Archive

Archive for November, 2016

Người Việt không chỉ ít đọc mà còn ít viết hơn người Nhật?

November 30, 2016 Leave a comment

Nhớ có lần tôi đưa ra nhận xét rằng so với người Nhật, người Việt có vẻ lười đọc và lười viết hơn.

Có vài bạn phản đối điều này và chỉ dẫn tôi tới kho thư tịch Hán-Nôm để dẫn chứng cho điều mình nói.
Cần một nghiên cứu công phu để chứng minh hay phản chứng ý kiến của tôi. Nhưng theo những gì tôi cảm nhận và tra cứu được thì tôi tin là tôi không sai.

Thử sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp xem sao.
Chẳng hạn ta chọn lấy hai nhân vật nào đó hoạt động trong cùng lĩnh vực, sống ở cùng thời ở Nhật và Việt Nam rồi so sánh số lượng sách vở của họ cũng như những vấn đề họ viết ra xem sao.
Ở Việt Nam, nhân vật vốn được coi là đọc nhiều, viết nhiều là “nhà bác học Lê Quý Đôn”. Để đối sánh tôi chọn một nhân vật tương tự được coi là “ông tổ giáo dục học” của Nhật là Kaibara Ekiken.

 


Tiểu sử vắn tắt của cụ Lê Quý Đôn trên Wiki như sau

“Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴惇, 1726 – 1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương[1], tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường; là vị quan thời Lê trung hưng, cũng là nhà thơ, và được mệnh danh là ” nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến”[2].

Ở thế kỷ 18, các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa, Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người “tập đại hành” mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ 18 của nước ta đều được bao quát vào trong các tác phẩm của ông. Tác phẩm của ông như cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm của nó.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc”.

Tiểu sử của cụ Kaibara Ekiken trên wiki phần khái quát ghi ngắn gọn ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1630 và mất ngày 5 tháng 10 năm 1714. Là hoc giả thời Edo.

Trong cuốn “Học về lịch sử văn hóa giáo dục Nhật Bản” của Yadama Keigo và các tác giả khác (2014) cho biết cụ thể hơn về tiểu sử của cụ này. Theo đó, Kaibara Ekiken là con trai sinh ra trong một gia đình võ sĩ. Ngay từ nhỏ đã có tài năng, 14 tuổi học Nho, từ 28-35 tuổi du học Kyoto. 35 tuổi về quê hương Fukuoka mở trường dạy học cho đến khi qua đời. Thọ 85 tuổi.

Như vậy, cụ Lê Quý Đôn ở thời đại muộn hơn cụ Kaiba ra một chút. Cụ Lê Quý Đôn thọ 58 tuổi trong khi cụ Kaibara thọ 85 tuổi (đổi ngược lại số thự tự con số của cụ Lê Quý Đôn!)

Về sách vở hai cụ thì sao?

Wiki nói cụ Lê Quý Đôn viết 40 bộ sách bao gồm hàng trăm quyển nhưng bị thất lạc.

Nhìn danh sách sách của cụ thì thấy chủ đề, phạm vi sách của cụ chủ yếu là thơ, văn, lịch sử, địa lý, ghi chép khi đọc sách…

Cụ Kaibara thì viết 99 bộ sách với 251 quyển.
Như vậy đại khái có thể thấy số lượng sách của cụ Kaibara nhiều gấp đôi cụ Đôn.

Và hình như cụ Kaibara cũng chưa phải là người viết hăng nhất nước Nhật thời trung-cận thế.

Chủ đề viết của cụ cũng khá rộng từ Kinh học, Lịch sử, địa lý, dân tục học, văn học tới Y học, bản thảo (y học phương Đông), dưỡng sinh, giao dục.

Như vậy, sơ bộ có thể thấy tính thực dụng trong trước tác của cụ Kaibara có vẻ như cao hơn?!

Đấy chỉ là một so sánh nhỏ có tính gợi ý. Mọi chuyện sẽ thú vị hơn nhiều nếu so sánh đồng đại các nhân vật khác của Việt Nam và Nhật Bản trong các thời đại khác.

Advertisements

​Tại sao người Nhật ứng phó tốt trước thiên tai?

November 27, 2016 Leave a comment

27/11/2016 09:23 GMT+7

TTO – Có thể tìm nguyên nhân ở hai yếu tố là hệ thống xã hội và nền giáo dục dân chủ, khoa học tạo ra môi trường khuyến khích và nuôi dưỡng những sự hợp lý và tinh thần nhân văn.

Tại sao người Nhật ứng phó tốt trước thiên tai?
Ông Nguyễn Quốc Vương

Điểm chung giữa hệ thống xã hội và hệ thống giáo dục đó là luôn tạo ra tư thế và tinh thần “chuẩn bị sẵn sàng” ứng phó với thiên tai và các tình huống khẩn cấp.

Có một học giả Nhật từng viết đại ý rằng khi người nước ngoài đọc sách, xem tin tức và nghe người Nhật nói chuyện có thể họ sẽ rất ngạc nhiên khi thấy trong lúc cuộc sống yên bình và có vẻ tốt đẹp tại sao người Nhật lại luôn bàn và nói đi nói lại mãi về những “vấn đề”, những cái chưa hoàn thiện, những cái cần phải khắc phục?

Học giả này lý giải rằng đó là vì người Nhật luôn nghĩ đến việc cải tiến mọi thứ tốt hơn và đề phòng trường hợp xấu nên họ có xu hướng chú ý đến các “vấn đề” hơn là nhìn vào những “thành tựu” hay sự “tự hào”.

Chính vì xuất phát từ tư duy đó mà ngay trong cuộc sống bình thường yên ả hằng ngày, cả hệ thống xã hội của nước Nhật từ các cơ quan có trách nhiệm như bệnh viện, trường học, sở cứu hỏa, sở cảnh sát, quân đội tới các gia đình đều có tư thế và động tác chuẩn bị cho trường hợp khẩn cấp khi thiên tai xảy ra.

Tại sao người Nhật ứng phó tốt trước thiên tai?
Xe chở người Nhật đi tránh sóng thần chạy ngay ngắn trật tự trên đường – Ảnh: AP

Hệ thống an toàn và đưa ra thông tin cảnh báo thiên tai được xây dựng khắp toàn quốc và được kiểm tra thường xuyên.

Các cơ quan có liên quan như sở cứu hỏa, sở cảnh sát, quân đội, bệnh viện thường xuyên tổ chức diễn tập phòng chống thiên tai.

Ở từng khu phố đều có các địa điểm sơ tán khẩn cấp khi có thiên tai xảy ra, các ngôi trường có sân vận động rộng cũng trở thành địa điểm sơ tán khi cần thiết. Ngay cả ở từng gia đình, việc chuẩn bị các nhu yếu phẩm, vật dụng cần thiết phòng khi có thiên tai bất ngờ cũng trở thành chuyện đương nhiên.

Ở trường học, học sinh được học về thiên tai và phòng chống thiên tai một cách chi tiết và thiết thực, bao gồm cả các hoạt động luyện tập trong thực tế. Ví dụ đơn giản như chuyện xếp hàng – một hoạt động cần đến tinh thần tự giác và hợp tác luôn được chú trọng trong trường học.

Chính tư thế và tinh thần chủ động trước các “vấn đề” như thế cộng với cơ sở hạ tầng khoa học và đầy đủ tương đối đã giúp người Nhật không bị bất ngờ và hoảng loạn khi thiên tai xảy ra.

Những hành động bình tĩnh, có trật tự và giàu tính nhân văn như hợp tác, nhường nhịn lẫn nhau (xếp hàng mua thực phẩm hay khi sơ tán) của người Nhật khi xảy ra thiên tai làm cho người nước ngoài thán phục thật ra là những hành động họ vẫn lặp đi lặp lại như một thói quen hằng ngày ở nhiều không gian khác nhau.

Sự tin cậy vào hệ thống xã hội nói chung và sự tin cậy lẫn nhau đã thúc đẩy và duy trì thói quen đó. Nhờ thế, khi có thiên tai lớn như động đất, sóng thần, những thiệt hại thứ phát xảy ra do sự ứng phó chậm trễ hay hỗn loạn đã được giới hạn ở mức thấp nhất có thể.

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG (NCS tại Nhật)

Nhớ nhà

November 26, 2016 Leave a comment

Nhớ nhà

Lạnh ở xứ người sao lạnh thế
Lạnh từ gan ruột tới tận da
Nhìn đâu cũng thấy nhớ nhà
Dù không ngọn khói đang sa cuối chiều

Kanazawa, sớm 26.11.2016

Người Việt trầm trồ, đỏ mặt vì người Nhật rồi… để đấy?

November 26, 2016 Leave a comment

Nếu chỉ dừng lại ở mức trầm trồ và thán phục, có lẽ 100 năm sau, con cháu chúng ta sẽ vẫn còn ngạc nhiên trước người Nhật hệt như tiền nhân từ hơn một thế kỷ trước.

Xem lại Phần 1:Trật tự kinh ngạc trong thảm họa: Không phải vì người Nhật ‘tốt’

Nền tảng giáo dục

phần trước, tôi đã bàn về lý do thứ nhất khiến người Nhật có thể bình tĩnh, trật tự ngay cả trong thảm họa. Lý do thứ hai, theo tôi là sự tự giác và trưởng thành của người dân có được nhờ nền tảng xã hội vững mạnh và giáo dục.

Hành động của con người muốn đạt được hiệu quả và ổn định ngay cả trong tình huống khẩn cấp thì phải dựa trên các giá trị quan được định hình vững chắc và các thói quen được lặp đi lặp lại. Kể từ năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và công cuộc cải cách giáo dục bắt đầu, những giá trị quan có tính nhân văn, phổ quát như hòa bình, dân chủ, coi trọng con người đã trở thành các giá trị trung tâm của giáo dục Nhật Bản.

Dựa trên nền tảng ấy, giáo dục học sinh thành người công dân có tinh thần hợp tác, thói quen sinh hoạt văn minh, khoa học được tiến hành thông qua các môn giáo khoa và các sinh hoạt trường học phong phú khác. Hoạt động tự trị của các câu lạc bộ của học sinh trong trường học, nơi đề cao vai trò tự chủ của học sinh cũng có vai trò rất quan trọng.

Vì thế những thói quen như xếp hàng, giữ vệ sinh chung, tôn trọng sở hữu của người khác, chú ý tới an toàn, ứng phó với sự cố khẩn cấp như thiên tai… được giáo dục ngay từ khi trẻ mới vào nhà trẻ hoặc trường mầm non. Giáo dục gia đình và các sinh hoạt xã hội khác cũng chia sẻ và hỗ trợ nhà trường.

Nhờ thế, những sự “phi thường” mà người nước ngoài ngưỡng mộ đã trở thành nếp sinh hoạt rất bình thường ở Nhật. Những người đi lệch khỏi “thường thức” ấy, chẳng hạn chen ngang, xô đẩy…, sẽ phải nhận sự trừng phạt của dư luận hoặc pháp luật.

Người Việt trầm trồ, đỏ mặt vì người Nhật rồi… để đấy?Người Việt trầm trồ, đỏ mặt vì người Nhật rồi… để đấy?
Người Nhật xếp hàng nhận cơm nắm sau thảm họa động đất vừa qua. Ảnh: AP

Câu chuyện 100 năm trước

Sự thán phục của người Việt trước hành động ứng phó thiên tai của người Nhật tự nhiên làm tôi nhớ đến sự kinh ngạc của Phan Bội Châu hơn 100 năm trước trên đất Nhật.

Ngày đó, vào khoảng cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ tới Tokyo để tìm một du học sinh người Trung Quốc. Người phu xe chở hai cụ đã kéo xe đưa họ tới Chấn Võ học hiệu hỏi thăm nhưng không thấy. Người phu xe liền bảo hai cụ chờ để đi tìm hộ và cuối ngày đã trở lại và giúp tìm được du học sinh kia.

Khi hỏi tiền công người phu xe đáp “Hai hào năm xu”, cụ Phan Bội Châu đưa một đồng bạc tỏ ý đền ơn. Chẳng ngờ người phu xe nổi giận mắng “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước Nhật mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người Nhật Bản đó!”. Hai ông vừa cảm phục người phu xe vừa ngẫm tới chuyện nước mình mà thêm tủi[1].

Đó là câu chuyện hơn 100 năm trước. Thật ngẫu nhiên cách đây hai ngày, chúng tôi cũng gặp một chuyện đáng kinh ngạc khác.

Nhân dịp nhà nghiên cứu Trần Quang Đức tới Kyoto, tôi liền dẫn tới thành phố Nara thăm chùa Todaiji (Đông đại tự). Xuống ga Nara đi bộ một hồi thì ông bạn tôi chợt nhớ ra đã bỏ quên điện thoại ở trên tàu. Tôi gọi điện tới nhà ga cung cấp các thông tin để nhờ tìm giúp.

Đúng mùa du lịch, tàu đông tấp nập nên tôi cũng đâm lo. Nhưng thật kì diệu, ngày hôm sau khi tôi tới trung tâm thông tin hành lý bỏ quên ở nhà ga Kyoto, nhân viên thông báo nhà ga cách đó 20 ga đang giữ một chiếc điện thoại giống như tôi mô tả. Chúng tôi đã nhận lại chiếc điện thoại nguyên vẹn.

Một nữ du học sinh người Việt ở trường tôi cũng từng nhận lại chiếc Iphone 6 được gửi về đến tận nhà sau khi đã bỏ quên trong nhà vệ sinh ở một nhà ga của thành phố Sendai, cách chỗ chúng tôi khá xa.

Ngạc nhiên rồi… để đấy?

Những câu chuyện về người Nhật khiến người Việt ngạc nhiên sẽ còn dài nữa. Nhưng sau khi ngạc nhiên, thán phục rồi sẽ làm gì? Chúng ta sẽ chỉ trầm trồ, đem những chuyện ấy lên Facebook, quán nước hay bàn làm việc để bình luận, giết thời gian hay sẽ nhìn lại bản thân, nhìn ra xung quanh để tư duy và hành động?

Ở góc độ vĩ mô, có bao nhiêu người sẽ suy ngẫm tới chuyện làm thế nào để kiến tạo nên xã hội ngày một tốt đẹp hơn? Ở góc độ vi mô, sẽ có bao nhiêu người sẵn sàng tách khỏi đám đông để hành động theo những giá trị phổ quát và thói quen văn minh? Có bao nhiêu phụ huynh sẵn sàng dạy con học theo những thói quen văn minh, thay vì nhồi vào đầu con tư duy thiển cận về sự thiệt hơn như thường thấy?

Nếu chỉ dừng lại ở mức trầm trồ và thán phục, có lẽ 100 năm sau, con cháu chúng ta sẽ vẫn còn ngạc nhiên trước người Nhật hệt như cụ Phan Bội Châu và cụ Tăng Bạt Hổ hơn một thế kỷ trước.

Nguyễn Quốc Vương

——-

[1] Câu chuyện được Phan Bội Châu thuật lại trong tác phẩm “Tự phán”.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/nguoi-viet-tram-tro-do-mat-vi-nguoi-nhat-roi-de-day-341667.html

Trật tự kinh ngạc trong thảm họa: Không phải vì người Nhật ‘tốt’

November 25, 2016 Leave a comment

Người Việt chúng ta, vốn hàng ngày phải điên đầu với nạn kẹt xe, chen lấn, giành giật, khi chứng kiến những sự thật trên, hẳn sẽ đặt ra câu hỏi “Tại sao người Nhật có thể làm như vậy?”.

Bức ảnh đối lập với Nhật Bản khiến người Việt đỏ mặt 

Vài ngày trước, nước Nhật lại vừa xảy ra động đất ở chính khu vực 5 năm trước đã xảy ra thảm họa kép lịch sử.

Sự ứng phó của người Nhật trước thiên tai, một lần nữa lại làm người Việt ngỡ ngàng và thán phục. Không ít người Việt khi nhìn cảnh đó sẽ đặt ra câu hỏi “Tại sao người Nhật lại có thể làm như vậy?” trong mối liên tưởng với hiện thực ngổn ngang mà họ phải đối mặt hàng ngày.

Những “chuyện thường ngày” ở Nhật

Nhiều người nước ngoài, nhất là du khách đến từ các nước đang phát triển, khi tới Nhật thường rất ngạc nhiên trước sự sạch sẽ, trật tự trên đường phố, những địa điểm công cộng như bến tàu, bến xe, công viên, siêu thị. Trên thực tế chúng là những sinh hoạt hết sức bình thường ở nước Nhật, đến độ bản thân người Nhật cũng không để ý.

Ở Nhật cho dù đến bất cứ địa phương nào, ở bất cứ địa điểm nào người ta cũng sẽ thấy cảnh xếp hàng và giữ yên lặng. Người Nhật xếp hàng ở siêu thị, ở bến xe buýt, ở ga tàu điện ngầm, trong nhà ăn ở trường học… Mỗi khi đoàn tàu đến ga, họ sẽ để cho khách trên tàu xuống hết rồi mới lên tàu.

Ở các nhà ga, bãi đỗ taxi có rất nhiều xe của nhiều hãng và có cả taxi cá nhân nhưng đều xếp thành hàng theo thứ tự. Khách muốn bắt taxi sẽ lên chiếc xe ở đầu hàng mở cửa sẵn. Những xe trả khách xong lại chạy về xếp vào cuối hàng. Sự phối hợp chặt chẽ và hợp tác giữa các hãng taxi, hiệp hội vận tải và ban quản lý nhà ga đã tạo ra một hệ thống vận hành theo trật tự đảm bảo công bằng cho tất cả các lái xe.

Trên tàu xe, người Nhật có thể đọc sách, xem điện thoại hay ngủ gật nhưng rất ít người nói to ồn ào, gọi điện thoại hay để chuông điện thoại. Đương nhiên, hầu như không có người xô đẩy.

Trật tự kinh ngạc trong thảm họa: Không phải vì người Nhật ‘tốt’
Hình ảnh người dân ở Iwaki, tỉnh Fukushima, sơ tán đến các nơi cao hơn để tránh sóng thần vào sáng 22/11. Ảnh: Reuters
Trật tự kinh ngạc trong thảm họa: Không phải vì người Nhật ‘tốt’
Và đây là cảnh lưu thông hỗn loạn hàng ngày của người Việt

Nhịp điệu sinh hoạt bình thường ấy hầu như vẫn được duy trì khi xảy ra tình trạng bất thường, chẳng hạn động đất.

Khi thảm họa kép xảy ra 5 năm trước, tôi đang học ở một trường đại học Nhật cách vùng tâm chấn khoảng 700km. Trong hoàn cảnh động đất, sóng thần phá hủy phố xá, cơ sở hạ tầng làm hàng vạn người dân phải sơ tán và nhà máy điện nguyên tử bị sóng thần làm hỏng hệ thống làm lạnh gây rò rỉ chất phóng xạ, mọi việc vẫn được kiểm soát tương đối tốt. Những đoàn người vẫn kiên nhẫn xếp hàng mua thực phẩm và mua xăng theo đúng số lượng tối đa mỗi người có thể mua.

Truyền thông nước Nhật không coi những chuyện đó là điều đáng kinh ngạc, nhưng vẫn đánh giá rằng, sự bình tĩnh và hợp tác đó của người Nhật đã giúp ngăn chặn việc xảy ra “thiệt hại thứ cấp”, thường diễn ra sau thiên tai.

Sự bình tĩnh của người Nhật: Tại sao?

Người Việt chúng ta, vốn hàng ngày phải điên đầu với nạn kẹt xe, chen lấn, giành giật, khi chứng kiến những sự thật trên, hẳn sẽ đặt ra câu hỏi “Tại sao người Nhật có thể làm như vậy?”.

Sẽ có nhiều câu trả lời được đưa ra tùy theo cách tiếp cận của từng người. Với tôi, có hai lý do chủ yếu lý giải cho điều đó.

Thứ nhất, hệ thống xã hội Nhật được vận hành một cách dân chủ, khoa học và hợp lý dựa trên luật pháp đã tạo ra niềm tin vào sự hợp lý và sự công bằng của người dân.

Theo lẽ thường, người dân sẽ sốt ruột chen lấn và giành giật khi không tin rằng “rồi sẽ đến lượt mình”, hay “mình sẽ được đối xử công bằng” dựa trên các quy tắc chung đã được quyết định. Nói cách khác, biểu hiện chen lấn, giành giật, chạy chọt… là sự phản ánh của nỗi ám ảnh về lẽ công bằng và niềm tin vào lẽ công bằng ấy.

Người Nhật trật tự xếp hàng, hợp tác với nhau trong thảm họa không nằm ở vấn đề họ là “người tốt” hay không, mà họ hiểu rằng việc làm như thế là việc cần thiết phải làm để giảm thiểu thiệt hại và ngăn ngừa những bi kịch có thể nảy sinh.

Bộ máy quản trị của nước Nhật cùng với cơ sở hạ tầng ngay từ khi được thiết kế, xây dựng đã được tính toán kĩ để sẵn sàng ứng phó với các tình huống bất ngờ như thiên tai. Nền tảng “cứng” và “mềm” của xã hội đó đã nuôi dưỡng và khuyến khích các hành động khoa học, hợp lý thay vì đẩy người dân vào thế phải tự ứng phó tự phát kiểu “tự mình cứu mình”.

Lý do thứ hai thuộc về giáo dục, tôi sẽ bàn tiếp ở phần sau.

(Còn tiếp)

Nguyễn Quốc Vương

Bàn tròn: Giáo dục Việt Nam cải cách: Đừng cưa Mercedes thành công nông

November 23, 2016 Leave a comment
Đến với Bàn tròn giáo dục số đầu tiên, Trạm Đọc mời bạn gặp gỡ tác giả cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”, anh Nguyễn Quốc Vương.

Lời Trạm đọc: Các độc giả thân mến của Trạm! Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 là cơ hội để xã hội tôn vinh thầy cô giáo, nói nhiều hơn đến giáo dục. Ở nước ta, giáo dục là ưu tiên hàng đầu, cải cách giáo dục là mục tiêu quan trọng. Tuy vậy, kết quả của nỗ lực cải cách chưa tương xứng với kỳ vọng.
Để giúp độc giả trẻ có cái nhìn bao quát về nền giáo dục Việt Nam, so sánh một cách tương đối với các nền giáo dục tiên tiến, ở đây là Nhật Bản và Phần Lan, Trạm đọc phối hợp cùng Omega Books, thực hiện phỏng vấn hai chuyên gia.
+ Anh Nguyễn Quốc Vương: Nghiên cứu sinh giáo dục tại Nhật Bản, tác giả cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”
+ Tiến sĩ Nguyễn Khánh Trung: Tác giả cuốn sách “Giáo dục Việt Nam và Phần Lan”, hiện đang công tác tại Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục Ired
Dưới đây phần 1 của loạt bài “Bàn tròn giáo dục”, bài phỏng vấn chuyên gia Nguyễn Quốc Vương.

 

Chương trình học ở Việt Nam quá nặng, chưa sát với đòi hỏi của xã hội

Xin chào anh Nguyễn Quốc Vương! Từ con mắt của một nhà nghiên cứu giáo dục, anh có nhận xét gì về chương trình học ở Việt Nam hiện tại?
Anh Nguyễn Quốc Vương: Nghiên cứu sinh giáo dục tại Nhật Bản, tác giả cuốn sách “Sổ tay giáo dục Nhật Bản” (Xin đính chính tôi-NQV-chỉ là người dịch cuốn này, tác giả cuốn  này là Bộ giáo dục Nhật Bản, người pv đã có sự nhầm lẫn ở đây)

Có lẽ bạn hỏi về chương trình học ở Việt Nam đang được tiến hành ở các trường phổ thông chứ không phải chương trình mới sẽ được thực hiện cùng sách giáo khoa mới theo dự định từ 2018?

Theo quan sát của tôi, mặc dù đã qua rất nhiều lần cải cách, sửa chữa chương trình học ở Việt Nam hiện tại vẫn được thiết kế dựa trên tư duy truyền đạt tri thức. Trong tư duy đó trường học sẽ có nhiệm vụ là giảng dạy cho học sinh các tri thức và các tri thức này được cung cấp chủ yếu từ chương trình-sách giáo khoa và thông qua người thầy.

Chính vì bị ám ảnh bởi tư duy đó cho nên mới có chuyện tranh luận sách giáo khoa quá tải hay không quá tải, dày hay mỏng. Tác giả viết sách giáo khoa thì muốn viết sao cho đủ kiến thức, bỏ cái gì đi cũng tiếc. Thầy giáo khi dạy thì chỉ sợ thiếu thời gian, “cháy giáo án” vì cái gì cũng muốn giảng, cũng muốn nói. Bài giảng của thầy lại chủ yếu dựa vào sách giáo khoa thậm chí chỉ là sự tóm tắt sách giáo khoa nên nỗi lo sợ thiếu thời gian để truyền đạt tri thức tới học trò trở thành nỗi ám ảnh.

Chính vì thế vấn đề của chương trình học tập trong trường học ở Việt Nam theo tôi không phải là nhiều môn học thừa thãi mà trước hết nó nằm ở chỗ người ta lúng túng trong việc thiết kế chương trình do thiếu tư duy nền tảng hay nói cách khác là triết lý làm chỗ dựa.

Do đó cái thừa vẫn thừa mà cái thiếu vẫn thiếu. Chưa kể cho cơ chế một chương trình-một sách giáo khoa được duy trì quá lâu dẫn đến hệ lụy rất nhiều người làm giáo dục kể cả người làm ở vĩ mô và giáo viên tư duy rằng mọi chân lý đều nằm trong chương trình và sách giáo khoa. Học sinh cứ lĩnh hội được nó là đủ. Giáo viên chỉ là người thừa hành mà không có vai trò chủ động trong việc tự biên soạn, cơ cấu nên nội dung giáo dục của chính mình tạo ra các “thực tiễn giáo dục”. Do đó giáo dục Việt Nam có nhược điểm là “giáo dục không có thực tiễn” (1000 giáo viên ở 1000 trường thuộc các địa phương khác nhau đều dạy hệt như nhau về cơ bản).

 

Ở một số nước hiện nay, đặc biệt là Phần Lan, người ta muốn giảm tối đa số môn học, tăng thời lượng bàn luận trên lớp về các chủ đề sát sườn với cuộc sống. Anh đánh giá sao về xu hướng này, nó có diễn ra ở Nhật Bản không?

Ở Nhật theo quan sát của tôi từ 1945, khi Nhật cải cách giáo dục theo hướng dân chủ hóa thì xu hướng “cắt giảm tối đa” các môn học tôi không thấy có. Các môn học hiện nay về cơ bản vẫn là các môn học đã xuất hiện từ năm 1947. Chỉ một hai môn học biến mất hoặc hợp lại thành môn học mới. Cũng có trường hợp có môn học tách ra thành nhiều phân môn ví dụ như môn Xã hội tách thành nhiều môn có liên quan như Lịch sử-Địa lý, Luân lý, Công dân, Kinh tế-chính trị (tất nhiên vẫn còn có cả môn Xã hội).

Nhưng “các chủ đề sát sườn với cuộc sống” thì luôn được quan tâm. Ngay từ năm 1947 khi biên soạn bản Hướng dẫn học tập, văn bản chỉ đạo giáo viên toàn quốc, Bộ giáo dục Nhật đã dành một dung lượng khá lớn để nói về điều này, về chuyện giáo dục phải dựa trên nền tảng đời sống và nó phải là giáo dục đời sống. Đặc biệt trong môn Xã hội, học sinh phải được trải nghiệm đời sống để trưởng thành, để tập làm người công dân dân chủ có tư duy độc lập và tinh thần tự do. Triết lý này cho đến nay ở Nhật vẫn không lay chuyển.

Chính vì vậy trong chương trình giáo dục trường học ở Nhật thường ba gồm ba yếu tố: các môn giáo khoa-đạo đức (Đạo đức vốn không được coi là môn giáo khoa và gần đây Bộ giáo dục mới quyết định nó sẽ trở thành môn giáo khoa đặc biệt), hoạt động đặc biệt (hoạt động câu lạc bộ, hoạt động tự trị, nghi lễ trường học), Thời gian hoạt động tổng hợp (khoảng thời gian học tập tạo cơ hội cho học sinh học các vấn đề tổng hợp, những vấn đề xã hội hiện tại đang đối mặt).

Do đó trong chương trình học, học sinh từ tiểu học sẽ có cơ hội tìm hiểu, thảo luận rất nhiều vấn đề nóng bỏng của đời sống như sửa đổi hiến pháp, ô nhiễm môi trường, tăng hay giảm thuế tiêu dùng, chế độ tư pháp cho phép người dân thường tham gia xét xử tại tòa án (chế độ saibanin). …

Nói tóm lại trường học không phải đơn thuần là nơi chuẩn bị cho học sinh “bước vào đời” mà trường học thực sự là đời sống để học sinh trải nghiệm làm công dân và xã hội hóa bản thân.

Internet và xu hướng “Thoát trường học”

Anh đánh giá thế nào về vai trò của việc tự học với việc hình thành nhân cách, sự nghiệp của bản thân?


Tự học với bản thân tôi rất quan trọng. Để nghiên cứu về giáo dục Nhật thì ngôn ngữ (tiếng Nhật) là công cụ cực kì quan trọng. Tôi đến Nhật du học năm 2006 khi đã 25 tuổi và khi đó chỉ nói được vài từ chào hỏi. Học hết một năm rưỡi thực tập sinh (chủ yếu là học tiếng) tôi xin thi cao học nhưng thầy hưỡng dẫn không cho với lý do “Tiếng Nhật của anh chưa đủ”. Tôi phải cắn răng đi làm thuê và trả học phí khá lớn (khoảng 200 triệu đồng khi đó) cho việc được ở lại học tiếp.

Ở trường người ta chỉ dạy chủ yếu là ngữ pháp và nói là chủ yếu và đối tượng sinh viên quốc tế khá đa dạng. Chữ Hán tôi phải tự học toàn bộ từ viết tới đọc… Sau này khi đọc được sách của người Nhật và trở thành người thông dịch, phiên dịch tôi càng thấy rằng tự học với sự dẫn dắt của động lực mạnh mẽ từ bên trong sẽ có hiệu quả tốt. Tự học cũng sẽ dẫn mình đi được bền trên chặng đường dài.

Người Nhật Bản quan niệm ra sao về tự học?


Câu hỏi của anh hơi khó trả lời vì người Nhật rất…đa dạng (cười). Tuy nhiên quan sát đời sống trường học, đời sống thực tế và sách vở của người Nhật sẽ thấy ý thức tự học của họ rất rõ ràng.

Trước khi đến địa điểm nào, gặp ai người Nhật sẽ tự tìm kiếm thôn tin qua sách vở, internet về địa điểm hoặc người đó vô cùng chi tiết. Trong trường học từ tiểu học, học sinh đã được làm việc thường xuyên với thao tác tìm kiếm thông tin, tra cứu qua sách vở.Đọc sách-một phương thức tự học phổ biến, truyền thống và cũng có hiệu quả lâu bền nhất trở thành nếp sinh hoạt thường ngày của mọi tầng lớp. Họ đọc ở bất cứ đâu: thư viện, nhà ga, bệnh viện, trường học, công viên, trên tàu xe…

 

Tôi rất thích một khái niệm của ông Nguyễn Cảnh Bình – Chủ tịch HĐQT Alpha Books, về cái gọi là “Uber trong giáo dục”. Ý nói về một hệ thống khóa học không cần sở hữu giảng viên, phòng ốc, cơ sở vật chất… chỉ cần khung chương trình tốt, và khi đó sẽ thuê các giảng viên giỏi nhất về dạy cho học viên của mình. 

Anh đánh giá sao về quan điểm này?


Tôi nghĩ đó cũng là một ý tưởng tốt.

Một nền giáo dục hiện đại, một xã hội nhân văn phải là nơi chấp nhận các ý tưởng đa dạng. Trên thực tế có nhiều trường học, trung tâm cũng đã làm điều này rồi. Có thể gọi đó là một biểu hiện của “thoát trường học”. Tôi nghĩ trong thời đại từ giờ trở đi quan niệm về người giáo viên và trường học sẽ dần thay đổi. Không gian học tập sẽ mở rộng hơn và bất cứ đâu cũng có thể trở thành trường học. Người giáo viên cũng vậy sẽ được hiểu với hàm nghĩa rất rộng. Ở Nhật ngay cả ở trường phổ thông trong rất nhiều môn học, giờ học họ đã mời cả các chuyên gia, các nhà thực nghiệp hoặc người dân địa phương tới dạy thay vì dùng giáo viên kiểu truyền thống.

 

Anh có cho rằng Internet là “thầy của mọi người thầy”? Và nếu vậy, vai trò của giáo viên/lớp học ở đâu trong thời đại thông tin bùng nổ?


Internet quả thật là một ông thầy bách khoa thông thái. Tuy nhiên suy cho cùng nó chỉ là công cụ. Nếu cá nhân không được huấn luyện các năng lực cần thiết để sử dụng công cụ này thì nó cũng không có nhiều tác dụng. Vai của giáo viên là nằm ở chỗ làm cho học sinh có được năng lực đó. Chẳng hạn người thầy biết làm cho học sinh hiểu rằng để giải quyết vấn đề A thì lấy thông tin ở đâu, xử lý thông tin đó thế nào, đọc hiểu thông tin đó ra sao, tái cơ cấu các thông tin đã xử lý đó và kết hợp với các kinh nghiệm đã có như thế nào để tạo ra thông tin mới để giải quyết vấn đề.

Theo tôi hiểu thì trước đây theo kiểu tư duy truyền thống người thầy như cái bồ chứa chữ và dạy cho học sinh biết hết các chữ mình biết. Giờ đây, trong xã hội thông tin hóa, người thầy phải trở thành “người dẫn đường” hoặc người trợ giúp học sinh. Vì thế tôi nghĩ, cho dù biên độ “thoát trường học” được đẩy tới mức tối đa, người thầy vẫn sẽ có vị trí quan trọng.

Người Nhật học qua internet thế nào?


Lĩnh vực này tôi không tìm hiểu kĩ tuy nhiên theo quan sát của tôi thì Internet được sử dụng rất rộng rãi trong giáo dục ở Nhật để hỗ trợ cho cả thầy và trò. Việc tìm kiếm thông tin ở Nhật thông qua thư viện điện tử diễn ra rất thuận lợi.

Học từ giáo dục nước ngoài, đừng “Cưa Mercedes thành công nông”

Chúng ta đã mang rất nhiều kinh nghiệm giáo dục nước ngoài về áp dụng tại Việt Nam nhưng có vẻ không hiệu quả lắm nhỉ?


Tôi đã từng viết rằng việc học tập giáo dục nước ngoài ở Việt Nam giống như “cưa Mercedes thành công nông” (cười) Nói thế hơi tếu táo và dễ làm nhiều đồng nghiệp nổi cáu. Nhưng nếu nhìn lại các cuộc cải cách giáo dục bằng tư duy lịch sử sẽ thấy nó không phải là một nhận xét thiếu căn cứ. Chúng ta đã chỉ chú trọng du nhập các phần kĩ thuật bề nổi của nước ngoài và không chú ý đầy đủ đến việc xây dựng nền tảng và các nguyên lý cơ bản cho phần kĩ thuật đó chạy. Vì thế khi phần kĩ thuật đó được áp dụng trong thực tế trường học thì nó chạy không ổn đinh, không cho ra kết quả như mong muốn hoặc tạo ra sự rối loạn.

Cách khắc phục cần làm là phải chú ý hơn nữa đến các nền tảng cơ bản, các nguyên lý phố quát của giáo dục thế giới trước rồi mới tính đến phần kĩ thuật. Cả hai cần phải dựa trên các kết quả nghiên cứu công phu và thận trọng.

Vậy chúng ta nên học gì từ giáo dục nước ngoài nói chung và Nhật Bản nói riêng, ngay lúc này?

Tôi nghĩ không nên hiểu một cách đơn giản học hỏi là thấy cái gì đó hay ở nước ngoài rồi mang vào Việt Nam và làm theo. Việc học hỏi cũng không chỉ giới hạn ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Việc nghiên cứu, học hỏi cần phải được tiến hành với cả những nước đang gặp nhiều khó khăn như Việt Nam và những nước ở xung quanh chúng ta như Lào, Campuchia, Trung Quốc…

Khi nghiên cứu họ, một cách tự nhiên ta sẽ nhận ra mình đang ở đâu, mình đang đối mặt với vấn đề gì và cần phải làm gì.

Vì thế, với tôi học Nhật cũng tốt, học Phần Lan cũng hay. Nghiên cứu Lào, Campuchia …càng cần thiết.

Một nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục chấp nhận nhiều trường phái, nhiều ý tưởng, nhiều mô hình. Ở Nhật cho dù có những tính chất “Á đông” cố hữu, sự đa dạng này vẫn tồn tại. Chẳng hạn hệ thống trường tư khá mạnh. Đấy là một truyền thống có tính lịch sử của Nhật Bản. Truyền thống này có đóng góp khá lớn vào sự thành công của giáo dục Nhật.

Trạm Đọc xin cảm ơn anh về buổi trao đổi!

 

Thực hiện: Đỗ Hiếu – Hải Quỳnh/Trạm Đọc

http://tramdoc.vn/tin-tuc/ban-tron-giao-duc-viet-nam-cai-cach-dung-cua-mercedes-thanh-cong-nong-nonDW.html

Anh Nguyễn Quốc Vương, tác giả cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”: Sứ mệnh của giáo viên trong “Cải cách từ dưới lên”

November 23, 2016 Leave a comment

(BGĐT) – Anh Nguyễn Quốc Vương, quê xã Liên Chung, huyện Tân Yên (Bắc Giang) hiện là nghiên cứu sinh ngành Giáo dục lịch sử tại Nhật Bản vừa ra mắt cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc. Trả lời phỏng vấn Báo Bắc Giang, anh chia sẻ những trăn trở về giáo dục hiện nay và vai trò hết sức quan trọng của người giáo viên trong việc thúc đẩy cải cách giáo dục. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Anh Nguyễn Quốc Vương, tác giả, cuốn sách, Giáo dục, Việt Nam, Nhật Bản
Anh Nguyễn Quốc Vương.

Thưa anh, đọc nhiều bài báo cũng như những chia sẻ của anh trên trang Facebook cá nhân thấy rằng anh rất trăn trở trước thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay. Nếu như không nghiên cứu, học tập ở Nhật Bản thì liệu anh có đặt vấn đề “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” hay không?

Tôi viết những dòng đó ở hai tâm thế: Tâm thế của một công dân và tâm thế của một người làm giáo dục. Là một công dân đương nhiên tôi phải có trách nhiệm với những vấn đề của đất nước vì đơn giản một điều là số phận và hạnh phúc của cá nhân tôi cũng như gia đình tôi gắn liền với vận mệnh của đất nước. Là một người làm giáo dục, hiển nhiên, trong vai trò của người làm chuyên môn, tôi có trách nhiệm phải nghiên cứu, suy nghĩ về giáo dục nước nhà.

Do may mắn có 2 lần du học tại Nhật Bản, tôi đã lấy đây làm “điểm tựa” để nhìn lại giáo dục Việt Nam. Sự rời xa khoảng cách địa lý nhất định cộng với lượng thông tin phong phú đã giúp tôi hiểu rõ hơn nhiều vấn đề về giáo dục Việt Nam. Vì thế trong cuốn sách mới xuất bản gần đây, tập hợp những nghiên cứu, bài viết của tôi về giáo dục tôi đã lấy tên là “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” (NXB Phụ nữ, 2016). Đương nhiên, tôi không cho rằng Nhật Bản là một hình mẫu lý tưởng và Việt Nam chỉ cần sao chép là ổn. Những người học ở Mỹ, Pháp, Đức…cũng sẽ có cái nhìn so sánh tương tự. Nếu tôi không du học ở Nhật mà là một nước khác, rất có thể tên cuốn sách của tôi chỉ thay hai từ “Nhật Bản” bằng tên nước tôi học.

Xin anh giới thiệu những nội dung chủ yếu của cuốn sách? 

Cuốn sách này chia làm hai phần. Phần 1 là Giáo dục Việt Nam và giáo dục Nhật Bản, phần 2:  Giáo dục lịch sử Việt Nam và Nhật Bản. Đúng như tên gọi của nó, ở đây tôi trình bày về những gì mình nhận thức được về giáo dục Việt Nam và Nhật Bản trong cái nhìn so sánh. Trong phần thứ nhất tôi viết về những vấn đề có tính chất cơ bản của cải cách giáo dục như triết lý giáo dục, cải cách chương trình-sách giáo khoa, thực tiễn giáo dục…

Ở phần thứ hai, tôi viết về giáo dục lịch sử từ những vấn đề có tính chất vĩ mô như triết lý-mục tiêu giáo dục lịch sử, chương trình-sách giáo khoa lịch sử mối quan hệ giữa sử học và giáo dục lịch sử ở Việt Nam và Nhật Bản tới những vấn đề cụ thể đang nảy sinh như “nên dạy lịch sử theo kiểu tích hợp hay độc lập”, “tại sao học sinh không thích học lịch sử”…

Những gì được trình bày trong cuốn sách là kết quả tôi nhận thức được về giáo dục hai nước trong khoảng 10 năm (2006-2016) mà phần lớn thời gian đó tôi học ở Nhật.

Theo như lời giới thiệu của Nhà xuất bản thì cuốn “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” còn là nơi tác giả thể hiện những suy ngẫm cá nhân về giáo dục bao gồm cả những nỗi dằn vặt và lo lắng. Xin anh chia sẻ về những nỗi dằn vặt và lo lắng ấy? 

Sự lo lắng, dằn vặt này xuất phát từ tâm thế công dân và ý thức về người làm giáo dục tôi đã đề cập ở trên. Khi nhìn ra những vấn đề của giáo dục Việt Nam và hiểu được ở mức độ nào đó cách làm của thế giới, một cách tự nhiên tôi cảm thấy lo lắng cho cả hiện tại và tương lai của nền giáo dục nước nhà. Việc biết mà chỉ có thể làm được một vài việc nhỏ nhoi trong khi thời gian không chờ đợi nước mình là một nỗi khổ tâm. Tôi nghĩ có lẽ có nhiều người khác cũng cùng chung trong tâm trạng ấy.

Một trong những vấn đề được xã hội quan tâm hiện nay là chuyện “học thêm, dạy thêm”. Vừa rồi ở TP Hồ Chí Minh có lệnh cấm dạy thêm sau đó lại dỡ lệnh cấm. Về vấn đề này anh đã có bình luận là “đúng như dự đoán” của anh. Anh có thể lý giải về dự đoán này? 

Tôi bình luận “đúng như dự đoán” vì trước đó khi lệnh cấm mới ban hành tôi đã viết trên Facebook rằng lệnh cấm đó khó khả thi. Kết quả cuối cùng cho thấy các trường vẫn có thể dạy thêm nếu như học sinh tự nguyện. Nhưng trên thực tế, học sinh là “phía yếu thế” cho nên sự “tự nguyện” trong nhiều trường hợp cũng không đáng tin. Giáo viên, trường học nếu muốn ép học sinh học thêm sẽ có đủ cách gây áp lực “mềm” để học sinh phải “tự nguyện” học.

Muốn cấm dạy thêm thì phải học các nước khác. Ở đó, họ tách rời việc dạy thêm học thêm ra khỏi trường phổ thông. Việc dạy thêm học thêm sẽ được tiến hành ở các trung tâm có pháp nhân độc lập với hệ thống giáo viên riêng. Các giáo viên đang dạy ở trường phổ thông không được phép dạy ở các trung tâm này. Đương nhiên tiền đề để thực hiện lệnh cấm này phải là việc đảm bảo lương của giáo viên đủ sống mức bình thường. Nếu phải sống với bản năng sinh tồn, giáo viên sẽ có đủ cách để lách lệnh cấm và phía bên thực thi pháp luật cũng sẽ gặp khó khăn.

Tôi đã từng trao đổi với nhiều giáo viên và cả những người là lãnh đạo, quản lý giáo dục ở địa phương về những bất cập, hạn chế trong giáo dục hiện nay. Tuy nhiên, không ít người trả lời rằng: “Biết thế, nhưng trên chỉ đạo thế nào thì làm thế”(!?). Trong cuốn sách của anh có đề cập về “Cải cách giáo dục từ dưới lên”.  Thưa anh, phải chăng đây chính là cách “cởi trói” cho giáo viên và các trường học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục?

Điều anh nói đúng là một thực tế rất phổ biến. Mặc dù đa phần giáo viên đều nhận thấy rằng giáo dục đang đối mặt với rất nhiều vấn đề và cần phải cải cách. Tuy nhiên, kết luận của nhiều giáo viên lại rất…đơn giản: “Mình không làm được gì đâu. Chờ trên xem sao”. Hệ thống hành chính giáo dục mang nặng tính tập quyền và cơ chế “một chương trình-một sách giáo khoa” tồn tại quá lâu cho nên nhận thức của giáo viên về vai trò của bản thân trong cải cách giáo dục có phần hạn chế.

Rất nhiều người nghĩ mình đơn giản chỉ là người thừa hành trong khi cả lý luận và thực tiễn giáo dục hiện đại chỉ ra rằng chính giáo viên mới là người trực tiếp và thực sự làm cải cách giáo dục thông qua các thực tiễn giáo dục mà họ thực hiện hàng ngày, hàng giờ ở trường học. Muốn làm được như thế thì giáo viên phải giác ngộ được sứ mệnh của mình là tạo ra những công dân có khả năng xây dựng đất nước ngày một tốt đẹp hơn dựa trên tư duy độc lập và tinh thần phê phán, truy cầu chân lý.

Dạy cái gì, dạy như thế nào suy cho cùng sẽ phụ thuộc phần lớn vào người giáo viên vì chỉ họ mới hiểu được tình hình thực tế của địa phương, trường học và học sinh. Nhiều sự thay đổi nhỏ hợp lại sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng để tạo ra sự thay đổi lớn. Chính vì vậy mà tôi cho rằng những cải cách được tạo ra từ “việc nhỏ” như thế là “cải cách từ dưới lên”. Đây là hướng đi tôi nghĩ là khả dĩ nhất cho các giáo viên trong bối cảnh hiện tại khi nhu cầu cải cách vô cùng lớn, tình cảm nguyện vọng của người dân và học sinh đối với sự thay đổi trong giáo dục rất bức thiết nhưng cải cách giáo dục “từ trên xuống” lại đang gặp nhiều trở ngại.

Trong cuốn sách của mình, tôi dành một dung lượng nhất định để trình bày về các “thực tiễn” giáo dục ở Nhật Bản với tư cách là những biểu hiện cụ thể của trào lưu “cải cách từ dưới lên” cũng là nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo để giáo viên Việt Nam suy nghĩ về điều đó.

Anh Nguyễn Quốc Vương, tác giả, cuốn sách, Giáo dục, Việt Nam, Nhật Bản
Cô giáo Nhật Bản Kitamura Runa dạy tiếng Nhật cho học sinh tại Công ty cổ phần Nhân lực Quốc tế ICO.

Đã có độc giả bình luận về cuốn “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” như sau: “Tôi nghĩ sẽ không quá khó nếu như 1500 bản in đầu tiên đến được với nhiều người thì 1500 đó sẽ là những nhân tố góp phần thay đổi, cải tiến trong chính họ những suy tưởng về giáo dục và giáo dục lịch sử”. Còn anh kỳ vọng về “đứa con tinh thần” này như thế nào?

Đây là cuốn sách thứ hai tôi viết (cuốn trước là thơ) và là cuốn sách thứ 6 của tôi nếu tính cả sách dịch. Tuy nhiên nó lại là cuốn sách đầu tiên tôi viết về giáo dục. 1500 bản in là con số không lớn nhưng tôi chia sẻ với bạn đọc nói trên ở sự hy vọng. Sự tốt đẹp của một xã hội muốn bền vững phải dựa trên sự kiến tạo và duy trì của từng cá nhân-công dân chứ không thể chỉ dựa vào các minh quân hay các anh hùng. Tôi không dám cho rằng tất cả những gì tôi viết ra trong cuốn sách đều hay, đều đúng đắn, hợp lý nhưng vẫn hy vọng độc giả khi đọc nó sẽ tìm được những thông tin hữu ích để tham chiếu vào hiện tại từ đó tự giác ngộ lấy hướng đi cho mình trong tư duy về giáo dục.

Một người thay đổi tư duy và hành động tích cực sẽ có tác dụng đến những người xung quanh và dần dần tạo ra sức mạnh cộng hưởng để những sự thay đổi tốt đẹp nhân lên. Nếu như người có tư duy và hành động tích cực ấy lại hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thì tôi nghĩ hiệu quả tạo ra sẽ càng cao. Là tác giả, tôi sẽ vô cùng hạnh phúc khi cuốn sách được độc giả đón nhận và nó mang lại những thông tin hữu ích cho những người quan tâm tới giáo dục.

Xin cảm ơn anh!

Trần Đức (thực hiện)

Nguồn: http://baobacgiang.com.vn/bg/van-de-hom-nay/172086/anh-nguyen-quoc-vuong-tac-gia-cuon-sach-giao-duc-viet-nam-hoc-gi-tu-nhat-ban-su-menh-cua-giao-vien-trong-cai-cach-tu-duoi-len-.html

%d bloggers like this: