Archive

Archive for December, 2016

Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo tại Trân Châu Cảng (27/12/2016)

December 29, 2016 Leave a comment

Nguyễn Quốc Vương  dịch

 

Kính thưa tổng thống Obama, tư lệnh Harris, quý vị quan khách và toàn thể quốc dân Mĩ!
Giờ đây, tôi đang đứng ở Trân Châu Cảng, Pear Habour, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản.
Khi lắng tai nghe, tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ và trở lại ngoài khơi. Mặt vịnh xanh và yên bình được chiếu sáng bởi ánh nắng mềm mại tỏa xuống từ mặt trời.

 

Phía sau tôi, trên biển kia là khu tưởng niệm Arizona (Arizona Memorial-ND) màu trắng.

 

Tôi đã cùng với tổng thống Obama đến thăm nơi được xây dựng để an ủi linh hồn những người đã mất ấy.

 

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm.

 

Nơi đang khắc tên những người lính đã mất.

 

Những người lính tới đây từ California, Michigan, New York, Texas và nhiều nơi khác vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc cao cả đã chết trong lửa đỏ khi bom đạn xé chiến hạm Arizona thành hai mảnh vào ngày ấy.

 

Giờ đây, đã 75 năm trôi qua, dưới con tàu Arizona nằm nghiêng dưới đáy biển sâu vẫn còn rất nhiều binh sĩ đang yên nghỉ.
Khi lắng tai nghe với tất cả lòng mình, tôi nghe thấy tiếng của những người lính cùng với âm thanh của gió và của sóng.

 

Những tiếng trò chuyện vui vẻ, sôi nổi và dịu dàng vào buổi sáng chủ nhật ngày đó.
Tiếng của những người lính trẻ đang trò chuyện với nhau về tương lai và những giấc mơ của mình.
Tiếng gọi tên người mình yêu thương trong khoảnh khắc cuối cùng.
Tiếng nguyện cầu hạnh phúc cho những đứa trẻ sẽ chào đời.

 

Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.
Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt.

 

Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời.

 

Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành.

 

Kính thưa tổng thống Obama, toàn thể quốc dân nước Mĩ và người dân trên toàn thế giới!

 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.
Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.
Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.
Trong suốt chặng đường 70 năm sau chiến tranh với tư cách là một quốc gia hòa bình, người Nhật chúng tôi đã vừa thầm tự hào vừa duy trì phương châm không gì lay chuyển ấy.
Ở đây, trước những người lính đang ngủ yên trên chiến hạm Arizona, trước toàn thể quốc dân Mĩ và mọi người trên thế giới, tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản muốn thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ quyết tâm ấy.

Ngày hôm qua tôi đã đến thăm tấm bia tưởng niệm một sĩ quan đế quốc Nhật Bản ở căn cứ hải quân Kaneohe.

 

Đó là trung tá Ida Fusata, phi công máy bay chiến đấu, người đã trúng đạn và không thể trở lại mẫu hạm trong khi tấn công Trân Châu Cảng.
Những người lập tấm bia ở địa điểm trung tá Ida Fusata rơi không phải là người Nhật. Chính là những người lính Mĩ, những người ở phía bị tấn công đã làm điều ấy. Họ đã dựng tấm bia vì tôn trọng sự dũng cảm của người đã chết.
Trên tấm bia khắc ghi “Đại úy hải quân đế quốc Nhật Bản”, cấp bậc lúc đương thời, tỏ ý kính trọng đối với người lính đã dâng hiến sinh mệnh cho tổ quốc.
“The brave respect the brave”.
Người dũng cảm kính trọng người dũng cảm.

Nhà thơ Ambrose Bierce đã viết câu thơ như thế!
Cho dù là kẻ địch của nhau cũng vẫn thể hiện lòng kính trọng. Cho dù là kẻ thù căm tức lẫn nhau vẫn cố gắng để hiểu nhau.
Ở đó là tấm lòng khoan dung của quốc dân nước Mĩ.
Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ.

 

Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai.

 

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi.

Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên.

 

Trong đầu tôi lại hiện ra những lời được khắc trên bức tường ở khu tưởng niệm Lincoln ở Washington, nơi tôi đã đến thăm cùng tổng thống Obama.

 

“Cho dù với ai cũng phải hướng đến nhau bằng thiện ý thay vì ác ý. Tất cả chúng ta sẽ cùng hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn hòa bình vĩnh viễn”.

 

Đấy là lời của tổng thống Abraham Lincoln.
Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản, một lần nữa xin được chân thành cảm ơn sự khoan dung mà nước Mĩ và thế giới đã dành cho Nhật Bản.
Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử.
Đấy là hai nước đồng minh mà hơn bao giờ hết đã luôn cùng nhau đối mặt với biết bao khó khăn trên thế giới. Đấy là “Đồng minh của hi vọng”, thứ mở ra tương lai.

 

Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

 

Thứ mà tôi, cùng với tổng thống Obama, tại Trân Châu Cảng này muốn nói với tất cả mọi người trên thế giới chính là sức mạnh hòa giải.
Tấn thảm kịch của chiến tranh hiện nay vẫn chưa hề biến mất trên thế giới. Cái vòng luẩn quẩn của thù hận vẫn chưa hề chấm dứt.
Chính lúc này, thế giới đang cần đến lòng khoan dung và sức mạnh hòa giải.
Nhật-Mĩ, hai nước đã bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn, sự tin cậy dưới những giá trị chung lúc này có nghĩa vụ phải tiếp tục nói với thế giới về tầm quan trọng của khoan dung và sức mạnh của hòa giải.

 

Đồng minh Nhật-Mĩ vì thế là “Đồng minh của hi vọng”.
Vùng vịnh đang dõi theo chúng ta kia chỗ nào cũng thật thanh bình. Đấy là vịnh Trân Châu.

 

Vùng vịnh đẹp đẽ ngập tràn ánh sáng trân châu này chính là biểu tượng của khoan dung và hòa giải.
Tôi mong rằng con cái người Nhật chúng tôi, các con của tổng thống Obama, con của tất cả người Mĩ và con cháu của những người con ấy cùng toàn thể mọi người trên thế giới sẽ tiếp tục ghi nhớ Trân Châu Cảng như là biểu tượng của hòa giải.

 

Để có được điều đó, chúng tôi từ giờ về sau sẽ luôn cố gắng. Ở đây, cùng với tổng thống Obama, tôi cương quyết nói lời thề như thế.

 

Xin trân trọng cảm ơn.
http://www.kantei.go.jp/jp/97_abe/statement/2016/1227usa.html

Advertisements

Anh học trường đó ư, thế chắc phải thành vĩ nhân!

December 14, 2016 Leave a comment

  Không thể phủ nhận vai trò của đại học danh tiếng, nhưng đó không phải là “nồi nước thánh” diệu kì để bất cứ ai sau khi tắm qua đều trở nên siêu việt, thành vĩ nhân.Chuyện về các đại học danh tiếng thế giới, mà gần đây nhất là về thực hư thông tin Harvard lúc 4h rưỡi sáng, luôn thu hút dư luận với nhiều góc nhìn đa chiều. Từ đó có thể nhận ra nhiều vấn đề cơ bản khác xoay quanh nhận thức về giáo dục của người Việt: quan niệm về giáo dục, về nhà trường và đích đến của việc học tập.

Trường danh tiếng rất đáng đề cao…

Có một thực tế khó phủ nhận rằng bất cứ nước nào cũng đều tồn tại “thứ hạng” dành cho các trường học, có thể được đo đạc và công bố chính thức, hoặc dưới dạng “bất thành văn” dựa vào sự đánh giá của xã hội.

Chẳng hạn, ở Nhật, hàng năm người ta đều công bố ấn phẩm xếp loại các trường đại học theo rất nhiều tiêu chí. Cách xếp thứ hạng này dựa chủ yếu vào số liệu thống kê thực chứng thu thập được trong thực tế, như số liệu về tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp, tỉ lệ “chọi” khi thi đầu vào, tỉ lệ sinh viên thi đỗ trong các kì thi lấy giấy phép hành nghề giáo viên, luật sư, bác sĩ…

Ở Nhật, những trường đại học vốn xuất phát là đại học đế quốc và những trường tư có nguồn gốc ra đời từ thời Minh Trị, Taisho do các nhân vật xuất chúng thời đại đó lập ra cho đến nay vẫn là những ngôi trường mơ ước của rất nhiều phụ huynh, học sinh.

Nói chung xét một cách tổng thể, sự đánh giá cao các trường có danh tiếng, có thứ hạng là chuyện bình thường. Những ngôi trường đó vốn là những trường có truyền thống lâu đời, từng đào tạo ra nhiều nhân vật xuất chúng và khẳng định được giá trị của mình qua thời gian.

Anh học trường đó ư, thế chắc phải thành vĩ nhân!
Harvard, một trong những trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới. Ảnh: Storify.com

nhưng không phải là “nồi nước thánh” diệu kì

Sự tồn tại của các trường danh tiếng, các trường có thứ hạng cao cùng vai trò của nó trong thực tiễn là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu như từ chỗ đánh giá cao các trường đó chúng ta đi đến kết luận rằng tất cả những gì thuộc về nó đều tuyệt vời, ai từng học ở đó ra đều là những người ưu tú có năng lực hơn người. Lối nghĩ này có cái gì đó cũng tương tự như tư duy cho rằng phải có bằng tiến sĩ hay học hàm này nọ, phải đi du học mới là giỏi…

Cách thức tuyển sinh của các trường đại học đang ngày một thay đổi sao cho chọn được các sinh viên ưu tú. Song, những năng lực, phẩm chất được đặt ra trong kì thi có trùng khớp với năng lực, phẩm chất mà xã hội cần ở người công dân trưởng thành không lại là vấn đề khác. Vì thế không phải cứ ai thi được vào các trường danh tiếng đều mặc nhiên là giỏi.

Tương tự, cho dù chương trình giáo dục của trường ngày một được cải tiến cho gần hơn với đời sống, nhưng về cơ bản ngay cả ở các ngôi trường nổi tiếng, nội dung học tập và thực tiễn vẫn có những khoảng cách. Do đó, thành tích học tập trong trường rất có thể không phản ánh đúng và đầy đủ năng lực của con người trong thực tiễn đời sống sau này.

Hơn nữa trường học cũng chỉ là một trong nhiều môi trường, yếu tố tác động đến sự trưởng thành của con người. Nó không phải là “nồi nước thánh” diệu kì để bất cứ ai sau khi tắm qua nó đều trở thành… vĩ nhân hay người có năng lực ưu việt.

Nếu tìm kiếm trong thực tế đời sống, người ta cũng sẽ thấy vô số trường hợp các cá nhân không xuất thân từ các trường danh tiếng vẫn làm được những điều kì diệu và đóng góp lớn cho cộng đồng. Trái lại, người ta cũng dễ dàng tìm được những cá nhân tốt nghiệp các trường danh tiếng, có đầy bằng cấp danh giá nhưng không làm được gì đáng kể, thậm chí có người thất bại.

Ngẫm cho cùng, lối vào cổng trường các trường danh tiếng hay rộng hơn là cánh cổng đại học cũng chỉ là một con đường, mà nếu có cơ hội để đi vào sẽ là điều tuyệt vời. Nhưng dẫu thế, đó cũng chỉ là bước khởi đầu của một con đường rất xa, nếu tuyệt đối hóa nó, rất có thể, người học sẽ lầm tưởng sự khởi đầu chính là đích đến.

Tiếp sau sự “tuyệt đối hóa” sẽ là sự “thần thánh hóa”, mà hệ quả sẽ là làm cho các cuộc đua trong giáo dục trở nên ngày một khốc liệt và làm cho người học dễ mắc sai lầm trong nhận thức về mục tiêu.

Nguyễn Quốc Vương

Gọi “em” hay “con” không quan trọng bằng tránh ngộ nhận về quyền lực

December 12, 2016 Leave a comment

Vấn đề đặt ra cho giáo viên và trường học hiện nay không phải là bản thân chuyện xưng hô “con” hay “em” mà vấn đề nằm ở tư thế bình đẳng trong việc tiếp cận chân lý và sự tôn trọng lẫn nhau.

“Em” hay “con” đều nằm trong lối tư duy “gia trưởng”

Khi tôi còn dạy ở trường phổ thông, có nhiều học sinh xưng “em” và nhiều học sinh khác xưng là “con”. Với tôi, chuyện học sinh xưng là “con” hay “em” không phải là chuyện lớn.

Gọi “em” hay “con” không quan trọng bằng tránh ngộ nhận về quyền lực
Giáo viên cần phải chú ý trong mối quan hệ với học sinh là sự tôn trọng cá tính, cảm xúc, sự biểu đạt (Ảnh Đinh Quang Tuấn)

Thực chất, vấn đề đặt ra cho giáo viên và trường học hiện nay không phải là bản thân chuyện xưng hô “con” hay “em” mà vấn đề nằm ở tư thế bình đẳng trong việc tiếp cận chân lý và sự tôn trọng lẫn nhau.

Cách gọi “em” hay “con” thực chất đều là cách xưng hô nằm trong lối tư duy “gia trưởng” coi cả xã hội là một gia đình và các thành viên của xã hội là thành viên của gia đình. Chính vì vậy trong cách xưng hô của người Việt, bất cứ ai trong xã hội cho dù xa lạ mới gặp lần đầu hay nhân viên công vụ, quan chức… đều được gọi theo cách gọi các thành viên trong gia đình như cô, dì, chú, bác, anh…thậm chí là “bố”, “mẹ”, “con”. Cách xưng hô này gắn liền với nền tảng văn hóa vì vậy nếu muốn thay đổi sẽ không phải là chuyện đơn giản.

Điều cần thiết và quan trọng mà giáo viên cần phải chú ý trong mối quan hệ với học sinh là sự tôn trọng cá tính, cảm xúc, sự biểu đạt và nhu cầu truy tìm chân lý của các em.

Trên thực tế có những giáo viên trong giao tiếp rất ngọt ngào, khéo léo nhưng lại can thiệp trực tiếp và thô bạo vào cảm xúc, cá tính, sự biểu đạt và thậm chí cả nhu cầu truy tìm chân lý của các em.

Rất có thể trong lòng giáo viên ấy muốn những điều tốt đẹp cho học sinh và làm điều đó với tâm thế của một người “bố”, một người “mẹ”. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên ở trường học là mối quan hệ dựa trên các quy ước và cam kết xã hội nó không phải là mối quan hệ dựa trên quyền lợi kinh tế và huyết thống. Trường học cũng không phải là gia đình. Vì vậy trong phần lớn các trường hợp, cự can thiệp này của giáo viên đều dẫn đến sự phản kháng của học sinh hoặc tạo ra hiệu quả giáo dục ngược.

Sự ngộ nhận giữa “quyền lực” và “quyền uy”

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh ở Việt Nam, Takaka Yoshitaka, một chuyên gia người Nhật đã từng có thời gian ba năm ( 2004 – 2007) làm việc ở Việt Nam trong vai trò cố vấn giáo dục đã đưa ra những nhận xét thú vị. Ông cho rằng mối quan hệ thầy trò ở nhà trường Việt Nam bị phá hỏng vì người thầy thường ngộ nhận giữa “quyền lực” và “quyền uy”.

Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường dùng lẫn lộn hai từ gần nghĩa là quyền lực” và “quyền uy”. Tuy nhiên, Takana cho rằng trong lĩnh vực giáo dục chúng có hàm nghĩa khác hẳn nhau.

Theo đó, “quyền uy” của người thầy đối với học sinh là việc cho dù người thầy có ý đồ hay không có ý đồ đối với những lời nói, hành động của mình thì học trò vẫn lắng nghe và có thái độ vâng lời.

Gọi “em” hay “con” không quan trọng bằng tránh ngộ nhận về quyền lực
Ảnh Đinh Quang Tuấn

Quyền uy” của người thầy sinh ra từ quá trình người học sinh tự mình đánh giá giáo viên ở nhiều phương diện và nếu như trong đầu người học sinh bật ra ý nghĩ “A! đây quả là một người giáo viên đáng kính, một người giáo viên tuyệt vời!” thì trong trường hợp ấy anh ta sẽ tự nguyện trao “quyền uy” cho người thầy. Tức là “quyền uy” là thứ mà học sinh tự nguyện tạo ra rồi trao cho người giáo viên.

Nếu như “quyền uy” là quà tặng tự nguyện của học sinh cho người thầy, thì quyền lực là thứ mà bản thân người giáo viên có thể đơn phương quyết định.

Do đó người thầy “quyền lực” sẽ là người thầy luôn tuyệt đối hóa tính đúng đắn của những chân lý và họ truyền đạt và không chấp nhận các phương thức tiếp cận, diễn giải chân lý khác. Người thầy ấy cũng sẽ có tham vọng ép học sinh phải tuân lệnh vô điều kiện và không bận tâm xem người khác hay học sinh nghĩ gì về mình.

Hậu quả của việc ngộ nhận nói trên đã tạo ra một mối quan hệ trên – dưới giữa giáo viên và học sinh rất nặng nề.

Tanaka đã quan sát và mô tả biểu hiện của mối quan hệ đó thông qua hình ảnh cây thước và tiếng gõ chát chúa của nó lên mặt bảng, mặt bàn khi giáo viên ra hiệu cho học sinh đọc bài. Ông cũng chú ý đặc biệt đến cách giơ tay phát biểu với cánh tay đặt vuông góc trên mặt bàn lẫn không khí nghiêm trang, trật tự đến khó ngờ trong lớp học khi giáo viên giảng bài.

Những biểu hiện đó, theo ông, thể hiện một sự thật “Trong lớp học người giáo viên đã trở thành người có quyền lực tuyệt đối. Người thầy đã trở thành biểu tượng của quyền lực khi nắm trong tay cả tri thức và kĩ năng”. Điều này tất yếu dẫn tới hệ lụy học sinh không có được tâm thế, tinh thần thoải mái để học tập.“Trong giờ học không hề thấy ở các em học sinh dáng vẻ tự nhiên vốn có…thông thường thì lớp học sẽ phải đầy ắp bầu không khí sôi nổi nhưng có vẻ như tinh thần của học sinh ở đây dường như lại ở một thế giới khác”.

Không thể không sửa đổi

Câu chuyện về sự xưng hô giữa giáo viên và học sinh ở trên thực chất là sự phản ánh bề ngoài của vấn đề dân chủ hóa đời sống trường học.

Trường học trong xã hội hiện đại không còn là nơi độc quyền cung cấp tri thức cho học sinh nữa. Vì thế, trong lý luận giáo dục hiện đại, người thầy sẽ trở thành người khơi nguồn cảm hứng, trợ giúp, tư vấn và dẫn đường cho học sinh thay vì là người truyền đạt tri thức thuần túy và áp đặt giá trị quan, đạo đức lên học sinh.

Thực chất của quá trình học tập của học sinh ở trường học là quá trình “xã hội hóa” – quá trình học sinh cải biến mình để trở thành một thành viên của xã hội. Trong quá trình “xã hội hóa” đó, không chỉ chương trình – sách giáo khoa mà bầu không khí trong nhà trường cùng những sinh hoạt muôn màu của nó bao gồm cả những gì thuộc về mối quan hệ giáo viên – học sinh sẽ tác động lớn tới học sinh.

Nếu như chúng ta mong muốn có được những học sinh có khả năng kiến tạo nên xã hội dân chủ, văn minh thì không thể không chú ý và sửa đổi mối quan hệ ấy.

Nguyễn Quốc Vương

Vì sao trẻ em Nhật bình tĩnh trước thiên tai?

December 1, 2016 Leave a comment

Khi đi tìm câu trả lời cho sự bình tĩnh và ứng phó trong trật tự của người Nhật trước thiên tai, nhiều người Việt cho rằng một phần kết quả đó có được là nhờ giáo dục.

Nhưng hầu như chưa có ai chỉ ra một cách cụ thể người Nhật đã được học như thế nào về phòng chống thiên tai trong trường học.

Những nội dung liên quan đến phòng chống thiên tai xuất hiện trong nhiều môn học, hoạt động giáo dục nhưng chủ yếu tập trung ở môn Xã hội và sau này từ thập niên 90, có thêm môn Đời sống.

Vì sao trẻ em Nhật bình tĩnh trước thiên tai?

Các em nhỏ đang thực hành phòng chống thiên tai

Ở cấp tiểu học, nó được trình bày trong “Hướng dẫn học tập” chỉ đạo nội dung và phương pháp học tập dành cho các trường phổ thông trên toàn quốc của Bộ Giáo dục Nhật Bản, được ban hành lần đầu năm 1947, bao gồm bản tổng quát và các bản dành riêng cho từng môn. Sau đó định kỳ khoảng 10 năm được xem xét lại. Bản hiện hành được ban hành năm 2008.

Nội dung học tập về phòng chống thiên tai trong bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội tập I (1947)

Từ năm 1947, hệ phổ thông của Nhật chia làm ba cấp: tiểu học (6 năm), trung học cơ sở (3 năm) và trung học phổ thông (3 năm). Nội dung học tập ở từng lớp được cấu tạo theo từng chủ đề (vấn đề).

Về các nội dung có liên quan đến phòng chống thiên tai, ở lớp 1, học sinh sẽ được học chủ đề có tên “Để trở thành đứa trẻ tốt ở nhà và ở trường, chúng ta phải làm gì?”.

Trong chủ đề này, Hướng dẫn học tập gợi ý các ví dụ về phòng chống hiểm họa ở gia đình, trường học như: Thảo luận, viết về những điều ở trường hay ở nhà cần phải chú ý đề phòng (đèn, thiết bị điện, mảnh thủy tinh, đinh, động, thực vật có hại, tro than, lửa…); Thảo luận về các quy định cần thiết nhằm phòng chống hiểm họa khi đi cầu thang, đi ngoài hành lang, hoạt động ở sân vận động, sử dụng dụng cụ.., phát hiện ra các lí do cần đến các quy định đó; Luyện tập chống hỏa hoạn và ghi nhớ cửa thoát hiểm; Thảo luận về việc đã từng bị thương…

Ở lớp 2, học sinh được học chủ đề “Chúng ta phải làm gì để sống an toàn và khỏe mạnh?”. Trong chủ đề này, Hướng dẫn học tập đưa ra hoạt động tập huấn cứu hỏa (làm thế nào để chạy thoát an toàn, nếu quần áo bắt lửa thì phải làm gì?).

Ở lớp 4, học sinh được học chủ đề “Tổ tiên chúng ta đã làm gì để phòng chống các hiểm họa?”. Trong đó, các hoạt động học tập được phân làm hai nhóm.

Nhóm một là các hoạt động học tập giúp học sinh “Biết về phương pháp phòng chống hiểm họa của tổ tiên” như:Báo cáo về các loại thiên tai và thiệt hại do chúng gây ra; Quan sát rừng chắn bão; Nghe và cùng nói về thiệt hại do nước gây ra; Quan sát các công trình chống lũ lụt như đê, đập, cống và vẽ tranh về chúng; Cùng thảo luận xem khi bị lũ lụt con người giúp đỡ lẫn nhau như thế nào và nghe các câu chuyện về nó; Nghe và đọc các câu chuyện về những người dấn thân trị thủy ở địa phương; Cùng nói và viết về sự đáng sợ của hỏa hoạn; Đọc và nghe về sự phát triển của nghề cứu hỏa; Nghe các câu chuyện về dụng cụ cứu hỏa thời xưa, thu thập chúng; Làm áp phích phòng chống hỏa hoạn.

Nhóm hai là các hoạt động học tập giúp học sinh “Biết về các phương pháp cảnh báo hiểm họa” như: Nghe chuông và còi báo động, ghi nhớ tín hiệu; Nghe thông báo cảnh báo nguy hiểm từ đài, điện thoại; Bắt chước phát thanh dự báo thời tiết; Báo cáo về những việc cần phải chuẩn bị của người leo núi nhằm tránh nguy hiểm.

Ở lớp 6, học sinh sẽ học chủ đề “Làm thế nào để chúng ta có cuộc sống an toàn?”. Trong chủ đề này, học sinh học các phương pháp phòng chống tai nạn như:Lập kế hoạch làm cho quê hương an toàn và cùng mọi người thực hiện; Mời nhân viên cứu hỏa hoặc cảnh sát trực đêm tới và nghe họ nói về công việc của mình; Quan sát cửa thoát hiểm, dụng cụ cứu hỏa và máy cảnh báo hỏa hoạn ở rạp chiếu phim, rạp kịch, cửa hàng bách hóa, tòa nhà công cộng và cùng thảo luận về hành động khi có hỏa hoạn xảy ra; Diễn tập phòng chống hỏa hoạn; Cùng nói về ý nghĩa của các tín hiệu như chuông, còi báo động, kẻng, xây dựng các quy tắc cho bản thân phải làm gì trong trường hợp đó; Thực hành ứng cứu khẩn cấp.

Vì sao trẻ em Nhật bình tĩnh trước thiên tai?
Trẻ em tham dự một buổi lễ trồng cây gần bờ biển ở TP Soma được tổ chức vào tháng 6/2015, thuộc dự án phòng chống thiên tai

Nội dung học tập về phòng chống thiên tai trong bản Hướng dẫn học tập hiện hành

Bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ trước, môn Đời sống được thiết lập ở trường tiểu học dành cho học sinh lớp 1 và 2, tập trung vào mối quan hệ giữa học sinh với tự nhiên, đời sống xã hội và nhà trường. Đây là môn học cơ sở để học sinh học tiếp môn Xã hội ở các lớp tiếp theo.

Phòng chống thiên tai được đưa vào các nội dung học tập cho dù bản Hướng dẫn học tập không đề cập trực tiếp.

Từlớp 3 tới lớp 6, học sinh sẽ được học môn Xã hội với mục tiêu là: “Làm cho học sinh có hiểu biết về đời sống xã hội, giáo dục hiểu biết và tình yêu đối với lãnh thổ và lịch sử nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng quốc gia – xã hội hòa bình, dân chủ và sinh sống trong cộng đồng quốc tế”.

Các hoạt động học tập liên quan đến phòng chống thiên tai được thiết kế dựa trên mục tiêu đó.

Chẳng hạn ở lớp 3 và 4 học sinh sẽ được học nội dung “Tiến hành tham quan học tập, điều tra, tra cứu các tư liệu liên quan đến việc phòng chống tai nạn và thiên tai ở xã hội địa phương từ đó suy ngẫm về tác dụng của các cơ quan bảo vệ an toàn của người dân cũng như sự sáng tạo, nỗ lực của những người làm việc ở các cơ quan đó cũng như của người dân địa phương”.

Cụ thể hơn, học sinh sẽ tập trung học tập hai nội dung: Sự hợp tác của các cơ quan có liên quan với người dân địa phương trong việc phòng chống tai nạn và thiên tai; Thể chế ứng phó với tình trạng khẩn cấp do các cơ quan có liên quan liên kết với nhau tạo ra.

Để làm rõ về phòng chống thiên tai, giáo viên sẽ lựa chọn và đưa ra các ví dụ về thiên tai như hỏa hoạn, bão lụt, động đất để học sinh tìm hiểu, học tập.

Tương tự, ở lớp 5, mục tiêu học tập của học sinh trong môn Xã hội là: “làm cho học sinh có hiểu biết về đất đai, tài nguyên của nước ta và mối quan hệ giữa môi trường nước ta với đời sống quốc dân, có mối quan tâm sâu sắc tới tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, phònng chống thiên tai, giáo dục tình yêu đối với tài nguyên, đất đai”.

Từ năm 1947, dù được biên soạn dựa trên bản Hướng dẫn học tập nhưng từng bộ sách của các nhà xuất bản lại có cách tiếp cận và trình bày nội dung riêng rất phong phú. Cơ chế này cũng giúp giáo viên tiến hành các giáo dục thực tiễn có tính độc lập tương đối với chương trình (bản Hướng dẫn học tập) và sách giáo khoa. Trong đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh tiến hành điều tra, thu thập thông tin ở ngay địa phương mình và dùng nó làm nguyên liệu thiết kế nên bài học.

Vì vậy, hoạt động học tập về phòng chống thiên tai không chỉ là việc học các tri thức giáo khoa mà còn là các hoạt động thực tiễn và hữu ích cho đời sống.

Nguyễn Quốc Vương

%d bloggers like this: