình nói “Ngô Quyền chiến thắng quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng”, một vị lãnh đạo nói “Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng”, … đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận.

Mỗi lần xảy ra các hiện tượng đó, giáo dục lịch sử lại bị chỉ trích dữ dội.

Gần đây nhất là cuộc tranh luận xung quanh hiện tượng học sinh không chọn môn Sử là môn thi tốt nghiệp THPT và việc nên dạy lịch sử một cách độc lập hay tích hợp.

Các bên tranh luận rất hăng hái trên mọi diễn đàn.

Nhưng dường như sự tranh luận đó giống như một sự cãi vã. Nó thiếu các chuẩn mực của tranh luận và các căn cứ học thuật cần thiết.

Ở Việt Nam trong khoảng 15 năm trở lại đây các sách lý luận về sử học, giáo dục lịch sử được dịch và xuất bản ở VN rất ít gần như là không có.

Cũng không có các cuốn sách tương tự của các tác giả trong nước trừ các giáo trình dùng trong các trường đại học như “Lịch sử sử học”, “Phương pháp luận sử học”, “Nhập môn Sử học”…

Với mong muốn cung cấp thêm một góc nhìn học thuật đối với sử học và giáo dục lịch sử, tôi đã chọn và dịch cuốn “Lịch sử học là gì?”. Khi dịch có thể chuyển thành tiếng Việt là “Sử học là gì” nhưng qua nhiều trao đổi với BTV, tôi vẫn muốn giữ nguyên. Lý do nằm ở nội dung cuốn sách. Khi các bạn đọc và suy ngẫm các bạn sẽ hiểu tại sao tôi lại giữ nguyên.

Sử học và giáo dục lịch sử vốn có mối quan hệ mật thiết. Giáo dục lịch sử Nhật Bản trước 1945 có hại cho quốc dân vì các nhà Sử học đã không quan tâm tới giáo dục lịch sử và giữa sử học và giáo dục lịch sử không có mối quan hệ gắn bó với nhau. Sau 1945, các nhà sử học, giáo dục lịch sử Nhật Bản về cơ bản thống nhất rằng Sử học và giáo dục lịch sử có mối quan hệ mật thiết, tương tác hai chiều và điều kiện tiên quyết là giáo dục lịch sử phải đứng trên nền tảng là sử học.

Như vậy có thể hiểu, muốn đổi mới giáo dục lịch sử phải đổi mới sử học.

Giáo sư Odanaka Naoki khi trình bày về các vấn đề chủ yếu của sử học và giáo dục lịch sử trong cuốn sách này đã dùng lối viết và cách trích dẫn đơn giản nhất để tiếp cận bạn đọc.

Cuốn sách này như lời tác giả là cuốn sách giống như nhập môn “Lịch sử học” dành cho những người sơ tâm và đông đảo đại chúng.

Bằng lối viết nhẹ nhàng tác giả lý giải những vấn đề cơ bản của “Lịch sử học” và giáo dục lịch sử như:

– Lịch sử học có ích gì cho cuộc sống của chúng ta không?

– Nếu nó có ích thì nó có ích thông qua phương thức nào?

– Nhà sử học có phải cố gắng tỏ ra “có ích” khi nghiên cứu và công bố tác phẩm của mình hay không?

– Lịch sử học có khả năng tiếp cận sự thật hay không? Nó tiếp cận sự thật bằng cơ chế như thế nào? Sự thật ấy có đáng tin cậy hay không? Để tin cậy thì nhà sử học phải làm thế nào?

– Tiểu thuyết lịch sử và tác phẩm sử học giống và khác nhau như thế nào? Nhà sử học và nhà văn ai là người nói ra …sự thật? Họ nói bằng cách nào?

Tác giả cũng dựa trên các cuộc tranh luận trong giới sử học Nhật Bản và Thế giới để làm rõ những vấn đề đương đại của sử học và giáo dục lịch sử như:

– Lịch sử học có khả năng phát hiện ra quy luật của thế giới hay không hay sứ mệnh của nó đã kết thúc?

– Lịch sử học có phải là khoa học hay không? Nếu có thì nó là khoa học như thế nào? Nó khác gì so với Toán học, Vật lý học, Hoá học?

– Lịch sử học có mối quan hệ như thế nào đối với các ngành khoa học khác?

Tác giả cũng phân tích cuộc tranh luận về vấn đề đang gây tranh cãi giữa giới sử học Nhật Bản và là tâm điểm của dư luận các nước châu Á-vấn đề “Những người phụ nữ mua vui” trong quân đội Nhật trước 1945 để làm rõ vài trò và trách nhiệm của các nhà sử học.

Trong chương cuối cùng, tác giả không quên nói về những chuyện bếp núc của nhà sử học như:

– Nhà sử học là ai?

– Công việc của nhà sử học là gì?

– Họ nghiên cứu như thế nào?

– Làm thế nào để có tác phẩm sử học hay?

– Thông điệp của nhà sử học là gì? Làm thế nào để tạo ra nó…

Cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên khoa sử khi học các môn Lịch sử sử học, Phương pháp luận sử học, Nhập môn Sử học, Phương pháp dạy học lịch sử… và sinh viên các ngành xã hội khác.

Nó cũng sẽ là tài liệu tham khảo dành cho cả những ai quan tâm đến sử học hoặc coi sử học như là nghề nghiệp.

Những bạn đọc đại chúng cũng có thể đọc nó để biết được sử học và giáo dục lịch sử liên quan đến cuộc sống như thế nào và học cách dùng tư duy sử học để lý giải các hiện tượng của xã hội đương đại.

Sách sắp phát hành vào 1, 2 tuần tới. Những bạn muốn mua sách có thể liên hệ với hai thành viên của Ban Tu thư Đại học Hoa Sen:

1. Chị Bảo Quyên
quyen.nguyenthibao@hoasen.edu.vn
2. Anh Phan Minh Trí
tri.phanminh@hoasen.edu.vn

Giá sách: 100.000 đồng.

Tôi sẽ tiếp tục thông tin đến các bạn về cuốn sách này.

Mong nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn để các nhà xuất bản quan tâm hơn tới dòng sách học thuật, giáo dục.

Cảm ơn tất cả các bạn

Nguyễn Quốc Vương

Advertisements

Cô hiệu trưởng thi ‘Ai là triệu phú’ có đáng bị chỉ trích?

June 25, 2016 Leave a comment

– Hai hôm nay, tường Facebook cá nhân tràn ngập các chia sẻ về chuyện một cô hiệu trưởng tiểu học trong gameshow truyền hình “Ai là triệu phú” không trả lời được những câu hỏi mà khán giả cho là “thường thức”. Những gì cô hiệu trưởng và khán giả thể hiện gợi cho tôi rất nhiều liên tưởng.

Tại sao, khán giả lại “bức xúc” với cô hiệu trưởng?

Có rất nhiều lý do, nhưng có thể tạm suy luận một vài lý do chủ yếu.

Thứ nhất, khán giả bị “hẫng” vì kết quả những gì cô giáo đã thể hiện trong chương trình trái ngược với phần giới thiệu “hoàng tráng” ban đầu. Truyền hình, đặc biệt là gameshow, là không gian công cộng có tính “mở” mạnh.

Khi ngồi trước máy quay có nghĩa là cá nhân tham gia chơi có “nguy cơ” ngồi trước cả hàng chục triệu thậm chí cả trăm triệu con mắt nhìn vào. Nói khác đi, cho dù một cá nhân bình thường nhất một khi đã ngồi trước máy quay của truyền hình đặc biệt là Gameshow, họ đã trở thành “người của công chúng”. Nhất cử nhất động của họ sẽ bị công chúng nhìn nhận với một…tiêu chuẩn khác với thông thường.

Hiệu trưởng, Ai là triệu phú, Cô hiệu trưởng thi Ai là triệu phú
Cô hiệu trưởng thi “Ai là triệu phú” đang gây tranh cãi

Trong phần giới thiệu, nhân vật chính giới thiệu mình “thích được đi thi”, “rất có duyên với thi cử”, “từ trước đến nay đi thi đa số là nhất còn vài lần nhì…” và liệt kê ra một loạt thành tích như: “thi học sinh giỏi, ĐH, CĐ”, “thi chuyên môn giáo viên giỏi” thậm chí là cả “quản lý giỏi”, “đỗ thủ khoa”, “thường dẫn chương trình”.

Tâm lý nói chung của người Việt là thích sự “khiêm tốn” của người đối diện cho dù đó là sự khiêm tốn thật sự hay khiêm tốn kiểu xã giao. Sự “tự tin” trong giới thiệu bản thân với hàng loạt các “thành tích” như trên đã trở thành “động lực” thúc đẩy sự chỉ trích nặng nề của nhiều khán giả nhằm vào người chơi. Trong sự chỉ trích nặng nề đó rất có thể sẽ ẩn chứa, bao hàm cả những bức xúc và ẩn ức của công chúng thường ngày trước những hiện tình ngổn ngang của giáo dục và đất nước.

Chức danh “hiệu trưởng” và sự tham gia của hai cô giáo đi cùng với vai trò “trợ giúp sếp” ở đây một phần nào đó cũng đã làm gia tăng “độ nóng” trong chỉ trích của công chúng.

Ở Việt Nam việc được lên truyền hình cho dù chỉ là Gameshow vẫn là một cái gì đó có màu sắc sang trọng và “ghê gớm” vì thế, trong giây phút, trong mắt khán giả truyền hình và người dùng internet cô hiệu trưởng đã trở thoắt cái trở thành “người của công chúng” trong khi bản thân cô chưa kịp hóa thân để có hành vi, thái độ phù hợp.

Thứ hai, là hệ lụy của “chủ nghĩa tuyệt đối”. Khán giả trong vô thức đã tuyệt đối hóa nghề giáo viên, tuyệt đối hóa tiêu chuẩn của tri thức và và tuyệt đối hóa luôn cả vai trò của Gameshow.

Điều gì sẽ xảy ra nếu người chơi ở đây không phải là “giáo viên” mà chỉ là một người làm nghề khác như kĩ sư, bác sĩ, công nhân cơ khí? Khi đọc các nghiên cứu của người Nhật về giáo dục Việt Nam, tôi ngạc nhiên khi thấy các học giả này nhận xét rằng ở Việt Nam trong thực tế và trong cả tâm thức của người Việt, giáo viên là một “thực thể tồn tại tuyệt đối” khi họ nắm cả trong tay “quyền lực” và “quyền uy”. Trong trường học, lớp học đối với học sinh và phần nào đối với cả phụ huynh, họ có “quyền lực” và “quyền uy lớn”.

Nhiều khán giả cũng tuyệt đối hóa tiêu chuẩn “biết” thành tiêu chuẩn của tri thức và văn hóa. Trong mắt của nhiều người “biết” nghĩa là “giỏi”. Những ai “biết nhiều” sẽ là những người giỏi giang. Quan niệm này có mối liên hệ khá mật thiết với lối học khoa cử, tầm chương trích cú và nền giáo dục lấy việc truyền đạt các tri thức giáo khoa làm trung tâm.

Trong nền giáo dục lấy việc truyền đạt các tri thức giáo khoa làm trung tâm, việc kiểm tra xem học sinh nhớ được, hiểu được bao nhiêu lượng kiến thức mà giáo viên đã truyền đạt sẽ có vai trò rất lớn, bao trùm tất cả các hoạt động giáo dục khác, thậm chí bao trùm lên cả mục tiêu giáo dục cho dù về lý thuyết mục tiêu đó nhắm tới sự hình thành con người.

Theo lô-gic đó, người giáo viên sẽ trở thành biểu tượng của người “biết nhiều, hiểu rộng”. Nếu không “hiểu nhiều, biết rộng” tại sao lại xứng đáng làm giáo viên để “truyền đạt” tri thức cho học sinh? Những giáo viên “giỏi” phải là những giáo viên “làu thông kinh sử” khi giảng có thể “thoát ly giáo án” (không cần cầm giáo án hay nhìn vào giáo án) mà vẫn nói trôi chảy, hùng hồn, không sai một từ, một chữ so với…sách giáo khoa hay chương trình. Bởi thế khi cô giáo trong Gameshow nói trên không “biết” như khán giả nghĩ, đương nhiên cô sẽ bị chỉ trích nặng nề theo một lô-gic rất dễ hiểu.

Gameshow truyền hình trên thế giới rất phổ biến vì tính tương tác, giải trí và đại chúng của nó. Tuy nhiên, ở Việt Nam, theo quan sát của tôi, công chúng có xu hướng “tuyệt đối hóa vai trò của Gameshow”. Nhiều người quan niệm những thông tin trên các Gameshow là tri thức tuyệt đối đúng đắn và Gameshow là nơi thể hiện đẳng cấp của tri thức. Vì thế có cái gì đó thật hài hước khi khán giả dùng con mắt rất “nghiêm túc” để thưởng thức gameshow-một trò chơi theo đúng nghĩa của từ này.

Dưới tư duy này, các câu hỏi đưa ra trong gameshow sẽ mang đậm sắc màu “thi cử” và đầy tính…tri thức. Trong mạch lô-gic đó khi cô giáo trả lời sai, đương nhiên sẽ bị đánh giá là người có “tri thức tồi”.

Cô hiệu trưởng có “xứng đáng” bị “ăn gạch”?

Sự cảm nhận về những gì cô giáo hiệu trưởng nói trên thể hiện trong gameshow “Ai là triệu phú” có lẽ sẽ tùy thuộc vào từng cá nhân.

Nói một cách thành thật thì sự thể hiện của cô giáo trong chương trình không để lại cho tôi nhiều ấn tượng và thiện cảm. Tôi không tìm thấy ở đó sự tương tác giữa “người của công chúng” và “công chúng”.

Không gian của Gameshow ở đây dường như đã bị thu hẹp lại xung quanh hai người MC và người chơi. Thành thật mà nói thì cô giáo không có “duyên” với không gian tương tác cao nhưng lại nặng tính “gián tiếp” như truyền hình. Nơi khán giả chỉ có cơ hội “suy đoán” về nhân vật thông qua các tín hiệu như cử chỉ, gương mặt, giọng điệu, ánh mắt, thông tin lời nói. Trên thực tế có nhiều nhân vật trong không gian tương tác trực tiếp và có sự hỗ trợ của các thông tin “bên lề” thông qua tương tác, tiếp xúc đời thường có sức hấp dẫn lớn nhưng khi lên truyền hình họ lại tạo ra ấn tượng xấu và ngược lại.

Tuy nhiên, đấy chỉ là cảm xúc. Trong tư cách là người xem chương trình, tôi tách biệt nó với sự chỉ trích nhằm vào người chơi. Trong mắt tôi, cô hiệu trưởng đơn giản chỉ là một người chơi tồi trong gameshow truyền hình có nhiều khán giả.

Với tôi, những gì đã xảy ra không có gì là ghê gớm. Gameshow đơn giản chỉ là gameshow. Nó là một sân chơi.

Đã là “chơi” thì nó phải vui vẻ và thoải mái. Trong không khí của trường quay, dưới áp lực vô hình và hữu hình có thể trong giây phút bộ não của cả những người “biết rộng hiểu nhiều” cũng sẽ bị …tê liệt.

Chuyện nhầm lẫn hay không nhớ ra là chuyện bình thường. Có điều dường như chúng ta khi đã rơi vào chủ nghĩa tuyệt đối hóa sẽ rất khó có đủ dũng cảm để nói rõ ràng “tôi không biết” và cười thật thoải mái. Trong khi “tôi không biết” hay “tôi nhầm” là điều rất bình thường. Gameshow là sân chơi có tính chất “tạp học” nó bao trùm các hiểu biết về mọi lĩnh vực.

Có những lĩnh vực sẽ nằm ngoài “vùng quan tâm” hay “thường thức” của người chơi. Đương nhiên, để sống như một người bình thường, mỗi cá nhân sẽ cần đến nền tảng văn hóa cơ bản. Tuy nhiên, không thể dùng những gì cá nhân nào đó thể hiện trong Gameshow để chỉ trích nặng nề là “thiếu trình độ”, “không đủ tư cách”, “thiếu hụt kiến thức”, “không xứng đáng là hiệu trưởng”…

Ở Nhật các chương trình gameshow dạng này cũng rất phổ biến. Người chơi rất đa dạng đôi khi là các nghệ sĩ rất nổi tiếng trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Có điều, cả người chơi và khán giả truyền hình dường như chỉ coi đó là sân chơi vui vẻ.

Có vẻ như điều khán giả “bức xúc” nhất là chuyện cô hiệu trưởng không trả lời được nghĩa trang “Hàng Dương” nằm ở tỉnh nào. Nhiều bài báo cũng dùng chi tiết này để giật “tít” nhằm gây ấn tượng với bạn đọc. Có thể suy đoán rằng thông tin tàng ẩn phía sau là tư duy mặc định rằng thông tin “nghĩa trang Hàng Dương” nằm ở đâu là rất quan trọng mà những người là “hiệu trưởng”, “giáo viên” như nhân vật chính trong chương trình đương nhiên phải nhớ.

Thú thật, trong đầu tôi nếu đột nhiên có người hỏi “nghĩa trang Hàng Dương nằm ở tỉnh nào?”- có lẽ trong giây phút ấy tôi sẽ trả lời “Đợt lát. Hình như nó nằm ở Côn Đảo thuộc tỉnh…”.

Hiểu nhiều, biết rộng là một lợi thế trong cuộc sống nhưng “biết nhiều” không hẳn đồng nghĩa với “giỏi” hoặc nếu có “giỏi” thì cái “giỏi” đó cũng khác với chuẩn mực phổ quát trên thế giới hiện nay.

Tôi biết có rất nhiều người có hiểu biết đa dạng nhiều lĩnh vực, lĩnh vực nào cũng vanh vách nhưng thực tế họ không làm được sản phẩm gì hay dùng các thông tin họ biết tạo ra điều gì đó tốt đẹp.

Trên thực tế họ chỉ có thể trở thành ngôi sao nơi bàn trà, quán nhậu. Đơn giản vì những gì họ biết chỉ là những thứ “phổ thông” và rời rạc. Ở họ không có sự liên kết giữa những gì đã biết và tình huống thực tế phải đối mặt để tìm ra phương cách giải quyết vấn đề hay tái cơ cấu chúng để tạo ra thông tin mới có ích cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng. Có thể thấy rõ điều này trong giáo dục lịch sử.

***

Trong bối cảnh thông tin hóa mạnh mẽ và xã hội đòi hỏi những người có tư duy độc lập và sáng tạo cao, việc nhớ nhiều, biết rộng các tri thức lịch sử sẽ không quan trọng bằng việc cá nhân đó biết nhìn vào thực tại để nhận ra các vấn đề lịch sử, tìm kiếm các thông tin lịch sử đó ở đâu, từ nguồn tư liệu nào, xử lý, nhận thức và tái cơ cấu các thông tin từ tư liệu đó ra sao để tạo ra thông tin mới có ích và hấp dẫn, giúp cho công chúng có thêm dữ liệu để tìm hiểu lịch sử và giải thích hiện thực trước mắt.

Suy cho cùng, trong xã hội thông tin hóa hiện nay, không nên tuyệt đối hóa vai trò của các tri thức được ghi nhớ nhất là các tri thức được đưa vào gameshow. Khi tuyệt đối hóa điều đó, các cá nhân sẽ hướng sự bất bình vào nơi không cần thiết và mất đi cơ hội để…thưởng thức gameshow.

Nguyễn Quốc Vương

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/312068/co-hieu-truong-thi-ai-la-trieu-phu-co-dang-bi-chi-trich.html

“Gia tài” đồ sộ của tác giả “Totto-chan bên cửa sổ”

June 19, 2016 Leave a comment

Cuốn sách “Totto-chan bên của sổ” của tác giả người Nhật Kuroyanagi Tetsuko đã và đang làm cho nhiều độc giả ở Việt Nam xúc động. Tuy nhiên rất ít độc giả người Việt biết rằng sự nghiệp của bà không chỉ có “Totto-chan bên cửa sổ”. Ở nước Nhật bà được công chúng biết đến trong nhiều vai trò khác nhau: diễn viên, người lồng tiếng, người dẫn chương trình, nhà văn, đại sứ thiện chí của UNICEF, nhà hoạt động vì hòa bình, nhà hoạt động bảo vệ thiên nhiên…

 

images

Một tài năng truyền hình hiếm có

Sinh ngày 8/9/1933, năm nay Kuroyanagi Tetsuko đã 83 tuổi nhưng vẫn hoạt động không mệt mỏi. Trên báo Yomiuri 29/12/2015 có đăng bài viết của nhà báo Hiyama Tamami chuyên viết về lĩnh vực truyền hình với tựa đề “Ai sẽ là người kế tục Kuroyanagi Tetsuko, người có một không hai trong thế giới truyền hình?”. Bài báo đã tổng kết sự nghiệp của Kuroyanagi Tetsuko và dự đoán người sẽ kế nghiệp bà.

Bài báo cho biết vào năm 2015 ở độ tuổi 82, Kuroyanagi Tetsuko được bầu chọn là “người có cống hiến lớn cho sự nghiệp văn hóa” của Nhật Bản. Đây là phần thưởng cao quý do Bộ trưởng Bộ giáo dục, thể thao, văn hóa, khoa học và công nghệ trao tặng dựa trên kết quả tư vấn của hội đồng chuyên môn. Cho đến thời điểm này đã có nhiều nghệ sĩ được nhận danh hiệu này như Higashiyama Chieko (1966), Shodai Mizuta (1971), Sugimura Haruko (1971), Morishige Hisaya (1984), Mori Mitsuko (1998), Takakura Ken (2006), Nakadai Tatsuya (2007), Yoshinaga Sayuri (2010), Otaki Hideji (2011). Tuy nhiên, các nghệ sĩ này chủ yếu để lại ấn tượng trong lòng công chúng bằng các tác phẩm trên sân khấu hoặc điện ảnh. Trong khi đó Kuroyanagi Tetsuko đón nhận danh hiệu này trong tư cách là một “tài năng truyền hình”. Bình luận sau khi nhận giải bà nói: “Tôi cảm thấy hạnh phúc vì mọi người đã công nhận Tivi là một phần của văn hóa”.

Cho dù có nhiều năm hoạt động như là diễn viên và tham gia nhiều bộ phim khác nhau, Kuroyanagi Tetsuko là người làm việc trong lĩnh vực truyền hình từ rất sớm khi Tivi mới xuất hiện ở Nhật Bản. Bà đã xuất hiện trong vô số các chương trình truyền hình như “Cùng gặp trong giấc mơ nhé”, “Tấm thảm ma thuật”, “Quảng trường âm nhạc” (NHK), “The best Ten” (TBS)…Các chương trình phát sóng thường xuyên như “Phát hiện điều kỳ lạ của thế giới!” (TBS), “Thế giới trẻ thơ của Kuroda Yanagi Tetsuko –các nghệ sĩ vẽ nên những ước mơ” (BS Asahi) , “Căn phòng của Tetsuko” (Truyền hình Asahi). Đặc biệt, “Căn phòng của Tetsuko” là chương trình bắt đầu được phát sóng tháng 2/1976 và tính đến tháng 5/2015 đã phát sóng 1 vạn lần. “Căn phòng của Tetsuko” đã được ghi vào kỷ lục Ghi-nét là chương trình có số lần phát sóng nhiều nhất trên thế giới và hiện vẫn đang giữ kỷ lục này. Khách mời của “Căn phòng của Tetsuko” không chỉ là các nghệ sĩ mà còn bao gồm cả các nhà văn, cầu thủ bóng đá, “quốc bảo nhân gian” và đôi khi còn có cả các nhân vật nổi tiếng người nước ngoài như Meryl Streep, Robert De Niro, Lady Gaga.

Kuroyanagi Tetsuko cũng là một người nhiều lần được chọn dẫn chương trình truyền hình ca nhạc nổi tiếng có tên “Kohakuuta Gassen” được truyền hình trực tiếp vào đêm giao thừa hàng năm ở Nhật Bản. Kuroyanagi Tetsuko đã trở thành người dẫn chương trình trẻ nhất trong lịch sử chương trình này vào năm 1958 (Kokhakuuta Gassen lần thứ 9). Từ năm 1980 trở đi bà trở thành người dẫn chương trình này suốt 4 năm liên tiếp và năm 2016 bà trở thành người dẫn chương trình chung trong chương trình ca nhạc “ Kohakuuta Gassen lần thứ 66 của NHK”. Trước khi chương trình bắt đầu Tổng giám đốc sản xuất chương trình Shibazaki Tetsuya đã tiết lộ lý do chọn Kuroyanagi Tetsuko: “Năm nay tròn 70 năm sau chiến tranh và là năm thứ 90 chương trình phát sóng. Kuroyanagi là người thích hợp với chủ đề “Đó là Nhật Bản! Đó là Kokuhaku”. Tôi muốn bà chuyển đi thông điệp với vai trò là người dẫn chương trình huyền thoại là biểu tượng của truyền hình và Kohaku”.

Trong lĩnh vực truyền hình bà là người gây được thiện cảm lớn với công chúng vì khả năng ứng xử nhanh nhạy và “độ sâu sắc của tâm hồn”. Nhà báo Hiyama Tamami trong bài báo nói trên đã thuật lại “sự cố” xảy ra với bà trong lần đầu tiên ghi hình chương trình “Căn phòng của Tetsuko”. Khách mời lần đầu tiên là Morishige Hisaya, một diễn viễn nổi tiếng. Trong lúc ghi hình, diễn viên Morishige Hisaya đã cố ý chạm nhẹ vào ngực người dẫn chương trình. Kuroyanagi Tetsuko đã xử lý hoàn hảo làm cho chương trình diễn ra suôn sẻ và biến “sự cố” đó thành xúc tác làm cho chương trình trở nên nổi tiếng. Sau này Kurodayanagi Tetsuko đã bình luận về hành động của Morishige Hisaya: “cảm giác như đó là một “lời chào” nghịch ngợm mang trong đó sự thân thiện”. Cũng từ đó bà và Morishige Hisaya trở thành đôi bạn diễn ăn ý. Sau này khi dẫn chương trình mỗi khi có khách mời là nam vận động viên bà thường kiểm tra cơ bắp của họ. Hành động đó được các nam vận động viên vui vẻ chấp nhận vì “đơn giản đó là Tetsuko”.

Chương trình “Căn phòng Tetsuko” không phải là chương trình trực tiếp nhưng nó được làm giống như là trực tiếp. Phương châm cơ bản của nhóm làm chương trình là không biên tập khi đã ghi hình vì thế nó tạo cho khán giả cảm giác đầy hồi hộp và bất ngờ.
Chương trình này nổi tiếng đến độ mỗi khi có nhân vật nổi tiếng nào đó của nước Nhật qua đời thì hình ảnh về họ được phát trên các kênh truyền hình thường là hình ảnh lấy từ “Căn phòng của Tetsuko”.

Nhà văn chuyên nghiệp

Ở Việt Nam rất nhiều người biết đến tác phẩm tự truyện “Totto-chan bên cửa sổ” của Kurodayanagi Tetsuko. Cuốn tự truyện này được bà xuất bản năm 1981 và ngay lập tức trở thành “best-seller” với số lượng bản in tính đến nay gần 8 triệu bản và được dịch sang 35 thứ tiếng.

Tuy nhiên, trên thực tế bà là một nhà văn chuyên nghiệp có rất nhiều tác phẩm khác. Tính từ năm 1972 đến nay bà đã xuất bản khoảng trên 20 đầu sách trong đó có nhiều cuốn sách lấy cảm hứng hoặc là bản thân nó là sự tiếp tục từ cuốn tự truyện “Totto-chan bên cửa sổ” như: “Sách tranh của Totto-chan” (1984), “Vương quốc bí ẩn của Totto-chan” (2005), “Một mình Totto” (2015)…
Bà cũng viết chung với các tác giả nhiều cuốn khác như: “Nạn đói châu Phi” (1984), “Lời hứa giữa Tottochan và thầy Kamata” (2007). Bà cũng là người dịch cuốn “Please save my world” của Bill Adler sang tiếng Nhật. Cuốn sách này được Hayakawa Shobo xuất bản năm 1985.

Nhà hoạt động xã hội có tấm lòng cao cả

Kuroyanagi Tetsuko cũng được biết tới ở Nhật và trên thế giới trong tư cách là đại sứ thiện chí của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Bà là người châu Á đầu tiên được chọn vào vị trí này năm 1984. Trong cương vị này bà đã đến thăm trên 30 nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi. Những cống hiến của bà trên cương vị Đại sứ thiện chí của UNICEF đã được ghi nhận bằng các phần thưởng của chính phủ Nhật Bản và Liên hợp quốc. Năm 2001 bà nhận giải thưởng “Vì phúc lợi xã hội” của báo Asahi. Ngoài ra ở phương diện cá nhân trong vai trò là nghệ sĩ, nhà văn viết cho thiếu nhi bà đã tích cực tiến hành các hoạt động gây quỹ từ thiện giúp đỡ trẻ em. Năm 1981 sau khi cuốn tự truyện “Totto-chan bên cửa sổ” xuất bản và trở thành “best-seller”, bà đã dành số tiền nhuận bút thu được lập ra “Quỹ Totto” có tư cách pháp nhân là tổ chức phúc lợi xã hội và trực tiếp điều hành quỹ trong vai trò là chủ tịch. Số tiền mà quỹ nhận được tính đến thời điểm hiện tại đã lên tới trên 5,6 tỉ yên. Toàn bộ số tiền được dùng vào hoạt động nhân đạo và bà tự bỏ tiền cá nhân ra trang trải chi phí văn phòng.

Koroyanagi Tetsuko cũng là người có hứng thú đặc biệt với gấu trúc và hiện là chủ tịch danh dự Hiệp hội bảo vệ gấu trúc Nhật Bản. Bà cũng giữ vai trò lãnh đạo, cố vấn của nhiều tổ chức xã hội khác như “Ayumi no Hako”, “Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới”, “Bảo tàng Mĩ thuật Chihiro”…

Ở tuổi 83, với một “gia tài” đồ sộ như trên, thật dễ hiểu tại sao bà lại giành được sự yêu mến và kính trọng của đông đảo công chúng Nhật Bản.

 

Nguyễn Quốc Vương 

 

Tỉnh khác có xin được ‘đặc thù’ như Bí thư Thăng?

June 15, 2016 Leave a comment

Những đề xuất của Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM là hợp xu thế. Nhưng giáo dục ở TP.HCM sẽ vận hành ra sao trong mối quan hệ với giáo dục chung của cả nước? Địa phương khác có “xin” được “cơ chế đặc thù” giống như TP. HCM không? LTS:Mới đây, sở GD-ĐT TP.HCM đã kiến nghị lên Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạnhững cơ chế đặc thù tại cuộc họp giữa Bộ trưởng Bộ GD-ĐT với lãnh đạo TP.HCM. Bí thư thành ủy Đinh La Thăng cũng cho rằng TP.HCM là đô thị đặc biệt, các cơ chế, chính sách giáo dục ở đây mà thành công thì nhân rộng ra cả nước sẽ thành công.

Nền giáo dục Việt Nam vẫn đang đứng trước yêu cầu đổi mới gay gắt. Nhưng liệu những bước đi mang tính phá cách có dễ dàng trong cả một guồng máy như hiện nay? Trở ngại nào đặt ra và làm sao để tháo gỡ? Làm thế nào để “đặc thù” thành phổ biến?…

Loạt bài “TP. HCM xin cơ chế đặc thù giáo dục” của Tuần Việt Nam hy vọng chạm được đến những vấn đề ban đầu này, để mở ra những thảo luận, kiến giải.

Thực chất của “đặc thù”

Giáo dục Việt Nam hiện tại đang ở trong cuộc cải cách lớn lần thứ 4 tính từ năm 1945 đến nay. Tuy nhiên, cho dù mặc định những gì được thiết kế trong đề án cải cách là hoàn hảo đi chăng nữa, công cuộc cải cách giáo dục lần này cũng sẽ vấp phải rất nhiều khó khăn lớn trong đó có những vấn đề trở ngại có “tính lịch sử”.

Một trong số đó là hệ thống hành chính giáo dục mà ở ta quen gọi là bộ máy quản lý giáo dục mang nặng tính trung ương tập quyền. Trong điều kiện thông thường, sẽ chỉ có những người giáo viên vốn nằm ở “thang bậc dưới cùng” trong mô hình quản lý giáo dục hình tháp cảm nhận được sức nặng và lực cản của nền hành chính giáo dục này.

Tuy nhiên, khi cải cách giáo dục trên quy mô lớn bắt đầu và gia tăng tốc độ để hướng đến xây dựng nền giáo dục hiện đại, hòa nhập với thế giới, như một nghịch lý, chính những người ở cơ quan quản lý giáo dục chịu trách nhiệm điều hành cải cách sẽ lại vấp phải những trở ngại từ bộ máy hành chính giáo dục ấy.

Hiện tượng “TP.HCM đề xuất quyền tự quyết lớn về giáo dục” với tám đề nghị cụ thể đối với Bộ GD&ĐT là một ví dụ điển hình minh chứng cho điều trên.

Tám đề xuất do Sở giáo dục và đào tạo TP. HCM đưa ra trải rộng từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học. Nội dung của nó cũng bao trùm nhiều lĩnh vực của giáo dục từ cơ chế quản lý, nội dung cách thức biên soạn chương trình, sách giáo khoa đến kiểm tra đánh giá học sinh…

Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát thì thấy tất cả những đề xuất trên đều xuất phát từ những vướng mắc trong cơ chế vận hành của nền hành chính giáo dục. Những điều mà Sở giáo dục và đào tạo TP. HCM “xin” đó thực chất là những gì thuộc về công việc hàng ngày của các cơ quan hành chính giáo dục địa phương và trường học.

Cải cách giáo dục, Bí thư Đinh La Thăng, tuyển sinh, TP HCM xin cơ chế đặc thù, Sách giáo khoa
Những đề xuất của Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM là hợp xu hướng. Ảnh minh họa: Đinh Tuấn

Trên thế giới, chuyện các trường học tự chủ quyết định nội dung chương trình, đánh giá học sinh… không phải là điều gì hiếm hoi, khó hiểu. Ngay cả ở Nhật Bản, một nước mà giáo dục ít nhiều chịu ảnh hưởng của phong cách Á Đông, ngay từ đầu thời Minh Trị thế kỉ XIX đã chấp nhận sự tự chủ, tự do của các trường học và giáo viên trong việc xây dựng chương trình, biên soạn và lựa chọn sách giáo khoa.

Sau một thời gian dài bị gián đoạn, đến năm 1947, cơ chế “kiểm định sách giáo khoa” tại Nhật lại được tái lập. Trong cơ chế này, mặc dù bộ giáo dục vẫn nắm quyền thẩm định và đưa ra quyết định cuối cùng xác định bản thảo nào trở thành SGK, giáo viên vẫn có quyền lựa chọn các SGK đã được công nhận và tự chủ lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với trường mình.

Có thể nói một cách ngắn gọn, “cơ chế đặc thù” mà Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM muốn “xin” chính là cơ chế hành chính giáo dục dân chủ và phân quyền tôn trọng tính tự chủ của các địa phương và trường học.

Biến “đặc thù” thành phổ biến

Những đề xuất của Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM là hợp lý, phù hợp với xu hướng của thế giới và nếu như được chấp nhận, nó sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho giáo dục thành phố cải thiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu như chỉ một mình TP.HCM được hưởng quy chế này thì sẽ thế nào? Giáo dục ở TP.HCM sẽ vận hành ra sao trong mối quan hệ với giáo dục chung của cả nước? Những địa phương khác có “xin” được “cơ chế đặc thù” giống như TP. HCM hay không?

Tôi cho rằng, ngay cả trong trường hợp TP.HCM có được “cơ chế đặc thù” này thì trong quá trình vận hành để cải cách, giáo dục thành phố cũng sẽ vấp phải những lực cản vô hình và hữu hình. Bản chất của hành chính giáo dục là tạo ra môi trường tốt nhất cho hoạt động giáo dục, muốn các hoạt động giáo dục diễn ra thuận lợi thì trước hết hành chính giáo dục phải chuyển động.

Giáo dục TP.HCM là một “mắt xích” trong cỗ máy giáo dục quốc gia, vì thế nếu bộ máy hành chính giáo dục quốc gia không có sự thay đổi, không sớm thì muộn, “cơ chế đặc thù” của thành phố cũng sẽ bị thu hẹp hoặc không phát huy được hiệu quả.

Hành chính giáo dục phân quyền là một nguyên lý có tính phổ biến của giáo dục hiện đại. Nguyên lý này đảm bảo tính dân chủ của giáo dục. Khi dân chủ được đảm bảo mới hạn chế được ở mức tối đa sự can thiệp vô lý của các cơ quan hành chính giáo dục vào nghiệp vụ chuyên môn của các trường và giáo viên. Trong môi trường giáo dục thuận lợi, người giáo viên mới có thể có được trạng thái tinh thần thoải mái và hưng phấn để làm công việc giáo dục.

Vì vậy, điều cần thiết phải làm hiện nay không phải là đưa ra một “cơ chế đặc thù” nào đó cho một vài địa phương mà là xây dựng một nền hành chính giáo dục dân chủ, tạo thuận lợi cho công cuộc cải cách giáo dục đang diễn ra. Hay nói một cách khác, là phải biến “cơ chế đặc thù” nói trên thành cơ chế có tính phổ biến chung cho toàn quốc.

Trong quá trình thực hiện cải cách giáo dục lần thứ tư này, những kế hoạch đưa ra có được thực hiện hiệu quả hay không sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc cải cách hành chính giáo dục. “Dạy học phát triển năng lực” và cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” là hai điểm nhấn quan trọng của đề án cải cách. Tuy nhiên cả hai sẽ trở thành hình thức khi quyền tự chủ, tự quyết định của các cơ quan hành chính giáo dục địa phương, các trường và giáo viên – nhân tố quan trọng nhất trong cải cách không được đảm bảo.

Muốn cải cách hành chính giáo dục thành công thì các động thái cải cách phải bắt đầu từ chính cơ quan hành chính giáo dục cao nhất là Bộ giáo dục và đào tạo. Không phải ngẫu nhiên trong cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến sau 1945, Nhật Bản đã cải cách đồng thời cả cơ cấu tổ chức và vận hành của bộ giáo dục và hệ thống hành chính giáo dục địa phương. Bài học kinh nghiệm đó rất hữu ích cho Việt Nam trong quá trình cải cách giáo dục hiện nay.

Nguyễn Quốc Vương

Link: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/309525/tinh-khac-co-xin-duoc-dac-thu-nhu-bi-thu-thang.html

Dạy thêm: Phí sức lực trò, uổng tài năng thầy

June 11, 2016 Leave a comment

 – Phát biểu của Bí thư thành ủy TP. HCM Đinh La Thăng về chuyện cấm dạy thêm đang làm cho dư luận chú ý đặc biệt.Có nên cấm dạy thêm không? Nếu không cấm thì làm thế nào để hạn chế tác hại của nó?

Những hệ lụy của dạy thêm, học thêmDạy thêm – học thêm và những hệ lụy đi kèm của nó không phải là vấn đề mới xuất hiện gần đây.

Nó chỉ là một trong những biểu hiện khủng hoảng của nền giáo dục đang đứng trước nhu cầu phải cải cách thật sự.

Dạy thêm – học thêm ở nước nào cũng có, tuy nhiên ở Việt Nam nó có một đặc trưng rất đáng chú ý.

dạy thêm, học thêm, TP.HCM
Sự tồn tại của dạy thêm, học thêm như hiện nay nếu không được giải quyết sớm và hợp lý sẽ ngày càng tạo ra sự lãng phí lớn cả về thời gian, tiền bạc của phụ huynh, giáo viên và học sinh. Ảnh: Quang Tuấn

Đó là trong rất nhiều trường hợp dạy thêm, học thêm diễn ra ngay trong chính ngôi trường phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Những người dạy thêm cũng chính là các giáo viên chính quy làm việc ở những ngôi trường này và học sinh học thêm cũng chính là học sinh ở đây.

Ngay cả trường hợp giáo viên dạy thêm ở nhà riêng hay ở các trung tâm bồi dưỡng kiến thức (trung tâm luyện thi) thì học sinh ở đó vẫn có cả những học sinh ở lớp họ dạy hàng ngày.

Tính chất “nhị trùng” này đã tạo ra rất nhiều hệ lụy. Nhẹ nhất nó cũng dẫn tới trạng thái tinh thần “chân ngoài dài hơn chân trong” ở người giáo viên.

Nghĩa là người giáo viên sẽ phải chia sẻ sức khỏe, trí tuệ, thời gian cho việc dạy thêm ngoài hoạt động giáo dục chính thức ở trường học.

Trong rất nhiều trường hợp, thu nhập từ việc dạy thêm lớn hơn lương giáo viên nhận từ công việc giảng dạy chính thức ở trường nhiều lần vì thế ngay cả đối với những giáo viên có lương tâm dần dần trong vô thức, tâm sức họ cũng sẽ bị chi phối bởi chuyện dạy thêm.

Tệ hơn, khi người giáo viên không làm chủ được bản thân dạy thêm, học thêm sẽ dẫn tới những chuyện nghiêm trọng khác như phân biệt đối xử đối với những học sinh không đi học thêm hoặc những vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Kết quả là, giống như một trò chơi đuổi bắt vòng quanh, phụ huynh vừa ghét học thêm vừa phải gắng sức tạo điều kiện cho con đi học để khỏi tụt lại phía sau bạn bè và nuôi hy vọng đỗ vào những trường “điểm”, những trường đại học danh tiếng.

Vòng quay ấy qua mỗi năm học lại nhanh thêm và làm cho cả giáo viên và phụ huynh trượt ra xa khỏi mục tiêu, ý nghĩa tốt đẹp ban đầu của giáo dục.

Không thể cấm dạy thêm

Dạy thêm, học thêm mặc dù gây ra rất nhiều hệ lụy như trên nhưng thực tế không thể cấm.

Lý do thực sự không nằm ở chỗ “có cung thì ắt có cầu” như nhiều giáo viên nêu ra.

Lý do nằm ở chỗ biện pháp dùng mệnh lệnh hành chính để “cấm” dạy thêm sẽ không có hiệu quả trong thực tế thậm chí sẽ làm cho tình hình rối loạn hơn khi nó tạo ra hiệu ứng ngược.

Dạy thêm, học thêm với những biến tướng của nó chỉ là triệu chứng của một căn bệnh nặng.

Muốn chữa khỏi bệnh hoàn toàn thì phải cải cách giáo dục thực sự bắt đầu từ triết lý giáo dục trở đi. Cụ thể hơn, để dạy thêm, học thêm không còn lý do tồn tại, ít nhất sẽ cần tới hai điều kiện.

Một là giáo viên phải có mức lương đủ để sống một cuộc sống trung bình, giản dị.

Mức lương này đủ để đảm bảo giáo viên yên tâm làm việc trọn đời trong ngành giáo dục. Mức lương đó sẽ tăng theo thâm niên công tác và sự chuyên nghiệp trong công việc của họ.

Hai là tách rời hoạt động dạy thêm, học thêm khỏi hệ thống trường phổ thông. Nghĩa là chấm dứt vai trò “nhị trùng” của cả giáo viên và học sinh.

Nhật Bản: Lương giáo viên 40 triệu, tách bạch dạy thêm – học thêm

Ở Nhật, có thể dễ dàng nhìn thấy những em học sinh mặc đồng phục đi học thêm và trở về nhà rất muộn.

Một khi trong giáo dục còn có sự lựa chọn dựa vào thi cử, chừng ấy sẽ còn có học thêm.

Tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng ở các nước, các hoạt động dạy thêm, học thêm diễn ra độc lập với hệ thống các trường phổ thông.

Ví dụ như ở Nhật, theo quy định của luật pháp các giáo viên đang giảng dạy tại các trường phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân không được phép dạy thêm hoặc làm thêm nghề phụ ngoại trừ các nghề phụ đặc biệt có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động chuyên môn (nghiên cứu, viết báo, dịch thuật).

Vì vậy, ở trường phổ thông sẽ không có hoạt động dạy thêm. Các hoạt động dạy thêm, học thêm sẽ được diễn ra ở các trường “dự bị” (yobiko) hoặc các trung tâm luyện thi (juku).

Giáo viên ở các trung tâm luyện thi hay trường “dự bị” này là giáo viên tự do hoặc là giáo viên trực thuộc các tổ chức này.

Công việc của họ  đơn thuần là cung ứng dịch vụ giáo dục phục vụ nhu cầu của học sinh và phụ huynh.

Phụ huynh muốn bổ túc cho con môn học nào, muốn luyện thi vào trường nào sẽ có lớp và giáo viên phù hợp đáp ứng.

Chính nhờ quy định trên, nên cho dù chuyện dạy thêm-học thêm ở Nhật khá phổ biến vẫn không gây ra các hệ lụy trực tiếp ở trường phổ thông và tác động xấu đến hình ảnh người thầy cũng như mối quan hệ thầy trò.

Nhiệm cụ của các giáo viên ở trường phổ thông là chuyên tâm vào công việc giáo dục học sinh.

Ngoài giảng dạy họ còn phải tham gia nghiên cứu khoa học (thông qua công bố các thực tiễn giáo dục của bản thân) và hướng dẫn học sinh tham gia hoạt động trong các câu lạc bộ, các hoạt động tình nguyện, thể thao…

Đương nhiên, lương của giáo viên Nhật đủ sống. Một giáo viên chính thức được tuyển dụng sẽ nhận được mức lương khởi điểm khoảng 20 vạn yên/tháng (tương đương 40 triệu VNĐ).

Mức lương này sẽ tăng dần theo thâm niên. Giáo viên làm việc trong các trường phổ thông ở Nhật được coi là “công vụ viên” và họ cũng sẽ được thưởng năm hai lần giống như nhân viên ở các công ty thuộc khối kinh tế khác.

Cho dù ở Nhật đang diễn ra hiện tượng nhiều giáo viên trẻ bỏ nghề sau ba năm làm việc vì sức ép tinh thần lớn do bận rộn và bị phụ huynh chỉ trích  quá mức, trở thành giáo viên vẫn là ước mơ của rất nhiều sinh viên.

Dạy thêm ở Việt Nam: Lãng phí tài năng của thầy

Ở Việt Nam hiện tại, khi cải cách hành chính giáo dục theo hướng phân quyền chưa diễn ra và sự bất hợp lý trong chế độ tiền lương của giáo viên chưa được giải quyết, việc cấm dạy thêm sẽ càng gây ra những hệ lụy khó lường.

Ví dụ như, làm thế nào để đảm bảo hoạt động thanh tra, xử lý dạy thêm, học thêm công bằng và minh bạch? Làm thế nào để ngăn chặn cái “bắt tay” giữa những người đi kiểm tra và các giáo viên dạy thêm?

Thay vì cấm hãy tạo ra môi trường tốt, chế độ đãi ngộ xứng đáng để giáo viên yên tâm làm việc và coi đó là điều kiện tiên quyết để tách hoạt động dạy thêm, học thêm ra khỏi hệ thống trường học phổ thông.

Sự tồn tại của dạy thêm, học thêm như hiện nay nếu không được giải quyết sớm và hợp lý sẽ ngày càng tạo ra sự lãng phí lớn cả về thời gian, tiền bạc của phụ huynh, giáo viên và học sinh.

Không chỉ thế, dạy thêm, học thêm mà chủ yếu là luyện thi vào các trường “điểm”, luyện thi đại học sẽ làm cho tài năng của nhiều giáo viên bị lãng phí.

Đơn giản vì mục tiêu của giáo dục trường học không phải chỉ là đưa học sinh đỗ vào một trường danh tiếng nào đó và hoạt động giáo dục không phải chỉ đơn thuần là “luyện” và “thi”.

  • Nguyễn Quốc Vương
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/309044/day-them-phi-suc-luc-tro-uong-tai-nang-thay.html

Cơn ghen của hoàng hậu Nhật

June 11, 2016 Leave a comment

 

Nghe nói phụ nữ cho dù là bình dân hay quý tộc đều ghen rất dữ. Xưa nay đều thế cả. Trong cuốn sách “Tình dục trong lịch sử Nhật Bản”, Nakae Katsumi có thuật lại chuyện ghen tuông của Hoàng hậu Iwanohime được ghi lại trong hai cuốn sách “Cổ sự ký” và “Nhật Bản thư kỷ”.

Hoàng hậu Iwanohime là vợ Thiên hoàng Nintoku (khoảng thế kỉ V). Chế độ đa thê lúc bấy giờ là phổ biến nhưng bà là người rất hay ghen. Sách “Cổ sự ký” có hành động lúc ghen của bà là “đập chân bình bịch xuống đất”.

Nhưng những cơn ghen của hoàng hậu Iwanohime cũng không cản nổi tính háo sắc của thiên hoàng Nintoku.

Một ngày nọ thiên hoàng Nintoku nhìn thấy một nữ quan tên là Kugahime đi từ ruộng dâu lên và cảm thấy thích nữ quan này. Ông muốn đưa nữ quan này vào hậu cung nhưng hoàng hậu Iwanohime cố sức ngăn cản. Kết cục ý định không thành nên thiên hoàng muốn gả nữ quan này cho một người đàn ông khác để có dịp gặp gỡ nhưng nữ quan tuyên bố “sẽ trọn đời độc thân”. Cuối cùng thiên hoàng Nintoku phải trả Kugahime về nơi cũ.

Ngoài ra thiên hoàng Nintoku cũng yêu công chúa Yata là em cùng cha khác mẹ. Nhưng lần này cũng bị hoàng hậu Iwanohime phản đối.

Sách “Nhật Bản thư kỷ” có ghi lại hai bài thơ đối đáp giữa Thiên hoàng Nintoku và hoàng hậu Iwanohime về chuyện công chúa Yata.

Thiên hoàng Nitoku ngâm:
“Anh thề xin hãy tin anh
Nàng kia cũng chỉ là cành hoa chơi
Lúc nào em vắng mới mời
Vui chơi tí chút thì thôi ấy mà”.

Hoàng hậu Iwanohime đáp lại:
“Mặc áo hai tấm chẳng sao
Nhưng giường hai chiếc làm sao bây giờ?”

Bị phản đối quyết liệt, việc đưa Yata vào hậu cung không thành.Nhưng thiênhoàng Nintoku không từ bỏ ý định này.
Tám năm sau, lừa lúc Hoàng hậu Iwanohime đi du lịch tới Kishu, Thiên hoàng đưa Yata vào hậu cung vui vẻ ngày đêm.

Biết chyện hoàng hậu Iwanohime tức giận không trở về cung mà đến sống ở cung Tsutsukinomiya trong núi. Thiên hoàng Nintoku bao lần cử sứ giả đến thuyết phục nhưng hoàng hậu Iwanohime kiên quyết không về . Cuối cùng thiên hoàng Nintoku phải đích thân đến thuyết phục nhưng hoàng hậu Iwanohime kiên quyết không tiếp. Thiên hoàng Nintoku phải quay về.

5 năm sau, hoàng hậu Iwanohime qua đời. Thiên hoàng Nintoku phong cho Yata làm hoàng hậu nhưng sau đó chẳng bao lâu ông lại đem lòng yêu nhiều người phụ nữ khác.

Người đời sau coi Nintoku là một trong những thiên hoàng phong tình nhất trong lịch sử Nhật Bản.

Thoát “giấy khen lạ”, giáo viên phải làm được điều này

June 7, 2016 Leave a comment

– Trước hiện tượng vòng luẩn quẩn của những tấm giấy khen, có một điều đáng tiếc mà nhiều giáo viên, phụ huynh chưa để tâm chú ý.

Vòng luẩn quẩn của những tấm “giấy khen”

Mỗi khi hè đến, năm học kết thúc, các trang báo và mạng xã hội lại sôi nổi chuyện khen thưởng học sinh.Như một thói quen mới của thời đại thông tin, nhiều bố mẹ háo hức tải lên mạng ảnh chụp những tờ giấy khen con vừa nhận được ở trường.

Trong cơn bão của “chủ nghĩa thành tích” đang hoành hành, những tờ giấy khen không phải là thứ hiếm hoi nữa.Có khi gần như cả lớp được nhận giấy khen vì cả lớp là “học sinh giỏi”, “học sinh tiên tiến”.

giấy khen lạ, khen thưởng học sinh, thông tư 30, học sinh giỏi
Việc khen thưởng học sinh nên chú ý khuyến khích “động cơ bên trong”

Khi bị đẩy vào cuộc đua đương nhiên học sinh sẽ phân chia ra thành “đội thắng” và “đội thua”. “Đội thắng” được hiểu là nhóm học sinh có thành tích học tập tốt, được thầy cô, nhà trường khen thưởng, bố mẹ tự hào. Những học sinh sẽ có cảm giác “ưu việt”, “tự hào” về bản thân trái lại “đội thua” nơi bao gồm những học sinh có điểm số trung bình sẽ cảm thấy mình kém cỏi và dần dần cảm thấy tự tin, thiếu tự tin.

Trong bầu không khí thắng-thua thường trực ấy, cuộc đua “giành giật” giấy khen đã lôi kéo cả phụ huynh và giáo viên vào cuộc.

Giáo viên thì cố gắng để làm sao hoàn thành chỉ tiêu lớp mình có bao nhiêu phần trăm học sinh giỏi, bao nhiêu phần trăm học sinh tiên tiến, phụ huynh thì muốn con có giấy khen, danh hiệu này kia để “bằng bạn bằng bè”.

Nhiều cơ quan, tổ chức, khu phố, làng xã do thiếu sự cân nhắc đầy đủ đã biến hoạt động “khuyến học” của mình thành hoạt động “khuyến khích giành giấy khen” (quy ước: chỉ khen thưởng những học sinh nào nhận được giấy khen).

“Tấm giấy khen” đẩy cả nhà trường, phụ huynh, học sinh vào cuộc chạy đua không mục đích, mệt mỏi và bất tận.

Muốn khen học sinh đừng chỉ khen dựa vào điểm số

“Khen thưởng” và “trách phạt” là nguyên lý cơ bản của giáo dục.

Tuy nhiên, việc khen thưởng không dựa trên mục tiêu giáo dục hướng tới sự hình thành con người có nhân cách, tâm hồn phong phú sẽ đem lại những hệ quả xấu.

Khen thưởng chỉ là một cách tạo ra “động cơ ngoài” thúc đẩy học sinh học tập trong khi thứ làm cho con người liên tục suy nghĩ, sáng tạo, hành động hướng tới những điều tốt đẹp lại là “động cơ trong”.

“Động cơ trong” ấy là lòng tò mò khám phá thế giới, tìm kiếm chân lý, là sự thôi thúc nội tâm muốn biểu đạt, thể hiện bản thân, là cảm quan mạnh mẽ về “sứ mệnh”, về sự tồn tại của bản thân trong thế giới.

Nếu giáo dục chỉ chăm chú vào việc tạo ra “động cơ ngoài” thì đến một lúc nào đó khi việc khen thưởng không còn hoặc sự khen thưởng đó không đủ mạnh để kích thích, sự suy nghĩ, sáng tạo và hành động ở học sinh sẽ dừng lại hoặc tạo ra tác dụng trái ngược.

Nhìn vào cách thức khen thưởng học sinh hiện nay, có thể thấy việc khen thưởng chủ yếu dựa trên điểm số học tập (thu được qua các kì kiểm tra, kì thi) và thành tích trong các cuộc thi (đặc biệt là thi học sinh giỏi các cấp).

Tuy nhiên, ngay cả ở những nền giáo dục tiên tiến nhất hiện nay, khoảng cách giữa những gì học được trong chương trình học ở trường và những gì đời sống thực tiễn đòi hỏi vẫn rất lớn.

Vì thế, rất khó để khẳng định “thành thích học tập”trùng khớp với năng lực của cá nhân trong đời sống thực.

Đối với những nền giáo dục nặng về khoa cử, kinh viện hoặc lạc hậu thì khoảng cách này càng lớn.

Đời sống thực tiễn trong thế giới hiện nay đòi hỏi các cá nhân có năng lực tư duy phê phán và sáng tạo cao để tự mình phát hiện vấn đề, tự mình tìm kiếm phương pháp giải quyết và hợp tác với người khác để giải quyết nó.

Trong thế giới đa dạng về giá trị và ngày càng phẳng, các cá nhân phải biết cách sống hòa hợp với nhau vì thế con người có tâm hồn phong phú là tiền đề quan trọng.

Nếu thừa nhận những mệnh đề trên thì sẽ thấy việc khen thưởng học sinh vì mục đích giáo dục không thể chỉ dựa đơn thuần vào điểm số.

Trong giáo dục, hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, cảm thấy bản thân tiến bộ quan trọng hơn niềm vui chiến thắng người khác.

Việc khen thưởng nên chú ý đến các năng lực, hành động toàn diện của học sinh và việc khen không nên hiểu đơn giản là tặng…giấy khen.

Ví dụ, giáo viên có thể tạo ra những cơ hội để học sinh có thể suy ngẫm, sáng tạo và thể hiện bản thân.Khi đó, việc khen học sinh sẽ thể hiện bằng sự trân trọng những thành quả mà học sinh đã tạo ra và tạo ra cơ hội để học sinh biểu đạt, thể hiện bản thân.

Ở Nhật Bản, ngay từ trường mầm non, giáo viên đã rất chú ý tới điều này.

Nhà trường thường tổ chức các buổi “Happyokai” (Phát biểu) hay “Hyogenkai) (Biểu đạt) để học sinh có dịp thể hiện suy nghĩ, ý tưởng thông qua các tác phẩm mĩ thuật, sân khấu, hoạt động thể thao…

Trong các hoạt động này sự thắng thua sẽ không quan trọng bằng sự hợp tác, chia sẻ giữa học sinh với học sinh, phụ huynh với học sinh, giáo viên với học sinh và giữa các phụ huynh với nhau. Những tác phẩm học sinh tạo ra có thể được trưng bày tại lớp, trường học, siêu thị, bảo tàng…hoặc tặng lại học sinh.

Ở Việt Nam, rất hiếm những giáo viên chú ý tới việc tạo ra cơ hội cho học sinh suy ngẫm, sáng tạo và thể hiện các suy ngẫm, sáng tạo đó bằng sản phẩm của mình. Đấy là một điều đáng tiếc.

Giáo dục xét cho tới cùng là hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy để học sinh khám phá và phát triển bản thân trong điều kiện lý tưởng nhất có thể.

Vì thế, thay vì lo lắng xem cuối năm lớp mình sẽ có bao nhiêu học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh tiên tiến, giáo viên nên cố gắng tạo ra những cơ hội để học sinh sáng tạo, thể hiện sự sáng tạo và trân trọng những thành quả sáng tạo đó của các em.

Những bài văn, bài luận trong môn văn, sử, địa, công dân, những bức vẽ trong giờ mĩ thuật, những mô hình học sinh tạo ra trong giờ sinh học, vật lý… khi được tập hợp lại và trưng bày rất có thể sẽ là phần thưởng làm cho phụ huynh và học sinh cảm động hơn là những tấm giấy khen “từng mặt” hay “toàn diện”.

Con người rồi ai cũng phải lớn. Đến một lúc nào đó khi chia tay thời học sinh để làm người trưởng thành, những giấy khen, điểm số, danh hiệu thời đi học sẽ trở thành vô nghĩa.

Nhưng rất có thể những kỉ niệm và cảm giác sung sướng vì được bạn bè, thầy cô công nhận khi bản thân thể hiện sự sáng tạo sẽ còn mãi. Đấy sẽ là “động cơ trong” thúc đẩy con người theo đuổi những điều tốt đẹp.

Những con người có mong muốn sáng tạo và khẳng định bản thân thông qua sáng tạo sẽ có khả năng làm điều thiện và tạo ra thế giới tốt đẹp hơn những con người có xu hướng hành động để nhận lấy sự vui lòng hay lời khen từ những người trên.

Nguyễn Quốc Vương (Nhật Bản)

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/308776/thoat-giay-khen-la-giao-vien-phai-lam-duoc-dieu-nay.html

%d bloggers like this: