Archive

Archive for December, 2017

CÓ NÊN VỌNG NGOẠI KHI CẢI CÁCH GIÁO DỤC?

December 26, 2017 Leave a comment

 

Lâu nay trong thái độ đối với hiện tình của giáo dục nước nhà và động thái cải cách dường như có ba xu hướng.

Xu hướng thứ nhất là bàng quan, không quan tâm hoặc tỏ ra không quan tâm. Với họ đó là chuyện xã hội không ảnh hưởng gì đến nồi cơm manh áo nhà mình hoặc là họ tư duy rằng việc đó đã có người khác lo, mình quan tâm, bày tỏ chẳng để làm gì có khi thêm thiệt.

Xu hướng thứ hai là những người có xu hướng muốn cải cách cho dù sự thể hiện rất phong phú ở nhiều mức độ khác nhau từ vỗ tay cho đến xả thân. Trong xu hướng cải cách, đa phần những người này mong muốn học hỏi từ thế giới văn minh để cải thiện nền giáo dục nước nhà.

Xu hướng thứ ba là những người mặc dù tỏ ra ủng hộ cải cách hoặc tham gia các dự án cải cách hoặc công, hoặc tư nhưng lại luôn tuyên bố “học tập phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam” và luôn tỏ ra công kích, phê phán sự “vọng ngoại”.

Ở đây, sẽ bàn kĩ hơn về nhóm thuộc xu hướng thứ ba.

Xét về logic hình thức, ý kiến và lập luận của họ khá ổn. Một thứ xa lạ đem vào môi trường mới không phù hợp thì sẽ chết hoặc không đem lại hiệu quả. Nhiều người gật gù cho họ là thức giả.

Nhưng phân tích kĩ sẽ thấy đó là một lối tư duy có gì đó mang màu sắc ngụy biện và nếu nói thẳng nó thể hiện tầm nhìn hạn hẹp không khác các trí thức Nho giáo bảo thủ ngày xưa nhìn nhận văn minh phương Tây khi họ tìm đến phương Đông.

Sự học về bản chất luôn là sự hướng ra bên ngoài và tìm kiếm các giá trị tiến bộ ở xung quanh. Thử hỏi trên thế giới này có nền văn minh nào không giao lưu học hỏi mà tồn tại được? Hãy nhìn những nền văn minh có tính chất tự cao, đóng kín và số phận của nó trước sự biến chuyển của thế giới mà xem.

Sự học ban đầu luôn bắt đầu bằng sự “bắt chước”. Sau bắt chước sẽ là nội địa hóa, biến nó thành yếu tố nội sinh và cuối cùng là tạo ra đặc trưng mới, nâng cấp nó và biến nó thành của mình, phát triển nó lên thành thứ có chất lượng, trình độ cao hơn thứ bắt chước đưa vào.

Nhìn lại lịch sử Nhật Bản hay Việt Nam đều thấy rõ điều đó.

Người Nhật học văn hóa Đường của Trung Quốc để xây dựng nên văn hóa Nhật Bản.

Người Nhật cũng học văn minh phương Tây để cận đại hóa đất nước và văn minh hóa quốc dân.

Người Nhật sau 1945 cũng học lại các giá trị phổ quát để trở thành quốc gia hòa bình, dân chủ và đóng góp vào sự tiến bộ của thế giới.

Ở VN, suốt chiều dài lịch sử cũng là quá trình học hỏi Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Mĩ và các nước khác mà thôi.

Cải cách Minh Trị được Việt Nam đánh giá cao là thế nhưng nếu nhìn lại các cuốn sách giáo khoa tiểu học trong giai đoạn đầu sẽ thấy nó rất…ngô nghê. Đơn giản vì các học giả Nhật đã dịch và bê nguyên xi sgk của Mĩ. Nhưng dần dần, họ đã tự soạn được sách của họ. Tương tự, từ chỗ trả đến 1/3, 1/3 kinh phí của bộ công nghiệp cho chuyên gia nước ngoài, hạ mình học hỏi họ từng chút một, người Nhật đã tự làm được mọi thứ máy móc và xây dựng hệ thống đường sắt ngang dọc khắp đất nước.

Các từ người Việt vẫn dùng thoải mái ngày nay như “Lịch sử”, “Kinh tế” , “Chính trị”, “Dân chủ”… chính là những từ mà các trí thức trong Minh Lục xã do Fukuzawa lãnh đạo cố gắng tạo ra vào buổi ấy.

Không thể đem sự tự cao dựa vào sự thiếu hiểu biết để chống lại thế giới văn minh. Bài học của các trí thức Nho giáo nhà Nguyễn là một sự nhãn tiền.

SGK lịch sử lớp 11 (bản sử dụng trước năm 2000) từng ghi lại cảnh Tự Đức gọi các tiến sĩ vào thi đình và ra bài luận văn sách hỏi “Nhật Bản học theo nước Thái Tây mà trở nên cường thịnh ta có nên học theo Nhật Bản không?”. Kết cục tất thảy các tiến sĩ đều thưa rằng “Nhật Bản học theo Thái Tây mà cường thịnh nhưng bỏ văn minh Trung Hoa thì cuối cùng cũng hóa ra loài mọi rợ”. 30 năm sau, các tiến sĩ thì ngồi trên bia đá, còn nước Việt thì chìm trong cảnh lầm than.

Cuối cùng, đây mới là ý quan trọng. Việc cải cách không phải là chờ lọc lấy nhưng cái phù hợp với môi trường có sẵn để đem về. Việc đó là há miệng chờ sung và duy ý chí vì bản chất chẳng có thứ nào như thế. Nếu có thì đấy không thể gọi là cải cách đối mới vì thứ đó khi đem vào môi trường kiểu đó sẽ bị nuốt luôn hoặc thoái hóa biến chất (giống con cá rô thả vào ao tù thì mù mắt, phình đầu).

Bản chất của cải cách là vừa phải đưa vào các yếu tố mới vừa phải nỗ lực cải tạo môi trường, điều kiện hiện tại để cho các yếu tố mới đó nảy nở, sinh sôi mạnh mẽ để rồi cuối cùng cải tạo môi trường đó ngày một tốt hơn tạo ra sức mạnh nội sinh làm nên thành tựu mới.

Khi cải cách giáo dục thời MInh Trị, người dân Nhật đã cấm con đến trường, đốt cả trường học vì luc đó thể chế trường học cận đại là một thứ lạ lẫm. Để đối phó nhà nước Nhật vừa trợ cấp cho học sinh vừa tiến hành luật cưỡng bách giáo dục. Sau 10 năm, quốc dân Nhật thấy rằng muốn tiến bộ không thể không cho con đến trường.

Cải cách giáo dục ở Việt Nam với nào là “nghiên cứu bài học”, “dạy học qua di sản”, “trường học mới VNEN”, “thông tư 30”, “dạy học tích hợp” và rồi rất có thể không cẩn thận và không biết, không chịu lắng nghe thì sẽ là cả “dạy học phát triển năng lực, phẩm chất” đã thất bại hoặc tạo ra sản phẩm “đầu ngô mình sở” vì người ta không chịu hiểu bản chất nói trên (hoặc không chịu làm).

Những thứ trên sẽ không thể nào chạy được suôn sẻ trong môi trường là nền hành chính giáo dục tập trung không có phân quyền và đảm bảo sự tự chủ ềv nội dung, phương pháp giáo dục của các trường đặc biệt là từng giáo viên.

Một thực tế đau xót là thế này. Những người phê phán vọng ngoại thật ra trong nhiều trường hợp lại là những người thích được đi nước ngoài “tham quan học tập” nhất cho dù trình độ ngoại ngữ chỉ là “hê nô, nai tu mít iu” hoặc hăng hái nhât trong các dự án sử dụng vốn tài trợ từ nước ngoài. Hoặc họ cũng là có những người có con cái, cháu chắt đi du học nước ngoài.

Không ít người có xu hướng tư duy như trên đơn giản vì họ đã từng hoặc đang có vị trí hoặc hưởng lợi lớn từ hiện trạng giáo dục hiện tại. Đòi hỏi họ tư duy cải cách là bất khả.

Nói một đằng, làm một nẻo và sống đa nhân cách là một bi kịch lớn mà chúng ta đang phải nếm trải đau đớn hàng ngày.

Advertisements

Luật thư viện trường học của Nhật Bản

December 22, 2017 Leave a comment

Luật thư viện trường học của Nhật Bản

 

(Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 1953 và sửa đổi lần gần nhất ngày 24 tháng 6 năm 2016)

 

 

 

(Mục đích của bộ luật)

 

 

Điều 1. Bộ luật này coi thư viện trường học là công trình cơ bản không thể thiếu trong giáo dục trường học, có mục đích hướng tới sự phát triển lành mạnh và làm phong phú giáo dục trường học.

 

(Định nghĩa)

 

Điều 2. “Thư viện trường học” trong bộ luật này là công trình được thiết lập trong trường tiểu học (bao gồm cả khóa trình giai đoạn một của trường học thuộc giáo dục nghĩa vụ và bộ phận tiểu học trong các trường giáo dục đặc biệt), trường trung học cơ sở (bao gồm cả khóa trình giai đoạn 2 của trường học thuộc giáo dục nghĩa vụ và bộ phận trung học cơ sở trong các trường giáo dục đặc biệt hay khóa trình giai đoạn một của trường thực hiện giáo dục trung học), trung học phổ thông (bao gồm cả khóa trình giai đoạn hai của trường thực hiện giáo dục trung học và bộ phận trung học phổ thông của trường giáo dục đặc biệt) (từ dưới đây sẽ gọi là “trường học”), có mục đích sưu tầm sách, tư liệu giáo dục nghe, nhìn và các tư liệu cần thiết cho giáo dục khác (từ dưới đây sẽ gọi là “tư liệu thư viện); chỉnh lý, bảo tồn, đóng góp cho việc thực hiện khóa trình giáo dục trường học thông qua phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh, giáo viên đồng thời giáo dục văn hóa lành mạnh cho học sinh.

 

(Nghĩa vụ thiết lập)

 

Điều 3. Trường học phải có thư viện riêng.

 

(Điều hành thư viện trường học)

 

Điều 4. Trường học có thư viện phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên thông qua các phương pháp chủ yếu như dưới đây.

  1. Sưu tầm tư liệu thư viện, phục vụ việc sử dụng của học sinh và giáo viên.
  2. Hợp lý hóa sự phân loại, trưng bày tư liệu thư viện và xây dựng mục lục.
  3. Tiến hành các buổi đọc sách, các hội nghiên cứu, buổi chiếu phim, buổi triển lãm tư liệu…
  4. Hướng dẫn trẻ em, học sinh sử dụng tư liệu thư viện và sử dụng các thư viện trường học khác.
  5. Liên lạc mật thiết và hợp tác với các thư viện trường học, bảo tàng, nhà công dân và các thư viện khác…
  6. Thư viện trường học có thể được sử dụng phục vụ công chúng nói chung trong giới hạn việc đó không gây trở ngại cho việc đạt được mục đích nói trên.

 

(Giáo viên làm công tác thư viện)

 

Điều 5. Trường học cần phải bố trí giáo viên làm công tác thư viện để làm công việc có tính chất chuyên môn của thư viện.

 

  1. Giáo viên làm công tác thư viện ở điều trên phải là giáo viên cốt cán (trừ giáo viên cốt cán làm công việc chỉ đạo về dinh dưỡng và quản lý), giáo viên giảng dạy (từ dưới đây sẽ gọi chung là “giáo viên cốt cán”). Trong trường hợp này các giáo viên cốt cán đều phải là người đã hoàn thành khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện.

 

  1. Khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện quy định ở trên được các trường đại học và các cơ quan giáo dục khác tiến hành với sự ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.

 

  1. Ngoài nội dung được quy định trong điều khoản trên, những nội dung cần thiết khác như môn học cần phải học và số đơn vị tín chỉ sẽ được quy định bằng chỉ thị của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.

 

 (Thủ thư trường học)

 

 

Điều 6.

  1. Ngoài giáo viên làm công tác thư viện được quy định ở khoản 1 điều 5 nói trên, để cải thiện, nâng cao sự điều hành thư viện trường học và xúc tiến hơn nữa việc sử dụng thư viện trường học của học sinh, giáo viên, trường học cần cố gắng bố trí nhân viên chuyên trách đảm nhận công việc ở thư viện trường học (gọi là thủ thư trường học)

 

  1. Để nâng cao phẩm chất của thủ thư trường học, nhà nước và các đoàn thể công cộng địa phương phải nỗ lực thực hiện việc bồi dưỡng họ và các biện pháp cần thiết khác.

 

(Trách nhiệm của người thiết lập)

 

Điều 7. Người lập trường học phải xây dựng thư viện của trường và nỗ lực làm phong phú nó nhằm đạt cho được mục đích được đề ra trong bộ luật này.

 

 (Nhiệm vụ của nhà nước)

 

Điều 8. Nhà nước phải nỗ lực thực hiện quy định tại khoản 2 điều 6 và các nội dung được liệt kê dưới đây nhằm xây dựng và làm phong phú thư viện trường học.

  1. Phải xây dựng được kế hoạch tổng hợp liên quan tới xây dựng, làm phong phú thư viện trường học và đào tạo giáo viên làm công tác thư viện.
  2. Đưa ra khuyến cáo và sự chỉ đạo về mặt chuyên môn, kĩ thuật liên quan đến việc thiết lập và điều hành thư viện trường học.
  3. Ngoài nội dung ở hai mục trên, nhà nước còn phải có biện pháp cần thiết để xây dựng và làm phong phú các thư viện trường học.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật

 

Nguồn: http://elaws.e-gov.go.jp/search/elawsSearch/elaws_search/lsg0500/detail?lawId=328AC1000000185#1

 

 

Không thể lạc quan về một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa

December 15, 2017 Leave a comment

 Theo nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Vương, nếu quy định một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa, việc thực hiện không tốt sẽ xảy ra tiêu cực.

Thông tin năm 2019 TP.HCM sẽ ra mắt bộ sách giáo khoa riêng nhận được sự quan tâm của dư luận. TS Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT, cho biết sắp tới, dự thảo Luật Giáo dục Đại học sẽ đề cập một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa.

Trao đổi với Zing.vn về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Vương – nghiên cứu sinh về giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa, Nhật Bản – cho rằng vai trò của Bộ GD&ĐT là đưa ra quy chế minh bạch, khoa học, công khai. Quy chế không tốt, không khoa học sẽ xảy ra tiêu cực.

Không có chuyện địa phương nào viết sách cho địa phương đó

– Ông đánh giá như thế nào về chủ trương một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa?

– Một chương trình nhiều sách giáo khoa là chủ trương đúng để dân chủ hóa nền giáo dục và tạo ra môi trường thuận lợi cho các trường, giáo viên chủ động nội dung dạy học phù hợp tình hình thực tiễn.

Tuy nhiên, bản chất của cơ chế này là tạo ra hành lang pháp lý cho việc các tác giả, nhà xuất bản có quyền biên soạn, đăng ký thẩm định sách của mình trở thành sách giáo khoa và các trường, giáo viên có quyền lựa chọn sách chứ không phải chuyện “địa phương nào viết sách cho địa phương đó”. Nếu hiểu như vậy sẽ phản tác dụng vì thực chất nó không khác gì cơ chế cũ.

Cơ quan hành chính giáo dục không nên trực tiếp tổ chức, biên soạn và phát hành sách giáo khoa. Ngay cả Bộ GD&ĐT, giai đoạn đầu có thể biên soạn một bộ sách với tính chất tạo ra bước đệm để chuẩn bị thì cũng cần công bố rõ ràng sẽ làm trong mấy năm để thực hiện hoàn toàn cơ chế nói trên.

Khong the lac quan ve mot chuong trinh nhieu bo sach giao khoa hinh anh 1
Ông Nguyễn Quốc Vương – nghiên cứu sinh tại Nhật Bản.

– Ông kỳ vọng chủ trương này sẽ thay đổi giáo dục nước nhà như thế nào?

– Nhìn vào tình hình hiện tại, tôi chưa thấy Bộ GD&ĐT công bố quy chế biên soạn sách giáo khoa theo cơ chế một chương trình nhiều bộ sách, cũng như quy trình thẩm định, tiêu chuẩn thẩm định công khai… Tôi không thể có ý nghĩ lạc quan.

Để thực hiện tốt cơ chế một chương trình nhiều sách giáo khoa, vai trò của Bộ GD&ĐT trong việc đề ra quy chế và thẩm định rất quan trọng. Nó là công việc thiết yếu, thường xuyên.

Nếu thực hiện tốt cơ chế này, nó sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để thực tiễn giáo dục ở địa phương phát triển.

– Hiện tại, Bộ GD&ĐT chưa đưa ra được chương trình các môn học. Theo quan điểm của ông, các bộ sách giáo khoa cần bắt buộc theo khung chương trình này hay nên tự do sáng tạo?

– Về nguyên tắc, sách giáo khoa được biên soạn dựa trên chương trình môn học đã được thông qua. Nếu chưa có chương trình mà biên soạn sách, dư luận sẽ đặt ra câu hỏi người soạn căn cứ vào đâu, thẩm định thì lấy gì làm căn cứ.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa các sách giáo khoa chỉ là sự rập khuôn cứng nhắc chương trình. Chương trình chỉ là những phác thảo chung, cơ bản nhất. Việc thể hiện thành nội dung cụ thể và phương thức thể hiện nó sẽ tùy thuộc từng nhóm tác giả. Chẳng hạn, Nhật Bản dựa trên một chương trình nhưng mỗi nhà xuất bản sẽ có sáng tạo riêng trong bộ sách của mình.

Nếu quy chế không tốt sẽ xảy ra tiêu cực

– Nhiều người lo lắng khi thực hiện chủ trương này có thể xảy ra tình trạng “trăm hoa đua nở”, các trường khó lựa chọn sách phù hợp. Có tình trạng địa phương nào sẽ bị ép dùng sách của sở đó?

– Như tôi đã nói ở trên, quy chế minh bạch, khoa học, công khai là linh hồn của cơ chế một chương trình nhiều sách giáo khoa. Vai trò của Bộ GD&ĐT nằm ở đó. Quy chế không tốt, không khoa học sẽ xảy ra tiêu cực. Chẳng hạn, sự móc ngoặc giữa nhà xuất bản với người có trách nhiệm thẩm định, giữa những người có trách nhiệm chọn sách với đơn vị phát hành để “ăn chia”…

Minh bạch, công khai hóa, giám sát lẫn nhau sẽ là phương thức hữu hiệu để ngăn ngừa điều này. Tiếc rằng hiện nay vẫn chưa thấy Bộ GD&ĐT công bố công khai quy chế nhận bản thảo, thẩm định và công bố kết quả…

– Ở Nhật Bản, cơ chế một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa được thực hiện như thế nào?

– Nhật Bản trước năm 1945 thực hiện cơ chế “quốc định”, nghĩa là cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục ban hành. Nhưng từ năm 1947, họ chuyển sang dùng cơ chế “kiểm định”. Bộ Giáo dục sẽ là cơ quan thẩm định các bản thảo được đăng ký và quyết định xem bản thảo nào đủ tiêu chuẩn là sách giáo khoa. Các cuốn đạt yêu cầu được công nhận là sách giáo khoa sau đó sẽ được công bố công khai cho các địa phương và trường lựa chọn.

Toàn bộ quy chế, quy trình đăng ký, thẩm định, công bố kết quả, khiếu nại, sửa chữa, tái thẩm định… đều được công khai hóa cho xã hội theo dõi, giám sát. Vì vậy, trên thực tế, nước Nhật không dùng ngân sách để làm sách giáo khoa. Chuyện biên soạn sách giáo khoa là công việc của các tác giả và nhà xuất bản, Bộ Giáo dục chỉ thẩm định và công bố kết quả mà thôi.

Ở giai đoạn đầu tiên, khoảng 2-3 năm sau 1947, khi cơ chế mới được thực hiện, Bộ Giáo dục Nhật cũng biên soạn các sách giáo khoa nhất định để đáp ứng yêu cầu cần có sách giáo khoa gấp. Sau đó, họ nhanh chóng chuyển vai trò này cho các nhà xuất bản.

Hiện tại, mỗi môn học ở Nhật có tới cả chục nhà xuất bản cùng làm sách giáo khoa. Ví dụ, môn Xã hội ở bậc tiểu học, 8 nhà xuất bản cùng làm sách và được công nhận. Tất nhiên, thị phần của các nhà xuất bản khác nhau, tùy thuộc uy tín, truyền thống và chất lượng sách của các nhà xuất bản đó. Việc cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà xuất bản đã giúp cho sách của họ ngày càng tốt hơn cả về hình thức và nội dung.

Sở GD&ĐT TP.HCM: ‘Chúng tôi không tự ý biên soạn sách giáo khoa riêng’

Theo ông Đỗ Minh Hoàng, Sở GD&ĐT TP.HCM đang phối hợp với NXB Giáo dục Việt Nam tập huấn người viết sách, biên soạn lại chương trình hiện hành để trao đổi kinh nghiệm.

Quyên Quyên

https://news.zing.vn/khong-the-lac-quan-ve-mot-chuong-trinh-nhieu-bo-sach-giao-khoa-post803033.html

Bạo lực học đường nhìn từ nhà trường Nhật Bản và Việt Nam

December 15, 2017 Leave a comment

  12:45 | Thứ tư, 13/12/2017 0

Mươi năm trở lại đây, “bạo lực học đường” trở thành từ khóa “nóng” trên internet, cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề cũng như sự quan tâm của giới truyền thông, dư luận trước hiện tượng này. Cho dù vậy, ở Việt Nam bạo lực học đường chủ yếu vẫn chỉ được xã hội biết tới thông qua truyền thông đại chúng.

Ở Việt Nam ít thấy có các nghiên cứu về bạo lực học đường dài hơi, nhất là nghiên cứu so sánh với các nước trong khu vực và trên giới được công bố rộng rãi và gây ảnh hưởng lớn. Trong bài viết này, người viết sẽ phác vài nét về bạo lực học đường ở Nhật cũng như ở Việt Nam, từ đó suy ngẫm về giải pháp cho tình trạng này.

Bạo lực học đường ở Nhật Bản

Ở Nhật thông thường bạo lực học đường được hiểu là hành vi bạo lực diễn ra ở trong trường học bao gồm các vụ bạo lực giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên và học sinh.

Trong những năm 70-80 của thế kỷ XX, bạo lực học đường chủ yếu diễn ra ở các trường trung học cơ sở và một bộ phận trung học phổ thông. Tuy nhiên từ năm 1995 trở đi, bạo lực phát sinh ngày một nhiều ở tiểu học. Bạo lực học đường đã trở thành tâm điểm của truyền thông, thậm chí trở thành chủ đề của phim ảnh.

Năm 1980, bộ phim truyền hình Thầy Kinbachi lớp 3B lấy chủ đề bạo lực học đường đã thu hút được sự chú ý của công chúng. Năm 1984, bộ phim School Wars chủ đề tương tự với bối cảnh trường trung học cũng gây ấn tượng mạnh khi mở đầu bằng cảnh học sinh chạy xe mô tô trong hành lang sân trường, phá vỡ kính cửa sổ và cảnh các thiếu niên phạm tội bị cảnh sát dẫn đi.

Cảnh học sinh bị bắt nạt ở trường trung học cơ sở Rikkyo – Tokyo, 1999. Ảnh: NOOR

Bạo lực học đường về sau được thừa nhận đã diễn tiến hay biểu hiện dưới một dạng khác được gọi là “bắt nạt” (ijime). Đặc biệt nạn bắt nạt gia tăng đột biến sau năm 1985. Những năm gần đây, tình trạng này ngày càng nghiêm trọng và nước Nhật đã có hẳn bộ luật mang tên “Luật xúc tiến các biện pháp phòng chống bắt nạt” (Bộ luật số 71 công bố năm 2013). Điều 4 luật này nghiêm cấm hành vi bắt nạt và điều 25, 26 ghi rõ hành vi xử phạt đối với những kẻ bắt nạt là “đình chỉ học” hoặc “xử phạt hành chính”.

Hành vi bắt nạt ở trường học Nhật Bản có biểu hiện rất đa dạng. Có thể diễn ra dưới hình thức đánh nhau hoặc các hình thức khác như đe dọa, giấu đồ đạc, tẩy chay không chơi cùng, không nói chuyện và gần đây khi mạng xã hội được học sinh sử dụng rộng rãi thì còn xuất hiện cả hình thức “bắt nạt trên mạng”. Nhiều học sinh đã dùng mạng xã hội nói xấu hoặc nói những lời gây tổn thương một học sinh nhất định nào đó khiến cho học sinh đó không dám đến trường, buồn chán dẫn tới trầm cảm thậm chí tự sát.

Trước tình hình trên, Bộ Giáo dục – Văn hóa – Thể thao – Khoa học và Công nghệ Nhật Bản tháng 8.2004 đã công bố báo cáo “Về tình trạng hành vi có vấn đề của học sinh năm 2003”với các kết quả điều tra thực tiễn và đề xuất các giải pháp vĩ mô. Hiện nay cho dù các vụ bạo lực học đường giảm đáng kể, các vụ bắt nạt với những hình thức tinh vi, khó phát hiện lại tăng lên. Ngày khai trường 1.9 hàng năm trở thành ngày “đáng sợ” của nhiều học sinh, gia đình người Nhật. Số liệu thống kê cho thấy sau ngày đi học đầu tiên này đã xảy ra nhiều vụ học sinh tự sát hoặc từ chối đến trường do sợ bị bắt nạt.

Bạo lực học đường ở Việt Nam

Cho dù ở Việt Nam không có các nghiên cứu thống kê đáng tin cậy hay các cuộc điều tra chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình trạng bạo lực trong nhà trường, người ta vẫn nhận thấy tình hình khá nghiêm trọng. Truyền thông mạng đã làm cho các bức tường ngăn cách thông tin trở nên trong suốt khiến cho vấn đề bạo lực học đường lộ ra ánh sáng.

Rất nhiều clip quay bằng điện thoại cho thấy cảnh giáo viên bạo hành học sinh, cảnh học sinh đánh nhau sử dụng cả hung khí, cảnh nữ sinh đánh bạn bằng những đòn rất tàn bạo sau đó lột quần áo đối phương, quay clip đưa lên mạng hạ nhục. Có clip còn ghi lại cả cảnh học sinh tiểu học dùng gậy và ghế đánh vào đầu bạn trước sự thờ ơ của nhiều bạn cùng lớp.

Khó có thể kể hết các vụ bạo lực học đường, nhưng chúng ta có thể phần nào hình dung mức độ nghiêm trọng và phổ biến của nó qua năm vụ bạo lực học đường gây phẫn nộ năm 2016 được một tờ báo mạng tổng kết. Năm vụ này được xếp theo thứ tự:

Cô giáo đánh tím mặt học sinh vì viết sai chính tả: một cô giáo ở Lào Cai đánh tím mặt mũi một học sinh lớp Một chỉ vì em viết sai chính tả và viết chậm.

Nữ sinh đánh nhau như phim chưởng: clip 1 phút 40 giây ghi lại cảnh nữ sinh bị đánh hội đồng bằng dép và bị nhiều nữ sinh khác tát, đạp. Kết quả xác minh cho thấy đây là các nữ sinh THCS ở Nghệ An.

Sáu nam sinh bị giáo viên đánh chỉ vì một cái ghế gãy: thầy giáo chủ nhiệm ở trường Tiểu học – THCS Bến Ván (Thừa Thiên – Huế) dùng thước đánh sáu nam sinh bầm tím đùi, mông vì một lỗi nhỏ.

Nữ sinh bị đánh hội đồng đến ngất xỉu: hai nữ sinh ở Thanh Hóa đánh một nữ sinh khác đến ngất xỉu.

Bị đánh dã man và tè vào mặt vì thiếu 5 nghìn “tô”: năm học sinh đánh đập một nam sinh mặc kệ nạn nhân khóc lóc van xin và sau đó một thủ phạm còn tè bậy trước mặt nạn nhân.

So sánh sơ bộ sẽ thấy trong khi ở Nhật Bản tình trạng giáo viên có hành vi bạo lực với học sinh đã trở nên hiếm hoi thì ở Việt Nam nó vẫn là chủ đề “nóng”. Ở Việt Nam người ta cũng chỉ mới chú ý đến các hành vi bạo lực trực tiếp giữa các học sinh mà chưa chú ý tới mức độ nghiêm trọng của các hành vi “bắt nạt” khác như tẩy chay, nói xấu, đe dọa…

Ứng phó thế nào?

Bạo lực học đường là một hiện tượng xã hội có quan hệ mật thiết với nhiều vấn đề và hiện tượng xã hội khác. Chẳng hạn ở Nhật nó có mối quan hệ khá mật thiết với bối cảnh xã hội chạy đua bằng cấp và thi cử trong những năm 70-80 thế kỷ trước, với sự sụp đổ của xã hội truyền thống khi đất nước công nghiệp hóa cao độ và các gia đình truyền thống chuyển hóa thành gia đình hạt nhân… Do công nhận đó là một hiện tượng xã hội nghiêm trọng cho nên ở Nhật đã có sự ứng phó ở tầm quốc gia.

Về cơ bản hiện nay, ở Nhật, các địa phương, trường học thực hiện các biện pháp sau để hạn chế và phòng ngừa bạo lực, bắt nạt học đường:

Thứ nhất là tăng cường trao đổi thông tin, liên lạc phối hợp hành động giữa nhà trường, hội giáo viên – phụ huynh, chính quyền và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ giáo dục ở địa phương.

Thứ hai là bố trí chuyên gia tư vấn tâm lý ở trường học để trợ giúp học sinh, phát hiện sớm và ngăn chặn các hành vi bạo lực.

Thứ ba là dạy về tình hình bạo lực học đường, nạn bắt nạt và các biện pháp phòng chống trong các môn học xã hội, đời sống…

Thứ tư là huy động và tạo điều kiện cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia trợ giúp, tư vấn cho cả học sinh là thủ phạm và nạn nhân của bạo lực học đường, bắt nạt học đường.

Ở Việt Nam thì sao? Có vẻ như sự ứng phó của trường học và những ngành, những người có liên quan khá lúng túng. Rất nhiều vụ bạo lực học đường nghiêm trọng chỉ được điều tra và xử lý khi clip quay lại sự việc được tung lên mạng. Cách xử lý cũng mang tính thời vụ và giải quyết phần ngọn như đình chỉ học tập hay đuổi học. Việc tư vấn tâm lý và hỗ trợ cho cả thủ phạm và nạn nhân hầu như không được đặt ra và tiến hành trong thực tế. Về mặt vĩ mô, cho đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có một cuộc tổng điều tra trên toàn quốc về bạo lực học đường để lấy dữ liệu cơ sở phục vụ cho việc đề ra chính sách ứng phó thích hợp.

Thử hình dung với nền tảng xã hội và giáo dục hiện có, chúng ta sẽ đối mặt thế nào khi bạo lực học đường diễn tiến theo chiều hướng xấu với những biểu hiện tinh vi như Nhật Bản đang đối mặt? 

Nhiều người có vẻ “vui mừng” khi cho rằng ngay cả ở nền giáo dục phát triển như Nhật Bản, nạn bắt nạt trường học vẫn còn xảy ra nghiêm trọng thì những bất cập trong trường học của Việt Nam là chuyện đương nhiên. Đấy là một suy nghĩ thiển cận, tự ru ngủ chính mình và trốn tránh trách nhiệm. Hãy nhớ rằng, Nhật Bản đối mặt với nạn bạo lực học đường khi đã đạt đến đỉnh cao tăng trưởng kinh tế và trở thành cường quốc.

Chúng ta hiện tại vẫn chưa hề trở thành một nước công nghiệp, nhưng về mặt xã hội đã phải đối mặt với các vấn đề của xã hội công nghiệp thậm chí hậu công nghiệp. Đấy là một nguy cơ lớn đe dọa đến an sinh và hạnh phúc. Thử hình dung với nền tảng xã hội và giáo dục hiện có, chúng ta sẽ đối mặt thế nào khi bạo lực học đường diễn tiến theo chiều hướng xấu với những biểu hiện tinh vi như Nhật Bản đang đối mặt? Trên thực tế, không khó để nhận ra rằng các hình thức tinh vi của nó đã xuất hiện trong trường học. Nhìn thẳng vào thực tế để có các nghiên cứu điều tra ở tầm vĩ mô, từ đó có các chính sách lớn phù hợp là việc không thể không làm.

Sự chủ động của các trường học và phụ huynh học sinh, các tổ chức dân sự cũng là nhân tố tích cực góp phần phòng chống bạo lực học đường trong bối cảnh hiện nay.

Nguyễn Quốc Vương 

http://nguoidothi.net.vn/bao-luc-hoc-duong-nhin-tu-nha-truong-nhat-ban-va-viet-nam-11421.html

Ra mắt sách “Đi tìm triết lí giáo dục Việt Nam”

December 10, 2017 Leave a comment

“ĐI TÌM TRIẾT LÍ GIÁO DỤC VIỆT NAM”-LẠC VÀO MÊ CUNG HAY HÀNH TRÌNH VẠN DẶM?

 

3d1

Xin trân trọng giới thiệu với các bạn xa gần cuốn sách mới nhất của tôi có tựa “Đi tìm triết lí giáo dục Việt Nam”.

Lẽ ra như tên gọi của tựa sách, cuốn sách phải được viết ra bởi những người có tư cách hơn, bản lĩnh học thuật cao cường hơn tôi-một anh học trò.

Nhưng cho đến nay cho dù triết lí giáo dục được tranh luận ở khắp nơi, tôi vẫn chưa thấy có nhiều người viết sách về nó.

Con tôi lớn lên từng ngày, thế giới đổi thay từng ngày và tôi không thể chỉ ngồi nhìn hay thở than về hiện trạng giáo dục.

Cuốn sách của tôi theo lẽ đó sẽ là một niềm vi vọng nhỏ nhoi được đóng góp một chút nào đó vào công cuộc cải cách giáo dục.

Ở Việt Nam, cuộc tranh luận về triết lí giáo dục được xới lên từ ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc quãng năm 2005.

Chín người mười ý. Công chúng và giáo viên trở nên ngơ ngác và bàng quan trong cuộc tranh luận đó.

Nhưng cải cách giáo dục từ trên xuống vẫn từng ngày từng giờ áp sát trường học.

Những vấn đề nghiêm trọng ở trường học vẫn tiếp diễn .

Số phận của con cháu chúng ta trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự tốt lên hay xấu đi của nền giáo dục đó và triết lí giáo dục sẽ là mạch máu, con tim của nó.

Trong khi theo dõi cuộc tranh luận nói trên, tôi đã là lần tìm xem người Nhật viết gì, nghĩ gì về triết lí giáo dục. Kết quả tôi đã tìm thấy “triết lí giáo dục” được người Nhật luật hóa trong Luật giáo dục cơ bản.

Kết quả ấy đã trở thành một “cơ cấu” quan trọng để tôi soi chiếu và nhận thức nhiều vấn đề về giáo dục Việt Nam.

Những quan sát, suy ngẫm của tôi xoay quanh các vấn đề giáo dục dưới cái nhìn hồi quy về triết lí giáo dục sẽ được trình bày trong cuốn sách này.

Hi vọng cuốn sách sẽ mang đến cho các bạn những thông tin bổ ích và gợi lên những suy ngẫm về giáo dục nước nhà.

Xin được bày tỏ ở đây sự biết ơn đối với gia đình, đồng nghiệp, thầy cô, bạn bè và đặc biệt là Công ty Cổ phần sách và Công nghệ Giáo dục Việt Nam, NXB Tri thức đã tạo điều kiện cho cuốn sách ra đời.

P.s. Sách sẽ in xong trong tuần tới. Bạn nào muốn mua sách xin vui lòng liên hệ với tôi qua Facebook này (sách có chữ kí) hoặc mua tại Công ty Cổ phần sách và Công nghệ Giáo dục Việt Nam.

Số 6, ngõ 5, đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Số điện thoại: 0986.200.101

Bạn nào lấy các cuốn khác do tôi dịch, viết (xin tham khảo ảnh cover) thì cũng vui lòng nhắn cho tôi biết qua FB : https://www.facebook.com/profile.php?id=100011062518050

NĂM PHÚT DÀNH CHO QUẢNG CÁO

December 9, 2017 Leave a comment

 

Nhân dịp cuốn “Đi tìm triết lí giáo dục Việt Nam” của tôi ra đời, có bạn hỏi các cuốn khác đã xuất bản trước đó của tôi, nên tôi-người bán sách rong lại tiếp tục quảng cáo.

Hiện tại, tôi có bán các cuốn sách sau do tôi dịch, viết (tất nhiên các bạn cũng có thể tìm mua ở NXB, ở phố sách-Hà Nội và các hiệu sách lớn cũng như các trang web bán sách online khác).

Danh sách các sách tôi có như sau:

1. Cải cách giáo dục Nhật Bản (dịch, Thaihabooks và NXB Từ điển bách khoa) (85k)
2. Hướng dẫn học tập môn xã hội tập I (dịch, NXB Đại học sư phạm) (75k)
3. Hướng dẫn học tập môn Xã hội tập II (dịch, NXB Đại học sư phạm) (110k)
4. Môn sử không chán như em tưởng (viết, NXB Phụ nữ) (79k)
5. Mùi của cố hương (viết, NXB phụ nữ) (60k)
6. Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản (viết, NXB phụ nữ) (98k)
7. Bộ hoạt động trải nghiệm dành cho học sinh tiểu học (10 cuốn dành cho học sinh, 2 cuốn dành cho giáo viên. Tổng: 12 cuốn): 340k
8. Điều bí mật trong vườn (viết, NXB Văn học) (50k)
9. Đi tìm triết lý giáo dục Việt Nam (viết, NXB Tri thức và Eduking) (91k)

Bạn nào cần sách thì tìm mua ở các hiệu sách như hiệu sách ở 39 hàng chuối, gian hàng NXB PHụ nữ tại phố sách-Hà Nội (đường 19.12), trung tâm sách Đại học sư phạm (136 Xuân Thủy) hoặc mua từ tôi (qua FB này: https://www.facebook.com/profile.php?id=100011062518050).

Cảm ơn tất cả các bạn đã nhiệt tình ủng hộ người bán sách rong.

 

Nguyễn Quốc Vương

 

“ĐI TÌM TRIẾT LÍ GIÁO DỤC VIỆT NAM”-LẠC VÀO MÊ CUNG HAY HÀNH TRÌNH VẠN DẶM?

December 7, 2017 Leave a comment

sách mới

Xin trân trọng giới thiệu với các bạn xa gần cuốn sách mới nhất của tôi có tựa “Đi tìm triết lí giáo dục Việt Nam”.

Lẽ ra như tên gọi của tựa sách, cuốn sách phải được viết ra bởi những người có tư cách hơn, bản lĩnh học thuật cao cường hơn tôi-một anh học trò.

Nhưng cho đến nay cho dù triết lí giáo dục được tranh luận ở khắp nơi, tôi vẫn chưa thấy có nhiều người viết sách về nó.

Con tôi lớn lên từng ngày, thế giới đổi thay từng ngày và tôi không thể chỉ ngồi nhìn hay thở than về hiện trạng giáo dục.

Cuốn sách của tôi theo lẽ đó sẽ là một niềm vi vọng nhỏ nhoi được đóng góp một chút nào đó vào công cuộc cải cách giáo dục.

Ở Việt Nam, cuộc tranh luận về triết lí giáo dục được xới lên từ ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc quãng năm 2005.

Chín người mười ý. Công chúng và giáo viên trở nên ngơ ngác và bàng quan trong cuộc tranh luận đó.

Nhưng cải cách giáo dục từ trên xuống vẫn từng ngày từng giờ áp sát trường học.

Những vấn đề nghiêm trọng ở trường học vẫn tiếp diễn .

Số phận của con cháu chúng ta trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự tốt lên hay xấu đi của nền giáo dục đó và triết lí giáo dục sẽ là mạch máu, con tim của nó.

Trong khi theo dõi cuộc tranh luận nói trên, tôi đã là lần tìm xem người Nhật viết gì, nghĩ gì về triết lí giáo dục. Kết quả tôi đã tìm thấy “triết lí giáo dục” được người Nhật luật hóa trong Luật giáo dục cơ bản.

Kết quả ấy đã trở thành một “cơ cấu” quan trọng để tôi soi chiếu và nhận thức nhiều vấn đề về giáo dục Việt Nam.

Những quan sát, suy ngẫm của tôi xoay quanh các vấn đề giáo dục dưới cái nhìn hồi quy về triết lí giáo dục sẽ được trình bày trong cuốn sách này.

Hi vọng cuốn sách sẽ mang đến cho các bạn những thông tin bổ ích và gợi lên những suy ngẫm về giáo dục nước nhà.

Xin được bày tỏ ở đây sự biết ơn đối với gia đình, đồng nghiệp, thầy cô, bạn bè và đặc biệt là Công ty Cổ phần sách và Công nghệ Giáo dục Việt Nam, NXB Tri thức đã tạo điều kiện cho cuốn sách ra đời.

P.s. Sách sẽ in xong trong tuần tới. Bạn nào muốn mua sách xin vui lòng liên hệ với tôi qua Facebook này (sách có chữ kí) hoặc mua tại Công ty Cổ phần sách và Công nghệ Giáo dục Việt Nam.

Số 6, ngõ 5, đường Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Số điện thoại: 0986.200.101

Bạn nào lấy các cuốn khác do tôi dịch, viết (xin tham khảo ảnh cover) thì cũng vui lòng nhắn cho tôi biết.

%d bloggers like this: