Trang chủ > Giáo dục lịch sử ở Việt Nam > Làm gì để giải quyết dứt điểm chuyện dạy thêm?

Làm gì để giải quyết dứt điểm chuyện dạy thêm?


Dạy thêm đã tồn tại ở Việt Nam trong một thời gian khá dài, vì thế nó liên quan đến rất nhiều người với những mối quan hệ quyền lợi chằng chịt. Chính vì thế khi giải quyết vấn đề này sẽ không tránh khỏi chuyện đụng chạm. Tuy nhiên, nếu muốn gìn giữ sự tôn nghiêm của nghề giáo và hướng đến một nền giáo dục nhân văn thì không thể không làm. Nếu giải quyết hợp lý, giáo dục trường học sẽ trở lại bản chất vốn có. Vấn đề là để giải quyết dứt điểm nó, cần có giải pháp nào?

Điểm yếu của lệnh cấm dạy thêm

Mặc dù ủng hộ quan điểm cần phải giải quyết vấn đề dạy thêm một cách kiên quyết, nhưng tôi không nghĩ rằng chủ trương cấm dạy thêm của TP.HCM có thể đem lại kết quả tốt đẹp.

Việc cấm giáo viên dạy thêm tại trường, tại nhà và buộc họ phải ra dạy ở các trung tâm có giấy phép nhìn bề ngoài có vẻ hợp lý, tuy nhiên nếu suy ngẫm kỹ sẽ thấy lệnh cấm này có nhiều sơ hở. Nói ngắn gọn nó là sự cải cách nửa vời khi chỉ tập trung giải quyết vấn đề ở phần ngọn. Giải pháp này rất có thể sẽ chỉ đem đến một kết quả duy nhất là kiểm soát được thu nhập từ việc dạy thêm của các giáo viên.

Tuy nhiên, hệ lụy của lệnh cấm này một khi được thực thi trên diện rộng sẽ rất lớn. Nó sẽ tạo ra những “hiện tượng tiêu cực” xung quanh việc cấp phép và thanh tra, kiểm tra các trung tâm dạy thêm. Các giáo viên dạy ở trung tâm cũng phải đối mặt với nguy cơ bị “ăn chặn”, “bắt chẹt” khi phải phụ thuộc vào các trung tâm.

Sự phát sinh tiêu cực khi tổ dân phố và các cơ quan quản lý giáo dục địa phương có quyền kiểm tra, lập biên bản, xử phạt các thầy cô dạy thêm cũng sẽ là chuyện đương nhiên. Nếu thế, dạy thêm không mất mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, hoặc từ chỗ này sang chỗ khác. Nếu muốn dạy thêm, chắc chắn người ta sẽ tìm cách để “lách” hoặc “chạy” để tồn tại. Cuộc chiến chống tham nhũng đã diễn ra bao nhiêu năm với cả một hệ thống các cơ quan phòng chống còn gặp khó khăn, thì việc quản lý dạy thêm bằng lệnh cấm đơn thuần không dễ đem lại kết quả.

Và nữa, chuyện gì sẽ xảy ra khi giáo viên và học sinh bị tổ dân phố hoặc “cơ quan chức năng” ập vào bắt quả tang? Sau chuyện ấy, còn ai dám can đảm đứng trên bục giảng để nói với học trò về chính nghĩa và tình yêu thương giữa con người với con người?

Bản thân chuyện dạy thêm được đưa ra bàn thảo trên mặt báo đã là một chuyện chẳng đặng đừng. Do yếu tố truyền thống và văn hóa, giáo viên vẫn là một hình ảnh có dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của người Việt. Những nhà giáo cho dù có dạy thêm hay không dạy thêm khi nghe bàn đi bàn lại chuyện này cũng cảm thấy bị tổn thương. Lệnh cấm trên một khi được thực hiện với những hình thức xử lý đi kèm, rất có thể sẽ làm nhiều giáo viên tổn thương hơn nữa. Vì thế, biện pháp giải quyết dạy thêm chỉ bằng lệnh cấm trên thực tế rất có thể sẽ gây ra hậu quả tồi tệ hơn tình trạng “mặc nhiên thừa nhận” như từ trước đến nay.

Giả sử lệnh cấm có được thực hiện nghiêm ngặt đi nữa thì chuyện giáo viên dạy chính học sinh của mình vẫn có thể diễn ra ở trung tâm. Không có gì đảm bảo rằng một khi dạy ở trung tâm thì giáo viên sẽ không có sự phân biệt đối xử đối với những học sinh đến học ở trung tâm mình dạy và học sinh không học ở đó. Nghĩa là mọi chuyện vẫn như cũ, chỉ thay đổi mỗi địa điểm học thêm và thu nhập của giáo viên giờ đây bị trung tâm kiểm soát và chia sẻ.

Biện pháp giải quyết vấn đề dạy thêm

Thực chất của việc giải quyết dạy thêm – học thêm là giải quyết “các vấn đề của nền giáo dục”, rộng hơn là giải quyết các vấn đề của xã hội. Bởi vì dạy thêm đúng ra chỉ là hiện tượng phát sinh hay hệ lụy của nhiều vấn đề lớn hơn.

Sẽ không giải quyết được vấn đề dạy thêm khi cải cách giáo dục dựa trên nền tảng cải cách chính trị-xã hội không được tiến hành thành công. Cải cách giáo dục lớn muốn thành công phải bắt đầu từ cải cách triết lý giáo dục. Việc cải cách này sẽ bắt đầu bằng việc định rõ cho được hai thành tố của triết lý giáo dục là: “hình ảnh xã hội tương lai” và “hình ảnh con người mơ ước”. Từ đó mới có thể hình dung và thực thi các cải cách khác trên mọi phương diện của giáo dục.

Đấy là biện pháp chiến lược lâu dài.

Về mặt kỹ thuật, để giải quyết vấn đề dạy thêm thực ra rất đơn giản. Dạy thêm-học thêm là một nhu cầu chính đáng nếu nhìn từ phía phụ huynh và học sinh. Ngay cả ở các nước có nền giáo dục tương đối tiên tiến và minh bạch, dạy thêm-học thêm cũng vẫn tồn tại. Ở Nhật Bản, cảnh học sinh học thêm sau khi kết thúc thời gian học ở trường và trở về nhà lúc trời đã tối không phải là chuyện hiếm. Tuy nhiên, ở những nước này, những hệ lụy phát sinh từ dạy thêm – học thêm ảnh hưởng đến quan hệ thầy trò và sự tôn nghiêm của nghề nghiệp được hạn chế đến mức tối đa vì ở đó họ có biện pháp rất khoa học.

Biện pháp đó là việc tách rời hoạt động dạy thêm và học thêm ra khỏi trường phổ thông. Việc dạy thêm và học thêm sẽ do các trung tâm (juku) đảm nhận với giáo viên cơ hữu hoặc hợp đồng của trung tâm đó. Luật pháp ở những nước này cấm tuyệt đối các giáo viên đang giảng dạy trong các trường phổ thông điều hành hoặc dạy thêm tại các trung tâm này. Điều này cũng tương tự như việc các giảng viên đại học không được phép luyện thi tại các “lò” như thường thấy ở Việt Nam.

Chuyện dạy thêm – học thêm trở thành việc riêng của từng gia đình. Những gia đình muốn con học thêm để tự tin khi thi vào các trường trung học phổ thông, đại học hoặc cải thiện thành tích học tập ở trường sẽ cho con đến các trung tâm này để học. Việc đó không có mối quan hệ gì với ngôi trường các em đang học và giáo viên đang dạy ở đó.

Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để thực hiện cơ chế trên là phải đảm bảo lương bổng và phúc lợi xã hội cho các giáo viên đang làm việc trong các trường phổ thông. Nếu lương trả cho họ thấp hơn giá trị lao động mà họ tạo ra nhưng lại yêu cầu họ phải liêm chính, có đạo đức nghề nghiệp thì đó là điều không tưởng.

Chuyện dạy thêm – học thêm trở thành việc riêng của từng gia đình. Những gia đình muốn con học thêm để tự tin khi thi vào các trường trung học phổ thông, đại học hoặc cải thiện thành tích học tập ở trường sẽ cho con đến các trung tâm này để học. Việc đó không có mối quan hệ gì với ngôi trường các em đang học và giáo viên đang dạy ở đó.

Đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng không phải là thứ tự nhiên có và “tồn tại lơ lửng”. Cần một cơ chế để khuyến khích các giáo viên có trình độ chuyên môn cao thay vì “thả”cho họ tự xoay kiếm thu nhập bằng các hình thức phi chính thống như hiện tại.

Dạy học ở Nhật là một nghề vất vả và có không ít giáo viên trẻ đã bỏ nghề trong ba năm đầu tiên, tuy nhiên mức lương của họ đủ để đảm bảo một cuộc sống bình thường. Một giáo viên khi mới bắt đầu vào nghề trung bình sẽ nhận mức lương khoảng 18-20 vạn yên (tương đương 36-40 triệu đồng). Mức lương này sẽ tăng theo thâm niên và mỗi năm giáo viên được thưởng hai lần giống như các công vụ viên và nhân viên ở các công ty bình thường khác. Tiền thưởng có thể dao động tùy địa phương, nhưng mỗi lần thưởng ít nhất cũng bằng 1 hoặc 1,5 tháng lương. Mức lương đó đủ để nuôi vợ và một con nhỏ. Nếu hai vợ chồng đều làm giáo viên hoặc người vợ làm một công việc khác có thu nhập thay vì nội trợ thuần túy, gia đình họ sẽ có cuộc sống ở mức trung lưu. Giáo viên sẽ chỉ chuyên tâm làm chuyên môn và các công việc giấy tờ có liên quan mà không phải (đồng thời cũng không thể) làm bất cứ việc gì khác trừ những việc đặc biệt hỗ trợ chuyên môn như nghiên cứu, viết sách, báo…

Ở Việt Nam hiện tại, để có đủ nguồn tài chính đảm bảo mức lương hợp lý cho giáo viên cần phải tiến hành cải cách để dân chủ hóa hệ thống hành chính giáo dục. Hệ thống hành chính giáo dục dân chủ sẽ là điều kiện đảm bảo cho minh bạch tài chính trong giáo dục. Minh bạch tài chính sẽ tạo ra nguồn tài nguyên đảm bảo lương bổng và phúc lợi đối với giáo viên. Nguyên lý này cũng cần được áp dụng tương tự đối với hệ thống hành chính công để tạo ra tiền đề cấm tất cả các viên chức, công chức sử dụng vị trí công vào việc riêng.

Mọi sự kêu gọi lương tâm nhà giáo sẽ vô nghĩa khi môi trường làm việc của giáo viên không được cải thiện cơ bản để những giáo viên trung thực, yêu nghề, có tài năng được yên tâm làm việc thay vì phải nhìn trước nhìn sau hoặc cố gắng phấn đấu “làm quan”.

Nguyễn Quốc Vương 

(Nhà giáo; nghiên cứu sinh Đại học Kanazawa, Nhật)

Bài viết đăng trên báo giấy Người Đô Thị phát hành 29.9.2016

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: