Archive

Archive for April, 2017

Biên soạn lại SGK: Dạy kiểu ‘rót nước’ làm thui chột tư duy phản biện

April 23, 2017 Leave a comment

Sách giáo khoa tốt phải là cuốn sách giúp cho cả giáo viên và học sinh cảm thấy tự do, thoải mái trong quá trình truy tìm chân lý.

Xem lại Phần 1: Đã cải tiến thì đừng ‘lửng lơ’

“Tín ngưỡng sách giáo khoa”

Trong cải cách giáo dục, cho dù Sách giáo khoa (SGK) có tốt đến mấy đi chăng nữa mà nó không được sử dụng hiệu quả ở trường phổ thông thì kết quả cải cách cũng sẽ không mấy khả quan. Trên thực tế, do cơ chế một chương trình – một SGK tồn tại quá lâu cùng với tư duy coi trọng truyền đạt tri thức và thi cử, “tín ngưỡng SGK” ở Việt Nam rất thịnh hành. Xu hướng coi những gì viết trong SGK hoàn toàn đúng và là chân lý tuyệt đối rất mạnh.

Kết quả là cả giáo viên và học sinh có xu hướng coi nội dung của SGK trùng khớp hoàn toàn với nội dung giáo dục. Vì vậy, việc giảng dạy của giáo viên và việc học của học sinh trên thực tế biến thành việc truyền đạt và lĩnh hội nội dung SGK.

Thế nên, trong các kì thi giáo viên giỏi, thật hài hước là có rất nhiều giáo viên được đánh giá là “giỏi” thực chất chỉ là người diễn giải và truyền đạt nội dung SGK logic hơn, dễ hiểu hơn hay biết cách minh họa nội dung đó sinh động hơn các đồng nghiệp khác.

Đó là lối dạy học kiểu minh họa – thứ làm thui chột tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh. Các sinh viên đi thực tập cũng thường bị các giáo viên hướng dẫn và người chấm yêu cầu phải “bám sát SGK”. SGK kết cục đã trở thành cái “phao” cho những người bơ vơ về lý luận giáo dục.

Mặt khác ở Việt Nam do sự lạc hậu về lý luận giáo dục, các giáo viên có xu hướng giảng dạy truyền đạt trực tiếp các nội dung kiến thức hay chân lý vào học sinh theo kiểu “rót nước”.

Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới, người giáo viên để làm cho học sinh lĩnh hội một chân lý, một nội dung sẽ phải dùng “giáo tài” (hình ảnh, số liệu thống kê, kết quả điều tra thự tế, tư liệu…) trong tư cách “chìa khóa” là một mảnh của nội dung giáo dục, để chuyển hóa nội dung đó thành nhận thức của học sinh thông qua thí nghiệm, trải nghiệm và các hoạt động trí tuệ tương tác khác.

Việc nghiên cứu tìm ra các “giáo tài” đó và sử dụng chúng trong thực tế tạo ra các “thực tiễn giáo dục” của giáo viên ở trường học.

Sách giáo khoa, Cải cách giáo dục, Môn xã hội, Giáo dục phổ thông, Một chương trình một sách giáo khoa
Ảnh minh họa. Nguồn: Thanh niên

Mở ra hành trình truy tìm chân lý

Trong lý luận giáo dục hiện đại, SGK cho dù là thứ được biên soạn và xét duyệt căn cứ vào chương trình đi nữa, cũng chỉ là một tài liệu tham khảo chủ yếu trong việc hướng dẫn học sinh học tập. Nội dung của SGK không thể là toàn bộ nội dung giáo dục.

Người quyết định nội dung giáo dục cuối cùng phải là người giáo viên, người am hiểu cả chương trình, SGK lẫn tình hình thực tế của trường học, địa phương và đối tượng học sinh. Nội dung giáo dục phải được giáo viên tự tay xây dựng thông qua các điều tra, nghiên cứu cả tài liệu và thực tiễn của bản thân.

Trong các môn xã hội, những môn có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống và trải nghiệm của học sinh cũng như xã hội ở địa phương, điều này càng có ý nghĩa sống còn. Nội dung giáo dục đó phải được “chuyển hóa” thành nhận thức của học sinh thông qua sự gia công sáng tạo của giáo viên. Ở Nhật Bản từ năm 1947 trong cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến, lý luận này đã được Bộ giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh trong các tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên và phổ biến rộng rãi, duy trì đến tận ngày nay.

Khi tuân thủ lý luận này, chuyện SGK dày hay mỏng sẽ không còn quan trọng nữa.

Chẳng hạn trong môn lịch sử, SGK theo quan điểm hiện đại sẽ không phải là một hệ thống các bài viết theo lối trần thuật “khách quan” và “vô nhân xưng” của các tác giả theo trật tự thời gian hay chủ đề nữa. Nó sẽ là một tài liệu hướng dẫn học tập ở đó có hướng dẫn về phương pháp học tập, có tập hợp các tư liệu, các câu hỏi gợi mở giúp học sinh khám phá lịch sử, giải mã được quá khứ và tìm ra ý nghĩa của nó trong việc lý giải đời sống xã hội hiện tại bằng các phương pháp của nhà sử học.

Quan trọng nhất ở đó phải có các tư liệu gốc đáng tin cậy và các “khoảng trống lịch sử”, các “vấn đề” được cài cắm, bố trí theo ý đồ sư phạm để học sinh được làm “nhà sử học tí hon” khám phá và giải mã lịch sử.

Ý nghĩa thực sự của cơ chế “một chương trình – nhiều SGK” suy cho đến cùng là nằm ở chỗ nó giúp “tương đối hóa” chân lý trong SGK và khuyến khích, đảm bảo sự tự chủ về nội dung giáo dục của giáo viên.

Tóm lại, trong một cuộc cải cách giáo dục có hệ thống và toàn diện thì việc biên soạn mới chương trình và SGK là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, SGK chỉ là thứ đi sau trong logic của một cuộc cải cách giáo dục. Thứ cần làm trước đó là phải là làm rõ được hình ảnh xã hội tương lai và hình ảnh con người mơ ước có khả năng kiến tạo và bảo vệ xã hội đó hay nói khác đi và ngắn gọn hơn là xây dựng mà minh định triết lý giáo dục.

Mặt khác, trong khi cải cách SGK cũng không được quên việc tạo ra một cơ chế hợp lý để cho các cuốn SGK liên tục được cải tiến bằng sự tham gia của những người có năng lực. SGK tốt phải là cuốn sách giúp cho cả giáo viên và học sinh cảm thấy tự do, thoải mái trong quá trình truy tìm chân lý, một hành trình vừa gian khổ vừa hấp dẫn khôn cùng.

Nguyễn Quốc Vương

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/khi-sach-giao-khoa-thanh-tin-nguong-cai-phao-359237.html

Advertisements

Biên soạn lại SGK: Đã cải tiến thì đừng ‘lửng lơ’

April 22, 2017 Leave a comment

Để có các cuốn SGK ngày một tốt, điều quan trọng nhất là phải xác lập cho được một cơ chế biên soạn dân chủ, khoa học.

LTS: Bộ Giáo dục & Đào tạo vừa công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới (ngày 12/4). Bài viết dưới đây góp thêm góc nhìn về chủ trương “một chương trình, nhiều bộ sách” – một trong những nội dung của dự thảo lần này.

Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư tính từ 1945 đến nay, thường được gọi là cải cách giáo dục toàn diện và triệt để, toàn bộ sách giáo khoa (SGK) ở trường phổ thông sẽ được biên soạn lại. Theo dự kiến, những cuốn sách mới đầu tiên sẽ phải được đưa vào sử dụng trong năm học 2018-2019.

Như vậy, về mặt lý thuyết, việc biên soạn SGK mới đang được xúc tiến mạnh ở những giai đoạn cuối cùng.

Không có những cuốn SGK hoàn hảo

Quan sát dư luận trên báo chí và mạng xã hội sẽ thấy những tiếng nói kì vọng vào SGK mới không phải là ít. Điều đó rất dễ hiểu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam khi SGK thường được chỉ ra như là một trong những nguyên nhân làm trì trệ giáo dục phổ thông.

Tuy nhiên, cho dù cải cách giáo dục được tiến hành tốt thế nào cũng sẽ không bao giờ có một bộ SGK hoàn hảo. Ngay cả ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, SGK vẫn bị chính các chuyên gia giáo dục ở đó chỉ trích. Đơn giản vì SGK suy cho đến cùng chỉ là “phương án” giáo dục của một nhóm các tác giả nhất định.

Một khi đã là SGK, cuốn sách sẽ có những nhược điểm cố hữu, như phải viết dựa trên chương trình định sẵn và tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để có thể vượt qua quy trình thẩm định. Điều này vừa giúp đảm bảo tiêu chuẩn vừa làm hạn chế tầm nhìn và cách tiếp cận phong phú. Do một số yếu tố, dung lượng SGK cũng sẽ phải tuân thủ trong một giới hạn.

Để đảm bảo tính hệ thống tuân thủ theo chương trình, SGK sẽ được viết theo kiểu “trình bày la liệt”. Đây là một trong những yếu tố khiến cho rất nhiều người chỉ trích SGK lịch sử của Việt Nam kêu lên rằng “tại sao sách lại viết nhiều sự kiện, số liệu, ngày tháng như thế, làm sao học sinh nhớ và thuộc được?”.

Thực ra, nếu xét về số liệu và dữ kiện thì SGK ở Việt Nam rất sơ sài. Những ai từng tiếp xúc với SGK của các nước có nền giáo dục tiên tiến hơn đều rõ trong SGK của họ có vô vàn các loại dữ liệu được tổng hợp lại dưới dạng biểu đồ, bảng biểu, số liệu thống kê, hình ảnh, bản đồ, nhưng được đưa vào và bố trí để học sinh phân tích, nghiên cứu chứ không phải để nhớ hay thuộc.

Những hạn chế trên dẫn tới một đặc điểm là SGK, nhất là của các môn xã hội thường chỉ trình bày được “kết quả” mà không trình bày được quá trình tìm ra kết quả: phương pháp nghiên cứu nào, xuất phát từ giả thiết gì, nghiên cứu thế nào…? Cách trình bày này làm cho học sinh cảm thấy các môn khoa học, chẳng hạn như khoa học lịch sử, thiếu sức hấp dẫn.

Sách giáo khoa, Cải cách giáo dục, Giáo dục phổ thông, Một chương trình một sách giáo khoa
Ảnh minh họa. Nguồn: Tuổi trẻ

Sự lạc hậu của SGK thực ra là nằm ở tư duy làm sách mà dễ thấy nhất là việc xác định vai trò của sách cũng như kĩ thuật tổ chức, cơ cấu các dữ kiện trong sách một cách có chủ đích nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục.

Vì vậy, để có các cuốn SGK ngày một tốt, điều quan trọng nhất là phải xác lập cho được một cơ chế biên soạn dân chủ, khoa học, đảm bảo cho tất cả những ai là công dân Việt Nam có mối quan tâm và tài năng đều có thể tham gia và được cạnh tranh bình đẳng. Nếu cơ chế này được xác lập và bảo họ bằng pháp luật, các cuốn SGK tốt sẽ tồn tại, còn kém chất lượng sẽ bị loại bỏ.

Đừng thay đổi lửng lơ

Cơ chế biên soạn, phát hành và tuyển chọn SGK có ảnh hưởng lớn tới chất lượng và quan niệm về SGK. Về đại thể, trên thế giới hiện nay có 3 hình thức chủ yếu: “kiểm định”, “quốc định” và “tự do” (thường tồn tại ở các nước Bắc Âu).

Trong hình thức kiểm định (như tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan), nhà nước sẽ chấp nhận sự tham gia của nhiều nhóm tác giả và nhà xuất bản vào việc biên soạn, phát hành và nhường quyền tuyển chọn SGK cho các trường hay địa phương. Cơ chế quốc định (một chương trình một SGK) chỉ thừa nhận duy nhất một bộ sách do bộ giáo dục biên soạn và phát hành trên toàn quốc.

Cơ chế kiểm định SGK không hoàn hảo, vì trên thực tế chẳng hạn Nhật Bản khi thực hiện cũng đã gặp nhiều vấn đề. Tuy nhiên, nó vẫn là cơ chế tiến bộ hơn nhiều so với cơ chế quốc định.

Việt Nam trong cuộc cải cách giáo dục cơ bản, toàn diện lần này cũng sẽ thực hiện cơ chế “một chương trình – nhiều SGK”, đó là cách diễn đạt khác của cơ chế “SGK kiểm định”. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, cách làm của Việt Nam cho thấy có sự pha trộn giữa hai cơ chế, khi bộ GD&ĐT vẫn tham gia cả vào việc biên soạn, lựa chọn tác giả SGK.

Ở Nhật Bản sau khi cơ chế kiểm định SGK có hiệu lực từ năm 1947, Bộ giáo dục Nhật Bản vẫn tiếp tục biên soạn và phát hành nhiều cuốn SGK khác cho bậc học phổ thông. Đó là bước đệm trong thời kì chuyển giao cơ chế và đã kết thúc sau một thời gian ngắn.

Ở Việt Nam, cần phải có lộ trình minh bạch, công khai về giai đoạn bước đệm này, bởi nếu kéo dài nó sẽ làm cho cơ chế “một chương trình, nhiều SGK” chỉ tồn tại được trên danh nghĩa.

Khi thực hiện hoàn chỉnh cơ chế này, bộ giáo dục chỉ làm hai việc chủ yếu là ban hành, sửa đổi quy chế và thẩm định SGK, rút khỏi việc trực tiếp biên soạn SGK và tài trợ cho các nhóm biên soạn hay các bản thảo được đánh giá cao. Kinh phí làm SGK sẽ do cơ chế thị trường đảm nhận, nhà xuất bản nào làm SGK tốt sẽ giành được thị phần lớn và ngược lại.

Nguyễn Quốc Vương

> Đón xem kỳ 2: Để cải cách giáo dục thành công thì cùng với việc có được những bộ SGK ngày một tốt hơn, việc làm thay đổi nhận thức của những người liên quan từ các cấp quản lý giáo dục đến giáo viên, phụ huynh và học sinh về SGK cũng có ý nghĩa lớn.

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/sach-giao-khoa-da-cai-tien-thi-dung-lung-lo-359234.html

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học 2018-2019; được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho học sinh.

Điểm thay đổi rõ rệt so với từ trước nay, giáo dục phổ thông 12 năm sẽ chia làm hai giai đoạn là giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp THCS 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT 3 năm).

Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc.

Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được phát triển thường xuyên, bao gồm các khâu xây dựng chương trình, đánh giá, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chương trình trong quá trình thực hiện.

Tại sao người Việt hay ăn cắp ở Nhật vậy?

April 15, 2017 Leave a comment

Sự thiếu hiểu biết về người Nhật và nước Nhật còn tiếp diễn ngay cả khi người Việt đã đến Nhật, mà rào cản lớn nhất là ngôn ngữ.

Tin tức về việc cảnh sát Nhật Bản bắt giữ 7 nghi phạm người Việt tham gia đường dây ăn trộm mĩ phẩm tại Nhật Bản gần đây làm cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước xôn xao. Tuy nhiên, chắc chắn đây không phải là vụ việc đầu tiên và cũng không phải là cuối cùng.

Khi bàn luận về những vụ án này, bên cạnh nỗi lo lắng về hình ảnh đất nước bị xấu đi và cộng đồng người Việt ở Nhật bị ảnh hưởng, nhiều người cũng đặt câu hỏi: “Tại sao người Việt lại ăn cắp ở Nhật với tần suất nhiều như vậy?”.

Từ những trải nghiệm của một du học sinh đã từng sống bảy năm rưỡi ở Nhật, tiếp xúc với người Việt làm nhiều nghề khác nhau ở Nhật, tham gia phiên dịch hỗ trợ pháp lý một số vụ việc liên quan đến người Việt ở Nhật, tôi nhận ra một trong những nguyên nhân là do nhiều người Việt thiếu hiểu biết về Nhật Bản.

Người Việt, Du học sinh Việt Nam, hàng Nhật Bản, Nhật Bản, tiếng Nhật
Báo Mainichi của Nhật đưa tin vụ 7 nghi phạm người tham gia vụ ăn cắp mĩ phẩm.

Mù mờ trước khi đến… 

Rất nhiều người lao động và du học sinh Việt Nam đến Nhật Bản mà trước đó hiểu rất ít về Nhật Bản, ngay cả những thông tin dưới dạng sơ đẳng, cơ bản nhất. Trên thực tế, nhiều thủ phạm trong các vụ án trộm cắp và người lao động gặp rắc rối trên đất Nhật đã thú nhận với cảnh sát, luật sư và truyền thông rằng họ thực sự đã không tìm hiểu về Nhật Bản trước khi nhập cảnh và những gì họ trải nghiệm, đối mặt khác xa những gì họ tưởng tượng hoặc nghe người khác nói, hứa hẹn.

Những thông tin về nước Nhật từ phong tục, tập quán, sinh hoạt tới luật pháp, giao thông… đều có thể tìm kiếm trên Internet hoặc từ sách. Sự tư vấn trực tiếp của những người đã và đang sống ở Nhật cũng là nguồn thông tin quý giá. Tuy nhiên, rất ít người Việt Nam trước khi đến Nhật chịu bỏ công sức ra tra cứu hoặc đọc sách, hoặc tham gia các nhóm cộng đồng người Việt sống ở Nhật trên các mạng xã hội để tham khảo thông tin.

Từ trải nghiệm của chính bản thân khi tư vấn, cung cấp thông tin cho nhiều phụ huynh, học sinh, sinh viên muốn du học hoặc làm việc tại Nhật, tôi thấy không ít người khi hỏi chỉ muốn nghe những thông tin có “tính lạc quan” để giúp họ yên tâm lên đường tới Nhật để mong “đổi đời”.

Họ không muốn nghe và có vẻ không tin vào những con số, những ví dụ về sự thất bại, rắc rối mà người Việt có thể gặp phải ở Nhật. Họ tìm tới những người nắm giữ thông tin chỉ là để tìm kiếm cảm xúc “đồng cảm với sự ra đi” để thêm yên tâm với lựa chọn của mình.

Thái độ và tư duy tiếp cận thông tin như thế là miếng đất màu mỡ cho các trung tâm tư vấn du học, công ty phái cử làm ăn bất chính khai thác và thực hiện các hành vi lừa đảo.

Đến rồi vẫn tiếp tục… mù mờ

Sự thiếu hiểu biết về người Nhật và nước Nhật còn tiếp diễn ngay cả khi người Việt đã đến Nhật sinh sống, học tập và làm việc, mà rào cản lớn nhất là ngôn ngữ. Các du học sinh vào học các trường tiếng Nhật, đặc biệt là các trường đưa ra lời hứa hẹn “vừa học vừa làm” hầu hết chưa nói được tiếng Nhật ở mức giao tiếp đời sống hàng ngày khi đến Nhật. Các thực tập sinh trước khi nhập cảnh vào Nhật thường đã được học từ 3-6 tháng học tiếng Nhật ở các công ty phái cử.

Người Việt, Du học sinh Việt Nam, hàng Nhật Bản, Nhật Bản, tiếng Nhật
Biển cảnh báo bằng tiếng Việt trong một shop thời trang ở Nhật

Tuy nhiên, sự học đó hoàn toàn chưa đủ. Hầu hết họ không nghe được những gì người Nhật nói. Những du học sinh trường tiếng Nhật dạng “vừa học vừa làm” sau đó sẽ bị cuốn vào chuyện đi làm tối ngày. Môi trường học tiếng Nhật có tính “sách vở” và giao tiếp thuần túy theo “bài” với giáo viên tiếng Nhật trên lớp, những người đã quá quen thuộc với cách nói tiếng Nhật của người nước ngoài không giúp họ cải thiện kĩ năng tiếng Nhật.

Với vốn tiếng Nhật mỏng manh khi đi làm họ cũng thường chỉ được làm các công việc có tính “chân tay” không cần giao tiếp nhiều, không được tiếp xúc với khách hàng. Hơn nữa trong khi làm việc người Nhật thường hạn chế nói chuyện hoặc tuyệt đối không nói chuyện riêng vì thế kĩ năng nghe, nói tiếng Nhật không tiến bộ.

Đối với thực tập sinh, sau một tháng học tập trung ở nghiệp đoàn họ sẽ về công ty “thực tập” (thực chất là lao động). Công việc vất vả, bận rộn khiến động lực học tiếng Nhật của họ không còn. Trong quá trình dạy tiếng Nhật cho các thực tập sinh, tôi nhận ra vấn đề lớn nhất của họ đối với tiếng Nhật không phải nằm ở năng lực nhận thức mà ở chỗ không có động lực học.

Rất ít người có quyết tâm học tiếng Nhật để cải thiện đời sống, môi trường làm việc và xây dựng nền tảng cho tương lai. Có những công ty trả cả tiền lương cho thực tập sinh trong thời gian họ học tiếng Nhật vào thứ bảy, Chủ nhật nhưng cũng không nhiều người học hành chăm chỉ.

Chuyện này cũng xảy ra tương tự đối với các du học sinh ở các trường đại học và sau đại học học tập bằng tiếng Anh. Cuộc sống hiện đại, tiện lợi và hỗ trợ tối đa khách hàng ở Nhật đã khiến cho người nước ngoài có thể sống thoải mái ở mức độ nhất định mà không cần phải biết… một từ tiếng Nhật.

(Còn tiếp) 

Nguyễn Quốc Vương

> Xem tiếp Kỳ 2: Những sự mù mờ đó dẫn người Việt đến những tình cảnh nào trên đất Nhật?

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/nguoi-viet-an-cap-o-nhat-vi-dau-hay-sa-cam-bay-366633.html

Hướng dẫn học tập môn Xã hội tập II ra mắt bạn đọc

April 12, 2017 Leave a comment

Trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn sách mới nhất do tôi dịch.
Cuốn sách có tên “Hướng dẫn học tập môn xã hội tập II”. Cuốn sách này được dịch và xuất bản tiếp theo tập I đã xuất bản vào năm ngoái. Nhân dịp này NXB Đại học sư phạm cũng tái bản luôn tập I do tôi dịch, anh Nguyễn Lương Hải Khôi hiệu đính.

PHOI-CANH-1

Tôi tiếp cận giáo dục Nhật Bản bằng phương pháp của sử học vì vậy cuốn sách này được chọn với tư cách như là một tư liệu cơ bản nhất, quan trọng nhất để tìm hiểu về giáo dục Nhật Bản hiện đại sau 1945. Hi vọng cả hai cuốn sách sẽ đem đến nhiều thông tin bổ ích cho các giáo viên, học sinh, phụ huynh và những ai quan tâm tới giáo dục. Đọc nó và suy ngẫm về cải cách giáo dục hiện tại ở Việt Nam về chương trình, sách giáo khoa cũ và mới chắc chắn các bạn sẽ có những so sánh, liên tưởng thú vị.

Hai cuốn sách được dịch trong rất nhiều kỉ niệm. Vợ lên bàn đẻ khi trong túi còn …14 triệu đồng. Hai vợ chồng trẻ con lăn lộn tập nuôi con khi không có ông bà bên cạnh ở đất nước Nhật xa xôi. Bản thân ốm phải nằm viện vài ngày. Có lúc phải cắn răng mà dịch trong tiếng vợ kêu con khóc vì nhà chật chội.

Và giờ thật vui khi sách ra đời. Mỗi lần sách ra thấy vui một chút vì thấy quãng thời gian mình học không uổng phí.

Sách sẽ được phát hành sớm. Các bạn có thể mua tại nhà sách Sư phạm 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội (bên cạnh cổng chính Đại học sư phạm Hà Nội).

Những ai thích mua từ người dịch hay muốn có chữ kí của người dịch thì có thể đặt mua qua tôi. Ai ở xa tôi sẽ gửi bưu điện. Xin gửi tin nhắn hoặc email tới thonsau@gmail.com.

Cảm ơn anh Nguyễn Nguyễn Bá Cường, giám đốc NXB ĐHSP, anh Ứng Quốc Chỉnh biên tập viên và ban lãnh đạo NXB Sư phạm đã tích cực hỗ trợ để hai cuốn sách ra đời.

Cảm ơn bạn đọc đã tin tưởng và dành tình cảm cho chúng tôi.

Nguyễn Quốc Vương.

%d bloggers like this: