Archive

Archive for October, 2017

LỜI NGUYỆN CẦU TỪ CHERNOBYL HAY LỜI NGUYỆN CẦU CHO TẤT CẢ CHÚNG TA?

October 26, 2017 Leave a comment

 

SACH

Dù muốn dù không tất cả chúng ta, không kể nam  nữ, giàu sang hay nghèo hèn rồi cuối cùng cũng chết.
Vấn đề là chết như thế nào và cuộc sống đã có mang lại một ý nghĩa như thế nào cho chính bản thân và những người sống tiếp.
Hầu hết chúng ta đều muốn mình có con, có cháu và mong chúng sống sung sướng, hạnh phúc.
Vấn đề là chúng ta có thể làm gì để tạo ra điều đó?

Hãy đọc “Lời nguyện cầu từ Chernobyl” ( Tác giả: Svetlana Alexievich, người dịch: Nguyễn Bích Lan, NXB Phụ nữ, 2016) để suy ngẫm về những câu hỏi ấy.
Cuốn sách là tập hợp lời kể “độc thoại” của những chứng nhân-nạn nhân đã chứng kiến, đã trải nghiệm cuộc sống kinh hoàng khi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986. Đấy là lời kể của những người phụ nữ mất chồng, những người lính mất đồng đội, những người thanh niên chết trong đau đớn  hoặc phải sống tiếp cuộc đời bệnh tật.

Sự thật qua lời kể của nhân chứng quá tàn khốc. Tàn khốc đến độ, cho dù đã đọc không ít những cuốn sách viết về những nạn nhân bị bom nguyên tử ở Nhật Bản, tôi vẫn bàng hoàng, toàn thân lạnh cứng.

Xin trích vài đoạn:

“Hai ngày cuối cùng ở bệnh viện-tôi nhấc cánh tay anh lên thấy xương cốt của anh lủng lẳng hết. Những mảnh phổi, mảnh gan trôi ra miệng anh. Anh bị nghẹt thở vì nội tạng của chính mình” (tr.35).

 

 

“Chúng tôi cô đơn. Ở đây chúng tôi là những kẻ xa lạ. Họ thậm chí chôn  những người đã từng ở Chernobyl trong một khu  riêng biệt, không giống như chôn những người khác.” (tr.134)

 

“Đứa con gái nhỏ của tôi-nó khác biệt. Nó không giống những đứa trẻ khác.

Nó còn nhỏ và nó hỏi tôi: “Tại sao con không giống những người khác?”

Khi chào đời, nó không phải là một đứa trẻ, nó là một cái bao tải nhỏ bị khâu vá chằng chịt, không có chỗ mở nào, chỉ có đôi mắt. Trong số y bạ của nó ghi: “Bé gái, sinh ra với nhiều bệnh  lý phức tạp: không tạo hình hậu môn, không tạo hình âm đạo, không phát triển thận trái”. Đó là nói theo ngôn ngữ y học, nhưng nói đơn giản thì con tôi sinh ra như thế này: không có hậu  môn, không có bướm, không có thận. Tôi chứng kiến con mình phải lên bàn  mổ vào ngày thứ hai của cuộc đời nó, …

Trong vòng bốn năm, con gái tôi trải qua bốn lần phẫu thuật…. Tôi yêu con gái vô cùng” (tr.138)…

 

Có vô vàn những sự thật tàn nhẫn và tàn khốc như thế được kể lại trong sách.

Nhưng mặt khác, thần chết lại tìm đến người dân ở Chernobyl trong khuôn mặt vô hình thậm chí là khuôn mặt thiên thần. Phóng xạ là kể địch “vô hình”. Người dân và người lính ở đây không nhìn thấy kẻ địch. Vì thế những người lính gan dạ nhất đã từng chiến đấu ở Afganistan cũng hoảng sợ khi thấy đồng đội chết dưới tay thần chết và mình đang chết dần. Người dân thì sửng sốt không hiểu tại sao mình phải bỏ nhà cửa mà đi, phải đổ sữa đi, không được ăn hoa quả trong vườn trong khi quả vẫn chín, khoai tây vẫn được mùa…

 

Phóng xạ lan tràn khắp nơi. Nhiều tài xế không hiểu được tại sao chim lại đâm sầm vào cửa kính xe và cho rằng chúng muốn “tự sát”, họ đâu biết lũ chim đã bị mù mắt vì phóng xạ. Nhà đạo diễn phim đã vô cùng ngạc nhiên khi ông đứng trước vườn táo nở hoa mà không hề ngửi thấy hương thơm. Cả đoàn làm phim cũng không ai ngửi thấy. Sự thật là trong môi trường phóng xạ cơ thể con người đã “đóng lại” khứu giác.

Sự cố hạt nhân cũng nổ ra vào thời điểm Liên Xô tan rã. Vì thê cướp bóc, hãm hiếp, ly khai và trả thù bùng phát triền miên. Những người đàn ông bịt mặt vũ trang nhảy lên xe buýt dồn những người đàn ông khác sắc tộc xuống đường và xả súng bắn chết trước mặt trẻ em và phụ nữ. Những toán  lính có vũ trang lùng sục người Nga khắp nơi. Một y tá đã vĩnh viễn  không thể sống bình thường khi tận mắt chứng kiến một toán đàn ông vũ trang súng máy ném một đứa bé vừa mới sinh xuống dưới đất qua cửa sổ tòa nhà cao tầng chỉ vì y tá không chịu trả lời “Nó là giống người gì?”.

Từng đoàn lính vác súng vào khu vực cách ly bắn  hạ cả thú rừng lẫn vật nuôi và chính họ phải ăn những thức ăn được nhuộm trong phóng xạ.

Khu vực cách ly trở thành một vùng đất chết.

 

Những ai đã từng ở Chernobyl vĩnh viễn không sống được cuộc đời bình thường dù không chết. Người khác xa lánh họ, sợ hãi họ và tránh mặt họ. Những người đã sống trong khu vực cách  ly đều bị cách  ly vĩnh viễn và bị “giam cầm” ngay khi đã nằm sâu dưới lòng đất với quan tài bọc chì.

Đọc sách, tự nhiên tôi nhớ đến những dòng thơ của nhà thơ Waga Ryoichi, một thầy giáo dạy lịch sử sống ở ngay khu vực nhà máy điện hạt nhân Fukushima của nước Nhật. Khi sự cố xảy ra, ông đã dùng mạng xã hội phát đi những vần thơ tha thiết:

Nhà ga nơi khu phố anh có đổ nghiêng không? Đồng hồ có chỉ đúng thời gian hiện tại? Chúc ngủ ngon. Không đêm tối nào không gọi  đến bình minh. Kẻ du hành, người đưa tiễn, người đón đưa, người trở về. Đi nhé, mừng anh trở lại. Chúc ngủ ngon. Xin hãy trả lại nhà ga cho khu phố của tôi.
Chúng tôi từng người để lại những chú mèo hoảng sợ. Khi viết tới đây, thì bưu thiếp tới. “Sẽ không đọc nữa”. Nhân loại hoảng sợ. “Có cái gì đó thật kinh hãi”.

Khi khó khăn thì bóp trán chau mày, khi thất vọng thì căm ghét và ném bỏ. “Sẽ xé bỏ”. Vì thế hãy đọc đi. “Dù có đọc thì cũng ích chi đâu”. Xé.

Hãy trả lại phố xưa, hãy trả lại làng, hãy trả lại biển hãy trả lại gió.  Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại sóng, hãy trả lại cá, hãy trả lại tình yêu, hãy trả lại ánh mặt trời. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi. Hãy trả lại chén rượu, hãy trả lại bà, hãy trả lại lòng tự hào, hãy trả lại Fukushima. Tiếng chuông, tiếng thư đến, tiếng thư đi.

 

Nếu có giấc mơ tôi sẽ không từ bỏ nó đừng từ bỏ tôi sẽ không bao giờ từ bỏ Tôi sẽ không từ bỏ bản thân mình không được phép từ bỏ đi sinh mệnh .  Tôi đã từng nhận rất nhiều những cái chết đầy thương tiếc. Cho chính chúng tôi.”

 

 

“Phóng xạ đang rơi

            Đêm khuya yên tĩnh”

………………………………..

            “Với bạn quê hương là gì?

              Với tôi quê hương là tất cả

             Tôi sẽ chẳng bao giờ từ bỏ quê hương”

 

Gấp sách lại rồi, đầu tôi hiện lên những dòng sông đen, những ngọn đồi nham nhở, những kênh rạch bốc mùi, những cánh đồng rau mù mịt thuốc trừ sâu…

“Tôi sợ con người”-một nhân chứng trong sách đã đau đớn kêu lên như thế! Đấy là tiếng kêu thảm thiết mong chúng ta thức tỉnh lương tâm tự vấn “chúng ta đang làm gì với trái đất này và với chính cuộc sống của mình?”

 

Advertisements

NHÀ VĂN PHÙNG QUÁN VÀ BA PHÚT SỰ THẬT

October 26, 2017 Leave a comment

 

Hai ngày nay lúc đứng lúc ngồi trên xe buýt tôi đã đọc hết cuốn sách này.

Cuốn sách tập hợp các bài viết của nhà văn Phùng Quán hoặc đã đăng báo hoặc được tìm thấy dưới dạng “di cảo”.

Cuốn sách mỏng mà đọc xong người nhẹ bẫng, rã rời như thể mình vừa vác một gánh nặng nghìn cân trèo qua một ngọn núi.

Trong những bài viết, nhà văn Phùng Quán chủ yếu kể về những người đồng đội cũ ở Trung đoàn Trần Cao Vân, về nhà thơ Tố Hữu-người bà con, cũng là người có liên quan đến khúc đoạn trường trong cuộc đời ông và đặc biệt là về những nhà văn, nhà thơ mà ông kính trọng, yêu quý: Đoàn Phú Tứ, Tuân Nguyễn, Trần Đức Thảo, Hồ Vi, Nguyễn Hữu Đang…

Tôi biết tới nhà văn Phùng Quán từ khi còn là học sinh tiểu học. Ngày ấy, ngồi bên bậu cửa sổ, tôi đã say mê đọc “Vượt Côn Đảo” và “Tuổi thơ dữ dội”. Ở đây, trong cuốn sách này, tôi cũng gặp lại Bồng da rắn, Vịnh sưa, Mừng, Quỳnh sơn ca…những chiến sĩ vệ quốc đoàn đang độ tuổi thiếu niên trong “Tuổi thơ dữ dội”.

Nhà văn Phùng Quán kể chuyện cứ nhẩn nha, chậm rãi pha chút hóm hỉnh, hài hước. Những chuyện bi thương cùng cực hay kinh khiếp rợn người cũng được ông kể lại với cùng một giọng như thế. Nhưng, với những ai cho dù còn có một chút ít ỏi lương tri làm người, khi đọc những dòng chữ của ông ở đây hẳn đều ngậm ngùi sa lệ.

Xin trích một đoạn ông viết về nhạc sĩ Văn Cao:

“Hồi còn đánh Mỹ, tôi làm việc ở Vụ văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51-Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Hồi ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội để ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xê bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc-Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi ơi ới gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai.

– Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: -Chị cho tôi gói thuốc lào.

Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán:

– Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?

Chị chủ quán ngơ ngác: – Làm gì có thuốc lào Tây ạ?

Tôi cười giải thích: – Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây.
Chị chủ quán nói: – Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.
Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi bóng, đưa cho anh:
– Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử.
Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách: “Ăn thuốc” đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào.
Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói:
– Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa!
– Mời ông cứ tự nhiên.
Văn Cao hỏi tôi: – Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo.
– Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm.
Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi.
Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền-Trần Hưng Đạo.
-Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa.
Tôi hỏi ông:- Ông có biết ông ấy là ai không?
– Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa…
Tôi nói: Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên cả nước phải đứng nghiêm, kể cả cụ Hồ.
Ông khách trợn tròn mắt: – Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao?
– Đích thị Văn Cao!
Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu: Thế thì còn ra thế nào nữa…!
Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi:
– Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không?
– Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh.
– Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa.
– Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1. Chờ mãi không được thế là người ta đem tiền, đem chè đi nhờ họa sĩ khác.
Nghe chị kể tôi cũng thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang loại 1. Chao ôi, thật đáng tiếc!
Hôm sau tôi gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh:
– Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên?
– Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng.. Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái.
Anh lắc đầu:
– Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền…”

Có lẽ vẽ chân dung nhà văn, nhà thơ bằng thơ không ai hơn Xuân Sách và vẽ bằng văn không ai hơn được nhà văn Phùng Quán.

Trong sách, nhà văn Phùng Quán cũng kể về những người đã từng làm cho mình khốn khổ và cảnh ngộ bi thương của mình cứ như không. Phải là người có nhân cách và tài năng đến cỡ nào mới có thể bình thản với những chuyện địa ngục trần gian như thế.

Ở nước mình, từ nghìn năm trước đã có vô số nhà thơ. Ngay cả bây giờ, số người xưng là nhà thơ cũng nhiều như nấm mọc sau mưa. Nhiều người trong số họ cũng viết được nhiều bài thơ hay nhưng không có nhiều người giống như Phùng Quán và các bạn của ông, đã biến chính đời mình thành bài thơ hay nhất. Một bài thơ hay mà buồn bã, bi thương đến nghẹn lòng. Thử hỏi trên thế gian này, có bài thơ hay nào mà không buồn, không làm cho người ta thổn thức?

Sách đặt xuống rồi lật bìa sau xem tôi vẫn thấy tiếc. Một cuốn sách hay như thế in ở nơi có đến gần 100 triệu dân mà chỉ in có vỏn vẹn 3000 bản. Là một người cũng có sách in, tôi ghét cay ghét đắng chuyện sách lậu, sách in nối bản không báo cho tác giả-những chuyện vốn không hiếm hoi trong làng xuất bản nước nhà, nhưng chẳng hiểu sao với riêng cuốn này tôi lại mong manh hi vọng rằng có lẽ con số 3000 kia chỉ là ước lệ, còn thực tế sách in đến tận 30 triệu bản và vẫn còn đang in tiếp.

P.s. Những bạn nào đa cảm muốn lấy nước mắt của mình để lọc lại tâm hồn giữa cuộc đời ngổn ngang sấp mặt này, xin đừng bỏ qua cuốn sách này.

Hà Nội, 24/10/2017

Mâu thuẫn tư duy trong chỉ đạo “cấm dạy ngoài nội dung sách giáo khoa”

October 19, 2017 Leave a comment

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG

(GDVN) – Đã đến lúc phải nhận thức lại vai trò của bộ máy hành chính giáo dục mà đứng đầu là Bộ Giáo dục. Đây không phải là cơ quan kiểm soát mà phải là cơ quan tư vấn.

LTS: Ngày 3/10/2017, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Hữu Độ ký văn bản số 4612/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017 – 2018.

Theo đó, công văn yêu cầu các Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo cơ sở giáo dục phổ thông điều chỉnh nội dung dạy học. Vấn đề khiến dư luận quan tâm nhất chính là “tuyệt đối không dạy những nội dung ngoài sách giáo khoa”. 

Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (nghiên cứu sinh giáo dục Lịch sử tại Nhật Bản) – hiện đang là giáo viên dạy Lịch sử tại Việt Nam, gửi đến Tòa soạn bài viết mới về vấn đề này.

Tòa soạn trân trọng cảm ơn thày Nguyễn Quốc Vương! Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, tiêu đề bài viết do Tòa soạn đặt. Xin mời quý bạn đọc theo dõi. 

Sự mâu thuẫn trong chỉ đạo

Đọc công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH do Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ kí ngày 03 tháng 10 năm 2017 một cách bình tĩnh, tôi nhận thấy trong văn bản này chứa đựng sự mâu thuẫn khi nó vừa tạo cơ sở để tiến hành các biện pháp thúc đẩy cải cách vừa tạo ra rào cản cho công việc đó.

Chẳng hạn tinh thần “hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản …phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường” là phù hợp với tinh thần giáo dục hiện đại.

Ở bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào, việc tinh giản (thực ra phải nói là tinh tuyển) các kiến thức khoa học để đưa vào sách giáo khoa cũng là điều đương nhiên.

Bởi lẽ, tốc độ phát triển của khoa học ngày càng nhanh, các thành tựu khoa học gia tăng nhanh chóng mâu thuẫn với thời gian dành cho học tập các môn giáo khoa ở trường có giới hạn.

Có nghĩa là, trong một khoảng thời gian hữu hạn, người ta sẽ buộc phải tính toán để lựa chọn các kiến thức cơ bản nhất dựa trên những tiêu chuẩn nhất định để đưa vào sách giáo khoa.

Cũng theo tinh thần đó, kể cả sau khi đã đưa các thành tựu khoa học vào sách giáo khoa việc lựa chọn những tri thức nào để dạy cho học sinh để phù hợp với trình độ, nhu cầu của học sinh ở trong thực tiễn lại cũng sẽ được đặt ra.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương: “Đã đến lúc phải nhận thức lại vai trò của bộ máy hành chính giáo dục mà đứng đầu là Bộ Giáo dục. Đây không phải là cơ quan kiểm soát mà phải là cơ quan tư vấn” (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Chính vì vậy “phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường”là một yêu cầu tất yếu và cơ bản xét về mặt lý luận.

Tuy nhiên, rất đáng tiếc là ở phần sau, văn bản chỉ đạo này lại có những nội dung mâu thuẫn với tinh thần trên như “tuyệt đối không dạy những nội dung ngoài sách giáo khoa”.

Rõ ràng, chỉ đạo này mâu thuẫn trực tiếp với nội dung “bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp thay cho những thông tin cũ, lạc hậu” đứng ngay trước đó.

Những thông tin được gọi là “cập nhật”, “mới” đương nhiên sẽ là thông tin sẽ không nằm trong sách giáo khoa. Như vậy là nội dung sau của văn bản phủ nhận luôn nội dung trước đó.

Tư duy truyền đạt chân lý và tư duy coi sách giáo khoa là “chân lý tuyệt đối”

Mâu thuẫn trong văn bản chỉ đạo nói trên chỉ là “vô tình” hay nó thể hiện sai lầm trong tư duy tiếp cận?

Tôi cho rằng, mâu thuẫn nói trên thể hiện sự giằng xé, lúng túng trong tư duy về sứ mệnh của giáo dục trường học và mối quan hệ giữa nội dung giáo dục-chương trình giáo dục-sách giáo khoa với thực tiễn giáo dục của giáo viên ở trường học.

Chỉ đạo mới của Bộ về dạy tích hợp theo chủ đề trong chương trình hiện hành

Rõ ràng, công văn này đã thể hiện tư duy cho rằng vai trò của giáo dục trường học và giáo viên đơn giản là “truyền đạt tri thức” và hệ thống tri thức này được tập hợp lại trong chương trình-sách giáo khoa.

Một khi quan niệm như vậy thì chuyện bổ sung tri thức vào sách giáo khoa hay cắt bỏ chúng khỏi sách giáo khoa sẽ được coi là giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục và tránh cho học sinh…quá tải.

Tuy nhiên, sứ mệnh của giáo dục trường học và của thầy cô nhìn từ góc độ lý luận giáo dục hiện đại không đơn giản như vậy.

Trong xã hội truyền thống và xã hội buổi đầu thời cận đại, người thầy-những người có học vấn, được đào tạo là những người thuộc nhóm thiểu số nắm trong tay các tri thức khoa học mà đại chúng chưa có.

Trường học là nơi hội tụ những người như thế, vì vậy quyền lực tri thức của trường học và giáo viên là tuyệt đối.

Biểu tượng của uy quyền trường học là người thầy và sách giáo khoa. Tính đúng đắn của chân lý cũng được tham chiếu và hồi quy vào đó.

Tuy nhiên, trong xã hội toàn cầu và thông tin hóa ở mức độ ngày càng cao như hiện nay, người thầy và trường học không phải là nơi duy nhất cung cấp các tri thức khoa học cho học sinh nữa.

Học sinh có thể học từ nhiều người và học trong nhiều không gian khác nhau (xã hội, mạng internet, thư  viện, bảo tàng, đời sống, câu lạc bộ…).

Địa vị độc tôn tri thức của sách giáo khoa và người thầy giảm dần, thay vào đó là vai trò khơi gợi cảm hứng và dẫn dắt, chỉ đường cho học sinh.

Chính vì vậy mà ở Nhật Bản từ sau năm 1945 ngay cả trong các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục, người ta cũng tránh không từ “giảng dạy” khi nói về công việc của giáo viên mà thay vào đó là “hướng dẫn”, “trợ giúp”, “chỉ đạo”…

Với tư duy như vậy nên ở Nhật, sách giáo khoa sẽ chỉ là một trong những tài liệu tham khảo quan trọng. Việc sử dụng sách giáo khoa như thế nào là chuyện đương nhiên của của giáo viên trực tiếp giảng dạy.

Tôi cho rằng, nếu chúng ta không thay đổi tư duy đối với vai trò của sách giáo khoa, việc tranh luận xung quanh chuyện cắt bỏ chỗ này, thêm thắt chỗ kia cho dù là một công việc đương nhiên thì khi áp dụng sách giáo khoa mới sẽ đi vào ngõ cụt hoặc không đem lại tác dụng gì.

Lúng túng trong xử lý mối quan hệ giữa chương trình-sách giáo khoa và thực tiễn giáo dục 

Việc yêu cầu giáo viên dạy cái này, cái kia, cắt bỏ cái này cái kia trong sách giáo khoa cho thấy, phải chăng lâu nay các cấp quản lý quan niệm nội dung giáo dục gần như là trùng khớp với nội dung chương trình, hoặc hẹp lơn là nội dung sách giáo khoa.

Một khi quan niệm như vậy thì lô-gic cần phải cắt bỏ cái này, cái kia theo mệnh lệnh hành chính từ trên xuống là …đương nhiên.

Giáo viên phải làm sao khi thông tư, văn bản chỉ đạo của Bộ “đá nhau”?

Trên thực tế thì từ rất lâu, khi có chỉ đạo “giảm tải” đối với chương trình giáo dục  phổ thông năm 2000, việc cắt chỗ nọ chỗ kia một cách cơ học đã được thực hiện.

Hệ quả của việc cắt bỏ như vậy cùng với tư duy dạy học là truyền giảng tri thức đã làm cho những kiến thức truyền dạy bị cắt khúc, mất đi sự mạch lạc…

Trong quan niệm tuyệt đối hóa vai trò sách giáo khoa và coi nội dung chương trình-sách giáo khoa gần như trùng khớp với nội dung giáo dục, thực tiễn giáo dục đã khiến cho vai trò sáng tạo của giáo viên không được ý thức đầy đủ.

Điều này khiến cho 1000 giáo viên dạy ở 1000 địa phương đã dạy một nội dung gần như là giống nhau hoàn toàn.

Để chứng minh điều này rất dễ chỉ cần xem giáo án của 1000 giáo viên đó và vở ghi của các học sinh họ dạy sẽ thấy chúng giống nhau đến…giật mình.

Gần đây, đã có những động thái cho phép các trường xây dựng và thực hiện “chương trình trường học” , thúc đẩy giáo viên tiến hành “nghiên cứu bài học”…rồi thừa nhận cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa”;

Xét về mặt chiến lược, đây chính là những động thái hợp lý hướng đến xây dựng một nền giáo dục dân chủ, hiện đại.

Tuy nhiên, có thể do chưa thực sự hiểu bản chất và vướng phải cơ sở nền tảng, môi trường phù hợp cho nên khi thực hiện nó đã lộ rõ nhưng bất cập hoặc mâu thuẫn.

Chẳng hạn, trong khi muốn thực hiện “chương trình trường học” thì lại đồng thời muốn “tăng cường quản lý”;

Muốn có “một chương trình – nhiều sách giáo khoa” trong khi lại mãi vẫn chưa công bố được quy chế biên soạn, thẩm định, lựa chọn sách giáo khoa;

Và điều đặc biệt đáng lưu ý là chuyện Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn trực tiếp làm sách giáo khoa cũng như lựa chọn các tác giả để viết các bộ khác.

Trong tư duy và cách làm đầy mâu thuẫn như thế, cải cách giáo dục sẽ gặp bế tắc và làm cho giáo viên lâm vào cảnh “như gà mắc tóc”.

Việc quan tâm, chú ý đến điều kiện thực tế của trường học, địa phương trên thực tế sẽ không có nhiều ý nghĩa vì cả cấp quản lý và giáo viên không hình dung và ý thức được đầy đủ vai trò của “thực tiễn giáo dục”.

Không ai có thể làm thay, nghĩ thay giáo viên

Trong cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hóa nền giáo dục và hòa nhập với giáo dục thế giới, dù muốn dù không, việc dân chủ hóa, phân quyền cho các địa phương là không thể tránh khỏi.

Nhược điểm cơ bản của nền giáo dục hiện tại ở Việt Nam là bộ máy hành chính giáo dục quá lớn, và tập trung hóa cao độ.

Thành bại của chương trình mới, xin đừng vội đá trách nhiệm xuống các thày cô

Các cấp quản lý giáo dục mấy chục năm qua chỉ đạo bằng mệnh lệnh, can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ vào nội dung giáo dục cũng như sinh hoạt trường học.

Chính thực tế này đã trở thành lực cản của cải cách và hạn chế sự sáng tạo của giáo viên.

Đã đến lúc phải nhận thức lại vai trò của bộ máy hành chính giáo dục mà đứng đầu là Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đây không phải là cơ quan kiểm soát mà phải là cơ quan tư vấn, trợ giúp để tạo ra môi trường tốt nhất cho hoạt động giáo dục của nhà trường, giáo viên.

Trên nền tảng tư duy ấy, việc tự chủ nội dung và phương pháp giáo dục của giáo viên phải được tôn trọng và đảm bảo. Đây là điều kiện tiên quyết để cải cách giáo dục thành công.

Nếu không đảm bảo và khuyến khích tối đa điều này, cải cách giáo dục chắc chắn sẽ thất bại cho dù có tiêu tốn hàng trăm nghìn tỉ đi nữa.

Nói một cách ngắn gọn, dạy gì, dạy như thế nào là quyền của giáo viên. Cả cơ quan quản lý và giáo viên cần phải ý thức sâu sắc điều đó để phát huy vai trò của mình cũng như là có được trách nhiệm trước nhân dân.

Nguyễn Quốc Vương

‘Thành bại của giáo dục là ở người thầy chứ không phải sách giáo khoa’

October 19, 2017 Leave a comment

 Theo thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương, giáo viên chỉ dạy trong sách giáo khoa sẽ tạo ra những người có tư duy máy móc, ngoan ngoãn “giả vờ”.

Câu chuyện Bộ GD&ĐT đưa ra văn bản  cấm dạy kiến thức ngoài sách giáo khoa (SGK) nhận được sự quan tâm của dư luận khi mở ra cuộc bàn luận về chất lượng của SGK hiện hành và cách dạy học trong nhà trường.

Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương – nghiên cứu sinh về giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa – Nhật Bản đã có những trao đổi với Zing.vn về vấn đề này.

Có những thứ trong SGK nặng nề, không cần thiết

– Ông đánh giá như thế nào về sách giáo khoa hiện hành ở Việt Nam, trong đó có môn Lịch sử – chuyên ngành ông theo đuổi?

– SGK ở Việt Nam hiện nay được biên soạn và phát hành theo cơ chế “một chương trình – một sách giáo khoa”.

Cơ chế này trên thực tế đã được duy trì quá lâu và tạo ra nhiều vấn đề trong giáo dục cũng như ngăn cản các động thái cải cách tích cực, đặc biệt là động thái “cải cách từ dưới lên” thông qua thực tiễn giáo dục của giáo viên và sự chủ động chương trình của nhà trường.

'Thanh bai cua giao duc la o nguoi thay chu khong phai sach giao khoa' hinh anh 1
Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương. Ảnh: NVCC.

Cơ chế này khiến nhiều người có tâm huyết, tài năng không thể tham gia vào việc biên soạn sách giáo khoa và phụ huynh, giáo viên không có cơ hội lựa chọn bộ sách giáo khoa thích hợp với địa phương, trường học và học sinh, con em của mình. Trong khi đó, điều này là hiển nhiên ở nhiều nước trên thế giới.

Đối với môn Lịch sử, quá trình nghiên cứu so sánh SGK lịch sử hai nước Việt Nam và Nhật Bản, tôi nhận thấy về mặt tư duy, kỹ thuật biên soạn, SGK của Việt Nam đi sau rất nhiều.

Ví dụ, SGK Lịch sử của Việt Nam thường chỉ sắp xếp các nội dung theo kiểu biên niên mà không có cách “lựa chọn” và “trần thuật” theo chuyên đề, trần thuật theo cái nhìn lịch sử dân tộc từ lịch sử khu vực và thế giới hay “lịch sử lội ngược dòng”.

SGK lịch sử ở Nhật cũng chú trọng hệ thống tư liệu gốc và các chỉ dẫn hoạt động, thao tác khai thác hệ thống tư liệu này, trong khi ở SGK Việt Nam chỉ có bài viết của tác giả, phần tranh ảnh, bản đồ có tính chất minh họa và các câu hỏi dành cho học sinh…

– Môi trường giáo dục chỉ dạy trong chương trình sách giáo khoa sẽ tạo ra những học sinh, giáo viên như thế nào? Nền giáo dục đó sẽ có hình hài ra sao?

– Hệ quả dễ thấy nhất của việc giáo viên, học sinh chỉ dạy và học trong chương trình SGK là lối tư duy đơn giản kiểu đúng – sai tuyệt đối. Những học sinh trưởng thành trong môi trường giáo dục như vậy dễ có thế giới quan hẹp, cực đoan hóa sự đúng – sai khi nhìn nhận thế giới, vì thế sẽ thiếu tinh thần khoan dung đối với sự khác biệt và không có tinh thần hợp tác.

Giáo viên dạy học trong thời gian dài dưới lối tư duy đó sẽ trở thành người “độc quyền chân lý”. Họ sẽ trở thành người hạn chế sự phát triển toàn diện, sự sáng tạo và tinh thần truy tìm chân lý ở học sinh. Giáo dục sẽ có nguy cơ tạo ra đội ngũ khổng lồ những người có tư duy máy móc và ngoan ngoãn “giả vờ”.

– Văn bản gây tranh cãi của Bộ GD&ĐT nêu “tinh giản những nội dung dạy học vượt quá mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành” và “tuyệt đối không dạy những nội dung ngoài SGK”. Vậy, những gì dạy trong SGK là giảm tải?

– Tôi rất băn khoăn với khái niệm “chuẩn kiến thức – kỹ năng” đang được dùng phổ biến ở Việt Nam bởi khó có cái chuẩn nào tuyệt đối do cấp trên đặt ra áp đặt được cho toàn bộ học sinh trong một nước với nhiều thiên hướng, nhiều hoàn cảnh khác nhau. Chỉ giáo viên, nhà trường ở địa phương đó mới có thể xác định được nội dung giáo dục cần thiết cho học sinh của mình.

Chương trình giáo dục hay SGK suy cho cùng chỉ là phương án tham khảo. Khi tư duy như vậy, không phải cứ chỉ dạy những gì trong SGK mới là giảm tải. Có những thứ viết trong SGK rất nặng nề và không cần thiết.

Trong môn Lịch sử, việc có quá tải hay không không phụ thuộc việc sách giáo khoa dày hay mỏng, có viết trong SGK hay không, mà nó phụ thuộc tư duy của giáo viên.

Họ quan niệm giáo dục lịch sử là tạo ra những công dân có nhận thức lịch sử khoa học, có phẩm chất công dân hay chỉ đơn giản là truyền cho học sinh các sự kiện được lựa chọn, sắp xếp sẵn kèm theo kiến giải bất định.

Nếu quan niệm dạy học lịch sử là huấn luyện tư duy và phương pháp của nhà sử học, chuyện SGK dày, mỏng, sử liệu nhiều ít không quan trọng lắm. Nhưng nếu quan niệm là truyền dạy tri thức thì sách giáo khoa dày, nhiều dữ kiện quả thật sẽ gây khó khăn khi người ta phải truyền đạt một lượng lớn thông tin trong thời gian có hạn.

'Thanh bai cua giao duc la o nguoi thay chu khong phai sach giao khoa' hinh anh 2
Văn bản gây tranh cãi của Bộ GD&ĐT do Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ ký.

– Theo ông, đâu là “cuốn sách” tốt nhất: SGK, người thầy hay những gì học sinh tự học hỏi từ cuộc sống?

– Cho dù giáo dục có được cải cách đúng hướng, chúng ta cũng phải chấp nhận một thực tế là không bao giờ có được cuốn sách giáo khoa tốt nhất. Đơn giản vì SGK cũng chỉ là công trình của một nhóm tác giả mà thôi.

Các sách đó được nhóm tác giả viết ra với giả định “đối thoại” và “dành cho” một nhóm học sinh giả tưởng của họ. Trên thực tế, đối tượng học sinh rộng lớn và phong phú hơn nhiều. Đó là cơ sở lý luận để tồn tại nhiều bộ sách giáo khoa và nhiều thực tiễn giáo dục phong phú.

Một nền giáo dục tốt là bao dung và tạo điều kiện cho sự đa dạng, phong phú phát triển. Quyết định sự thành bại của giáo dục nằm ở người thầy chứ không phải SGK.

Người thầy tốt sẽ biết sử dụng cuốn sách tài liệu phù hợp, thậm chí ngay cả khi SGK tồi, họ cũng vẫn biết tìm ra lối đi riêng để tạo ra các thực tiễn giáo dục tốt. Sẽ không có cuốn SGK nào chỉ dẫn, đưa ra đáp án cho học sinh suốt cả cuộc đời. Nhà trường phải giúp tạo ra những người học có tư duy và năng lực tự tìm lời giải đáp cho chính mình trên chặng đường đời đó.

Ở Nhật, 1.000 giáo viên sẽ tạo ra 1.000 giáo dục thực tiễn khác nhau

– Ông có thể chia sẻ thêm về SGK ở Nhật Bản?

– SGK ở Nhật Bản có lịch sử khá lâu đời và trải qua nhiều thay đổi. Hiện nay, Nhật thực hiện chế độ SGK kiểm định, nghĩa là Nhà nước thẩm định bản thảo và cấp phép cho các nhà xuất bản tư nhân làm sách.

Nhà nước không đầu tư tiền, không lựa chọn tác giả, không can thiệp vào bản thảo mà chỉ xét duyệt và có ý kiến khi các nhà xuất bản đăng ký thẩm định.

Nếu bản thảo đạt yêu cầu, Bộ giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ sẽ đóng dấu chứng nhận SGK. Nếu chưa đạt, họ sẽ yêu cầu sửa chữa hoặc đánh trượt.

Các nhà xuất bản có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện dân sự nếu cảm thấy không thỏa đáng. Các SGK sau khi được cấp phép sẽ được công bố rộng rãi để các địa phương, trường lựa chọn. Đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở (bậc giáo dục nghĩa vụ), Nhà nước sẽ mua sách theo danh sách đăng ký và cấp phát miễn phí cho học sinh.

Về nội dung và kỹ thuật biên soạn thì riêng đối với SGK Lịch sử, cho dù bị chỉ trích bởi cả các nước láng giềng và chính giới học giả trong nước, thậm chí bị cả giáo sư Ienaga Zaburo kiện trong suốt 30 năm, sách đã liên tục được cải tiến và tương đối phong phú với hệ thống sử liệu gốc cho học sinh và giáo viên khai thác, giúp giảm tính chủ quan của người viết.

– Ở Nhật, chuyện về sử dụng sách giáo khoa được các giáo viên thực hiện như thế nào?

– Ở Nhật, Luật giáo dục cơ bản và Luật giáo dục trường học quy định vai trò của Nhà nước trong phát triển giáo dục vẫn khẳng định và bảo đảm “quyền giáo dục” của giáo viên và quốc dân.

Chính vì vậy, các thực tiễn giáo dục – những gì giáo viên thực hiện trong thực tế ở trường học có tính độc lập tương đối với chương trình và SGK. 1.000 giáo viên sẽ tạo ra 1.000 thực tiễn giáo dục khác nhau.

Cái chia sẻ chung giữa họ là mục tiêu, triết lý giáo dục được quy định trong Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học. Ở đó, chương trình và SGK trở thành tài liệu tham khảo quan trọng nhưng không phải duy nhất và tuyệt đối. Sinh hoạt chuyên môn của giáo viên chủ yếu thể hiện ở việc tạo ra các thực tiễn và nghiên cứu chúng.

‘Bộ Giáo dục cấm dạy nội dung ngoài sách giáo khoa là vô lý’

Theo TS Trịnh Thu Tuyết, sách giáo khoa là một trong những yếu tố quan trọng nhưng không phải duy nhất cung cấp kiến thức, kỹ năng cho học sinh.

Trước đó, Bộ GD&ĐT có văn bản yêu cầu các sở GD&ĐT chỉ đạo cơ sở giáo dục phổ thông tiếp tục điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản để phù hợp thời lượng dạy học và điều kiện thực tế của nhà trường.

Trong đó, Bộ GD&ĐT: Tuyệt đối không dạy những nội dung ngoài SGK“.

Ngay sau khi bị dư luận, giáo viên phản ứng về yêu cầu của công văn trên, ông Nguyễn Xuân Thành – Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT cho biết, văn bản trên gây hiểu lầm, điều này không đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ.

https://news.zing.vn/thanh-bai-cua-giao-duc-la-o-nguoi-thay-chu-khong-phai-sach-giao-khoa-post788563.html

“Ai mua thơ, tôi bán thơ cho”

October 18, 2017 Leave a comment
Một số bạn muốn…đọc thơ trước khi mua. Khổ nỗi chính tác giả cũng chưa được…sờ vào tập thơ nên trong khi chờ ảnh chụp bên trong thì tôi gõ tạm lên đây vậy.
Xin giới thiệu với các bạn vài bài.
Kì diệu
Gieo hạt lúa vàng vào đất
Được cả mùa vàng sân phơi
Từ một ô cửa rất nhỏ
Mở ra bát ngát bầu trời
Bà bảo trăng tròn cao lắm
Ao nhà lóng lánh trăng rơi.
8/2003
Trưa hè
Trưa nay chị gió đi vắng
Chẳng còn tiếng chị thì thào
Bụi tre không người trò chuyện
Nghiêng mình rủ bóng xuống ao
Con sóng thôi không đùa giỡn
Cá tôm chui xuống đáy ao
Chỉ còn chú chuồn chuồn ớt
Đỏ chót đậu trên bờ rào
Mái hiên vện thở hổn hển
Quên hỏi người ta: “Đi đâu?”
Mèo con lim dim ngủ gật
Chốc chốc lại ngoẹo cái đầu
Mặt trời phả ngàn tia nắng
Nhuộm vàng rơm thóc dưới sân
Chỉ mây chẳng sợ nắng gắt
Thản nhiên phơi mái đầu trần
Đột nhiên ào về chị gió
Bụi tre mừng rỡ rì rào
Thế là chỉ trong phút chốc
Im lìm bỗng hóa xôn xao
21/7/2003
Ngủ
Con thuyền nằm ngủ trên sông
Cái cò ngủ ở cánh đồng ca dao
Chẳng ngủ là cơn mưa rào
Thích đi ngủ muộn là sao trên trời
Con cá vừa ngủ vừa bơi
Vầng trăng đi ngủ lúc trời bình minh
Con sóng ngủ vẫn dập dình
Dòng sông lúc ngủ một mình chảy xuôi.
7/2003
Núi
Thương tre còng lưng gánh bão
Núi cao vươn ngợp vào mây
Lưng trần che ngàn gió bấc
Mùa đông sương giá phủ dày
Ngàn năm núi cao trước mặt
Cho cánh đồng làng sinh sôi
Lũy tre rì rào gọi gió
Diều em vi vút lưng trời
Thương núi người già thầm nhắc
Mùa xuân mưa ấm trồng cây
Núi biết thương người đến thế
Tặng cho núi tấm áo dày
Bức tranh của bé
Những ngôi nhà bé vẽ
Bằng gam màu thật tươi
Từng mái ngói san sát
Nhuộm hồng ánh mặt trời
Trước mặt là sân phơi
Ngồn ngộn vàng rơm lúa
Dọc lối đi vào cửa
Hàng dâm bụt đỏ tươi
Dưới lấp lóa mặt trời
Khói bếp thành màu biếc
Hàng cau thành chiếc lược
Chải lên trời trong xanh
Mây trắng xốp bồng bềnh
Sà vào từng ô cửa
Trên cao và xa nữa
Trắng cánh cò ca dao
4/ 2005 

Bạn nào muốn mua tập thơ này xin vui lòng liên hệ với tôi qua FB (https://www.facebook.com/ro.son.14) hoặc email : thonsau@gmail.com

Những bạn ở Hà Nội có thể nhận sách trực tiếp hoặc qua bưu điện, những bạn ở xa sách sẽ gửi qua bưu điện.
Giá sách: 50.000VNĐ/cuốn. Nếu gửi qua bưu điện người nhận chịu tiền cước.

Xin trân trọng cảm ơn.

Nguyễn Quốc Vương

Sinh viên ULIS sôi nổi giao lưu với tác giả Nguyễn Quốc Vương

October 7, 2017 Leave a comment

Ngày 06/10/2017, Trung tâm Hỗ trợ sinh viên phối hợp với Trung tâm CNTT-TT&HL đã tổ chức buổi giao lưu với Nguyễn Quốc Vương – tác giả cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản” tại phòng 509, nhà A1.

Nguyễn Quốc Vương là một giảng viên trẻ của Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh được biết đến với nhiều tác phẩm có nội dung nhân văn nhưng cũng đầy góc nhìn mới lạ như “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”. Anh còn được biết đến với nhiều tác phẩm khác như: “Môn Sử không chán như em tưởng”, “Mùi của cố hương”, “Nước Nhật nhìn từ những thứ bình thường”.

Buổi giao lưu đã thu hút khoảng 100 sinh viên quan tâm đến giao dục và văn hóa Nhật Bản đến tham gia. Chương trình gồm nhiều hoạt động hấp dẫn như: giới thiệu sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”, giao lưu với tác giả Nguyễn Quốc Vương; ký tặng sách. Đặc biệt, tác giả trẻ đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm về việc phiên dịch, dịch sách, du học Nhật… Các em sinh viên đều rất háo hức trước những thông tin được chia sẻ.

Phó Giám đốc TT CNTT-TT&HL Dương Khánh Linh đại diện nhận sách tặng

Tặng quà cho tác giả Nguyễn Quốc Vương

Cũng trong buổi giao lưu, tác giả Nguyễn Quốc Vương đã tặng 4 cuốn sách là “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản”, “Mùi của cố hương”, “Nước Nhật nhìn từ những thứ bình thường”, Cải cách giáo dục Nhật Bản cho thư viện trường. Bên cạnh đó, sau buổi giao lưu, các cán bộ thư viện cũng đã tổ chức hướng dẫn khai thác học liệu liên quan đến chủ đề liên văn hóa Nhật Bản. Buổi giao lưu và tư vấn đã nhận được phản hồi tích cực từ các em sinh viên.

Lệ Thủy-Khánh Linh/ULIS Media

http://ulis.vnu.edu.vn/sinh-vien-ulis-soi-noi-giao-luu-voi-tac-gia-nguyen-quoc-vuong/

“Học sinh có quyền lựa chọn thầy cô đặt vào trái tim mình”

October 5, 2017 Leave a comment

Trao đổi với VietNamNet nhân câu chuyện Trường PTTH Lương Thế Vinh, anh Nguyễn Quốc Vương (nghiên cứu sinh lịch sử giáo dục tại Trường ĐH Kanazawa, Nhật Bản) nhìn nhận: “Khoa cử và tự do rất khó để dung hoà”.

Phóng viên: Một phụ huynh vừa chia sẻ câu chuyện cá nhân của con chị và những cảm nhận sau một năm học ở Trường Lương Thế Vinh về “lối giáo dục hà khắc của cô chủ nhiệm, cách ứng xử chưa nhân văn của cô hiệu phó”. Trong ngày 28/9, nhà trường cũng đã ban hành nội quy khẳng định những điều không được làm đối với học sinh. Anh thấy nội quy này thế nào?

Ông Nguyễn Quốc Vương: Câu chuyện cụ thể của phụ huynh và nhà trường tôi chưa xem kĩ được.

Trường học ra nội quy, để có sức thuyết phục thì phải là 3 bên nhà trường, phụ huỵnh, học sinh cùng bàn thảo ra, thống nhất và sau đó thực thi.

Nếu không có sự đồng thuận của 3 bên ngay từ đầu thì khi thực hiện sẽ phụ thuộc vào sự diễn giải của người thực hiện, mà cách diễn giải này thường sẽ dẫn đến tình trạng phụ huynh và học sinh đánh giá “cô này hiền, cô kia nghiêm khắc”,v.v….

Trường THPT Lương Thế Vinh, đổi mới giáo dục, đời sống trường học
Anh Nguyễn Quốc Vương: “Nhiều trường học của ta áp nội quy từ trên xuống”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Nội quy trong trường học là cần thiết và mỗi trường sẽ có những quy định khác nhau nhưng quy trình đề ra nội quy phải được thực hiện sao cho đảm bảo tính dân chủ.

Chẳng hạn, nội quy trường học của Nhật cực kỳ chặt chẽ, ví dụ quy định váy trên gối bao nhiêu, dưới gối bao nhiêu. Nhưng quy trình của họ là có thống nhất trước trên cơ sở thoả thuận, rồi mới thực hiện.

Còn ở nhiều trường học của ta hiện nay là áp từ trên xuống, các thành phần như phụ huynh, học sinh không được tham khảo ý kiến. Như vậy khi thực hiện dễ phát sinh sự chống đối.

Trường học là một tổ chức thiết chế vừa dạy đời sống bên ngoài, vừa không giống đời sống bên ngoài. Vì trường học vừa phải dạy cho học sinh biết cư xử nơi công cộng, tuân thủ theo phép tắc, các quy chuẩn đạo đức phổ biến nhưng đồng thời phải cũng phải giáo dục nên con người tự do.

Như vậy không thể nhấn mạnh quá một bên: phá vỡ mọi quy tắc khiến học sinh hành xử tùy tiện hoặc là tiến hành lối giáo dục khắc nghiệt kiểu “trại lính”. Bởi vì mục đích cuối cùng của trường học là phải làm cho học sinh tự giác, tự do.

– Để có một nội quy tương đối hợp lý thì cần có sự đồng thuận giữa các bên. Điều này có vẻ khó khả thi ở các trường phổ thông của ta, vì làm thế nào để lọt được vào một trường “có tiếng” đã là điều gian nan. Khi đã vào trường, kể cả có quy trình cho các bên thảo luận, thì không dễ để học sinh, phụ huynh dám nêu ý kiến. Như vậy tính dân chủ trong quy trình đề ra nội quy sẽ không thực chất.

Nếu điều này xảy ra thì do người đứng đầu đơn vị – người tổ chức ra nội quy – không chú ý tới điều đó.

Muốn có sự thuyết phục thì trước khi quyết định phải tạo ra môi trường dân chủ để mọi người tranh luận.

Vì mục đích cuối cùng của giáo dục là sự trưởng thành của học sinh, chứ không phải là trừng phạt.

Trong giáo dục thì không thể không có kỷ luật. Nguyên tắc thưởng phạt là nguyên tắc cơ bản của giáo dục. Vấn đề là đúng chỗ, đúng thời điểm, đúng lúc, đúng mức độ, đúng đối tượng trên cơ sở có cân nhắc đến mục tiêu-triết lý giáo dục.

Nhân nói đến chuyện phạt thì câu chuyện đánh giá hạnh kiểm học sinh ở nước ta đã tồn tại rất lâu, cho dù các văn bản hướng dẫn cụ thể về nó được điều chỉnh, bổ sung thay đổi nhiều lần. Nhưng việc xếp loại hạnh kiểm, rồi phạt học sinh ngày càng xảy ra khác biệt giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh học sinh…Vậy tìm ra tiếng nói chung ở đâu?

Người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, việc áp đặt giá trị hay tư tưởng của người trên với người dưới được coi là đương nhiên.

Điều này thích hợp với xã hội quân chủ hoặc xã hội nông nghiệp.

Trong xã hội hiện đại đa thông tin và đa giá trị, tức là một hệ giá trị có thể là không đúng hoàn toàn, có thể đúng chỗ này, nhưng không đúng chỗ khác, lối tư duy và cách thức giáo dục nói trên không đắc dụng và tạo ra hiệu quả ngược. Nó có nguy cơ tạo ra sự tuân phục giả vờ ẩn chứa sự phản kháng mãnh liệt ở bên trong hoặc tạo ra con người giả dối-đạo đức giả.

Ở mình có một xu hướng là người ta hay áp dụng các quy chuẩn cư xử cũng như giá trị đạo đức trong gia đình vào xã hội. Ví dụ người ta xưng hô anh chị, cô chú với những người không có quan hệ họ hàng, huyết thống…

Tức là vô thức, chúng ta đã coi cả xã hội là một đại gia đình và chúng ta tư duy, hành xử ở cả chốn công cộng tôn nghiêm lẫn không gian riêng tư dựa trên hệ giá trị có tính gia trưởng đó.

Thực tế là quan hệ “cha mẹ – con” trong gia đình sẽ không áp dụng được cho quan hệ “giáo viên – học sinh”. Đây là hai mối quan hệ khác nhau về bản chất.

Vì vậy, nếu áp đặt quan hệ từ trên xuống có tính gia trưởng trong trường học hiện đại sẽ gây ra sự phản kháng. Con cái không lựa chọn được cha mẹ, nhưng học sinh có quyền để thầy cô vào trái tim mình hay không.

Trường THPT Lương Thế Vinh, đổi mới giáo dục, đời sống trường học
“Học sinh có quyền để thầy cô vào trái tim mình hay không”

Nền tảng tồn tại của cá nhân là nhân cách, mọi sự can thiệp sâu tác động vào nhân cách học sinh theo lối quy đồng về các loại hạnh kiểm đều có tác dụng xấu.

Nó giống như một đòn trừng phạt về tinh thần đối với học sinh hơn là một biện pháp giáo dục.

Tư duy trừng phạt này chi phối mạnh mẽ trong phương thức nhận xét và đánh giá hạnh kiểm. Vì vậy mà mỗi buổi kiểm điểm lớp hay họp đánh giá hạnh kiểm, người giáo viên vốn nắm trong tay cả quyền lực và quyền uy đã trở thành người giống như quan tòa độc quyền phán xử.

Giáo dục nỗi sợ…
Nhược điểm của việc giáo dục bằng nỗi sợ là khi học sinh ra khỏi trường hoặc thoát khỏi sự kiềm toả của giáo viên thì những cái ức chế trong trường bị bùng vỡ

Khi người thầy còn nhầm lẫn “quyền lực” với “quyền uy” sẽ tạo ra nhiều hệ luỵ.

Giáo viên quyền lực là giáo dục bằng nỗi sợ, làm cho các em sợ để tuân theo chứ không phải là làm cho các em cảm thấy thuyết phục.

Nhược điểm của giáo dục quyền lực là khi học sinh ra khỏi trường hoặc thoát khỏi sự kiềm toả của giáo viên thì những cái ức chế trong trường bị bùng vỡ, như hiện tượng chửi tục chửi bậy hoặc đánh nhau bên ngoài. Hiện tượng này giống như kiểu khi ta bóp túi bóng nước thì chỗ này nó lõm vào nhưng chỗ khác lại lòi ra.

Nguyên lý giáo dục mình làm hơi ngược lẽ ra lúc trẻ còn nhỏ ta nên giáo dục cho trẻ biết tuân theo quy tắc trước, lớn dần lên thì phát triển tự do.

Ở mình thì lúc bé nuông chiều, đến khi cần để đạt được mục đích của mình cả giáo viên và phụ huynh có xu hướng áp đặt, tước đoạt tự do để khiến trẻ vâng lời, tạo sự an tâm cho người lớn.

Điều này nhìn bên ngoài được đánh giá là ngoan, nhưng đứa trẻ bên trong sẽ có bất ổn nội tâm và nhận thức lầm lạc về dân chủ, tự do.

Như vậy đòi hỏi sự thích ứng của người giáo viên rất lớn?

Có một cái khó, đặc biệt cho giáo viên chủ nhiệm hiện nay là phải ứng phó với sự thay đổi quá nhanh ở trẻ em.

Trẻ em bây giờ không như ngày xưa. Các em có nhiều thông tin, đến từ nhiều môi trường trưởng thành khác nhau. Kinh nghiệm ứng xử của thầy cô không tương thích với thế hệ trẻ ngày nay. Thế hệ trẻ bây giờ có nhu cầu biểu đạt rất lớn.

Ngày xưa cái đúng ở gia đình cũng đúng ở xã hội; ngày nay nó không thế, có rất nhiều “chân lý” mẹ cha truyền đạt rơi vào cảnh “sáng đúng, chiều sai, ngày mai lại đúng”; kinh nghiêm cũ không đắc dụng nên giáo viên lúng túng.

Điều này làm khó giáo viên vì kinh nghiệm có thể đúng với người này nhưng không đúng với người khác.

Hiện nay, khi đô thị hóa, công nghiêp hóa diễn ra với tốc độ nhanh, gia đình truyền thống đang dịch chuyển sang gia đình hạt nhân; môi trường xã hội địa phương (cộng đồng, làng xã) bị phá vỡ.

Học sinh bơ vơ…
Các chức năng giáo dục vốn là chức năng truyền thống của gia đình và xã hội địa phương đã được đẩy sang cho trường học. Trong khi đó trường học lại bị biến thành lò luyện thi. Tình trạng đó tạo ra sự đứt gãy…

Vì vậy các chức năng giáo dục vốn là chức năng truyền thống của gia đình và xã hội địa phương đã được đẩy sang cho trường học. Trong khi đó trường học lại bị biến thành lò luyện thi. Tình trạng đó tạo ra sự đứt gãy về truyền đạt kinh nghiệm sống và các giá trị văn hóa.

Trường học và phụ huynh đã không thay đổi kịp với xã hội khiến học sinh bơ vơ và các em phản ứng bằng bản năng.

Nói ngắn gọn thì nền tảng xã hội truyền thống đã biến mất nhưng nền tảng cơ bản của xã hội hiện đại chưa kịp xuất hiện.

Trong bối cảnh đó thì đời sống trường học phải là yếu tố giúp học sinh bớt cảm thấy bơ vơ và hạnh phúc.

Nhưng đời sống trường học của mình gắn chặt với khoa cử. Giáo viên lên lớp dạy kiến thức để thi. Học sinh đến trường chủ yếu ngồi học.

Các em trưởng thành thế nào trong môi trường đó khi bản chất của chức năng trường học là xã hội hoá con người.

Thực chất nhiều giáo viên, phụ huynh và học sinh quan niệm nhà trường là nơi truyền dạy tri thức đồng thời ở một thái cực khác lại tuyệt đối hoá vai trò giáo dục đạo đức của nhà trường.

Điều này làm cho giáo viên lúng túng khi bị dồn ép vào hai trạng thái cực đoan: vừa muốn tập trung truyền dạy tri thức để học sinh “bách chiến bách thắng” trong các kì thi, vừa kì vọng giáo dục được đạo đức của học sinh.

Trong khi cơ chế tác động tới học sinh không đơn giản và “duy ý chí” như vậy.

Muốn học sinh có tinh thần khoan dung thì phải có môi trường dân chủ để sinh hoạt, thực thi dân chủ và biết tranh luận với bạn bè, thầy cô.

Trong môi trường mà người lớn làm thay và quyết định thay cho học sinh thì điều đó khó thực hiện được.

Dù được phản ánh là môi trường “hà khắc”, nhưng không chỉ trường Lương Thế Vinh, mà còn một số trường khác, vẫn không ngừng thu hút phụ huynh học sinh với tỷ lệ thi đỗ đại học rất cao…

Điều này liên quan đến mục tiêu, triết lý giáo dục của nhà trường và quan điểm của phụ huynh khi lựa chọn mô hình giáo dục cho con em mình.

Nhà trường sẽ tạo ra những con người có tư duy độc lập, tinh thần phong phú hay tạo ra những con người “bách chiến bách thắng” trong thi cử?.

Nếu như phụ huynh mong muốn nhà trường tạo cho con mình có khả năng thi đỗ tất cả kỳ thi thì sẽ tự mâu thuẫn với việc bức xúc rằng môi trường này hà khắc.

Bởi vì trong một khoảng thời gian có hạn, để đạt được tối đa mục tiêu đưa kiến thức vào đầu, đáp ứng mục tiêu thi đỗ, thì sẽ phải hi sinh tự do để tập trung tối đa vào điều đó.

Khoa cử và tự do: Khó dung hoà
Phụ huynh vừa muốn con mình thi đỗ bách chiến bách thắng, vừa muốn con có một môi trường tự do, thoải mái trong bối cảnh của Việt Nam là bất khả kháng

Nếu như phụ huynh vừa muốn con mình thi đỗ “bách chiến, bách thắng”, vừa muốn con có một môi trường tự do, thoải mái trong bối cảnh của Việt Nam là bất khả kháng. Khoa cử và tự do rất khó để dung hòa.

Người làm giáo dục, người làm quản lý sẽ phải lựa chọn giữa hai cái đó và tính toán đến sự cân bằng giữa chúng.

Nguyện vọng con vừa có được những giá trị đạo đức tốt đẹp, vừa đạt được những thành công nhất định – như thi đỗ đại học tốt chẳng hạn, là một nguyện vọng chính đáng của phụ huynh. Tại sao các trường lại lúng túng hoặc phải đánh đối các mục tiêu đó?

Với thực trạng thi cử như hiện nay thì nhà trường không dễ đáp ứng được nguyện vọng này.

Còn muốn đạt được thì phải có cuộc cách mạng trong đời sống trường học.

Nó có liên quan đến cải cách hành chính giáo dục, thứ mà trong 4 cuộc cải cách giáo dục của VN gần đây đều chưa có.

Trường THPT Lương Thế Vinh, đổi mới giáo dục, đời sống trường học
“Khoa cử và tự do rất khó để dung hoà”

Nguyên tắc cơ bản trong các cuộc cải cách giáo dục được thực hiện ở phương diện hành chính giáo dục là: thứ nhất phải chuyển vai trò của bộ giáo dục từ quản lý giám sát sang tư vấn hỗ trợ; thứ hai phân quyền cho địa phương, chuyển các sở giáo dục trở thành cơ quan tư vấn chuyên môn thay vì là kiểm soát hành chính. Ở các nước khi cải cách giáo dục đều diễn ra điều này, còn ở ta thì vẫn chưa có. Một ví dụ cụ thể như về chuyện làm sách giáo khoa, ở các nước thì bộ giáo dục chỉ ban hành quy chế và thực hiện kiểm định chứ không làm sách.

Thứ hai nữa là đời sống trường học mặc dù nói lấy học sinh là trung tâm nhưng thực tế vẫn là giáo viên.

Mọi sinh hoạt đều từ giáo viên đưa ra trong khi nước ngoài có những tổ chức tự trị của học sinh như câu lạc bộ, phát thanh trường học; ủy ban tự trị trường học. Những tổ chức tạo nên linh hồn của đời sống trường học đầy tính nhân văn.

Sau những tranh cãi, Trường Lương Thế Vinh khẳng định vẫn tiếp tục kiên định theo con đường giáo dục đã vạch ra. Anh nhìn nhận thế nào?

Trường học tư có sự tự chủ của họ. Tôi ủng hộ sự độc lập tương đối của các trường tư đối với hệ thống giáo dục công. Nhà nước cần phải có hành lang pháp lý rõ ràng đảm bảo cho điều đó để khuyến khích giáo dục tư phát triển.

Nội quy của trường nếu không trái luật, phụ huynh đưa con vào mà có sự thảo luận và đồng ý với nội quy đó, thì phụ huynh và học sinh phải tuân thủ. Nếu bất đồng thì kháng nghị hoặc từ bỏ học ở trường đó. Nếu cảm thấy không thỏa đáng hoặc vi phạm quyền lợi có thể kiện ra tòa dân sự.

Điều này sẽ phụ thuộc vào quan điểm giáo dục của phụ huynh và hình ảnh con người mơ ước mà phụ huynh muốn con mình trở thành trong tương lai.

Tuyển chọn đầu vào của trường rất khó, như vậy là trường luôn ở thế trên trong mối quan hệ hai bên…Làm sao để những phụ huynh khi đã chọn trường và được trường chọn thì không phải bị buộc chuyển đi?

Trong cơ chế hành chính giáo dục trung ương tập quyền hiện nay thì mối quan hệ giữa những người làm giáo dục và cơ quan giáo dục giống như là hình tháp.

Đỉnh chóp là bộ giáo dục, dưới là các sở, phòng giáo dục, hiệu trưởng, giáo viên và cuối cùng là học sinh ở chân tháp.

Những ai càng ở phía chân tháp sẽ càng cảm thấy bức bối và áp lực nặng nề. Giáo viên sẽ luôn cảm thấy lo sợ vì bị can thiệp sâu vào công việc giáo dục. Học sinh thì cảm thấy bị đè nén, ít thấy tự do.

Các em ít có cơ hội được tham gia thay đổi đời sống trường học. Cơ chế ấy đã khiến cho các cơ quan quản lý giáo dục và nhà trường đơn phương quyết định được nhiều thứ.

Tuy nhiên, nhìn ở một góc độ khác thì chính phụ huynh cũng phải thận trọng khi can thiệp vào công việc giáo dục của nhà trường.

Ở Nhật hiện nay, giáo viên trẻ bỏ nghề nhiều vì gặp phải các “monster-parents”, những phụ huynh đáng sợ!

Họ đã can thiệp sâu vào các hoạt động giáo dục của giáo viên, phàn nàn quá mức độ cần thiết về công việc của giáo viên.

Đại chúng hóa đại học đã làm cho trình độ học vấn của phụ huynh được nâng cao khiến cho khoảng cách giữa phụ huynh và giáo viên thu hẹp lại thậm chí thay đổi trong cán cân tri thức.

Cho dẫu vậy thì phụ huynh cũng cần bình tĩnh để suy xét sự việc và cân nhắc đến mục tiêu giáo dục.

Sự hợp tác và thống nhất giữa phụ huynh và giáo viên có ý nghĩa lớn đối với việc giáo dục học sinh.

Giáo dục tư ở Việt Nam hiện tại rất non yếu cả về truyền thống lẫn chiều sâu tư tưởng.

Trường tốt…
Một ngôi trường tốt không thể chỉ là ngôi trường tạo ra các học sinh “bách chiến, bách thắng” trong các kì thi.

Một ngôi trường tốt không thể chỉ là ngôi trường tạo ra các học sinh “bách chiến, bách thắng” trong các kì thi.

Ngôi trường ấy phải có được một triết lý giáo dục nhân văn của riêng mình.

Trường tư là một nơi có điều kiện để làm điều đó.

Chẳng hạn, nhìn vào lịch sử chúng ta sẽ thấy, trường Đông Kinh nghĩa thục là một ví dụ dễ hiểu.

Một ngôi trường chỉ tồn tại 8 tháng nhưng đấy là ngôi trường rất đáng kính trọng và có tư cách.

Các trường tư muốn tồn tại lâu dài và có được niềm tin của phụ huynh phải kiến tạo cho mình nền tảng ấy.

Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

%d bloggers like this: