Archive

Archive for July, 2017

Học Lịch sử để trở thành người tử tế!

July 31, 2017 Leave a comment

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG

07:33 26/07/17

(GDVN) – “Hiện tại” vừa là điểm khởi đầu và vừa điểm kết thúc trong chu trình nghiên cứu của các nhà sử học.

LTS: Trong bài viết “Học Toán, Lý, Hóa ra trường còn dễ xin việc chứ học Sử để làm gì?“, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương đã nêu ra quan điểm của mình khi ông nhận được khá nhiều câu hỏi liên quan đến việc học và lựa chọn môn học Lịch sử.

Hôm nay, trong bài viết này, thầy Vương tiếp tục nói về mối quan hệ giữa lịch sử và hiện tại để độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của môn học này.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả. 

Một trong những tác dụng, ý nghĩa quan trọng của việc học lịch sử là giúp cho cá nhân người học nhận thức và lý giải hiện tại bao quanh họ tốt hơn.

Đương nhiên cũng sẽ có những người hỏi lại “Tại sao muốn hiểu hiện tại mà lại cần đến nhận thức lịch sử?”.

Câu trả lời rất đơn giản. Con người tuy sống trong “hiện tại” nhưng cái “hiện tại” đó lại là sản phẩm của lịch sử.

Tôi xin nêu một ví dụ, khi nhìn vào hiện tượng ùn tắc giao thông của Hà Nội hiện tại, nếu có nhận thức lịch sử tốt người ta sẽ hiểu được rằng vấn đề này không chỉ đơn giản là vấn đề của xã hội đương đại mà nó là kết quả của một quá trình diễn tiến từ rất lâu trước đó trong mối quan hệ qua lại, phức tạp với nhiều vấn đề khác như quá trình cận đại hóa của Hà Nội, sự mở rộng Hà Nội qua các thời kì lịch sử, chính sách phát triển kinh tế quản trị đô thị và vấn đề dân số…

“Hiện tại” vừa là điểm khởi đầu và vừa điểm kết thúc trong chu trình nghiên cứu của các nhà sử học (Ảnh minh họa: Báo Tuổi trẻ)

Sử dụng tư duy lịch sử so sánh, người ta cũng sẽ có thể tìm ra những điểm chung giữa những vấn đề mà Hà Nội đang đối mặt với những vấn đề đô thị khác mà các thành phố lớn trên thế giới đã từng trải qua trong quá khứ.

Chẳng hạn tình cảnh của Hà Nội hiện tại có rất nhiều nét giống với tình cảnh của nhiều đô thị lớn ở Nhật Bản trong những thập niên 60-70 của thế kỉ trước. Đó là ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước và không khí.

Đấy là hậu quả trực tiếp của hiện tượng “quá mật hóa” ở đô thị và “hoang phế hóa” ở nông thôn.

Chàng trai “vàng” Toán học quốc tế đam mê Lịch sử

Đây là hai quá trình diễn tiến ngược chiều nhau khi sự phát triển kinh tế tập trung vào các đô thị dẫn tới việc lao động nông thôn đổ về các thành phố kiếm việc làm khiến cho nông thôn trở nên hoang phế khi chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ.

Trong khi nông thôn thiếu lao động trẻ để duy trì sản xuất nông nghiệp thì dân số tập trung quá mức ở đô thị khiến cho cơ sở hạ tầng của thành phố trở nên quá tải tạo ra ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trong bối cảnh như thế, những người dân sống ở thành phố đã vừa trở thành nạn nhân vừa trực tiếp trở thành thủ phạm của các vấn đề đô thị.

Khi có nhận thức toàn diện và sâu sắc để lý giải được các hiện tượng, vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống, cá nhân sẽ suy nghĩ tìm cách giải quyết và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp để tích cực cải tạo hiện thực.

Trái lại, khi nhận thức và giải thích hiện tại sai lầm, đương nhiên các cá nhân sẽ hành động sai lầm.

Nếu như các cá nhân chỉ cho rằng hiện tượng ùn tắc giao thông ở các đô thị là do lượng xe quá lớn và ý thức tham gia giao thông của người chủ phương tiện tồi thì họ sẽ không có những hành động tích cực để cải thiện tình hình và nghĩ rằng đó đơn giản là …việc của người khác.

Tư duy lần tìm đầu mối, nguyên nhân của các hiện tượng, vấn đề đang xảy ra trước mắt thông qua khảo sát sự ra đời, phát sinh, phát triển có tính lịch sử của nó là tư duy cơ bản của những người học lịch sử nghiêm túc.

Chính vì vậy, giáo dục lịch sử theo kiểu “lội ngược dòng” ở đó giáo viên lấy các vấn đề mà học sinh đang đối mặt trong cuộc sống hàng ngày hay các vấn đề nóng bỏng trong xã hội đương đại làm xuất phát điểm hay chủ đề học tập để từ đó thầy trò cùng lần tìm lại sự phát sinh, phát triển, các mối quan hệ dọc, ngang là một cách hay để hình thành và phát triển ở học sinh nhận thức lịch sử khoa học lẫn phẩm chất công dân.

“Học Toán, Lý, Hóa ra trường còn dễ xin việc chứ học Sử để làm gì?”

Giáo dục lịch sử kiểu này cùng với giáo dục lịch sử theo chuyên đề sẽ tạo thành “giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội”.

Kiểu giáo dục lịch sử như vậy thường thấy trong môn “Nghiên cứu xã hội” ở nhiều nước trên thế giới.

Tất cả điều đó cho thấy, những hành động cải tạo hiện thực cho tốt đẹp hơn luôn bắt đầu từ việc các cá nhân nhìn ra những vấn đề của hiện tại và coi nó như là một sản phẩm của lịch sử.

Để có nhận thức lịch sử khoa học như thế, người ta sẽ cần đến tư duy và phương pháp sử học.

Nhận thức lịch sử hay rộng hơn là ý thức lịch sử của cá nhân, cộng đồng sẽ được hình thành từ rất nhiều yếu tố khác nhau: các câu chuyện kể của gia đình hoặc cộng đồng, văn học-nghệ thuật, truyền thông, giáo dục trường học…

Tuy nhiên, giáo dục lịch sử trong nhà trường vẫn sẽ là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành cho học sinh nhận thức lịch sử khoa học.

Chính vì thế, việc xã hội có ngày càng trở nên văn minh hơn, tốt đẹp hơn hay không có quan hệ mật thiết với việc giáo dục lịch sử ở trường học có thật sự được cải cách hay không.

Việc thiếu vắng giáo dục lịch sử kiểu “nghiên cứu xã hội” trong khi nhu cầu nhận thức, giải quyết hợp lý các vấn đề của xã hội ở các cá nhân đương đại dâng cao nói lên những bất cập của giáo dục lịch sử trong trường học hiện nay.

Giữa “lịch sử” và “hiện tại” cũng có mối quan hệ hai chiều. Chỉ những cá nhân có nhận thức sâu sắc, khoa học về lịch sử mới có thể nhận thức, giải thích tốt hiện tại và ngược lại chỉ có những ai không thờ ơ với “hiện tại” đặc biệt là những vấn đề của hiện tại mới tự vấn nội tâm để tìm hiểu sâu sắc về quá khứ, về lịch sử.

Nói một cách triết học thì chỉ khi được thực tại dẫn dắt, con người lần đầu tiên mới ý thức được sự tồn tại của lịch sử.

Điều này lý giải tại sao trong những thập kỉ gần đây, nhiều nhà sử học trẻ ở Việt Nam bắt đầu quan tâm và nghiên cứu về những vấn đề thuộc về lịch sử xã hội như phong tục, trang phục, nhà ở, tâm tính…của người Việt.

Những vấn đề bức xúc của xã hội đương đại sẽ tác động trực tiếp hay gián tiếp tới “ý thức vấn đề” của các nhà nghiên cứu cũng như của từng cá nhân bình thường trong xã hội.

Vì vậy, nhìn vào thực tế sẽ thấy, những nhà sử học tồi là những người làm ngơ trước thực tại hoặc nhận thức, giải thích thực tại không dựa trên các nghiên cứu khoa học.

Trái lại, những nhà sử học có những tác phẩm hay, cống hiến cho cộng đồng và hậu thế sẽ luôn là những người sống hết mình với thực tại và không ngừng “nhìn vào hiện tại” cho dù chủ đề nghiên cứu của họ có là lịch sử cổ đại đi nữa.

Nói một cách dễ hiểu, “hiện tại” vừa là điểm khởi đầu và vừa điểm kết thúc trong chu trình nghiên cứu của các nhà sử học. Vai trò của sử học hiện đại đối với sự phát triển của đất nước sẽ được nhìn nhận ở góc độ ấy.

Tất nhiên, câu trả lời về mục tiêu, ý nghĩa của việc học lịch sử như trên là câu trả lời được nhìn từ đôi mắt của con người cá nhân-con người công dân. Cũng sẽ có nhiều câu trả lời khác khi nhìn nó từ góc độc quốc gia.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy câu trả lời từ góc độ cá nhân-công dân có sự gần gũi và có sức thuyết phục hơn đối với học sinh, đặc biệt là những học sinh không có xu hướng chọn sử học như là một nghề nghiệp trong tương lai.

 

Nguyễn Quốc Vương
Advertisements

“Học Toán, Lý, Hóa ra trường còn dễ xin việc chứ học Sử để làm gì?”

July 31, 2017 Leave a comment

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG

08:19 22/07/17

(GDVN) – Đó là một trong những câu hỏi của nhiều bạn trẻ Việt khi gặp giáo viên dạy môn Lịch sử.

LTS: Khi trở về Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (từng nghiên cứu về giáo dục lịch sử tại Đại học Kanazawa, Nhật Bản) trở thành một giáo viên dạy môn Lịch sử. 

Trong khoảng vài ba thập kỉ trở lại đây, trên các diễn đàn môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông và thái độ của học sinh đối với môn học này luôn trở thành chủ đề bàn luận nóng bỏng.

Đặc biệt khi năm học mới chuẩn bị bắt đầu, thầy Vương nhận được khá nhiều câu hỏi liên quan đến việc học và lựa chọn môn học Lịch sử này.

Hôm nay trong bài viết gửi tới Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Vương đã nêu ra quan điểm về vai trò của môn học này với những ví dụ cụ thể.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả. 

Biết tôi là giáo viên dạy lịch sử, nhiều bạn trẻ khi gặp thường hỏi: “Này anh! Học lịch sử để làm gì? Nó có ích lợi gì không mà cần học? Học Toán, Lý, Hóa ra trường còn dễ xin việc làm chứ học Sử thì để làm gì?”.

Đối với tôi, một người giáo viên dạy Lịch sử, đấy là một câu hỏi…không mấy thú vị.

Nếu vào lúc tâm trạng bực bội, rất có thể tôi sẽ đáp kiểu “lý sự cùn” rằng:

Đương nhiên môn Sử phải có ích lợi chứ! Nếu không thì nó đã bị loại khỏi chương trình trường học rồi. Nhưng thử nhìn ra thế giới mà xem, cho đến nay đã có nước nào bỏ môn Lịch sử đi chưa?”.

Nhưng suy ngẫm kĩ thì đó là những câu hỏi rất thực lòng. Sự khủng hoảng của môn Sử trong trường học suốt một thời gian dài vừa qua có mối liên hệ ít nhiều đến việc đưa ra câu trả lời có tính thuyết phục đối với câu hỏi ấy.

Hiện nay nhiều bạn trẻ đang đặt ra câu hỏi rằng: “Học lịch sử để làm gì? Nó có ích lợi gì không mà cần học? Học Toán, Lý, Hóa ra trường còn dễ xin việc làm chứ học Sử thì để làm gì?” (Ảnh minh họa: VOV)

Tất nhiên, một câu trả lời sẽ khó có thể làm thỏa mãn tất cả người nghe nhưng khi nhận được câu hỏi trên, tôi đã trả lời rằng sản phẩm cuối cùng của học tập lịch sử là nhận thức lịch sử được hình thành ở bên trong học sinh.

Nhận thức này có tính chủ thể rất rõ. Chính vì vậy, nói theo ngôn ngữ của các bậc tu hành thì học lịch sử là quá trình giác ngộ-giác ngộ về chân lý, giác ngộ về sự thật, giác ngộ về thực tại.

Từng cá nhân, những người vốn có tư chất, hoàn cảnh gia đình, nền tảng giáo dục…khác nhau, sẽ đạt được các “cảnh giới” khác nhau trong nhận thức.

“Cảnh giới” cao nhất của người học lịch sử là liên tục nâng cao, mài sắc nhận thức lịch sử mà mình có sao cho nó ngày một khoa học, thực chứng, lôgic hơn và biến nó thành tư duy và hành động của mình trong việc nhận thức thực tại và cải biến thực tại cho ngày một tốt đẹp.

Không thể bóp méo, xuyên tạc được sự thật lịch sử

Ở điểm này khi nhìn lại lịch sử và ngay cả khi nhìn vào thực tại, người ta sẽ thấy không có nhà lãnh đạo hay nhà hoạt động xã hội nào từ bỏ việc dùng nhận thức lịch sử như một công cụ, phương tiện để liên kết, động viên quần chúng và thúc đẩy quần chúng hành động.

Tuy nhiên, trên thực tế không có nhiều người đạt được “cảnh giới” này cho dù có nhiều người tự huyễn hoặc hay ngộ nhận về điều đó.

Nếu như khó đạt được “cảnh giới” đó, phải chăng với cá nhân, chuyện học lịch sử là vô nghĩa?

Câu trả lời của tôi là ngay cả các cá nhân bình thường, trong tư cách là một người công dân có nhận thức lịch sử tốt cũng có thể biến nhận thức đó thành hành động để cải tạo hiện thực ngày một tốt đẹp hơn.

Đấy là tâm thế của một công dân có tư duy độc lập và là người công dân hành động. Tâm thế này thích hợp với xã hội dân chủ khi chính trị dân chủ được hiểu là “toàn dân trị nước”.

Trong phương diện đời thường, cho dù chưa đạt được “cảnh giới” cao như ở trên, những cá nhân bình dị cũng có thể đạt đến một “cảnh giới” khác thấp hơn.

Đó là sử dụng nhận thức lịch sử để nhận thức tốt hơn những vấn đề khác trong cuộc sống và làm cho thế giới tinh thần của mình thêm phong phú.

Hiệu trưởng đại học Harvard khéo léo nhắc về lịch sử với sinh viên Việt Nam

Ví dụ, nếu bạn yêu thích văn học Nhật với các tác phẩm như “Totto-chan bên cửa sổ”, “Rừng Na Uy” mà bạn có nhận thức lich sử tốt bạn sẽ thấy thú vị hơn khi bạn đọc nó mà không có nhận thức lịch sử liên quan.

Chẳng hạn nếu bạn biết rằng ngôi trường Tomoe trong các toa tàu mà Tottochan học là ngôi trường tồn tại trong thời kì lịch sử đen tối nhất của nước Nhật-thời kì chủ nghĩa phát xít (người Nhật quen gọi là chủ nghĩa quân phiệt) cai trị, bạn sẽ thấy rõ hơn “bản lĩnh cao cường” và nhân cách đáng kính của thầy hiệu trưởng và gia đình ông.

Bạn cũng sẽ hiểu tại sao sau này khi đã thành danh và vang danh thế giới bà Kuroyanagi Tetsuko vẫn dành cho thầy hiệu trưởng và ngôi trường sự kính trọng và tình cảm sâu sắc đến thế!

Đọc “Rừng Na Uy” nếu như bạn biết bối cảnh của câu chuyện là xã hội Nhật Bản những năm 70-80 của thế kỉ trước khi nước Nhật tràn ngập của cải vật chất nhưng con người, nhất là thanh niên lại bị chao đảo giữa Đông và Tây, giữa “Cách mạng” và “Quốc xã”, phong trào sinh viên lên cao chưa từng thấy ở quy mô toàn quốc với sự tiên phong của sinh viên các trường đại học danh tiếng nhất như Đại học Tokyo, Đại học Kyoto, bạn sẽ hiểu thêm bi kịch lớn lao và nỗi đau của các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này.

Hình ảnh Watanabe Toru, một thanh niên chỉ thỏa mãn được xác thịt bên người mình không yêu là một hình ảnh ẩn dụ có nhiều tầng ý nghĩa.

Hình ảnh những thanh niên nước Nhật có thể sống bình thường trong tại tâm thần nhưng khi ra bên ngoài thì hoặc là tự sát hoặc là ngây dại cũng là một ẩn dụ.

Nhiều bạn trẻ muốn đạt đến đỉnh cao hoặc đơn giản là có được thành công trong các lĩnh vực như mĩ thuật, văn học, báo chí…nhưng lại lười đọc sách và có nhận thức lịch sử rất mù mờ hoặc nông cạn. Đó là một sự phi lý dù sự tồn tại của nó là hợp lý.

 

Nguyễn Quốc Vương
Nguồn: http://giaoduc.net.vn/GDVN/Hoc-Toan-Ly-Hoa-ra-truong-con-de-xin-viec-chu-hoc-Su-de-lam-gi-post178302.gd

Văn hóa đọc ở Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

July 31, 2017 Leave a comment

Nguyễn Quốc Vương

(Bài in tại kỉ yếu Hội thảo ““Sách cho trẻ em nông thôn, miền núi”  tổ chức vào ngày 29/7/2017 tại thành phố Thanh Hóa)

Những năm gần đây, trong bối cảnh giáo dục và những vấn đề xã hội được truyền thông chú ý, văn hóa đọc đã thu hút được sự quan tâm rộng rãi của người dân trong cả nước. Phong trào đọc sách sau rất nhiều năm bị lãng quên đã được tái khởi động với sự ra đời của hàng loạt thư viện mới cùng các câu lạc bộ đọc sách. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, những thành quả trong thực tế xây dựng văn hóa đọc ở nước ta vẫn chưa được như mong đợi. Chẳng hạn trên Báo Tuổi trẻ online ngày 18/12/2016, ông Lê Hoàng, phó chủ tịch Hội xuất bản Việt Nam cho rằng nếu trừ đi sách giáo khoa và chia đều số sách xuất bản trong năm cho số dân thì trung bình mỗi người dân chỉ đọc 01 cuốn sách/năm . Nhận định này cũng tương đối sát với kết quả điều tra do Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch công bố tháng 4-2013, theo đó mỗi người Việt Nam đọc khoảng 0.8 cuốn sách/năm . Thực trạng này nói lên rằng chúng ta cần phải tiếp tục cố gắng nhiều hơn nữa trong việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc. Trong quá trình đó, việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ trở nên cần thiết. Trong bài viết này, tôi xin được phác qua một vài nét cơ bản về văn hóa đọc ở Nhật Bản hiện nay từ đó tạm rút ra một vài kinh nghiệm có thể hữu ích cho Việt Nam.

1. Vài nét về văn hóa đọc ở Nhật Bản

Đối với người Việt Nam Nhật Bản là nước có văn hóa đọc phát triển mạnh mẽ. Hiện nay cho dù các nhà nghiên cứu Nhật Bản và các cơ quan có trách nhiệm ở đây đang cảnh báo về tình trạng trẻ em “xa rời việc đọc sách” và ngành xuất bản có dấu hiệu sa sút vì sự cạnh tranh của mạng Internet và các thiết bị nghe nhìn đa phương tiện, Nhật Bản vẫn là nước có văn hóa đọc phát triển hơn hẳn các nước ở xung quanh.

Theo “Niên báo chỉ số xuất bản” của Viện nghiên cứu khoa học xuất bản của Nhật Bản thì số đầu sách mới được xuất bản ở Nhật Bản năm 2010 là 74.714. Một cuộc điều tra khác của một cơ quan truyền thông cho biết năm 2010 ở Nhật Bản có tới 15.314 hiệu sách.

Về hệ thống thư viện, theo kết quả cuộc “Điều tra giáo dục xã hội” do Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ tiến hành (cuộc điều tra được tiến hành định kì 3 năm một lần), Nhật Bản có 3165 thư viện ( năm 2008). Số liệu thống kê của cuộc điều tra này qua các năm cũng cho thấy số lượng thư viện ở Nhật Bản liên tục tăng từ năm 1963. Cũng theo bản báo cáo này thì 100% các tỉnh, 98% thành phố, quận, 59.3% khu phố, 22.3% làng có thư viện. Số lượng nhân viên thư viện trung bình là 10.3 người/thư viện trong đó có 4.6 người có chuyên môn.

Theo “Điều tra về giáo dục xã hội” nói trên thì số lượng sách được mượn trong năm 2007 ở Nhật Bản là 630.000.000 cuốn và tính trung bình mỗi người có đăng kí là thành viên của thư viện mượn 18.6 cuốn/năm. Các thư viện này ngoài hoạt động cho mượn sách còn tổ chức các ngày hội đọc sách, thưởng thức sách, triển lãm sách, đọc sách cho trẻ em nghe…

Đối với hoạt động đọc sách trong trường học thì từ năm 2007 khi Luật giáo dục trường học được sửa đổi, cụm từ “làm cho học sinh quen với việc đọc sách” đã được đưa vào điều khoản quy định về “mục tiêu giáo dục”. Số liệu thống kê cũng cho biết số lượng thủ thư trong các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Nhật Bản vẫn tiếp tục gia tăng.

Trong xã hội, đọc sách đã trở thành một thói quen thường ngày của người Nhật. Kết quả cuộc “Điều tra cơ bản đời sống xã hội” của Bộ nội vụ Nhật Bản năm 2006 (5 năm điều tra một lần) cho biết có 41.9% những người được hỏi (trên 10 tuổi) có thói quen “đọc sách như là một thú vui”.

Ở Nhật trong đời sống thường ngày người ta cũng dễ dàng nhìn thấy cảnh người dân đọc sách tên tàu điện, xe buýt, nhà ga, sân bay, trong công viên…

Nhìn tổng thể, theo kết quả điều tra của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản trung bình một người Nhật đọc 12-13 cuốn sách/năm (2016).

Ở Nhật Bản còn có nhiều hội đoàn ra đời từ phong trào đọc sách và lãnh đạo phong trào đọc sách. Chẳng hạn như Hội đọc sách Nhật Bản (The Japanese Reading Association). Tổ chức này được lập ra với mục đích nghiên cứu, tiếp cận việc đọc sách dưới góc độ khoa học để từ đó công bố các kết quả nghiên cứu hỗ trợ cho văn hóa đọc ở Nhật Bản. Những công trình nghiên cứu về đọc sách của hội viên được công bố trên tạp chí “Khoa học đọc sách” của hội. Hàng năm hội cũng có trao giải thưởng cho những người có những luận văn xuất sắc hoặc có cống hiến đặc biệt về lý luận, thực tiễn cho phong trào đọc sách ở Nhật Bản. Ví dụ như trong lần trao thưởng thứ 50 (2016) hội này đã trao “Giải thưởng khuyến khích nghiên cứu khoa học đọc sách” cho ba cá nhân người Nhật.

Nhật Bản cũng có rất nhiều tờ báo và tạp chí quan tâm đến tình hình đọc sách và thúc đẩy văn hóa đọc trong đó tiêu biểu là tờ báo chuyên về văn hóa đọc có tên “Báo đọc sách Nhật Bản” (Nhật Bản độc thư tân văn) thuộc Hiệp hội xuất bản Nhật Bản. Thú vị hơn nữa là ở Nhật Bản, người ta còn sử dụng đọc sách như là một liệu pháp điều trị những căn bệnh có liên quan đến tinh thần-tâm lý như trầm cảm, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên… Hội liệu pháp đọc sách Nhật Bản (The Japanese Biliotherapy Association) là nơi tập hợp những người ủng hộ và áp dụng liệu pháp điều trị này.

2. Những yếu tố làm cho văn hóa đọc ở Nhật Bản phát triển

Có rất nhiều yếu tố làm nên sự phát triển rực rỡ của văn hóa đọc ở Nhật Bản, tuy nhiên ở đây, tôi chỉ xin đề cập và phân tích một vài yếu tố cơ bản.

Thứ nhất là yếu tố truyền thống. Ngay từ thời cổ đại và trung đại, người Nhật đã có tinh thần chủ động học hỏi khi cử những sứ giả, nhà sư và học sinh có tài năng sang Trung Quốc du học và mang về các thư tịch quý hiếm, cần thiết cho phát triển văn hóa, xây dựng đất nước. Dưới thời Edo (1603-1867), Nhật Bản đã có tỉ lệ người biết đọc, biết viết khá cao (nhiều học giả cho rằng vào thời gian này trên 50% người Nhật biết đọc biết viết). Ngành xuất bản thời Edo cũng rất phát triển với số lượng xuất bản phẩm lớn và phong phú. Đặc điểm này có mối quan hệ mật thiết với sự thành công của Minh Trị Duy tân sau này. Trình độ “dân trí” cao với biểu hiện cụ thể là tỉ lệ người biết đọc biết viết lớn là tiền đề quan trọng của cải cách mà các nước châu Á khác khi đó không có.
Thứ hai là vai trò của nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm. Sau năm 1945, để phục hưng đất nước và phát triển văn hóa, giáo dục, chính phủ Nhật Bản đã có rất nhiều những biện pháp và chính sách cụ thể. Chẳng hạn Quốc hội Nhật Bản đã thông qua hai bộ luật quan trọng.

Bộ luật thứ nhất là “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em”. Bộ luật này được công bố và có hiệu lực thi hành từ ngày 12/12/2001. Mục đích của bộ luật này được nêu rõ ở điều 1:
“Bộ luật này có mục đích xác lập triết lý cơ bản liên quan đến việc khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em, làm rõ nghĩa vụ của nhà nước và các chính quyền địa phương đồng thời bằng việc xác định các nội dung cần thiết liên quan đến khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em mà thúc đẩy có kế hoạch và có tính tổng hợp các cơ sở khuyến khích trẻ em đọc sách từ đó tạo nên sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em.”

Bộ luật thứ hai là “Luật chấn hưng văn hóa đọc”. Bộ luật này được quốc hội thông qua ngày 27 tháng 7 năm 2005. Điều 1 của bộ luật này nêu rõ: “Bộ luật này có mục đích xác định triết lý cơ bản về chấn hưng ăn hóa đọc trên cơ sở tư duy rằng văn hóa đọc là thứ không thể thiếu trong việc kế thừa và nâng cao tri thức, trí tuệ được tích lũy trong lịch sử lâu dài của nhân loại và giáo dục tính người phong phú cũng như phát triển chủ nghĩa dân chủ lành mạnh; làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước và chính quyền địa phương đồng thời nỗ lực xúc tiến một cách tổng hợp các chính sách chấn hưng văn hóa đọc ở nước ta, cống hiến cho việc thực hiện đời sống quốc dân có trí tuệ, tâm hồn phong phú hơn và xã hội đầy sức sống thông qua việc xác định các nội dung cần thiết liên quan tới chấn hưng văn hóa đọc”.

Cả hai bộ luật nói trên đều xác định rõ trách nhiệm của nhà nước cũng như chính quyền địa phương trong việc duy trì và phát triển văn hóa đọc.

Trên cơ sở của bộ luật “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em”, này 23/4 hàng năm được quy định là “Ngày trẻ em đọc sách” ở Nhật Bản. Các bộ luật trên đã tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động khuyến đọc ở mọi cấp độ ở Nhật Bản.
Thứ ba là vai trò của các trường học. Ở Nhật Bản, thư viện trường học được quan tâm và chúng đã tạo ra môi trường tốt cho học sinh đọc sách. Bên cạnh đó những thực tiễn giáo dục khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo đã thúc đẩy hoạt động đọc sách của học sinh. Ngay từ khi học mẫu giáo, các cô giáo đã đọc sách cho học sinh nghe. Ở tiểu học học sinh sẽ có giờ “đọc sách” bên cạnh các giờ học giành cho các môn giáo khoa. Những hoạt động này giúp cho học sinh có thói quen đọc sách và học theo kiểu nghiên cứu.

Cuối cùng là vai trò của gia đình. Nhìn tổng thể các bậc phụ huynh ở Nhật rất coi trọng việc giáo dục con cái. Họ ý thức được rằng Nhật Bản là một nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên và có môi trường cạnh tranh khắc nghiệt vì vậy để có thể tồn tại và sống tốt trong xã hội cá nhân cần phải có trí tuệ thông qua học hành. Chính vì vậy mà xây dựng tủ sách gia đình, đọc sách cho con nghe, hướng dẫn con đọc sách tại gia đình trở thành lẽ đương nhiên. Trẻ em ở trong các gia đình Nhật Bản được đọc sách khá sớm. Bản thân con tôi khi sinh ra ở Nhật đã được tặng cuốn sách đầu tiên và tôi được hướng dẫn cách đọc sách cho con nghe khi cháu mới 3 tháng tuổi.

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 
Từ việc tìm hiểu về văn hóa đọc của Nhật Bản nói trên, chúng ta sẽ thấy rằng để phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam cả nhà nước và người dân đều phải làm tốt nghĩa vụ của mình và hợp tác cùng nhau. Ở phía nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm cần phải có những bộ luật, chính sách hợp lý để tạo ra hành lang pháp lý và hỗ trợ tối đa những hoạt động liên quan đến văn hóa đọc. Một bộ luật về chấn hưng, phát triển văn hóa đọc đang trở thành nhu cầu cấp thiết. Bộ luật này sẽ làm rõ trách nhiệm của chính phủ, các bộ ngành có liên quan cũng như chính quyền địa phương và các cơ quan, đoàn thể trong việc phát triển văn hóa đọc. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động phát triển văn hóa đọc diễn ra trên toàn quốc một cách có hệ thống cũng như động viên tối đa những nguồn lực có sẵn cho sự nghiệp này.

Về phía người dân cần phải tích cực, chủ động tham gia vào việc phát triển văn hóa đọc bằng những hoạt động cụ thể như lập quỹ khuyến học, lập tủ sách gia đình, xây dựng hệ thống thư viện tư nhân…trên toàn quốc. Sự hợp tác giữa những cá nhân có cùng mối quan tâm và khát vọng phát triển văn hóa đọc cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy văn hóa đọc trên toàn quốc phát triển. Những cá nhân này cần liên kết, hợp tác với nhau dưới nhiều hình thức phong phú như diễn đàn, câu lạc bộ, nhóm…để trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau.

Suy cho cùng thành bại của mọi chính sách hay công cuộc cải cách đều nằm ở trong sự chuyển biến của từng người dân. Vì vậy, mỗi bậc phụ huynh, thầy cô giáo, mỗi gia đình phải trở thành thành viên tích cực đầu tiên trong việc xây dựng văn hóa đọc. Để làm được điều đó thì điều trước tiên là chính mình phải có được thói quen đọc sách.

Tài liệu tham khảo
1. Ozaki Mugen, Nguyễn Quốc Vương dịch, Văn Ngọc Thành hiệu đính, Cải cách giáo dục Nhật Bản, Thaihabooks và NXB Từ điển bách khoa, 2014.
2. Nguyễn Quốc Vương, Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản, NXB Phụ nữ, 2016.
3. Website Hội đọc sách Nhật Bản: http://www.gakkai.ac
4. Tài liệu điều tra về tình hình đọc sách và xuất bản tại Nhật Bản trên website của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản:
http://www.mext.go.jp/…/shoug…/024/shiryo/attach/1310794.htm
5. “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” (Cổng thông tin chính phủ điện tử Nhật Bản): http://www.mext.go.jp/…/spo…/dokusyo/hourei/cont_001/001.htm
6.“Luật chấn hưng văn hóa đọc”(Cổng thông tin chính phủ điện tử Nhật Bản):
http://law.e-gov.go.jp/htmldata/H17/H17HO091.html

%d bloggers like this: