Archive

Archive for May, 2018

Giáo dục gia đình trong thời đại cải cách giáo dục

May 18, 2018 Leave a comment

 

 Kính thưa BGH trường mầm non Ban Mai

Kính thưa các thầy cô giáo và quý vị phụ huynh.

Xin được cảm ơn BGH nhà trường cũng như anh Đỗ Tiến Thành, lãnh đạo phong trào SHNNT Hưng Yên, một cựu phụ huynh của trường, anh Trịnh Tuấn, giám đốc Công ty cổ phần xuất bản và giáo dục Quảng Văn đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia buổi trò chuyện thân mật này.

 chém gió áo mượn

Thú thật, ngay cả khi đã đứng ở đây để nói chuyện trong tư thế là diễn giả và bản thân trước đó đã từng làm công việc giảng bài, trình bày ý tưởng trước đông người, tôi vẫn đang run và hồi hộp.

 

Không run và hồi hộp sao được khi một người trẻ tuổi (tôi tự cho là thế, dù thực tế đã có rất nhiều thanh niên đã chuyển sang gọi tôi bằng “chú”, bằng “bác” trên xe buýt hay ở ngoài đường, thậm chí ở quê xét theo vai vế thứ bậc họ hàng tôi còn được nhiều thiếu niên gọi bằng “cụ”. Thật! Tôi không đùa), trải nghiệm cuộc sống chưa nhiều, thành tựu kiến văn chưa có gì đáng kể lại đứng ở đây nói cho những nhà sư phạm đã có 10 thậm chí là 20 năm kinh nghiệm, cùng những ông bố, bà mẹ tuyệt vời khác về chuyện nuôi dạy con hay nói văn hoa là giáo dục gia đình.

 

Xét ở góc độ nào đó, việc này có chút gì đó bất tự nhiên và liều lĩnh.
Nhưng hôm nay, trước những đòi hỏi từ bên trong nội tâm cũng như nhiệt tình thiện chí của cô hiệu trưởng Trường mầm non Ban Mai, anh Đỗ Tiến thành, thủ lĩnh sách hóa nông thôn Hưng Yên, cho phép tôi được cả gan nói về giáo dục gia đình.
Giáo dục gia đình là một chủ đề có tính chất bao trùm rộng lớn mà một kẻ thư sinh trẻ tuổi như tôi khó có thể đủ bản lĩnh để nói về nó một cách học thuật hoặc trình bày các trải nghiệm riêng như là một ví dục của thành công (giống như nhiều hotmon đang làm).

 

Tôi không đủ tự tin để làm điều đó dù tôi đang là bố của hai đứa trẻ và hai vợ chồng tôi cũng đang đánh vật với chúng hàng ngày khi ông bà nội ngoại không ở cùng và cũng không thuê người giúp việc.

 

Vì thế xin phép quý vị cho tôi được thoải mái trình bày ở đây những gì tôi biết, tôi nhận thức được về giáo dục gia đình. Xin quý vị coi đây như là một lời tâm sự, một thông tin tham khảo.

 

Nếu như những thông tin mà quý vị nghe được ngày hôm nay giúp cho quý vị có dũng khí bớt chút thời gian trong cuộc sống bận rộn hàng ngày để suy nghĩ và nhìn lại những hoạt động giáo dục mình đang dành cho con từ đó có nhận thức mới để phối hợp với các thầy cô ở trường tốt hơn thì với tôi đó sẽ là niềm hạnh phúc.

Thời đại của cải cách giáo dục và những sai lầm tựa mớ bòng bong

 

Không rõ quý vị ở đây có cảm nhận như thế nào nhưng cảm nhận của tôi là cả xã hội chúng ta đang quay cuồng trong cơn bão táp của cải cách giáo dục. Nếu cầm tờ báo lên hay dán mắt vào màn hình máy tính chúng ta sẽ thấy trên các tờ báo mạng bên cạnh các tin tức về những vụ án hay các scandal giải trí, thông tin về giáo dục đặc biệt là các động thái cải cách giáo dục và các vấn đề của trường học luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của độc giả.
Đấy có thể là thông tin bộ giáo dục vừa thay đổi thể lệ trong kì thi THPT quốc gia.

 

Đấy có thể là lệnh cấm tổ chức thi tuyển sinh vào lớp sáu.

 

Và cũng có thể đấy là công văn hỏa tốc của bộ giáo liên quan tới việc ban hành quy chế ứng xử để hạn chế bạo lực học đường.

 

Và tệ hơn, buồn hơn, rất có thể là các tin như “Thầy giáo đấm vỡ mũi học sinh”, “nam sinh đâm thầy giáo thủng bụng”, “300 giáo viên bị buộc chấm dứt hợp đồng”, “200 nghìn cử nhân thất nghiệp”…
Trong đời sống gia đình, chủ đề thường xuyên bên mâm cơm hay bàn uống nước sẽ là chuyện thi cử, học hành.

 

Cha mẹ đau đầu vì chuyện trường lớp của con. Nhà nào có con sắp thi chuyển cấp, thi đại học thì hỡi ôi, tất cả các thành viên bất kể già trẻ, lớn bé sẽ ở trong tâm trạng hối hả, thấp thỏm như sắp ra…chiến trường.

 

Cùng với sự gia tăng của những tin tức về nạn thấp nghiệp, tính chất cạnh tranh trong giáo dục ngày càng quyết liệt…

 

Học sinh tối mặt vì học. Học ở nhà, học ở trường, học ở lớp học thêm, học ở trung tâm và thậm chí học cả trong lúc ngủ. Hãy thử hỏi con mình xem có bao nhiêu em ngủ mơ vẫn thấy mình không làm được bài kiểm tra hay thi hỏng?

 

Nhưng, quan tâm tới giáo dục, nhiệt tâm cho giáo dục. Đầu tư nhiều tiền bạc và công sức cho con cái không đảm bảo 100% sẽ đem lại thành quả chắc chắn. Nếu như sự quan tâm và đầu tư (thực ra tôi không thích từ “đầu tư” vì nó mang tính vụ lợi) không đúng mục đích, không đúng cách nó thậm chí còn đem lại những kết quả nguy hiểm đầy thất vọng.

 

Có một nhà giáo dục học của Nhật Bản, bằng nghiên cứu thực chứng của mình, đã chứng minh rằng ở thập niên 80-90 của thế kỉ trước, thanh thiếu niên Nhật hư hỏng nhiều không phải vì các gia đình, thầy cô, xã hội không giáo dục họ mà là vì các thanh thiếu niên đó đã bị giáo dục quá nhiều nhưng không đúng cách và sai lầm.
Kết luận này của ông đã làm cho cả giới giáo dục chấn động. Rất nhiều học giả khác đã chia sẻ và đồng tình với nhận định này của ông.

Ở Việt Nam, để chứng minh cho luận điểm tôi vừa nên ra ở trên không khó. Nếu như chúng ta đang làm tốt thì tại sao chúng ta lại đang có đến 200 nghìn cử nhân thất nghiệp[1]. Nếu như chúng ta đã đi đúng đường thì tại sao trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại bất an với chính con người-những sản phẩm mà giáo dục tạo ra, đang sống cùng chúng ta trong không gian này cho dù không gian đó là quán ăn, đường phố, bệnh viện hay thậm chí cả…trường học.

 

Trường học đã không còn là nơi an toàn cho chính cả giáo viên và học sinh . Đấy là một hiện tượng có tính biểu tượng rất đáng suy ngẫm và đau xót.

Chúng ta, nếu muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn-chí ít cho con cháu mình-không có cách nào khác hơn là phải thẳng vào sự thật đó.

 

Nhìn thẳng vào sự thật là bước khởi đầu của thay đổi nhận thức.

 

Từ thay đổi nhận thức sẽ dẫn tới thay đổi hành động và hành động ngày một có hiệu quả hơn.

Chúng ta, ở từng góc độ của mình, cần nhìn lại những gì chúng ta đã, đang và sẽ tác động đến giáo dục cũng như tư thế của chúng ta với giáo dục.

Trước hết chúng ta hãy tự nghĩ xem, chúng ta kì vọng gì ở giáo dục, chúng ta giáo dục con, đưa con đến trường, dạy dỗ học sinh để làm gì? Chúng ta mong muốn các em sẽ trở thành người như thế nào ở ngày mai, ở tương lai?

 

Chúng ta mong muốn con em mình thành một ông quan tham có khả năng kiếm thật nhiều tiền, có cuộc sống xa hoa và nâng đỡ được họ hàng hay chúng ta muốn con mình trở thành một người viên chức an phận thủ thường?

 

Chúng ta muốn con mình sẽ sống trong một xã hội mà các giá trị nhân văn được bảo vệ, đảm bảo và khuyến khích hay chúng ta sẽ chấp nhận con em mình sống trong thế giới mà ở đó để sinh tồn, chúng sẽ phải hi sinh tất cả hoặc phần lớn các giá trị nhân văn?

 

Nhận thức về mục đích sẽ dẫn dắt hành động của chúng ta. Sai lầm về mục đích sẽ tạo ra sai lầm có tính chất hệ thống khó cứu vãn dù ở chuỗi các hành động tiếp theo chúng ta làm tốt. Các nhà chuyên môn gọi đó là nhận thức về triết lý giáo dục.
Vì vậy, việc đầu tiên và cũng là công việc mà các giáo viên, các nhà quản lý giáo dục, phụ huynh phải thường xuyên làm là tự hỏi “mình muốn con/học sinh của mình sống trong xã hội thế nào?”, “mình muốn con/học sinh của mình sẽ trở thành người như thế nào?”. Nhận thức và phương thức tự vấn đó sẽ điều chỉnh hành động, hành vi giáo dục của chúng ta, giúp chúng ta không hoang mang và lạc bước trên chặng đường dài.
Giáo dục, cho dù là con đường loài người đã đi ngay từ khi xuất hiện trên hành tinh này, sẽ mãi mãi là một con đường gian nan vạn dặm. Trên con đường ấy, thành công bền vững thực sự sẽ không đến với những người lười biếng, bàng quan, thiếu trí tuệ hay nóng vội.

 

Giáo dục không phải chỉ là giáo dục trường học

 

Trong vai trò là một giáo viên, rất nhiều lần tôi được phụ huynh bày tỏ “Có gì trăm sự nhờ thầy”. Tôi biết, rất nhiều đồng nghiệp của tôi và cả các nhà quản lý giáo dục ở các trường học (hiệu phó, hiệu trưởng) cũng thường nghe những lời như thế.

 

Tâm lý đó của phụ huynh là dễ hiểu. Trước kia, trẻ em vốn “xã hội hóa bản thân” để trưởng thành (quá trình thay đổi bản thân để trở thành thành viên của một cộng đồng nào đó) nhờ vào sự chỉ bảo dạy dỗ của đại gia đình, nơi sinh sống của nhiều thế hệ, nhờ vào sự bảo ban của hàng xóm- những người sống xung quanh và sau đó là nhờ vào sự hướng dẫn của cộng đồng dân cư như làng, xã… Những kinh nghiệm xã hội, thuật xử thế và cách thức tổ chức đời sống cá nhân, hợp tác xã hội đã được hình thành một cách tự nhiên như thế.

 

Điều này lý giải tại sao ở các làng quê trước kia, thanh niên cho dù không có điều kiện học hành nhiều ở trường học và kết hôn sớm vẫn có thể đảm đương ở một mức độ nào đó vai trò là thành viên của cộng đồng làng xã (làm các nghĩa vụ của mình và xử thế), và vai trò là người chủ gia đình.

 

Ở một thái cực khác, nó cũng sẽ giúp chúng ta hình dung lý do tại sao thanh niên hiện nay cho dù học hành bài bản hơn, có bằng cấp cao hơn, có nhiều thông tin hơn lại gặp khó khăn trong tương tác, hợp tác với cộng đồng và làm chủ đời sống cá nhân.
Xã hội truyền thống đã đổ vỡ mạnh mẽ và nhanh chóng.

 

Nông thôn với cấu trúc xã hội truyền thống làng xã gần như không còn. Thanh niên, học sinh đã sống cuộc đời tách biệt với sinh hoạt mang tính chất dân chủ làng xã cho dù họ vẫn đang sống ở ngay tại đó. Phần lớn thời gian họ dành cho trường học và các trung tâm học thêm. Các gia đình nhiều thế hệ cũng đã giảm đáng kể và ngày càng giảm. Chức năng giáo dục gia đình đã và đang chuyển dần cho trường học-“trăm sự nhờ thầy cô” là câu nói phản ánh rất cụ thể và rõ ràng xu hướng ấy.

Sự truyền dạy thuật xử thế, các kinh nghiệm xã hội, phương thức vận hành đời sống cá nhân –những thứ cần trước hết và cần đến trọn đời cho mỗi cá nhân đã biến mất phần lớn cùng với sự tan vỡ của gia đình truyền thống và xã hội cộng đồng làng xã.

 

Lẽ ra, sự truyền dạy đó phải được chuyển giao nguyên vẹn và nâng tầm vào trong triết lý, nội dung chương trình, phương thức giáo dục cũng như đời sống sinh hoạt của nhà trường.
Nhưng thật tiếc và cũng rất đáng lo ngại là giáo dục trường học với những bất toàn càng sửa càng rối của nó (ở đó di sản lịch sử của khoa cử Nho giáo cũng “góp công” rất lớn) đã không chủ động tạo ra sự chuyển giao đó.

Nhìn vào nội dung chương trình, sách giáo khoa hay sinh hoạt ở trường học sẽ thấy ở đó thiếu vắng nội dung giáo dục đời sống. Người ta đã chỉ chú tâm chủ yếu đến việc truyền thụ các tri thức giáo khoa-thứ hữu ích cho các bảng thành tích cuối năm hay luyện thi vào trường chuyên, lớp chọn, thi vào đại học hay làm đẹp hồ sơ hay đi du học.

Điều đó giải thích tại sao, chúng ta chỉ có học sinh giỏi mà không có các công dân tốt.

Chúng ta có những cá nhân kiếm tiền xuất sắc mà không có những con người có tài năng xuất chúng và có cống hiên xã hội lớn.
Chúng ta có ngày càng nhiều người giàu, có bằng cấp cao, nhà cửa đẹp mọc lên san sát, siêu xe chạy trên đường ngày càng nhiều, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy bất an từng ngày.

 

Ăn chúng ta sợ ngộc độc.
Đi chúng ta sợ xe đâm.

 

Ngủ chúng ta sợ cháy nhà

 

Mặc chúng ta sợ mặc quần áo rởm có chất độc.
Chơi chúng ta sợ bị chặt chém.

 

Và ngay cả khi sắp chết chúng ta vẫn phải lo lắng về đám tang của mình.

 

Tác giả cuốn sách Homo Sapiens , Lược sử về loài người từng nói đại ý rằng, ưu thế của loài người tinh khôn (Homo Sapiens) so với người Nealderthan, một chi người khác, không phải là thể lực hay dung lượng bộ não. Những thứ đó về cơ bản giữa hai chi không có gì khác biệt lớn. Cái ưu thế của người tinh khôn nằm ở khả năng tưởng tượng và khả năng tổ chức cao. Nhờ có hai thứ đó mà người tinh khôn đã tạo ra ngày một nhiều những thứ chưa từng có trong thế giới thật và liên kết, hợp tác tạo ra những cộng đồng phức tạp với sức mạnh cộng hưởng khổng lồ.
Đi xa hơn một chút (dù có thể là suy diễn từ ý của tác giả), tôi cho rằng hai năng lực làm nên sức mạnh của người tinh khôn-tổ tiên của chúng ta- đó có được là nhờ vào giáo dục.

 

Tổ tiên chúng ta đã biết giáo dục bản thân (tự giáo dục) và giáo dục các thế hệ đi sau thông qua giáo dục gia đình, giáo dục cộng đồng (ngày nay ta gọi một cách hiện đại là giáo dục xã hội), trước khi dựa vào giáo dục trường học.

Nên nhớ rằng trường học với quy mô quốc gia nhắm đến phục vụ toàn bộ quốc dân chỉ mới có từ thời cận đại trở lại đây. Ở Việt Nam hệ thống trường học này thực sự chỉ mới bắt đầu từ thời Pháp thuộc với rất nhiều hạn chế về phạm vi đối tượng mà nó phục vụ.

 

Vì vậy, để có được những người con, người học sinh ưu tú, chúng ta đừng dại dột quy toàn bộ hoạt động giáo dục cho trường học. Giáo dục trường học tuy rất quan trọng nhưng không phải là tất cả. Trước giáo dục trường học, song hành với giáo dục trường học và sau giáo dục tường học là giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

 

Nói một cách khác, giáo dục trường học chỉ thực sự có hiệu quả khi nó được giáo dục gia đình hỗ trợ song hành. Đấy là lý do nhà trường mời quý vị phụ huynh và những người như chúng tôi, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục xã hội tới đây trò chuyện.

 

Điều gì sẽ xảy ra khi những giá trị mà nhà trường theo đuổi đối lập với các giá trị mà phụ huynh mong muốn?
Tôi lấy ví dụ, nhà trường dạy học sinh sống như một người trung thực nhưng ở nhà phụ huynh lại thể hiện là người không trung thực và cổ vũ việc con phải biết khôn ngoan để giành lấy phần thắng kể cả bằng thủ đoạn phi nhân văn. Khi đó trẻ em sẽ lúng túng thế nào?

 

Xung đột giá trị sẽ khiến cho môi trường giáo dục bị nhiễu và trẻ em sẽ gặp khó khăn trong trưởng thành đặc biệt là hình thành các giá trị cốt lõi-cơ bản, những thứ theo suốt cả cuộc đời và định hình nên ID (bản sắc, bản ngã) của cá nhân. Ví dụ như thế nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là đẹp, thế nào là xấu, thế nào là chính nghĩa, thế nào là phi nghĩa. Giá trị cơ bản, cốt lõi này cùng các thói quen sinh hoạt cá nhân được định hình từ 0-6 tuổi là thứ sẽ rất khó thay đổi khi đã được định hình trừ phi cá nhân đó gặp một cú sốc lớn hay có khả năng phản tỉnh lại bạn thân thông qua tự nhận thức về chân lý.

 

Nhà trường cần đến sự cảm thông, hiểu biết, tinh thần hợp tác và năng lực hành động của phụ huynh là vì thế. Thờ ơ, “khoán trắng” cho nhà trường hay bất hợp tác, đi ngược lại các giá trị nhà trường theo đuổi là một cách hủy hoại tương lai của trẻ em. Tất nhiên, trường học không phải là một thực thể tuyệt đối. Các thầy cô cũng không phải thánh nhân. Nếu thấy triết lý, đường lối, nội dung phương pháp của nhà trường bất hợp lý, phụ huynh hãy kiến nghị thay đổi hoặc tạo ra diễn đàn để trao đổi.

 

Các phụ huynh phải nhớ rằng, mình là người thầy đầu tiên của con và cũng là người thầy có tác động lớn nhất, có quyền uy nhất đối với sự định hình bản sắc của con.

Người con có thể lựa chọn thầy cô ở trường, có thể lựa chọn trường, thậm chí là rời bỏ tổ quốc để tìm kiếm một phương trời là miền đất hứa khác nhưng đứa trẻ đó rất ít có cơ hội thậm chí là xét ở nghĩa rộng, không thể từ bỏ cha mẹ, những người đã sinh ra mình cũng như ngay từ đầu không thể lựa chọn được cha mẹ.

Vì thế, cha mẹ và sự giáo dục từ gia đình vừa là nhân duyên vừa là số phận của người con.
Nếu tốt, thì đấy là đặc ân. Nếu dở thì đấy là hoàn cảnh nghiệt ngã. Hoàn cảnh nghiệt ngã ấy sẽ trở thành một thử thách lớn đối với người con cho tới tận lúc bản thân họ trở thành cha thành mẹ.
Trong thẳm sâu mỗi chúng ta cho dù ở độ tuổi nào đều có dấu vết của cha mẹ và giáo dục gia đình hằn lên khó xóa mờ. Nhìn vào thế giới quan, nhân sinh quan, lối sống, đặc biệt là thói quen sinh hoạt cơ bản như ăn, mặc ở, cách thức đi, đứng, ngồi, cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của một cá nhân cho dù là người trưởng thành hay một đứa trẻ, người ta có thể suy đoán được môi trường giáo dục gia đình mà họ đã hoặc đang trải nghiệm.

 

Trong tư cách là một phụ huynh, tôi đang hàng ngày, hàng giờ cố gắng ghi nhớ và suy ngẫm về điều đó.

 

Và tôi nghĩ, nếu phụ huynh chúng ta đều ghi nhớ và suy ngẫm về điều đó, con cái chúng ta sẽ thay đổi tích cực, trường học cũng sẽ thay đổi tích cực và chúng ta sẽ có xã hội ngày một tốt đẹp hơn.

 

Chúng ta có thể làm gì với sức lực nhỏ nhoi của cá nhân?

 

Vậy thì, trước hiện thực ngổn ngang và nỗi lòng rối như tơ vò hiện tại chúng ta phải làm gì hay đúng hơn là có thể làm gì?

 

Trong công việc và đời sống hàng ngày, tôi liên tục nhận được những lời than của người lớn xung quanh đại khái như “Biết là như thế nhưng mình nhỏ bé thế thì có thể làm gì? Mình chỉ là hạt cát thôi”.
Quả đúng như thế! Trong một sa mạc mênh mông, một hạt cát thật nhỏ nhoi. Mất đi một hạt cát hay thêm một hạt cát sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng tại sao chúng ta lại không thay đổi cách nhìn để thấy rằng, sa mạc mênh mông kia chẳng qua cũng chỉ là thứ tạo nên bởi từng hạt cát. Nếu từng hạt cát nhỏ bé thay đổi, ví dụ như biến mình thành một hạt phù sa chẳng hạn, thì sa mạc sớm hay muộn cũng sẽ thành một đồng bằng màu mỡ. Trên thực tế, đã có rất nhiều vùng bị sa mạc hóa hoặc vốn dĩ là sa mạc đã được cải tạo thành rừng hay đất nông nghiệp có thể canh tác tốt. Khi còn ở Nhật tôi hay xem chương trình ti vi “Những người Nhật làm thay đổi thế giới”-ở đó tôi rất ấn tượng với bộ phim tài liệu nói về một ông già người Nhật đã dành cả cuộc đời để trồng rừng, biến một vùng sa mạc cằn cỗi ở châu Phi thành cánh đồng có thể trồng cấy và bao quanh là cánh rừng xanh mát đầy chim thú. Con người hơn các động vật có vú khác ở khả năng tạo ra những thứ mà những người đi trước tưởng như là không thể. Ví dụ nếu như thế hệ trước chúng ta nghĩ lên mặt trăng là không thể thì giờ đây điều đó là có thể. 15, 20 năm trước, rất nhiều người Việt Nam cho dù lãng mạn cũng không nghĩ một ngày nào đó mình lại có thể cầm trên tay chiếc smartphone để nói chuyện với một người thân ở tận Mĩ có cả hình lẫn tiếng.
Vấn đề nằm ở tư thế của chúng ta.

 

Chúng ta sẽ cúi đầu cam chịu “số phận” và “hoàn cảnh” để chờ vận may (cũng có thể nói đó là tư thế chờ chết).

 

Chúng ta sẽ cố gắng chạy trốn đến một nơi có những người đã làm sẵn mọi thứ cho chúng ta và chúng ta chỉ việc rung đùi hưởng thụ (xin lỗi, bao nhiêu người có khả năng và điều kiện để có thể làm được điều này?).

 

Hay chúng ta sẽ ngẩng lên, đứng thẳng đối mặt với vấn đề, cố gắng nhận thức vấn đề, hợp tác với nhau để giải quyết từng bước vấn đề đó?
Lựa chọn cuối cùng, theo tôi là lựa chọn thích hợp nhất dành cho số đông, dành cho những người bình thường như bản thân chúng ta ngồi đây.

 
Dù chỉ là phụ huynh bình thường nhưng chúng ta thử nghĩ xem, xã hội thực ra là được tạo nên và vận hành bởi các cá nhân. Khi các cá nhân thay đổi tích cực thì xã hội sẽ thay đổi tích cực. Sự thay đổi mà cá nhân tạo ra không phải là sự thay đổi được tính bằng phép cộng cơ học thuần túy kiểu anh A tạo ra sự thay đổi X, anh B tạo ra sự thay đổi Y, chị C tạo ra sự thay đổi Z và sự thay đổi cuối cùng là kết quả của phép cộng theo công thức X+Y+Z. Sự thay đổi cuối cùng sẽ là kết quả của thứ được tạo ra từ sức mạnh cộng hưởng hình thành bởi cả sự tương tác qua lại hữu hình và vô hình. Đấy là sự kì diệu và bí ẩn của quy luật lịch sử và xã hội loài người. Nó vừa là lời hứa của tương lai vừa là một ẩn số có sức hấp dẫn khôn cùng.

 

Không ai có thể dự đoán chính xác được tương lai hay sự vận động đi lên của lịch sử nhưng những người có hiểu biết trong lịch sử loài người luôn tích cực thể hiện vai trò lịch sử của mình một cách tối đa khi hướng tới tương lai ấy.
Cụ thể, trong vai trò của phụ huynh chúng ta có thể làm được rất nhiều việc mà việc đầu tiên là nhìn lại chính mình để sửa đổi thế giới. Sự thay đổi tích cực ở con chỉ có thể có được thông qua sự thay đổi tích cực ở thầy, cô và cha mẹ. Vì cha, mẹ, thầy cô là người lớn-hình ảnh tương lai của đứa trẻ. Trẻ em, cho dù nói ra hay không, luôn quan sát thật kĩ và suy ngẫm thật sâu sắc về người lớn và thế giới của họ. Đấy là lý do giải thích tại sao các thiếu niên thường hư hỏng, nổi loạn hoặc thay đổi cái nhìn đối với gia đình, bố mẹ khi bước vào tuổi dậy thì.

 

Thừa nhận điểm yếu, sự bất toàn của bản thân, mổ xẻ và sửa đổi nó là công việc không hề dễ dàng đối với những người bình thường như chúng ta. Đơn giản vì chúng ta không phải là thánh nhân. Tôi biết nhiều phụ huynh dạy con không được hút thuốc nhưng bản thân họ vẫn hút. Nhiều người nổi nóng khi con uống rượu bia nhưng họ vẫn lạm dụng rượu bia. Ngay cả tôi tuy không cho con sử dụng điện thoại hay Ipad vẫn phạm lỗi dùng chúng trước mặt con hay đôi khi vừa chăm con vừa đọc tin nhắn hay làm việc trên đó.

 

Nhưng chúng ta phải có ý thức về điều đó để chuyển hóa bản thân. Sự lớn lên và trưởng thành của con sẽ đồng thời cũng là quá trình chuyển hóa và lớn lên của chúng ta.
Đấy là tiền đề cơ bản nhất để phụ huynh tham gia vào các hoạt động giáo dục con cùng với nhà trường và xã hội. Thiếu tiền đề này, hiệu quả của việc hợp tác sẽ khôn g cao.

Đấy là công việc không dễ dàng! Vậy phải làm gì để vượt qua cái khó đó.

Để thắng được chính mình, cách duy nhất là chúng ta phải làm cho bản thân hiểu biết hơn thông qua việc thu nạp kiến thức và chuyển hóa kiến thức đó thành hiểu biết, kĩ năng, tư duy, giá trị quan của bản thân.

Sẽ có nhiều cách để nâng tầm hiểu biết của bản thân. Chúng ta có thể học từ các thế hệ đi trước, từ những người xung quanh, từ các phương tiên truyền thông và ở đây tôi nhấn mạnh một phương thức học hỏi hiệu quả là đọc sách.

Đọc sách để học cùng con

 

Soi vào lịch sử sẽ thấy, sự phát triển của văn hóa đọc luôn song hành với sự phát triển của văn minh. Ngay cả trong thời kì cổ đại hay trung cổ, người ta cũng khó tìm ra một quốc gia phát triển trong thời gian dài khi ở đó không có sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của văn hóa đọc.
Đọc là cách thu nhận và chuyển hóa tri thức xuyên không gian và thời gian.

Có rất nhiều người tuy không có điều kiện học cao nhưng nhờ đọc họ đã trở thành người giỏi cả chuyên môn và mẫn tiệp trong đời sống. Và  ngược lại chúng ta cũng chứng kiến rất nhiều người có bằng cấp cao nhưng ít đọc nên thành ra một thực thể vong thân.

 

Có hiểu biết sâu rộng sẽ là nền tảng để phụ huynh vượt qua chính mình, chuyển hóa bản thân qua đó tác động tích cực tới con. Có hiểu biết cũng là cách để giúp cho tiếng nói, tâm tình của phụ huynh gặp gỡ dễ dàng hơn với mong muốn của nhà trường.
Đấy là lý do khi hoạt động như một tác giả, người dịch sách và giáo viên, tôi luôn đề cao và cổ vũ văn hóa đọc.

 

Tất nhiên trong hoàn cảnh của Việt Nam- nơi các cuộc chiến tranh chà đi xát lại trong một thời gian dài, nơi tỉ lệ dân số sống ở nông thôn vẫn còn lớn và lối sống nông thôn vẫn chi phối đáng kể sinh hoạt ở các đô thị, việc đọc sách ở trong gia đình cũng không phải chuyện giản đơn. Nhiều phụ huynh không có thói quen đọc sách do hệ quả từ những khiếm khuyết thuộc về giáo dục và sinh hoạt gia đình từ nhỏ. Nhiều phụ huynh khác do đặc thù công việc không có thời gian rảnh rỗi. Nhưng việc đó có thể khắc phục dần dần. Đọc sách cũng như giáo dục (và thực chất đọc sách cũng là giáo dục) là công việc lâu dài. Nếu không thể đọc sách cho con mỗi ngày 30 phút thì cha mẹ có thể đọc 5 phút, 10 phút. Quan trọng là bền bỉ liên tục. Ở trong độ tuổi từ 0-6 tuổi, giai đoạn “vàng” để hình thành nên các phẩm chất và thói quen sinh hoạt cơ bản trong tư cách con người, tôi nghĩ hầu như không có trẻ em nào có năng lực nhận thức bình thường lại không thích đọc sách. Nên bắt đầu viêc đọc sách cho con từ nhỏ. Ở Nhật, tôi đã được các chuyên gia của Nhật hướng dẫn đọc sách cho con nghe kể từ khi con 3 tháng tuổi và đến nay thói quen đọc sách ở cháu đã được hình thành, duy trì rất tốt.
Đọc sách là việc của cá nhân, gia đình nhưng cũng là việc của xã hội và trường học. Gia đình, xã hội và trường học cần liên kết để tạo ra môi trường thuận lợi tối đa cho việc học.

Ở nước Nhật hiện đại ngày nay luôn tồn tại một hệ thống thư viện công cộng và thư viện trường học khổng lồ bao phủ khắp cả nước. Ở trường mầm non Nhật Bản cũng có thư viện để phụ huynh có thể đọc và mượn sách về đọc cho con nghe.

 

Thật vui là trường mầm non Ban Mai cũng nhận thức được vai trò quan trọng của thư viện và thói quen đọc sách ở trẻ em trong độ tuổi mầm non. Đó là lý do BGH nhà trường sẽ cùng chúng tôi xây dựng một thư viện nhỏ tại ngôi trường này để phục vụ phụ huynh và các em học sinh trong trường. Chúng tôi hi vọng thư viện sẽ lớn dần lên nhờ vào nỗ lực của tất cả chúng ta. Mỗi phụ huynh khi đến trường hãy tranh thủ đọc một cuốn sách cho con nghe trước khi con vào lớp hay trong lúc chờ con tranh thủ đọc một cuốn nào đó. Đấy là việc làm nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn.
Thế giới có trở nên tốt đẹp hay không là phụ thuộc vào những việc làm nho nhỏ, thường xuyên hàng ngày của chúng ta như thế chứ không phải là nhờ vào các anh hùng trên trời rớt xuống hay các bậc minh quân. Tôi nghĩ việc tạo ra các thay đổi nho nhỏ nhờ vào thói quen sinh hoạt hàng ngày trong nhận thức sâu sắc về mục tiêu chiến lược của tương lai sẽ là phương cách thay đổi thế giới bền vững, an toàn và nhân văn nhất.

 

Đấy là cách cống hiến của các cá nhân bình thường như chúng ta trong thế giới bất toàn và đầy âu lo này.
Xin cảm ơn thầy cô và quý vị phụ huynh đã kiên nhẫn lắng nghe.

 Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2018

[1] http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/them-200-000-cu-nhan-that-nghiep-trong-nam-2017-356094.html

Advertisements

Nên thay “sáng kiến kinh nghiệm” bằng gì?

May 14, 2018 Leave a comment

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG

(GDVN) – Thành thật mà nói một ý tưởng hay một kinh nghiệm hay trong giáo dục không thể nảy sinh một cách dễ dàng. Không phải cứ dạy lâu là có được.

LTS: Một trong những vấn đề mà giáo viên trực tiếp giảng dạy “kêu ca” nhiều với cơ quan quản lý là họ phải mất quá nhiều thời gian vào những công việc có tính chất “thi đua” nhưng không phục vụ trực tiếp chuyên môn hoặc không đem lại tác dụng cụ thể.

Một trong những “phong trào thi đua” đó là viết “sáng kiến kinh nghiệm”. Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương – từng là giảng viên của Đại học sư phạm Hà Nội, có chia sẻ một vài ý kiến xung quanh việc viết sáng kiến kinh nghiệm.

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài viết này. 

Sáng kiến kinh nghiệm để làm gì?

Theo lẽ thường, đầu năm giáo viên sẽ phải đăng kí viết sáng kiến kinh nghiệm giống như là đăng kí danh hiệu thi đua và cuối năm, hiệu trưởng, các tổ chuyên môn sẽ “đòi” sáng kiến kinh nghiệm đó.

Vì thành tích của đơn vị được tính dựa trên các số liệu cụ thể trong đó có mục liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm nên đương nhiên hiệu trưởng sẽ thúc giục giáo viên phải hoàn thành nhiệm vụ.

Phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm vì thế đã trở thành một thứ nghĩa vụ bắt buộc được áp đặt từ trên xuống dành cho người giáo viên. Thông thường họ sẽ phải viết theo mẫu.

Một công việc có tính chất chuyên môn cần đến sự tự chủ, sáng tạo ở người giáo viên rốt cuộc lại trở thành một thứ nghĩa vụ được áp đặt từ trên xuống.

Bởi thế trong thực tế nó đã biến thành thứ mang nặng tính hình thức khiến giáo viên làm theo kiểu chống đối hoặc “làm cho xong”.

Kết quả là những sáng kiến kinh nghiệm chỉ giống như thép được tạo ra từ phong trào “toàn dân làm gang thép” trong lịch sử. Nó mang nặng tính hình thức, cóp nhặt, sao chép và không có hàm lượng chất xám đáng kể.

Số phận các sáng kiến kinh nghiệm này sau đó về đâu? Không khó để hình dung số phận của nó.

Thành thật mà nói một ý tưởng hay một kinh nghiệm hay trong giáo dục không thể nảy sinh một cách dễ dàng. Không phải cứ dạy lâu là có được. (Ảnh minh họa trên giaoduc.net.vn)

Mỗi trường có hàng chục, hàng trăm giáo viên và tính trên quy một một tỉnh, thành phố hay cả nước thì số lượng sáng kiến kinh nghiệm thật khổng lồ.

Tuy nhiên đa phần các sáng kiến kinh nghiệm kể cả sáng kiến được giải đã rơi vào quên lãng. Rất ít sáng kiến được phổ biến, ứng dụng trong thực tiễn.

Kết quả của phong trào chỉ dừng lại các con số trong khi giáo viên phải bỏ ra một lượng lớn thời gian và công sức.

Mặt khác, thành thật mà nói một ý tưởng hay một kinh nghiệm hay trong giáo dục không thể nảy sinh một cách dễ dàng. Không phải cứ dạy lâu là có được.

Nó cần đến sự tìm tòi, nghiên cứu của giáo viên trong thời gian dài, trong tinh thần say mê và tự do.

Những gì đang cản trở giáo viên Việt Nam sáng tạo?

Để có tinh thần và khả năng sáng tạo cao, tạo ra cái mới có giá trị con người phải có các phẩm chất, năng lực cần thiết.

Những năng lực, phẩm chất này phải được hình thành, nuôi dưỡng, phát triển ngay từ nhỏ.

Dạy giỏi, tích cực, nhiệt tình… cũng không bằng một sáng kiến kinh nghiệm

Các giáo viên cũng là những người đã sinh ra, lớn lên và trải nghiệm một nền giáo dục bất toàn vì vậy họ mang trong mình di sản ấy.

Sáng tạo trở thành một thử thách lớn đối với giáo viên.

Tất nhiên, trong đó sẽ có những giáo viên biết phản tỉnh để tự học hỏi, hoàn thiện bản thân hoặc là đi du học, tiếp xúc với giáo dục nước ngoài để so sánh và cải thiện.

Cho dù có phẩm chất và năng lực sáng tạo đi nữa, khi làm việc tại trường học, người giáo viên đang vấp phải những lực cản lớn hạn chế sáng tạo.

Thứ nhất, cơ chế quản lý hành chính giáo dục hình tháp kiểu tập trung cao độ đã làm cho cơ quan quản lý giáo dục can thiệp rất sâu vào nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục của các trường và giáo viên.

Điều này đã khiến cho giáo viên luôn đặt trong tâm trạng “sợ hãi”, lo ngại đổi mới vì sợ rằng mình sẽ…sai, sẽ bị thanh tra, kiểm tra, phải giải trình này khác.

Phản ứng tự vệ sẽ khiến cho giáo viên trung thành nhất nhất với những chỉ đạo chuyên môn của phòng, sở.

Cách thức làm việc này lâu dần làm triệt tiêu tinh thần phê phán, sáng tạo của giáo viên.

Thứ hai, cơ chế một chương trình-một sách giáo khoa được sử dụng ở Việt Nam trong một thời gian dài đã khiến cho tư duy coi sách giáo khoa là tập hợp chân lý rất nặng nề.

Vì thế, các bài giảng của giáo viên về cơ bản cho dù là ở địa phương nào, cấp học nào cũng là một sự rút gọn, tóm tắt sách giáo khoa. Giáo viên bám theo sách giáo khoa dạy từng dòng, từng mục thậm chí tệ hơn là từng câu chữ.

Sách giáo khoa trở thành tiêu chuẩn tuyệt đối để dựa vào đó xác định tính đúng sai trong bài giảng của giáo viên.

Tại sao sáng kiến kinh nghiệm lại được ưu ái hơn các phong trào thi đua khác?

Trong vô thức cả cơ quan quản lý giáo dục và giáo viên, học sinh, phụ huynh đều quan niệm rằng nội dung giáo dục chính là nội dung sách giáo khoa;

Và bài giảng của giáo viên cùng lắm chỉ là sự minh họa,diễn giải sinh động, dễ hiểu sách giáo khoa.

Khi còn dẫn sinh viên đi thực tập sư phạm, không biết bao nhiêu lần tôi phải nghe những lời phàn nàn đau khổ của sinh viên về chuyện giáo viên hướng dẫn phê bình sinh viên vì dạy không bám sát sách giáo khoa, vì dám tự ý thay đổi vài ý trong sách giáo khoa hay đề mục…

Sách giáo khoa về bản chất chỉ là một phương án gợi ý về nội dung giáo dục và là sản phẩm của một nhóm tác giả biên soạn.

Vì vậy tính chính xác hay tính chân lý của nó chỉ có tính chất tương đối, có nhiều kiến thức, nhất là kiến thức trong môn xã hội một thời gian sau sẽ trở nên lạc hậu hoặc không phù hợp.

Chính vì vậy mà sách giáo khoa mới liên tục được viết lại và cùng một nhóm tác giả nhưng sách sau có thể viết rất khác phiên bản sách trước đó đối với cùng một nội dung.

Hơn nữa, sách giáo khoa sẽ không thể nào tránh được hạn chế về lối viết liệt kê tri thức và khô khan do cố gắng đảm bảo tính khách quan kiểu học thuật.

Chính vì vậy mà ở các nền giáo dục tiên tiến người ta chỉ coi sách giáo khoa là một trong những tài liệu tham khảo chủ yếu. Giáo viên có thể sử dụng nhiều nguồn giáo tài khác nhau trong đó có sách giáo khoa để giảng dạy.

Thứ ba, ở Việt Nam cả cơ quan quản lý, giáo viên và học sinh đều chưa có tư duy rành mạnh về việc giáo viên có quyền chủ động nội dung giáo dục.

Từ trước đến nay người thầy được quan niệm giống như một người thợ dạy. Nhiệm vụ của họ là truyền đạt nội dung kiến thức có trong chương trình và sách giáo khoa.

Sáng tạo của họ vì thế chỉ gói gọn lại ở việc đổi mới phương pháp truyền đạt hoặc cùng lắm là tìm kiếm thêm thông tin bổ sung, minh họa cho bài viết trong sách giáo khoa sinh động thêm mà thôi.

Chính vì vậy, không có gì khó hiểu khi thấy các giáo viên giỏi được giải thực chất phần lớn là các giáo viên làm vừa lòng ban giám khảo khi đã minh họa và diễn giải mềm mại, sinh động nội dung sách giáo khoa.

Nếu xét theo tiêu chuẩn giáo dục hiện đại là giáo viên phải có năng lực chế biến, thiết kế nội dung giáo dục cho phù hợp với mục tiêu và một nhóm đối tượng học sinh nào đó thì họ chưa đạt yêu cầu.

Có khả năng tự chủ về nội dung giáo dục sẽ là một trong những thử thách lớn nhất đối với đào tạo và bồi dưỡng giáo viên hiện nay.

Thứ tư, giáo viên ở Việt Nam thiếu không gian và cơ hội để sáng tạo.

Cho dù hàng năm có vô vàn phong trào thi đua và các cuộc thi như thi giáo viên giỏi, sáng kiến kinh nghiệm, hội giảng chuyên đề…, giáo viên ở trường phổ thông vẫn không có các tổ chức học thuật, các câu lạc bộ giáo viên để tập hợp, sinh hoạt chuyên môn.

Họ cũng rất ít có cơ hội để tổ chức, tham gia vào các hội thảo phục vụ chuyên môn, viết bài cho các tập san về giáo dục.

Nhiều giáo viên vẫn hăng say viết sáng kiến kinh nghiệm

Ở Nhật Bản chuyện giáo viên phổ thông là thành viên của các tổ chức chuyển môn thuần túy của địa phương hay toàn quốc và công bố các bài viết trên các tạp chí dành cho giáo viên rất phổ biến.

Một bộ phận không nhỏ các giáo viên này được gọi là các “nhà thực tiễn” khi họ liên tiếp công bố các bài viết tóm tắt thực tiễn giáo dục của bản thân trên các tạp chí.

Ở Việt Nam do hạn chế trong nhận thức về quyền tự chủ nội dung giáo dục, thực tiễn giáo dục của giáo viên gần như không tồn tại. Giáo viên chủ yếu trao đổi với nhau về giáo án-tức là mới chỉ dừng lại ở ý tưởng thực hiện bài giảng.

Nên thay “sáng kiến kinh nghiệm” bằng gì?

Lao động của người giáo viên cần được đánh giá đúng và được đãi ngộ xứng đáng.

Những cuộc thi như thi giáo viên gỏi, thi giáo viên chủ nhiệm giỏi, thi dạy chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm và kể cả các chỉ số thi đua khác như bao nhiêu phần trăm học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh tốt nghiệp, đỗ đại học… chưa thể đánh giá hết và đúng mức cống hiến của giáo viên.

Cần phải có các tiêu chí khác để đánh giá bổ sung hoặc thay thế. Ví dụ đánh giá khả năng sáng tạo của giáo viện dựa trên việc họ tham gia vào các câu lạc bộ chuyên môn như thế nào, có những bài viết, công bố nào, tạo ra thực tiễn giáo dục như thế nào và thực tiễn giáo dục đó có ảnh hưởng như thế nào tới học sinh và đồng nghiệp khác…

Đánh giá giáo viên cần đi vào thực chất thay vì mang tính chất áp đặt và kiểm soát. Cần mạnh dạn bỏ đi các phong trào thi đua vô bổ và tạo ra môi trường tự do thực sự để giáo viên sáng tạo.

Xã hội đang ngày càng được thông tin hóa mạnh mẽ. Quan niệm về trường học và người thầy đang ngày càng mở rộng.

Vai trò của người giáo viên nếu chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức và nhất là các tri thức được gói gọn trong sách giáo khoa sẽ đẩy nghề giáo viên bước vào ngõ cụt trong thời đại thông tin hóa và trí tuệ nhân tạo đang ngày một được ứng dụng rộng rãi.

Hãy cải cách giáo dục mạnh mẽ và thực sự để người giáo viên được tự chủ cả về nội dung và phương pháp giáo dục qua đó hình thành và phát triển các thực tiễn giáo dục để thúc đẩy cải cách giáo dục từ dưới lên.

 

Nguyễn Quốc Vương

Tự nảy mầm, tự vươn lên-triết lý giáo dục của Ohmae Kenichi

May 7, 2018 Leave a comment

 

Nếu bạn là một phụ huynh có con trong độ tuổi đến trường và đang đau đầu với chuyện học hành của con, bạn nên đọc “Yêu thương không cấm đoán” hay “Tự nảy mầm tự vươn lên” của Ohmae Kenichi. Đây là cuốn sách viết về giáo dục gia đình của Ohmae Kenichi, một người Nhật thành công cả trong sự nghiệp lẫn trách nhiệm làm cha. Cuốn sách sẽ giúp bạn lý giải tốt hơn những băn khoăn của bản thân trước hiện trạng giáo dục hiện tại và tiếp thêm cho bạn cảm hứng trên con đường đồng hành cùng con.

tu nay mam

Ở Nhật Bản, tác giả của những cuốn sách nuôi dạy con thường là các bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ tâm lý. Những cuốn sách này thường được viết căn cứ trên các nghiên cứu khoa học kết hợp với các trường hợp điển hình mà các tác giả đã điều trị, tư vấn thành công. Tuy nhiên, ở đây, Ohmae Kenichi không phải là bác sĩ, cũng không phải chuyên gia tâm lý. Ông là một doanh nhân, một nhà tư vấn tài chính và đồng thời cũng là một người thầy trực tiếp làm công việc đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp quốc tế. Bởi thế, sách của ông sẽ không đi vào chi tiết việc nuôi dạy con, mà xuyên suốt cuốn sách, ông trình bày về những quan điểm chi phối cách nhìn của ông đối với bản chất của giáo dục, mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình cũng như những điều cần chú ý để tôn trọng và phát triển cá tính, tài năng của con trẻ.

Trên thế giới, Ohmae Kenichi được biết đến trong vai trò là chuyên gia tư vấn tài chính của McKinsey & Company. Năm 1993, ông được bình chọn là 1 trong 17 người có tầm ảnh hưởng toàn thế giới trên tờ Tạp chí Doanh nhân của Vương quốc Anh. Năm 1994, ông thuộc tốp 5 của danh sách này. Ông cũng là người mở trường Attackers Business, chuyên đào tạo nhân lực toàn cầu chất lượng cao. Chính vì vậy, việc ông có cái nhìn phê phán đối với giáo dục trường học và khát vọng dùng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của mình truyền lại cho các thế hệ đi sau là điều dễ hiểu.

Cuốn sách “Yêu thương không cấm đoán” của ông lần đầu tiên được nhà xuất bản PHP của Nhật xuất bản với tên gọi “Dù cha mẹ có phản đối thì con vẫn làm”, sau đó được in lại năm 2012, đổi tên thành “Phương pháp giáo dục con của gia đình Ohmae” và có bổ sung phần phỏng vấn hai người con trai. Bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch từ bản in năm 2012. Khi đọc cuốn sách của ông, có ba điều khiến tôi, một giáo viên đồng thời cũng là một phụ huynh phải suy ngẫm: thứ nhất là các quan điểm giáo dục độc đáo; thứ hai là sự tôn trọng và theo đuổi các giá trị truyền thống như hạnh phúc gia đình, thứ ba là sự phản hồi “thực chứng” từ hai người con trai.

Các quan điểm giáo dục độc đáo của Ohmae Kenichi

Quan điểm giáo dục độc đáo của Ohmae Kenichi được hình thành dựa trên sự phân tích sắc sảo về đặc trưng của thế giới và xã hội Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa. Theo ông, đó là thời đại mà xã hội biến đổi nhanh và không ngừng: “Đây là thời kì mà “mô hình thành công” thoắt cái đã trở nên hỗn bại, “kết quả của các đáp án” luôn bất ngờ thay đổi xoành xoạch”. Chính vì vậy mà theo ông, trường học vốn là nơi chỉ biết dạy người ta làm theo khuôn mẫu để đáp ứng một bậc thang giá trị tiêu chuẩn định sẵn, giờ đã không còn đáp ứng được yêu cầu tạo ra những con người năng động, có khả năng trí tuệ ứng phó nhanh nhạy, hiệu quả với thế giới đang thay đổi chóng mặt ở xung quanh. Trong con mắt ông, giáo dục nhà trường là nơi chứa đựng đầy rẫy những sự vô lý và bất lực. Ông cho rằng nhà trường “chỉ biết cho trẻ học thuộc lòng những gì được viết sẵn trong sách giáo khoa, đào tạo nên những con người thụ động ngoan ngoãn vâng lời không biết phản kháng”. Xuất phát từ tư duy đó, ông không đánh giá cao những học sinh có điểm số tốt trong quá trình học tập ở trường. Đi xa hơn, ông cho rằng: “Trẻ càng giỏi ở trường, tương lai càng đáng lo”. Ông giải thích cụ thể hơn: “Thành tích học tập của con có kém, thì các bậc cha mẹ cũng không cần phải ca thán. Ngược lại, đối tượng cần phải lo lắng chính là những học sinh được nhà trường đánh giá là ưu tú. Nói một cách khác, nếu bạn tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, bạn có thể nghĩ đến một bi kịch ở tương lai”.

Đây quả thực là một quan điểm gây “sốc” cho rất nhiều người cho dù họ là các nhà quản lý giáo dục, giáo viên hay phụ huynh. Trong xã hội đương đại, các ngôi trường và giáo viên vẫn thường tự hào về những “học sinh giỏi” của mình và các bậc phụ huynh thì luôn cảm thấy sung sướng, tự tin với những danh hiệu và điểm tốt mà con mình giành được. Điểm số làm họ yên tâm về tương lai của con cái, vì với họ, đó là chỉ dấu cho thấy con mình có khả năng vào được các trường danh tiếng, một bước đệm hoàn hảo để có thể kiếm được chỗ làm tốt, lương cao hay trở thành viên chức nhà nước – một công việc nhàn nhã, ổn định và nhanh thăng tiến.

Tuy nhiên, nếu bình tĩnh nhìn vào hiện thực giáo dục trường học và suy ngẫm, chúng ta sẽ phần nào đồng cảm với Ohmae Kenichi. Rất khó để phản đối ông khi gần đây chúng ta tận mắt chứng kiến tình trạng hàng chục nghìn cử nhân thất nghiệp, trong đó có những người đã từng có thành tích học tập rất tốt, thậm chí là “thủ khoa”. Ý kiến của Ohmae Kenichi cũng không phải là một nhận định vu vơ vì bản thân ông là người sành sỏi trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp và trực tiếp tuyển dụng, đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới. Ở vị trí nghề nghiệp của mình, hơn ai hết, ông thấu hiểu điểm mạnh và điểm yếu của thanh niên sau khi học xong đại học và phải bước vào con đường lập nghiệp.

Nhưng không chỉ dừng lại ở chỉ trích, ông đã tự đặt ra câu hỏi cùng với các bậc phụ huynh: “Nếu không còn mong đợi gì nơi trường học, chúng ta nên làm gì? Chúng ta nên làm như thế nào để con trẻ “vươn lên bằng năng lực của chính mình”? Rất đơn giản. Đó là mỗi người làm cha làm mẹ hãy tự mình dạy con cái của chính mình”.

Trong giáo dục, cho dù là giáo dục gia đình hay giáo dục nhà trường, có được triết lý – mục tiêu giáo dục tốt là điều kiện tiên quyết để có được thành công. Vậy, đối với Ohmae Kenichi, mục tiêu – triết lý giáo dục của ông là gì?

Theo Ohmae Kenichi, mục tiêu trung tâm của giáo dục gia đình là hình thành cho con “năng lực sinh tồn” (hay còn gọi là “năng lực sống”). Đây cũng chính là mục tiêu trọng tâm số một được đề ra trong Báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng Thẩm định Giáo dục Trung ương (cơ quan có trách nhiệm cao nhất của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản về chiến lược, nội dung giáo dục). Mục tiêu này cũng là mục tiêu trung tâm trong các bản “Hướng dẫn học tập” – văn bản chỉ đạo về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đối với toàn bộ giáo dục phổ thông của Nhật Bản hiện tại. Nói một cách ngắn gọn, “năng lực sinh tồn” mà Ohmae Kenichi coi trọng là năng lực thích nghi với sự biến đổi của xã hội, năng lực tự mình phát hiện vấn đề, tự học, tự suy nghĩ và giải quyết vấn đề. Do quan niệm như vậy nên Ohmae Kenichi phân biệt rõ “giáo dục” (thứ trường học hay lãng quên) và “huấn luyện” (thứ trường học hay thiên vị), đồng thời cho rằng bản chất của giáo dục là “dạy trẻ khả năng tự mình suy nghĩ, tư duy”.

Như vậy, có thể hiểu, con người lý tưởng mà ông muốn con mình trở thành là người có tư duy độc lập và khả năng sáng tạo cao để ứng phó với sự thay đổi của xã hội. Vì thế, xuyên suốt cuốn sách, chúng ta thấy, ông đã luôn cố gắng để tôn trọng cá tính của con và phát huy tối đa sự độc lập của các con trong mọi vấn đề. Chẳng hạn, ông đã để con “lên kế hoạch đi du lịch cho cả nhà”, “tích lũy lợi nhuận ngay trong gia đình”, và chủ trương “không cho con tiền tiêu vặt” mà yêu cầu con lao động để bố mẹ trả lương… Điển hình cho lối tư duy sắc sảo và cương quyết của ông là hành động chấp nhận cho hai con bỏ học giữa chừng để theo đuổi đam mê và lập nghiệp. Đấy là một quyết định dũng cảm và bao dung mà không phải phụ huynh nào cũng làm được.
Ông cũng là người chú ý dạy con trở thành người có trách nhiệm. Dạy con trở thành người sống có trách nhiệm trong thời đại ngày nay không phải là chuyện dễ dàng. Nhìn ra xung quanh, chúng ta thấy có rất nhiều phụ huynh vì quan tâm, bảo bọc con quá mức nên đã vô tình biến con thành người ích kỉ. Những đứa trẻ được yêu thương quá mức và chỉ biết đến mình đó, khi lớn lên rất dễ trở thành những người vô trách nhiệm. Ohmae Kenichi thì khác. Cho dù tôn trọng tối đa cá tính của con, ông luôn tâm niệm và thực thi nhất quán việc dạy con về “trách nhiệm”. Ông chỉ ra bốn trách nhiệm lớn mà cha mẹ nên dạy cho con hiểu cho dù lớn lên chúng có trở thành người như thế nào, làm ở đâu. Đó là trách nhiệm đối với “bản thân”, trách nhiệm đối với “gia đình”, trách nhiệm đối với “xã hội” và trách nhiệm đối với “đất nước”. Theo ông, “… nếu ai cũng làm tròn 4 trách nhiệm này thì cho dù có đi đến bất kỳ nơi nào trên thế giới, có làm bất cứ công việc gì thì vẫn có thể sống tốt được”. Cũng theo ông, bởi vì 4 trách nhiệm này “không được trường học đưa vào giảng dạy” nên “không còn cách nào khác, những người làm cha làm mẹ như chúng ta phải trực tiếp chỉ dạy cho con cái của mình”.
Một con người của gia đình và theo đuổi các giá trị nhân văn
Thật thú vị khi thấy ở Ohmae Kenichi có hai con người. Một con người thành đạt, bận rộn và say mê công nghệ, có tư tưởng quyết đoán mạnh mẽ, dám “một mình chống lại cả xã hội” và một con người kiên trì bảo vệ các giá trị truyền thống như hạnh phúc gia đình. Ông cho rằng “Gia đình là khởi nguồn của tất cả” và cảnh báo rằng “Nếu bạn không xây dựng được một gia đình mà bản thân bạn thấy hài lòng thì chắc chắn đó chính là thất bại đầu tiên của vợ chồng bạn. Kể cả bạn có tự gây dựng được công ty riêng đi chăng nữa thì đó cũng chỉ như một cái cây không có rễ, hoàn toàn vô nghĩa”. Ông cũng là người nhận thức rất sâu sắc về mối quan hệ giữa hạnh phúc gia đình và sự phồn vinh, vững mạnh của quốc gia. Người Nhật thường e ngại khi nói về bản thân và gia đình mình, nhưng ở đây, Ohmae Kenichi không ngần ngại bày tỏ: “Cá nhân tôi, tôi đã từng cho ra mắt rất nhiều tác phẩm, cũng từng mở công ty riêng. Thế nhưng, trong tất cả các những thành quả tôi đạt được, với tôi, gia đình là thứ quan trọng nhất. Gia đình là điều cơ bản nhất, phản ánh tất cả giá trị quan của người gây dựng nên nó. Khi nền tảng gia đình không bền vững thì chúng ta sao có thể xây dựng đất nước, cống hiến cho công ty hay giúp đỡ công ty của khách hàng được? Tôi nghĩ, nếu gia đình không êm ấm, nghĩa là giá trị bản thân của chúng ta đã bị phủ nhận về mọi mặt”.

Để gìn giữ, vun đắp hạnh phúc gia đình, tránh làm cho gia đình đổ vỡ gây ảnh hưởng xấu đến các con, bản thân ông dù bận rộn vẫn cố gắng dành thời gian cho gia đình. Ông quan niệm: “Để xây dựng một gia đình yên ấm, chúng ta không thể không đầu tư thật nhiều thời gian vào nó. Dành thời gian xây dựng một gia đình lý tưởng theo mong muốn của bản thân cũng chính là nhiệm vụ, là công việc và là một cơ hội tốt của mỗi người”. Từ quan niệm như thế, ông đưa ra lời cảnh báo cho những người đàn ông đang thành công trong sự nghiệp hay luôn luôn bận rộn: “Tình yêu của bạn dành cho gia đình như thế nào sẽ được thể hiện bằng chính thời gian bạn dành cho họ… Giai đoạn bận rộn cho sự nghiệp có lẽ là khi chúng ta bước vào độ tuổi 30, 40; nhưng nếu vì thế mà bạn thường xuyên vắng nhà và không có buổi trò chuyện nào cùng với các con, thì quãng đời của bạn khi về già, bạn chỉ còn ở lại với người bạn đời của mình mà thôi”. Xuất phát từ nhận thức như thế, gia đình ông đã cố gắng tối đa để cùng nhau đi trượt tuyết, câu cá, lặn biển cho dù ông là “người bận rộn nhất thế giới”.

Cũng trong cuốn sách này, ông không hề che giấu tình cảm yêu thương và đầy trách nhiệm của mình dành cho người vợ Mĩ – người đã bỏ học đại học giữa chừng, kết hôn với ông và đến Nhật, một đất nước xa lạ, khi mới 19 tuổi. Mặc dù bận rộn, ông vẫn cần mẫn dạy người vợ trẻ học tiếng Nhật và giúp đỡ vợ hòa nhập với cuộc sống ở Nhật Bản. Thật cảm động khi đọc lại những gì ông đã làm khi đó: “Hồi đó, vợ tôi mới chỉ 19 tuổi vừa chân ướt chân ráo đến Nhật. Cô ấy nói tiếng Nhật chữ được chữ mất vất vả vô cùng nên tôi dành phần lớn thời gian để chỉ thêm cho cô ấy. Đầu tiên, tôi để cô ấy viết nhật ký mỗi ngày, đi làm về tôi tranh thủ sửa những lỗi sai và ôn tập lại vào ngày hôm sau… Chính tôi đã đảm nhiệm luôn vai trò thầy giáo dạy nấu ăn kiêm thầy dạy tiếng Nhật cho vợ”. Từ trải nghiệm của chính bản thân mình, ông khuyên những ông chồng khác phải biết “hẹn hò với bạn đời của mình mỗi tuần một lần” hay “nhất định phải ở bên cạnh vợ lúc vợ lâm bồn”, những việc tưởng nhỏ nhưng không phải người đàn ông nào có gia đình cũng làm được.

Ohmae Kenichi cũng là người con rất hiếu thảo. Ông cố gắng không từ chối bất cứ sở thích hay yêu cầu gì của bố mẹ khi bố mẹ đã già. Ông cũng thường đưa bố mẹ đi du lịch cùng gia đình. Ông kể “Ngay cả khi bố tôi đã 70 tuổi và vừa trải qua ca phẫu thuật u não, tôi cũng đưa ông cùng đi lặn với mình ở vùng biển Philippin. Bố tôi từng tham chiến ở vùng biển phía nam (phía Đông Việt Nam) nên trong khi chúng tôi lặn ngụp dưới biển, ông thường ngồi trầm ngâm nhìn xa về phía nam”. Một chi tiết đó đủ cho thấy ông rất thương và hiểu bố.

Trong cuốn sách, ông cũng dành những dòng rất xúc động khi viết về người mẹ 78 tuổi của mình: “Tôi nghĩ rằng bố mẹ tôi đã quá vất vả vì tôi luôn chống đối tất cả những gì thầy cô và bố mẹ nói. Những việc tôi làm không phải chỉ là vì muốn bù đắp lại cho những vất vả của mẹ, mà chính vì bản thân bà từng nói rằng, tuy có những lúc rất khổ sở với tôi nhưng cũng có rất nhiều chuyện khiến bà cảm thấy hạnh phúc. Và sự cân bằng đó đã giúp tôi trở thành một con người như mẹ tôi luôn mong muốn. Tôi rất biết ơn mẹ về những cảm xúc đó của bà, chính vì vậy tôi luôn muốn được là người động viên, cổ vũ và khích lệ tinh thần cho bà”. Chắc chắn thái độ và hành động của ông đối với gia đình, với vợ đã có ảnh hưởng lớn đến hai người con của ông sau này.
Sự phản hồi “thực chứng” từ sản phẩm giáo dục của gia đình

Ohmae Kenichi

Không giống như các ngành sản xuất, nơi có thể kiểm định chất lượng sản phẩm trước khi bán cho khách hàng, người ta rất khó có thể đánh giá chính xác con người – sản phẩm của giáo dục khi học sinh tốt nghiệp rời trường học. Bởi vì xã hội mới là nơi thử thách “chất lượng” của giáo dục. Ohmae Kenichi đã dẫn ra một ví dụ rất sinh động và có phần hài hước về vấn đề này: “Ví dụ, khi bạn tham gia họp lớp cấp ba, sẽ luôn có một điều thú vị xảy ra. Kinh phí họp lớp thì mỗi người đều đóng như nhau, thế nhưng theo bạn, ai là người sẽ chi trả tiền cho tăng hai? Kì lạ là những người hay đề xuất cho tăng hai thường là những người trước đây luôn có thành tích học tập lẹt đẹt. Tôi tốt nghiệp từ trường nam sinh nên hễ có họp lớp là y hệt như thế. Và thường những người cất lời đề nghị lại là những người làm nghề kinh doanh tự do”. Ông cũng dẫn ra nhiều ví dụ khác cho thấy sự trái ngược, rất nhiều học sinh, sinh viên học trường danh tiếng, có thành tích học tập tốt đã không hề thành công trong công việc và hạnh phúc trong đời sống gia đình và ngược lại nhiều học sinh có thành tích học tập bình thường hoặc không có điều kiện học hành nhiều tại trường lớp lại có được sự thành công.

Như vậy, có lẽ bạn đọc chắc hẳn sẽ tò mò rằng với những gì ông đã thể hiện trong cuốn sách, cuối cùng thì hai người con trai của ông, những người có cá tính mạnh mẽ, được ông chấp nhận cho bỏ học và sớm có cuộc sống tự lập, lớn lên trở thành người như thế nào. Sự thành công hay thất bại của hai người con, cũng như ý nghĩ của họ về cách giáo dục của ông sẽ là căn cứ “thực chứng” chứng minh cho sự hợp lý hoặc bất hợp lý trong tư duy giáo dục gia đình của Ohmae Kenichi.

Thật may, phần phụ lục trong cuốn sách, nơi đăng tải hai bài phỏng vấn hai người con trai của ông đã giúp chúng ta có thêm thông tin tham khảo để kiểm chứng.

Bài phỏng vấn Ohmae Souki, con trai cả của ông, được thực hiện vào tháng 3 năm 2012 tại phòng giám đốc công ty Creative Hope, Shinjuku, Tokyo và bài phỏng vấn Ohmae Hiroki, con trai thứ, được thực hiện vào tháng 4 năm 2012 tại nhà riêng ở Kojimachi, Tokyo.

Phần đầu của bài phỏng vấn cung cấp cho chúng ta những thông tin cơ bản về hai người con trai của ông. Xin trích lại ở đây để bạn đọc suy ngẫm:

“Con trai đầu: Ohmae Souki

Sinh năm 1974. Tốt nghiệp trường Trung học và Phổ thông Nội trú Tomei. Bỏ ngang khi học Đại học Nhật Bản, khoa Công nghiệp. Tốt nghiệp trường Digital Hollywood. Năm 2002 thành lập công ty Creative Hope chuyên về tư vấn thiết kế website. Tên công ty được đặt theo tên của Souki (có nghĩa là Niềm hi vọng). Công ty Creative Hope có rất nhiều khách hàng là các doanh nghiệp nổi tiếng. Tổng số nhân viên 45 người”.
“Con trai thứ: Ohmae Hiroki

Sinh năm 1979. Sau khi bỏ ngang Đại học Nam California, vào làm tại Công ty IT Venture-From Software. Phụ trách cài đặt và đánh giá Middeware, thiết kế và phát triển Game. Năm 2009 thành lập công ty riêng với mục tiêu hướng tới việc xây dựng tập đoàn phát triển Game thời đại mới. Bên cạnh đó, anh còn góp phần vào việc phổ cập và khai thác chương trình lập trình game “Unity” và Công ty Unity Technologies Japan. Đây cũng là nơi làm việc của anh hiện tại”.

Nhìn vào tiểu sử tóm tắt của hai người con của ông, chúng ta sẽ thấy nếu xét theo tiêu chí thông thường, phổ biến trong xã hội hiện tại thì hai người con của Ohmae Kenichi có vẻ là người “không thành đạt cho lắm”. Cả hai đều bỏ dở đại học, không có học vị cao và không làm việc trong bộ máy nhà nước (quan chức) hay làm ở các vị trí lãnh đạo của các tập đoàn nổi tiếng. Họ chỉ là chủ một doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực IT.
Như thế, phải chăng Ohmae Kenichi đã thất bại và những gì ông viết về giáo dục gia đình chỉ là những thứ giống như “lý luận suông”?

Nếu nhìn bằng con mắt tầm thường, chúng ta sẽ thấy như thế. Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, nghĩa là nhìn giáo dục như là sự trợ giúp tối đa để tạo ra những cá nhân độc lập, sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm, Ohmae Kenichi đã rất thành công. Hai người con của ông là hiện thân của những gì ông muốn trong mục tiêu giáo dục của mình. Ông không định biến các con ông thành các thiên tài. Ông muốn chúng thành những người độc lập và sáng tạo. Hai người con của ông đã nỗ lực học hỏi và trở thành những người độc lập về kinh tế. Độc lập về kinh tế là nền tảng cơ bản để có độc lập về tư duy. Chính vì được nuôi dưỡng trong môi trường tự do, được thể hiện sự độc lập về tư duy và lớn lên có khả năng độc lập về kinh tế nên trong bài phỏng vấn, cho dù bày tỏ sự cảm phục, kính trọng đối với bố mình, cả hai vẫn khẳng định sẽ bước đi trên con đường riêng cả trong giáo dục gia đình và sự nghiệp, chứ không rập khuôn theo ông bố “nổi tiếng”. Khi được hỏi “Tương lai anh có muốn trở thành một người bố như ông Ohmae Kenichi không?”, người con thứ Hiroki đã thẳng thắn đáp: “Tôi sẽ không như vậy. Qua cách giáo dục của gia đình Ohmae, bài học tôi rút ra là: “Điều quan trọng là phải tự suy nghĩ và chịu trách nhiệm như một con người độc lập”, nên nếu tôi bắt chước lại những gì bố đã làm, tất cả mọi thứ sẽ bị phá hủy. Với tư cách là một người con, tôi muốn tự mình suy nghĩ, tự mình xây dựng một phương thức cho riêng mình”. Đấy là tư duy của một người có “năng lực sinh tồn” – thứ mà Ohmae Kenichi cả đời tâm niệm.

Trên thực tế, chúng ta thấy không phải cứ học cao, có địa vị xã hội hay có nhiều tiền là con người ta có tư duy độc lập và biết sống như một người có trách nhiệm. Rất nhiều người cho dù có đủ các thứ trên vẫn chấp nhận “vong thân” hay sống “đa nhân cách” chỉ để tồn tại và theo đuổi các giá trị ảo. Một khi sống như vậy, họ sẽ không có trách nhiệm với gia đình và xã hội, bởi vì khi chấp nhận như vậy, họ đã không có trách nhiệm với chính bản thân mình. Một xã hội tốt đẹp không thể nào được hình thành nhờ vào những cá nhân như thế. Câu chuyện của gia đình Ohmae Kenichi bởi thế là chỉ dẫn cho chúng ta suy ngẫm sâu sắc về xã hội, về thế giới và gia đình trong bối cảnh nhiều bất an hiện nay. Xã hội chỉ có thể thay đổi khi từng gia đình thay đổi. Đơn giản vì bố mẹ là những người thầy đầu tiên của con và có ảnh hưởng lớn tới các con trong suốt cả cuộc đời.

Xin trích ở đây lời nhắn gửi của Ohmae Kenichi để khép lại bài viết này: “… một mình tôi dù có cố gắng đến thế nào đi nữa, khả năng của tôi cũng chỉ có giới hạn. Vì thế, mỗi một gia đình chúng ta hãy thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi cách giáo dục con cái, nếu chúng ta không có những bước cải cách thực sự trong vấn đề này thì chắc chắn đất nước chúng ta sẽ không thể nào đi lên được. Nói cách khác, những người làm cha mẹ không tiên phong thay đổi thì đất nước sẽ chẳng bao giờ có thể đổi thay”.
Đây có lẽ là lời nhắn gửi mà không một ông bố, bà mẹ nào đang thực sự lo lắng cho tương lai của con mình và nỗ lực kiến tạo tương lai ấy bằng tư duy sáng suốt của người công dân phản đối.

Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Nguyễn Quốc Vương

%d bloggers like this: