Archive

Archive for June, 2018

CHA MẸ LÀM GÌ ĐỂ ĐỒNG HÀNH CÙNG CON?

June 27, 2018 Leave a comment

 

Sau một thời gian dài bị lãng quên, giáo dục gia đình ở Việt Nam trong khoảng hơn một thập kỉ trở lại đây được chú ý trở lại. Sự hình thành của gia đình hạt nhân và lối sống đô thị là những yếu tố tác động tạo ra sức nóng trong mối quan tâm của các bậc cha mẹ đối với giáo dục gia đình.

20196_pk01

Tuy nhiên, đó không phải là lý do chủ yếu.

Lý do chủ yếu nhất, có lẽ nó xuất phát từ sự ý thức về vai trò của giáo dục gia đình khi cha mẹ tham chiếu tình hình của trường học hiện tại với viễn cảnh tương lai của con cái họ. Sự khủng hoảng triền miên không lối thoát của giáo dục trường học đã làm cho phụ huynh ngày một ý thức hơn về vai trò của gia đình đối với sự trưởng thành của con.

Các cuộc hội thảo về giáo dục gia đình được tổ chức thường xuyên hơn và sách vở “nuôi dạy con” được xuất bản rất phong phú.

Tuy nhiên, có rất nhiều cha mẹ cảm thấy lúng túng vì cảm thấy mình đã đọc nhiều sách, tham gia nhiều hội thảo, áp dụng phương pháp nọ phương pháp kia mà con cái của họ không tiến bộ.

Nhiều người cảm thấy việc tiếp cận thông tin hay học hỏi chỉ làm cho bản thân cảm thấy hoang mang, mỏi mệt.

Tâm lý ấy rất dễ hiểu. Hoang mang, mỏi mệt là trạng thái tất yếu trên con đường phụ huynh tìm đến được trạng thái giác ngộ về vai trò của bản thân đối với sự trưởng thành của con.

Quá trình đó tuyệt nhiên không phải là quá trình đơn giản, một sớm một chiều.

Giáo dục không phải là công việc sáng gieo hạt chiều hái quả. Nó cần đến thời gian để kiểm nghiệm.

Và ở đây, có một điều tôi muốn nhấn mạnh, sự ảnh hưởng có tính chất giáo dục từ phía phụ huynh tới con chỉ có thể có được và có được một cách hiệu quả khi chính bên trong bản thân phụ huynh có sự vận động, chuyển hóa về chất. Sự chuyển hóa đó sẽ diễn ra ở thái độ, mối quan tâm, tư duy và cuối cùng thể hiện trong hành động của phụ huynh ở cả trạng thái có ý thức và vô thức.

Nói một cách đơn giản, muốn con thay đổi tích cực, cha mẹ phải nỗ lực thay đổi tích cực. Sự nỗ lực không ngừng của cha mẹ trong tư duy khi vượt thoát khỏi các giáo điều, định kiến; sự bền bỉ vượt khó trong công việc và cuộc sống hàng ngày sẽ tác động đến con.

Tất nhiên, để làm được điều đó, bạn sẽ cần đến cảm hứng, cần đến sự động viên thậm chí là những hình mẫu.

Bạn có thể tìm thấy các hình mẫu đó ngoài đời thực hoặc trong sách vở. Nếu bạn muốn tìm một hình tượng có thực được mô tả trong sách vở, tôi nghĩ Dương Văn, tác giả “Mẹ luôn đồng hành cùng con”, sẽ là một ví dụ gợi nhiều cảm hứng.

Đọc sách của bà, cho dù sách hướng dẫn rất nhiều biện pháp cụ thể để nuôi dạy con được rút ra từ kinh nghiệm nuôi dạy cậu con trai Hạ Dương, tôi lại đặc biệt chú ý đến cuộc đời và những nỗ lực không ngừng để thay đổi bản thân của bà. Đây có lẽ là yếu tố tạo nên thành công của bà và gia đình trong cả sự nghiệp và việc nuôi dạy con.

Nhìn vào tiểu sử tóm lược của bà ở vào thời điểm cuốn sách ra đời (2007) bạn đọc hiển nhiên sẽ trầm trồ ngưỡng mộ:

– Đã từng du học Anh để học tập và nghiên cứu phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ em

– Trở thành hội viên Trung Quốc đầu tiên của Hiệp hội giáo viên quốc tế giảng dạy tiếng Anh cho thiếu nhi.

– Bộ sách tiếng Anh cho trẻ em do bà chủ biên được sử dụng trong giảng dạy liên tục 10 năm ở các trường mầm non trên toàn Trung Quốc.

– Phương pháp dạy tiếng Anh trực quan cho trẻ em của bà được đưa vào danh sách mười cách dạy ngoại ngữ của Trung Quốc đương đại.

– Môn học Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ em do bà giảng dạy được bình chọn là môn học tiêu biểu cấp quốc gia của Bộ giáo dục Trung Quốc.

– Sáng lập và lãnh đạo Học viện Anh tài Sơn Đông, một trường đại học dân lập với 20. 000 sinh viên…

– Con trai Hạ Dương của bà hiện là Nghiên cứu sinh tại đại học Cambridge.

Nhìn vào đây nhiều người nghĩ bà là người may mắn hoặc sinh ra trong gia đình có điều kiện tốt. Nhưng sự thật ngược lại, để có được những thứ trên bà đã nỗ lực không ngừng để thay đổi số phận.

Bà đã tự tổng kết ngắn gọn cuộc đời mình trong sách: “Từ một cô công nhân dệt may, tôi đã trở thành tiến sĩ, giáo sư, người sáng lập ra học viện dân lập với hơn 20. 000 sinh viên”.

Tôi đặc biệt ấn tượng với những gì bà kể lại về sự nỗ lực của bản thân trên con đường học tập. Xin trích lại đây những đoạn mô tả đầy sinh động đó.

“Trong thung lũng nọ, một đêm tối đen như mực, mưa gió, sấm chớp đầy trời, một cô gái 17 tuổi vai đeo ba lô, một mình đi qua nghĩa địa để tham gia lớp học bổ túc trên huyện chuẩn bị cho kỳ thi đại học. Cô gái ra sức bấm móng tay vào cổ tay mình, để cảm giác đau đớn xóa đi nỗi sợ hãi trong lòng. Đó chính là tôi-cô thợ may ngoài giờ làm việc, vì ước mơ trở thành sinh viên đại học mà miệt mài phấn đấu…Sau khi tốt nghiệp trường Trung học phổ thông Nhất Trung-Đức Châu, tôi được cử đến làm việc tại một xưởng may với mấy chục công nhân và mấy chục chiếc máy khâu”.

“Tối đến tôi đi ngủ sớm, nhờ nhân viên phục vụ gọi tôi dậy vào lức ba giờ sáng hôm sau. Lúc ấy đang giữa đông, ngoài hành lang rét căm căm, mình tôi ngồi đọc sách dưới ánh đèn lờ mờ, cô phục vụ tốt bụng phá lệ cho tôi vào phòng trực ban ngồi học. Học đến sáu giờ sáng, tôi lại cùng đồng nghiệp ra xe để đi làm”

“Tôi đọc sách trong thư viện của trường, buổi trưa thư viện đóng cửa, tôi liền năn nỉ các cô nhân viên khóa trái tôi trong phòng. Đói thì ăn tạm cái màn thầu cứng ngắc, mệt thì ngả lưng xuống ghế chơp mắt một lát, tỉnh dậy lại học tiếp. Lúc ấy, vì việc học mà tôi hiếm khi được ăn bữa cơm nóng hay được ngủ trọn được mấy tiếng đồng hồ, nói gì đến chuyện giải trí và trang điểm”.

Cho dù người phụ nữ thành công trong công việc và được giải phóng đến đâu, vai trò nuôi dạy con của họ trong gia đình vẫn rất lớn và không thể thay thế. Bà Dương Văn ý thức sâu sắc về điều đó, vì thế trong vai trò một người mẹ, bà luôn nỗ lực để thay đổi bản thân.

Bà tâm niệm: “Cha mẹ phải làm gương cho con. Trong gia đình, mọi lời nói, hành động của cha mẹ đều trở thành đối tượng để con trẻ bắt chước . Chính vì vậy, muốn thực hiện tốt vai trò người làm gương, cha mẹ phải không ngừng tu dưỡng bản thân, song song với quá trình nuôi dạy con, còn cần phải tự giáo dục mình”.

Chính vị vậy ngay từ khi con chào đời hai vợ chồng bà đã hạ quyết tâm: “Hai vợ chồng tôi đã dồn hết mọi tình yêu thương và niềm hi vọng cho con. Trước hết, chúng tôi quyết tâm làm một người người cha, người mẹ có trách nhiệm. Chỉ khi được sống trong một gia đình có trách nhiệm, con trẻ mới cảm nhận được sự an toàn trong tương lai. Khi ôm cậu con trai bé bỏng trong lòng, chúng tôi quyết tâm dùng sự nỗ lực của mình để đem lại cho con một gia đình tràn ngập tình yêu thương và ấm cúng”.

Lý giải thành công của mình bà viết: “Tôi thừa nhận, tôi không phải là người thông minh bẩm sinh, nhưng tôi là một người rất nỗ lực”

Đấy có là chân lý giản đơn nhưng cần thiết cho tất cả các bậc phụ huynh.

Tất nhiên, không phải phụ huynh nào cũng có khả năng trí tuệ và có thể nỗ lực trở thành giáo sư đại học và nuôi con trở thành nghiên cứu sinh đại học Cambridge như Dương Văn.

Cuộc sống muôn màu, mỗi gia đình mỗi hoàn cảnh và mỗi cá nhân đều có những giá trị riêng không phụ thuộc hoàn toàn và bằng cấp hay địa vị xã hội. Tuy nhiên, cho dù ở hoàn cảnh nào hay thậm chí là nghịch cảnh nào, việ cho con thấy nỗ lực không ngừng của bản thân để thoát ra sự trói buộc của số phận rất quan trọng. Những câu chuyện về những học sinh, thanh niên đạt được thành tích tốt hoặc làm được những điều phi thường trong khi bố mẹ làm những nghề bình thường hoặc gia đình nghèo khó, đang trong nghịch cảnh mà chúng ta nghe, chứng kiến hàng ngày cũng là những ví dụ chứng minh điều đó.

Sau khi xuất bản tại Trung Quốc, cuốn sách đã được tái bản 20 lần, được bình chọn là cuốn sách bán chạy nhất của NXB Trung Tín năm 2007 và cũng là một trong 10 cuốn sách về giáo dục gia đình bán chạy nhất ở Trung Quốc năm 2007. Thông tin ấy nói lên rằng cuốn sách của Dương Văn đã làm cho các bậc phụ huynh Trung Quốc cảm động. Trong sự cảm động ấy chắc chắn có sự đồng cảm với triết lý cha mẹ phải tự thân nỗ lực để làm gương và tạo nguồn cảm hứng cho con.

Để khép lại bài viết này, xin được trích lại ở đây lời khuyên của bà mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho chúng ta trong cuộc sống hiện nay:

“Cha mẹ là người có ảnh hưởng sâu sắc đối với con trẻ trong quá trình trưởng thành. Trong quá trình này, rất nhiều kiến thức, khả năng, trí tuệ hay tính cách, phẩm chất đạo đức, tác phong và khuynh hướng của trẻ đều được hình thành dưới sự ảnh hưởng của cha mẹ. Không ngừng học tập, học tập suốt đời là một thái độ sống. Cùng là đứa trẻ đó, nếu được lớn lên trong gia đình theo mô hình học tập và môi trường không đề cao sự học tập, sau 8-10 năm, lượng thông tin mà trẻ tiếp nhận sẽ khác nhau, thói quen, trí tuệ, trải nghiệm…cũng sẽ khác nhau, số phận con người có thể cũng vì thế mà có sự thay đổi”.

Hà Nội, 27/6/2018

Advertisements

SÁCH MỚI: PHƯƠNG PHÁP NUÔI DẠY CON TRAI.

June 22, 2018 Leave a comment

phương pháp nuôi dạy con trai

Trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn sách dịch số 5 của tôi trong năm 2018 (hoàn thành 1/2 chỉ tiêu).

Đây là cuốn sách của tác giả Kubota Kayoko, một người tốt nghiệp khoa Y Đại học Tokyo, có chồng là nhà não học nổi tiếng.

Hai ông bà yêu nhau từ năm nhất đại học, là bạn cùng lớp nhưng sau khi tốt nghiệp thì bà thành bà mẹ chuyên nghiệp còn chồng du học Mĩ và trở thành học giả nổi tiếng.

Sau đó, hai ông bà hợp tác đề xướng phương pháp nuôi dạy con gọi là “Phương pháp Kubota” và tạo ra tiếng vang lớn.

Bà tự tay nuôi dạy hai người con trai thành bác sĩ (tốt nghiệp khoa y Đại học Tokyo-đại học số 1 Nhật Bản), mở trung tâm giáo dục trẻ em, truyền bá phương pháp Kubota và là nhân vật của nhiều show truyền hình nuôi dạy trẻ tại Nhật.

Ở Nhật bà rất nổi tiếng nhưng không rõ lý do tại sao ở Việt Nam bà ít được biết đến.

Sách của bà được viết dựa trên các kết quả nghiên cứu về não và sự phát triển của não dưới tác động của giáo dục.

Những ai quan tâm đến giáo dục sớm, giáo dục thiên tài, giáo dục trẻ có thể chất khỏe mạnh và tâm hồn đa cảm nên đọc.

Cuốn sách này tôi dịch ngay khi vợ tôi mới sinh con trai đầu lòng nhưng do “quy trình” nên bây giờ mới chào đời.

Bạn đọc có thể mua sách ở các nhà sách trên toàn quốc hoặc liên hệ với tôi.

Cảm ơn bác bạn.

Đặc biệt cảm ơn Cò, người đã gợi cảm hứng cho bố dịch cuốn sách này.

 

P.s. Bạn nào muốn mua sách mời liên hệ qua email: sachnguyenquocvuong@gmail.com

Giá: 48k

VOI VÀ LỢN

June 22, 2018 Leave a comment

Đây là bộ sách tranh nhiều tập của tác giả Mo Willems, một tác giả kiêm họa sĩ minh họa sách thiếu nhi nổi tiếng người Mỹ với nhiều tác phẩm được trao Huân chương Caldecott.
35833500_263924594163695_1433204834051293184_n
Xin giới thiệu tới các bạn 4 tập đầu tiên của bộ sách thú vị này. Sách do Mầm Nhỏ dịch sang tiếng Việt, in song ngữ Anh-Việt. Tủ sách Người mẹ tốt xuất bản và phát hành tháng 6/2018.
Tập 1: Hôm nay tớ sẽ bay (Today I will fly)

Tập 2: Bạn tớ đang buồn (My friend is sad)

Tập 3: Có một bạn chim trên đầu cậu kìa

Tập 4: Tỡ làm gãy vòi mất rồi (I broke my trunk)

 

Hai nhân vật chính trong bộ sách là ban voi tên Gerald và bạn lợn tên Piggie.

 

Khuôn mặt và điệu bộ của hai bạn này rất…khác biệt, đảm bảo các bạn nhỏ chỉ nhìn thấy là thích.

 

Mỗi tập sẽ là một câu chuyện riêng.

 

Tập 1 kể lợn Piggie hùng hồn tuyên bố với voi Gerald “Hôm nay tớ sẽ bay” nhưng voi thì chẳng  tin nên ra sức phản bác :”Không thể nào”, “Hôm nay cậu không bay được đâu”, “Ngày mai cậu cũng không bay được đâu”, “Tuần sau cậu cũng sẽ không bay được đâu”… Thế chưa đủ voi Gerald còn ngửa mặt hét to “Cậu sẽ không bao giờ bay được!”.

 

Nếu bạn là Piggie thì khi bị người bạn thân nói thế, bạn sẽ làm gì?
Bỏ đi?

Tức giận?

Từ bỏ ý định?

 

Và ở đây, bạn hãy đoán lợn Piggie sẽ làm gì?

 

Lợn Piggie đã làm thế nào để có thể bay được khiến cho voi Gerald vô cùng kinh ngạc, thán phục và cuối cùng khi Piggie khiêm tốn bảo “Không phải là tớ đang bay đâu. Tớ đang được giúp thôi” thì voi đột nhiên nói “Ngày mai tớ sẽ bay’’?

Hãy đọc sách và tìm ra câu trả lời nhé!

Sách in song ngữ Anh-Việt với lời thoại được tính toán kĩ lưỡng để lặp lại các mô hình cấu trúc câu và thay đổi các từ mới nên cũng sẽ có ích cho các bạn nhỏ đang học tiếng Anh.

CON NGƯỜi TỰ DO LÀ CON NGƯỜI HẠNH PHÚC

June 19, 2018 Leave a comment

 

(Cảm tưởng khi đọc “Giáo dục: tuyệt vời nhất=đơn giản nhất) của Doãn Kiến Lợi)

Giao duc TVNBDGN in

“Giáo dục: tuyệt vời nhất=đơn giản nhất” là cuốn sách thứ hai của Doãn Kiến Lợi được dịch và giới thiệu ở Việt Nam.
Cuốn sách trước đó của bà là “Người mẹ tốt hơn là người thầy tốt”.

Cả hai cuốn sách đều mô tả rất kĩ hiện trạng giáo dục của Trung Quốc cho dù chủ ý của bà khi viết cuốn sách không phải là như vậy. Chính vì thế những thông tin về những vấn đề mà giáo dục nước này đang đối mặt sẽ gợi mở rất nhiều điều lý thú cho các bậc phụ huynh Việt Nam, những người đang hàng ngày, hàng giờ lo lắng cho sự trưởng thành của con mình.

Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa “Giáo dục: tuyệt vời nhất=đơn giản nhất” và cũng là sự “trưởng thành”, “vượt lên chính mình” của tác giả nằm ở chỗ trong cuốn sách này, cho dù văn phong không mấy thay đổi, tác giả đã dùng lý luận giáo dục học, tâm lý học hiện đại để mổ xẻ, phân tích sâu hơn những vấn đề nhức nhối trong giáo dục Trung Quốc để từ đó làm bật lên triết lý giáo dục cần xây dựng thay vì chỉ đề cập đến các trường hợp đơn lẻ hay các kinh nghiệm thu nhận được từ việc nuôi dạy Viên Viên, con gái của bà.

Nếu tinh ý chúng ta nhận thấy, bà hầu như chỉ trích dẫn các tác giả là các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học của Phương Tây. Đấy là một đặc điểm rất thú vị khi bà không có trải nghiệm du học và đã từng rất nhiều năm là giáo viên dạy ở bậc phổ thông của Trung Quốc.

Xuyên suốt cuốn sách, cho dù trình bày về chuyện giáo dục sớm bị hiểu sai ở Trung Quốc hay căn bệnh ham mê thành tích đang phá hỏng giáo dục, bà đều thể hiện rất rõ tinh thần tự do.
Ở đó có thể thấy con người trưởng thành mà bà, thông qua giáo dục muốn tạo nên, là những con người khao khát tự do và biết sống tự do. Với bà, những con người tự do là những người hạnh phúc.

Chính vì khao khát con người tự do mà xuyên suốt cuốn sách, ở bất cứ chủ đề nào bà đều chỉ trích không khoan nhượng những định kiến, những tập tục, thói quen kìm hãm, trói buộc trẻ em. Đấy là lối giáo dục bằng nỗi sợ thông qua dọa nạt, đánh đập, hạ nhục trẻ em, là kiểu giáo dục giáo huấn giảng giải về “đạo lý” hay “lý lẽ” được áp đặt bởi người lớn.
Bà cũng không e ngại khi công kích uy quyền tuyệt đối của giáo viên ở trường học và ca ngợi tư thế đối thoại, khoan dung của phụ huynh đối với con.

Đối với bà trong giai đoạn đầu đời của đứa trẻ “kỷ luật” không quan trọng bằng “tự do”. Vì thế, bà khuyên các bậc phụ huynh cho con chơi thỏa thích trong phạm vi các trò chơi đó không gây ra nguy hiểm kể cả những trò mà thông thường cha mẹ sẽ trừng phạt nghiêm khắc như “vẽ bậy lên tường”. Bà cũng chủ trương rằng ở trường mầm non, việc vui chơi và trải nghiệm tự do sẽ quan trọng hơn rất nhiều so với việc tuân thủ nội quy hay học chữ, học toán.

Để có con người tự do thì tất yếu phải có tự do trong giáo dục. Vậy thì, theo Doãn Kiến Lợi, tự do trong giáo dục là gì?
Trong cuốn sách bà đã định nghĩa nó rất dễ hiểu thế này: “Trong giáo dục, tự do chính là không khí, không nhìn được bằng mắt, không sờ được bằng tay. Bạn có thể không quan tâm đến nó, thậm chí có thể không thừa nhận nó, nhưng chắc chắn không thể thiếu được nó. Không có tự do sẽ không có giáo dục, một người trước hết phải là con người được tự do, mới có thể trở thành một con người tự giác-tự do không phải là rong ruổi trên lưng ngựa, tự do là không gian, là luồng sức mạnh có thể nâng bổng con bạn, nó giúp con bạn có được khả năng lựa chọn và có đủ khả năng chống lị mọi sự giả tạo và yếu đuối trong cuộc sống”.

Tư tưởng về giáo dục này của bà có lẽ là một sự lội ngược dòng trong xã hội Trung Quốc đương đại. Âm hưởng của cuốn sách sau khi xuất bản phần nào nói lên điều đó.

Trong cuốn sách, bà cũng dẫn ra một ví dụ về tự do gây cho tôi ấn tượng rất mạnh. Đó là khi bà thuật lại rằng: “Một độc giả comment trên mạng rằng, khảo sát 3 năm mới phát hiện ra rằng, tự do là phải mất tiền. Trường mầm non ở nơi anh sống, trường nào chỉ chú ý đến kỷ luật thì mỗi tháng 2000 NDT, trường nào chú ý đến sự tự do mỗi tháng 4.000 NDT-đây giống như một câu chuyện cười, “tự do” lại phải bỏ tiền ra mua”.

Có lẽ không cần bình luận gì thêm về ví dụ nói trên. Bản thân ví dụ tự nó đã nói lên rất nhiều điều khiến độc giả phải giật mình nhìn ra xung quanh và suy ngẫm.

Bởi yêu mến tự do và muốn tạo ra con người tự do, bà phản đối bầu không khí đầy tính áp chế đang bao phủ trong trường học. Đấy là bầu không khí bị cai trị bởi “bài tập” và “kỉ luật”. Bà lên án gay gắt: “Kỷ luật và bài tập đã không còn phục vụ cho giáo dục và học tập, mà đang phục vụ cho những thói quen xấu đang lưu truyền ở đâu đó-kỷ luật trở thành quân quyền, bài tập trở thành tôn giáo, trẻ em bị yêu cầu trở thành những con tin ngoan đạo và thảo dân nhất nhất nghe lời-thế hệ bị hành hạ và trưởng thành sẽ trở thành giáo viên, rồi họ lại dùng những thứ tương tự để hành hạ thế hệ sau, thế hệ này tiếp nối thế hệ kia và mỗi năm một nghiêm trọng hơn. Không biết có bao nhiêu người đang phải trưởng thành một cách nặng nề trong sự giày vò này, để tài năng ngày một thui chột đi”.

Không chỉ ở trường học, bà cho rằng ngay trong chính các gia đình phụ huynh cho dù có trình độ học vấn ngày càng cao vẫn đang hàng ngày áp chế trẻ em. Với bà, có trình độ học vấn hay bằng cấp cao không đồng nghĩa với việc thấu hiểu về giáo dục và nhất là thấu hiểu việc giáo dục con trẻ trở thành người tự do.
Đây là lời nhận xét rất nghiêm khắc của bà lý giải hiện tượng “dao sắc không gọt được chuôi” ở phụ huynh: “Hiện nay trình độ văn hóa của phụ huynh đều khá cao, có ý thức giáo dục khá tốt, nhưng trình độ giáo dục chưa hẳn đã phát triển đồng bộ. Người ta đã chú ý đến một hiện tượng, không ít phụ huynh có trình độ cao, việc học hành hoặc tâm lý của con cái họ lại rất không được như ý. Nguyên nhân là do có một kẻ phát hoại có năng lực,mức độ phá hoại của họ lớn hơn những người bình thường. Nếu các bậc cha mẹ có trình độ văn hóa cao có nhận thức không đầy đủ về một số vấn đề giáo dục, nhưng lại tưởng mình thông thái, cho rằng mọi việc của trẻ đều được hoàn thành dưới sự trù hoạch và kiểm soát của mình, nhỏ là việc ăn một bát cơm, lớn là việc sắp xếp cho tương lai của con mình, liên tục dùng cách lý giải sai lầm để đối xử với con, vậy thì trình độ giáo dục của họ chẳng khác gì những bậc phụ huynh văn hóa thấp, thậm chí còn tệ hơn. Họ chính là những người nông dân dùng cuốc để khắc ngọc, dưới lưỡi cuốc của họ, một khối ngọc vốn có giá trị lớn lao đã biến thành một đống đá vụn”.

Bạn đọc hãy thử ngừng lại vài phút và nghĩ xem có phải chăng hình như mình cũng là một người phụ huynh như thế?

Tư tưởng nuôi dưỡng nên con người tự do để từ đó trở thành người hạnh phúc là tư tưởng xuyên suốt trong cuốn sách của bà. Tất nhiên, cuốn sách, do viết cho quảng đại độc giả, không chỉ dừng lại ở chuyện khai sáng về tư tưởng, nó còn cung cấp những thông tin, kinh nghiệm rất cụ thể để giáo dục trẻ em trong từng lĩnh vực. Chẳng hạn trong cuốn sách này, Doãn Kiến Lợi đã dành dung lượng đáng kể để nói về “đọc sách” và “giáo dục nghệ thuật”.

Hai thứ ấy dường như xa lạ với những trào lưu tư tưởng thực dụng đang cuồn cuộn chảy trong giáo dục đương đại ở Trung Quốc. Và đấy cũng là đặc điểm thú vị làm nên giá trị của tác phẩm.

Đọc Doãn Kiến Lợi, độc giả Việt Nam bằng những liên tưởng và suy ngẫm có thể học hỏi được rất nhiều điều thực dụng cũng như có thêm động lực để khai sáng chính bản thân mình khi phải đối mặt với thực tế là các nguồn thông tin về giáo dục ngày một phong phú và mâu thuẫn nhau. Ở ý nghĩa đó, cũng có thể coi “Giáo dục: tuyệt vời nhất=đơn giản nhất” là tia sáng chỉ đường giúp phụ huynh tìm ra lối đi riêng của mình trong một thế giới hỗn mang.

Hà Nội, ngày 126/2018

Tại sao du học sinh người Việt không đọc sách?

June 6, 2018 Leave a comment

 

 

Xưa nay kêu than về chuyện người Việt ít đọc sách, người ta thường có hàm ý nói tới người Việt trong nước.
Nghèo đói, chiến tranh, sự yếu kém về giáo dục, những hạn chế về bối cảnh, thiết chế xã hội..được coi là những yếu tố đứng sau sự bán khai của văn hóa đọc.
Nhưng, thực ra không chỉ người Việt trong nước ít đọc và người Việt ở nước ngoài, nhất là du học sinh cũng ít đọc.
Một người bạn trên Facebook của tôi vốn quan tâm tới hai dân tộc yêu sách và có văn hóa đọc đáng nể là Nhật và Do Thái lâu lâu lại phàn nàn rằng “tại sao du học sinh lại không đọc sách từ nguyên tác để hiểu người bản địa”.
Đọc những phàn nàn của anh tôi cười thầm trong lòng “Sách tiếng Việt còn ít đọc nói gì tới sách viết bằng tiếng bản xứ”.
Nhiều người kêu lên gay gắt “số liệu đâu? Điều tra nào cho kết quả đó?”.
Đúng là cho tới giờ, ở Việt Nam như thường thấy không có cuộc điều tra nào công bố cho chúng ta số liệu thống kê về chuyện du học sinh Việt Nam đọc sách gì, đọc bao nhiêu. Nhưng tôi chỉ hỏi ngược lại, nếu có một kết quả được công bố rộng rãi trên báo đài, liệu rằng chúng ta có tin tưởng được số liệu đó?

Theo quan sát và trải nghiệm của tôi ở nước ngoài trong gần chục năm, tỉ lệ du học sinh Việt Nam có khả năng và thói quen đọc sách của người bản xứ cực thấp. Đến nhà du sinh nào chơi, tôi cũng có thói  quen cố hữu vốn đã trở thành thói xấu là đánh mắt tìm xem giá sách của chủ nhân ở đâu, có những sách gì xếp trên giá?

Thú thật, địa vị của giá sách của người Việt trong căn phòng khá khiêm tốn.

Thay vào đó địa vị của chiếc bàn uống nước, tủ quần áo và kệ kê tivi, băng đài chiếm địa vị nổi bật hơn hẳn.

Nếu có sách, giá sách cũng rất nghèo nàn. Ngoài những sách trực tiếp phục vụ học tập hay chuyên môn, nếu có sách khác thì cũng chỉ là sách bằng tiếng Việt để dạy con tiếng Việt hay sách giải trí, sách nấu ăn.

Trong 8 năm ở Nhật, tôi chỉ nhìn thấy ở nhà vợ chồng cô bạn học đại học cùng tôi và sau đó sang học cùng trường một giá sách phong phú bao gồm cả sách tiếng Nhật.

 

Ở Nhật, nơi tôi học, có một hệ thống thư viện công khổng lồ bao phủ khắp nước. Thư viện trường học cũng chiếm địa vị trung tâm của trường học. Cho dù trí thức thiên tả và trí thức độc lập ở nước Nhật đang than phiền rằng tự do của nước Nhật đang bị thu hẹp và có nguy cơ bị đe dọa, Nhật vẫn là thiên đường của sách. Bạn có thể đọc bất cứ cuốn sách nào ở thư viện chỉ sau vài ba phút làm thủ tục làm thẻ cho dù bạn là người nước ngoài. Ở hiệu sách, bạn có thể đọc cọp thoải mái đủ các sách từ cuốn bán chạy nhất cho tới các cuốn sách nghiên cứu kén chọn bạn đọc. Có những hiệu sách còn đặt cả ghế cho bạn ngồi đọc.

Tuy nhiên, tỉ lệ du sinh người Việt dùng ngày nghỉ cuối tuần hay lúc rảnh rỗi cho hiệu sách và thư viện theo quan sát của tôi là rất nhỏ. Kể ra cũng lại buồn cười. Ở vùng tôi ở tôi cũng thường chỉ gặp gia đình cô bạn trên đến thư viện tìm và mượn sách. Có lần tò mò tôi hỏi cô thủ thư ở thư viện công nơi tôi ở xem có nhiều người Việt Nam tới đây đọc sách không thì cô bảo, “hầu như không có”. Thành phố tôi ở cũng có khoảng vài trăm đến cả nghìn du học sinh bao gồm cả du học sinh trường tiếng và các thực tập sinh kĩ năng. Riêng trường tôi học có khoảng trên 40 sinh viên đa phần học sau đại học.

 

Tại sao du học sinh Việt Nam không đọc sách của người bản xứ?

 

Có nhiều lý do và các lý do này móc xích vào nhau tạo ra cái vòng luẩn quẩn.

Thứ nhất, đa phần du sinh Việt Nam du học khi đã tốt nghiệp đại học hoặc tốt nghiệp phổ thông. Ở độ tuổi đó, họ đã “thấm nhuần” văn hóa mẹ đẻ rất đậm đặc. Môi trường xã hội, gia đình đã đổ bê tông vào trong giá trị quan và các thói quen của họ. Cơ hội để hình thành các thói quen mới như thói quen đọc sách, thay đổi giá trị quan (ví dụ coi trọng hơn các giá trị tinh thần ngoài các hành vi bản năng như ăn, mặc, ở, đi lại…) sẽ rất khó khăn.

Thử hỏi, có bao nhiêu người trong số du học sinh được mẹ bế trên tay và đọc sách cho hồi nhỏ?
Thử hỏi, có bao nhiêu người trong số họ được sở hữu một tủ sách trong nhà và say mê đọc từ nhỏ?

 

Thử hỏi  có bao nhiêu phần trăm được học ở trong một ngôi trường mà ở đó đọc sách trở thành hoạt động trung tâm của hoạt động giáo dục?

Có lẽ rất nhỏ!

Cho dù rất nhiều người có trí tuệ và phải vượt qua rất nhiều kì thi khó khăn mới được đi du học. Nhiều người giành học bổng danh giá, thậm chí nhiều người có kết quả nghiên cứu tốt. Nói một cách công bằng, xét về chất và trên bình diện rộng, cái học của người Việt vẫn là cái học chắp vá và học gạo. Nó thiếu nền tảng rộng và sâu. Đấy là rào cản khiến người Việt ở nước ngoài không thể tiến xa và dẫn dắt cộng đồng quanh họ.

 

Họ bị chìm lấp trong các cộng đồng khác.

Sự yếu kém ấy suy cho cùng còn là di sản của mấy nghìn năm.

 

“Tất cả chúng ta đều là tù nhân của lịch sử”-Một học giả đã từng viết thế. Nhìn vào lịch sử nước nhà sẽ thấy, văn hóa đọc ở đây rất yếu. Đọc sách trong suốt cả mấy nghìn năm chỉ là thú vui tao nhã của một nhóm nhỏ trong xã hội và hình ảnh đi kèm với nó hoặc là “thanh cao” thái quá hoặc là có cái gì đó pha chút “ngớ ngẩn” và “vô ích”.
Vì đọc ít nên trước tác của chúng ta cũng ít. Sách vở để lại so với thế giới xung quanh cũng phảng phất ngậm ngùi.

Muốn đọc cũng khó

 

Một lý do nữa khiến du sinh Việt Nam không đọc sách viết bởi người bản xứ là rào cản ngôn ngữ. Hồi chưa đi du học tôi cứ nghĩ những ai đang sống ở nước ngoài hay đi du học thì ngoại ngữ rất giỏi. Đi du học rồi tôi mới cảm thấy sốc vì thực tế có nhưng người ở nước ngoài chục năm thậm chí 30 năm vẫn nói không sạch nước cản chưa nói tới việc đọc được vài chữ.

 

Theo quan sát của tôi, số lượng du học sinh Việt Nam chỉ có thể nói được mấy từ “Arigato” (cảm ơn), “Sumimasen” (xin lỗi), “konnichiwa” (xin chào) sau 3 thậm chí 5 năm học ở Nhật không phải là nhỏ. Những người có khả năng hiểu và nói được tiếng Nhật giao tiếp (ví dụ ở mức N3) cũng chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ. Nhiều người nói mà không viết được. Nếu bỏ đi sinh viên trường tiếng, các du học sinh ngành Nhật ngữ hay Đông phương học và các sinh viên bắt buộc học bằng tiếng Nhật thì tỉ lệ các sinh viên Việt Nam vốn đi du học bằng tiếng Anh có thể nói, viết và đọc được tiếng Nhật gần chạm…không (0).

Lý do nào khiến du học sinh Việt Nam không học tiếng Nhật?
Có nhiều lý do.

Đối với sinh viên trường tiếng thì mắc bẫy “vừa học vừa làm” nên khi sang phải tối ngày đi cày, lên lớp thì ngủ gà ngủ gật. Hai năm học trường tiếng vốn tiếng Nhật chỉ có một nhúm.

Đối với sinh viên sang Nhật học bằng tiếng Anh thì phần vì bận nghiên cứu, phần vì nhanh thối chí do thấy khó học vào đầu (trường thường có lớp tiếng Nhật cho các sinh viên này) nên nhanh chóng bỏ không học nữa.

Người Nhật không nói tiếng Anh trong đời sống hàng ngày nhưng nước Nhật vận hành rất khoa học và có tính quy chuẩn cao. Vì thế mà “mù chữ” vẫn sống tốt. Thủ tục có người giúp (bạn bè, nhân viên công vụ), mua bán gần như tự động, tàu xe đi lại đơn giản… Cho nên người ta có thể sống tốt mà không cần phải đọc hay giao tiếp với người bản xứ.

Hơn nữa, người Việt có xu hướng lập làng khắp thế giới. Ở đâu cũng quây lại ở cùng nhau. Khi cần ăn nhậu ới nhau cái là có. Rất vui nhưng tạo ra một cộng đồng đóng kín không giao lưu được với người bản xứ.

 

Kết quả là đọc sách của người bản xứ là một giấc mơ rất xa xôi.

Hậu quả của việc không đọc sách của người bản xứ

 

Các cụ thường dạy “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” và “Trăm nghe không bằng một thấy”.
Nhưng nếu chỉ đi đến nước ngoài học và sống để cảm nhận, học hỏi, tiếp thu qua “đi” và “thấy” thuần túy, người ta sẽ dễ rơi vào sự thiển cận hoặc lệch lạc. Người ta sẽ chỉ nhìn thấy những gì ở bề ngoài hay những gì nhìn thấy bằng hai con mắt. Người ta cũng sẽ chỉ đi được một con đường. Họ sẽ không có mất cơ hội để vừa đi vừa nghĩ về con đường của người khác đã, đang và sẽ đi. Sẽ không biết trước mình ai đã đi và họ để lại những gì.
Tôi đã từng rất ngạc nhiên khi thấy một anh bạn vừa tốt nghiệp thạc sĩ sau 2 năm học ở Nhật nói với tôi rằng “Nước Nhật sạch sẽ thế này là do người ta trả lương cho lao công cao. Ở mình mà cứ trả tiền cao cho lao công là sạch hết” .

 

Đấy cũng là lý do giải thích tại sao số người Việt ra nước ngoài ngày càng lớn, trình độ học vấn của giới trẻ ngày càng cao nhưng người Việt vẫn ôm trong mình một nhận thức mung lung và đầy ngây thơ về thế giới quanh mình.

 

Ra mắt bản dịch “Hướng dẫn học tập lịch sử phương Đông”

June 1, 2018 Leave a comment

Trân trọng giới thiệu với các bạn cuốn sách đầu tiên do tôi dịch và xuất bản trong năm 2018.

Nhớ lại là có lần tôi đã hứa là nếu đội tuyển bóng đá Việt Nam thắng tôi xuất bản 10 cuốn trong năm 2018. Đội bóng thắng thật và giờ tôi mới hoàn thành được 10% mục tiêu trong khi đã mất nửa năm!

1.jpg

Đây là tài liệu hướng dẫn (chương trình) của Bộ giáo dục Nhật dành cho giáo viên dạy phân môn Lịch sử phương Đông ở trường phổ thông Nhật Bản.

Nó là tài liệu vô cùng quan trọng cho biết giáo dục lịch sử và sử học nước Nhật đã chuyển mình thế nào từ chỗ là một công cụ tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan sang thành một bộ môn khoa học để giáo dục nên những người công dân dân chủ của nước Nhật “hòa bình, dân chủ, tôn trọng con người”.

Nên nhớ ngay khi vào Nhật, tướng Mac Acthur đã kí 4 sắc lệnh về giáo dục trong đó có sắc lệnh đình chỉ ngay môn Quốc sử và Địa lý Nhật Bản.

Các môn còn lại được dạy nhưng sgk bị kiểm duyệt. Đoạn nào ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt sẽ bị dùng mực đen bôi đè lên. SGK môn Quốc ngữ bị bôi đen nặng nhất.

Việc tìm hiểu về nền giáo dục Nhật đương đại là cần thiết nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng để hiểu nền giáo dục Nhật Bản đương đại thì phải hiểu được nền móng, quá trình diễn tiến của nó trong lịch sử.

2.jpg

Bộ môn lịch sử trong trường phổ thông Việt Nam đang khủng hoảng nghiêm trọng.

Chương trình mới cho môn lịch sử và sgk mới đang gặp nhiều lúng túng.

Nhiều bạn có nhắc tôi “tại sao tôi chưa thấy anh nói gì về chương trình môn Sử lần này”.

Thì đây! Tôi sẽ nói bằng tài liệu tham khảo này như là một cách đóng góp nhỏ bé cho công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam.

3

Hi vọng bạn đọc xa gần đón nhận.

Sách đang chờ ngày phát hành.
Bạn nào muốn mua sách xin vui lòng liên lạc với tôi qua FB này (https://www.facebook.com/profile.php?id=100011062518050) để đặt trước.

Giá sách 60k

Các bạn cũng có thể đặt mua cả bộ sách của tôi hoặc bộ sách về giáo dục các môn xã hội Nhật bao gồm Hướng dẫn học tập môn Xã hội tập I, Hướng dẫn học tập môn xã hội tập II, Hướng dẫn học tập lịch sử phương Đông.

4

Các bạn sau đó cũng có thể mua tại Trung tâm giới thiệu sách của NXB Đại học sư phạm Hà Nội (136 Xuân Thủy, Hà Nội)

 

p.s. trong cuốn sách này các bạn sẽ thấy người Nhật đánh giá rất cao một học giả của VN và trích dẫn công trình của ông trong phần dạy về lịch sử An Nam. Đố các bạn đoán người đó là ai mà người Nhật đánh giá cao và biết đến sớm như vậy?

VAI TRÒ CỦA ĐỌC SÁCH TRONG KHỞI NGHIỆP VÀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH  

June 1, 2018 Leave a comment

 

 Hội thảo tại hải Phòng

 

Kính thưa các vị lãnh đạo Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Phòng và NXB Phụ nữ

Kính thưa các vị đại biểu tham dự hội thảo.

 

Trước hết xin được cảm ơn NXB Phụ nữ đã mời tôi tham gia sự kiện này.
Lúc đầu khi nhận được lời đề nghị nói chuyện về chủ đề “vai trò của đọc sách đối với khởi nghiệp và giáo dục gia đình”, thú thật tôi cũng có chút lúng túng. Người ta dễ dàng tìm ra mối liên hệ giữa “Đọc sách” và giáo dục gia đình nhưng đọc sách và khởi nghiệp thì sao? Có sợi dây nào giữa chúng?

Sự “đặt hàng” của NXB Phụ nữ đã khiến tôi có hứng thú để lần giở lại những trải nghiệm và gợi lên những suy nghĩ mới. Và rồi, ở một giây phút nào đó khi cầm cuốn sách đọc bên cửa sổ tôi sửng sốt nhận ra một sự thật:  Chẳng phải “đọc sách”, “khởi nghiệp”, “giáo dục gia đình” đang là những từ khóa phổ biến nhất thu hút sự quan tâm của công chúng và đặc biệt là các bạn trẻ gần đây sao?

 

Thú vị hơn nữa là nhìn vào trật tự của nó người ta có thể thấy một vòng quay của đời người: học, lao động sáng tạo, sống hạnh phúc và giáo dục thế hệ tiếp theo để chuẩn bị cho cuộc hành trình vào vũ trụ mênh mông.

 

Trong vòng quay ấy, đọc sách-nhìn dưới góc độ rộng là một hình thức học tập mở và diễn tiến suốt cả đời người có vai trò rất lớn.

SÁCH VÀ KHỞI NGHIỆP

 

Trong khoảng 10, 15 năm trở lại đây, khởi nghiệp trở thành từ khóa rất quen thuộc với giới trẻ và được dùng với tần suất đáng kinh ngạc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu dùng google tìm kiếm từ “khởi nghiệp” trong vòng 0, 65 giây ta sẽ thu được 10.100.000 kết quả. Hãy thử hình dung mức độ phổ biến của nó khi ta biết rằng kết quả tìm kiếm từ “tuổi trẻ”-một từ rất phổ biến trong tiếng Việt và chắc chắn ra đời trước từ “khởi nghiệp rất lâu”, bằng google cho “17.000.000 kết quả.

 

Cho dù chưa khảo cứu kĩ nhưng tôi nghĩ “khởi nghiệp” là một từ được dịch ra từ tiếng Anh (start up) và nó mới được sử dụng trong khoảng trên dưới một thập kỉ gần đây.

Tại sao khởi nghiệp lại trở nên phổ biến và được quan tâm đến như vậy?

 

Sẽ có nhiều lý do được đưa ra tuy nhiên không thể không kể ra đây vai trò ngày càng lớn của kinh tế tư nhân và địa vị pháp lý của nó. Đóng góp lớn lao của kinh tế tư nhân đối với đất nước đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức của người dân về kinh tế tư nhân, về những người chủ doanh nghiệp tư nhân.

 

Trở thành một doanh nhân có công ty riêng không còn nghi ngờ gì nữa đã trở thành mơ ước của không ít các bạn trẻ.

 

Một lý do khác nữa là nhu cầu khởi nghiệp-tìm kiếm con đường và cơ hội cho chính mình của giới trẻ để làm chủ cuộc đời và giúp đỡ người khác ngày càng lớn.

 

Đã có một thời, tâm lý lớn lên học xong để trở thành người nhà nước, trở thành những người ăn lương ngân sách chiếm địa vị thống trị. Nó tạo thành một nếp nghĩ héo mòn. Giới trẻ cứ thế tuần tự tiến bước như đoàn tàu được sắp đặt sẵn trên đường ray, hết một đoạn ray nào đó thì đến ga. Nhưng trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhận thức này đã lung lay và thay đổi. Yếu tố tác động lớn đến tâm lý này là tình trạng thất nghiệp của các cử nhân .

Theo kết quả được công bố chính thức năm 2017, cả nước có 200.000 cử nhân thất nghiệp[1]. Đấy là một con số giật mình và đáng suy ngẫm.

 

Không một bộ máy nhà nước nào có thể có chỗ cho tất cả những người có nhu cầu trở thành công chức viên chức.
Không có một nền  kinh tế  nào mạnh đến độ có thể tạo ra việc làm sẵn có cho tất cả mọi thanh niên. Tự mình tạo ra việc làm cho chính mình. Tự mình cứu mình là thách thức lớn lao đồng thời cũng là ước mơ đầy hấp dẫn của tuổi trẻ trong thời đại hiện nay.

 

Nhưng đấy cũng không phải là con đường đơn giản và lãng mạn. Cho dù không phải là một chủ doanh nghiệp, nhưng từ trải nghiệm kiếm tìm con dường đi riêng của bản thân mình và những gì đã trải nghiệm ở Nhật Bản cũng như Việt Nam để mưu sinh, tôi cảm nhận rất rõ điều đó.

 

Để thành công trong khởi nghiệp, đặc biệt là thành công với mô hình kinh doanh bền vững, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức phổ quát và hợp pháp trong thời địa toàn cầu hóa, bản lĩnh văn hóa và trí tuệ sẽ trở thành thứ không thể thiếu cho người khởi nghiệp.

Có rất nhiều người đã từng hỏi tôi rất chân thật rằng: “Liệu để trở nên giàu có có nhất thiết phải học không?”, “Chẳng phải có nhiều cách để trở nên giàu có hay thành công hay sao?”

 

Để chứng minh cho khẳng định của mình, họ dẫn ra một loạt các tấm gương “danh nhân thành đạt” và các “đại gia” giàu có khác.

Đấy là những nhân vật có thật và tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì về số tài sản họ đang có.

 

Nhưng nếu các bạn bình tĩnh nhìn vào một không gian rộng lớn hơn như khu vực và thế giới và nhìn ở một phạm vi thời gian dài hơn là lịch sử và tương lai (thay vì chỉ nhìn vào hiện tại, chúng ta sẽ thấy tỉ lệ những người giàu có nhờ vào trí tuệ và học thức lớn hơn nhiều tỉ lệ các doanh nhân giàu có nhờ may mắn, nhờ quan hệ thân hữu hay nhờ các mánh khóe làm ăn phản văn minh.

 

Ở một phạm vi hẹp người ta có thể kể ra được ông A, ông B, bà C có tài sản khổng lồ mà không cần phải học hay đọc sách thậm chí họ còn tự hào là “không cần đọc sách” nhưng ở trên phạm vi thế giới, bạn sẽ thấy những doanh nhân giàu có, thành đạt, nổi tiếng có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới cũng là những người ham mê đọc sách và có trình độ hiểu biết sâu rộng. Ngay cả tôi một người không phải doanh nhân, cũng ít quan tâm đến công nghệ, cũng có thể kể ra những tỉ phú thành công ham mê đọc sách và có được thành công, giàu có nhờ trí tuệ như Bill Gates, Elon Musk, Matsushita Konosuke…

 

Ngay cả nhìn ở hiện tại, thành công của một doanh nhân không chỉ là kiếm được bao nhiêu tiền mà còn ở chỗ họ tạo ra giá trị như thế nào cho cộng đồng mà họ là thành viên, họ được cộng đồng đó đánh giá ra sao. Dưới góc độ đó thì đương nhiên những doanh nhân có nền tảng văn hóa tốt, ham mê các giá trị văn hóa như đọc sách sẽ chiếm lợi thế.

Nhìn về tương lai, lợi thế này càng rõ. Kiếm tiền đã khó nhưng việc quản trị, làm cho đồng tiền sinh sôi và …bất tử rõ ràng còn khó hơn gấp nhiều lần. Trong sử sách và cả trong thực tế không thiếu những ví dụ sinh động về việc tài sản mà người chủ đã tích lũy gần như suốt đời đã bị hủy hoại trong nháy mắt do sai lầm của chính họ hoặc sự phá hoại của con cháu họ. Sử dụng, quản lý tài sản lớn luôn cần đến một bản lĩnh văn hóa lớn.

 

Nếu bản lĩnh không đủ người ta rất dễ trở thành nô lệ của đồng tiền thay vì là ông chủ của nó. Tệ hơn, khi nhân cách, bản lĩnh văn hóa yếu hơn sức hấp dẫn của tiền, người ta sẽ đi vào con đường tha hóa và phá vỡ hạnh phúc của chính bản thân cũng như của người khác. Lợi ích của họ khi đó trở thành thứ đối lập với lợi ích của cộng đồng.

 

Nếu nhìn nhận dưới góc độ này ta sẽ thấy rất dễ hiểu khi các ông chủ giàu có trên thế giới dùng tiền kiếm được đầu tư vào các lĩnh vực văn hóa hoặc tài trợ cho văn học, nghệ thuật, khoa học.

 

Chính vì vậy, để khởi nghiệp cần phải học và khi khởi nghiệp, thậm chí ngay cả khi khởi nghiệp đã thành công vẫn cần tiếp tục học không ngừng. Học ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó .

 

Nó phải được diễn ra trong mọi không gian và thời gian thay vì hiểu là việc đến trường để học các môn học được định sẵn theo chương trình và chờ nhận bằng khi tốt nghiệp. Cho dù nhiều lĩnh vực cần đến các chứng chỉ nhất định mới được phép hành nghề, sản xuất, kinh doanh vẫn là một con đường rộng mở cho thực học và tự học.

 

Đọc sách là một cách tự học. Không phải ai cũng có điều kiện để theo đuổi việc học ở trường trong một thời gian dài. Nhiều doanh nhân thành đạt cũng đã từng ở trong hoành cảnh như vậy nhưng nhờ tự học, nhờ chăm đọc họ đã rất thành công và sau đó họ lại quay trở lại tiếp tục phát triển văn hóa đọc như là một sự tri ân, tạo ra một sự tiếp nối.

 

Họ đang nỗ lực để lưu lại và phát triển những gen di truyền xã hội tốt.
Xin kể ra đây hai ví dụ.

Ví dụ thứ nhất, tôi biết đến nhờ đọc sách. Đấy là ông Matsushita Konosuke, người sáng lập công ty Matsushita và sau này thường được biết tới như là tập đoàn Panasonic nổi tiếng của Nhật Bản. Ông là một tấm gương donah nhân đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn khi không được theo đuổi việc học ở trường để tự học và tự học có hiệu quả.

 

Nếu nhìn dưới con mắt thông thường, Matsushita Konossuke sinh ra trong một hoàn cảnh không mấy thuận lợi. Bố mẹ ông là nông dân có tới 7 người con. Ông chỉ được học thết bậc tiểu học 4 năm, 9 tuổi ông đã phải di học việc và lao động để kiếm sống.

 

Ông đã làm đủ nghề từ khi còn nhỏ như bán than, phụ bán hàng cho cửa hàng xe đạp….Nhưng rồi bằng ý chí hơn người, ông vừa làm vừa mày mò tự học và trở thành ông chủ của một trong những tập đoàn lớn của Nhật, sở hữu rất nhiều bằng sáng chế có giá trị.

 

Ông cũng là người sáng lập trường tư thục kinh tế chính trị Matsushita, viện nghiên cứu PHP (bao gồm cả NXB PHP). Bản thân ông là người chăm đọc sách, mê đọc sách và cũng là tác giả của rất nhiều cuốn sách. Thống kê sơ bộ trên wikipedia cho biết ông là tác giả của gần 30 cuốn sách.

 

Người Nhật đánh giá cao và kính trọng ông không phải chỉ vì ông là một doanh nhân có trong tay tài sản lớn.
Chồng cô giáo dạy tôi tiếng Nhật (cô dạy như là giáo viên tình nguyện miễn phí trong suốt gần 5 năm), là phó chủ tịch hiệp hội chất bán dẫn Nhật Bản đã từng có một thời gian dài làm việc trong công ty Panasonic như một chuyên gia kĩ thuật đã dành cho ông chủ Matsushita những lời rất tốt đẹp khi có một lần tôi hỏi ông về chuyện của công ty (khi đó ông đã nghỉ hưu và trở thành người lãnh đạo hội chất bán dẫn)

 

Chúng ta có thể không có tham vọng và cũng có thể không có khả năng trở thành một người như Matsushita Konosuke nhưng chúng ta có thể cần mẫn tự học để tiến bộ và cải thiện chính cuộc sống của chính mình. Đọc sách để tự học là một cách giúp chúng ta có được sự tự tin và dũng cảm đương đầu với các khó khăn chắc chắn sẽ vấp phải trong kiếp người hữu hạn.

 

Câu chuyện tiếp theo là một câu chuyện có thật và cũng có liên quan đến chính bản thân tôi.

 

Sau khi nhận học bổng của chính phủ Nhật Bản đến Nhật du học trong tư cách là thực tập sinh trong 18 tháng, tôi xin thầy hướng dẫn cho thi cao học để có thể học tiếp. Tuy nhiên thầy cương quyết từ chối với lý do “năng lực tiếng Nhật chưa đủ”. Tôi quyết định ở lại học tự túc một năm để nâng cao trình độ tiếng Nhật.

 

Một năm ở lại học tiếng phải tự lo chi phí ăn ở và học phí, tôi đã tiêu sạch số tiền tiết kiệm được vì vậy khi thi đỗ vào cao học tôi gặp khó khăn. Số tiền đi làm thêm kiếm được rất ít ỏi và khi đi làm vào ban đêm, việc tập trung học tập sẽ bị ảnh hưởng. Khi đó nhà trường có giới thiệu tôi nộp đơn ứng tuyển học bổng của tổ chức học bổng quốc tế Satoyo. Và thật may tôi đã trúng tuyển. Thế là tôi không cần phải đi làm thêm vì hàng tháng tổ chức này đã cấp một khoản tiền tương đối hào phóng (khoảng 30-35 triệu đồng) để tôi nộp học phí và chi dùng. Điều kiện đưa ra chỉ là “học tốt, tuân thủ pháp luật Nhật và có cống hiến xã hội”.

 

Cống hiến xã hội ở đây không giới hạn là ở Nhật mà là ở bất kì nơi đâu tôi sống. Người sáng lập tổ chức học bổng này ông Sato Yo cũng là một ví dụ rất sống động về tự học và khởi nghiệp.

 

19 tuổi ông cùng cha mình lập công ty chế tạo máy gia công tre nứa (1940). Sau chiến tranh thế giới thứ hai nhu cầu nhập khẩu máy móc gia công tre nứa ở các nước Đông Nam Á dâng cao và ông trong vai trò chuyên gia kĩ thuật đã đến làm việc tại các nước Đông nam á như Philipin, Myanmar, Thái Lan… Ở đây ông đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, hào phóng của người Đông Nam Á .

 

Sau đó, công ty phát triển lớn mạnh và trở thành doanh nghiệp sản xuất, phát triển phần mềm tạo mã vạch (bar code) nổi tiếng ở Nhật, có sản phẩm được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới. Tính đến thời điểm năm 2015, sau 75 năm hoạt động công ty có trên 4000 nhân viên có chi nhánh trên 20 quốc gia trên thế giới.

 

Để tri ân những người đã giúp đỡ ông trong giai đoạn gian khó, năm 1996 ông lập ra Quỹ học bổng quốc tế Sato (về sau đổi tên là Quỹ Satoyo) cấp học bổng cho du học sinh đến từ 18 nước ở Tây Á và Đông Nam Á.

 

Ở thời điểm tôi nhận học bổng (năm 2009) tổ chức này đã cấp học bổng cho 400 sinh viên nước ngoài trong đó có nhiều sinh viên là người Việt Nam.

 

Ông đã khởi nghiệp từ khi rất trẻ và tự học vươn lên không ngừng để có sự nghiệp lớn. Câu chuyện về cuộc đời của ông và những gì ông làm để giúp đỡ, khuyến khích các sinh viên châu Á khiên chúng tôi xúc động sâu sắc.

 

Và như vậy, qua hai ví dụ trên chúng ta thấy, sự phát triển bền vững của công ty sẽ phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh văn hóa, tầm nhìn, trí tuệ của người sáng lập cũng như triết lý mà công ty theo đuổi. Sự sinh sôi, sức sống lâu bền của tài sản và ý nghĩa của nó sẽ gia tăng hay suy tàn tùy thuộc vào nền tảng văn hóa, trí tuệ mà ông chủ có.

 

Khởi nghiệp và đọc sách-tự học bởi thế không phải là việc tách rời hay mâu thuẫn mà bản thân chúng là hai việc gắn bó với nhau một cách mật thiết đầy tự nhiên.

 

SÁCH VÀ GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

 

Thế giới đang biến đổi không ngừng với gia tốc ngày một nhanh.
Cho dù Việt Nam là quốc gia đang phát triển, xã hội mà chúng ta đang sống đã thay đổi rất nhiều so với xã hội của các thế hệ trước đó.

 

Lối sống và giá trị quan của các cá nhân ngày càng trở nên đa dạng và tương đối hóa. Sự lựa chọn đời sống cá nhân là sự lựa chọn cần tôn trọng.
Cho dẫu vậy, gia đình sẽ vẫn là đơn vị nền tảng của xã hội và là nơi con người cảm nhận hạnh phúc thông qua cuộc sống hàng ngày.

 

Phụ nữ ngày một độc lập hơn, mạnh mẽ hơn, thành công hơn nhưng có lẽ phụ nữ cũng sẽ vẫn là người có vai trò rất lớn trong tạo dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Cùng với sự khủng hoảng của giáo dục trường học, vai trò của giáo dục gia đình ngày càng trở nên quan trọng. Sau một thời gian mải mê và kì vọng quá mức vào giáo dục trường học với tư duy “trăm sự nhờ thầy cô” giờ đây, người dân đang từng bước nhìn nhận lại vai trò của gia đình đối với giáo dục con cái.

 

Nhìn ở bình diện vĩ mô, một xã hội có trở nên tốt đẹp hay không xét đến cùng sẽ phải nhờ cậy vào sự tốt đẹp ở từng con người cụ thể. Ở Nhật gần đây, cuốn sách “Phẩm cách quốc gia” của giáo sư Fujiwara Masahiko đã làm dấy lên sự tranh luận rộng rãi. “Phẩm cách” đã trở thành một từ khóa quan trọng và trở thành một xu hướng cho hàng loạt các ấn phẩm bán chạy khác ra đời như “Phẩm cách phụ nữ”, “Phẩm cách cha mẹ”… Xu hướng đó dựa trên nền tảng tư duy rằng giáo dục gia đình có vai trò lớn đối với sự trưởng thành của cá nhân và sự văn minh của xã hội. Sự chuyển biến của từng phụ huynh, từng gia đình sẽ tạo ra sự chuyển biến của toàn xã hội.

 

Ở Việt Nam, sự bùng nổ của các sách nuôi dạy con gần đây là tín hiệu cho thấy điều đó.

 

Nhưng nuôi dạy con chưa bao giờ là công việc dễ dàng. Bà Kubota Kayoko, một người tốt nghiệp khoa Y đại học Tokyo, một tác giả và cũng là một bà mẹ thành công (2 con trai bà là bác sĩ rất thành công trong sự nghiệp) trong cuốn sách “Phương pháp nuôi day con trai” từng viết “Không thể nuôi dạy con chỉ bằng khoa học”. Mỗi đứa trẻ là một thế giới, thực thể riêng phong phú, đa dạng và luôn biến đổi. Chính vì thế mà ngay cả các bác sĩ và các chuyên gia tâm lý cũng gặp khó khăn trong chính việc nuôi dạy con mình.

Có nhiều lý do, ngoài lý do mỗi đứa trẻ là riêng biệt còn phải kể tới một thực tế trên thế giới hầu như không có trường học nào dạy người ta làm cha mẹ một cách chuyên nghiệp. Hầu hết cha mẹ trên thế giới ngày đều phải TỰ HỌC ĐỂ TRỞ THÀNH CHA MẸ TỐT.

 

Tự học có nhiều cách: học qua phương tiện truyền thông, học qua bè bạn, học từ các thế hệ trước, học qua thực tiễn và đọc sách.

 

Trong bối cảnh các gia đình truyền thống đang chuyển dần thành gia đình hạt nhân và xã hội địa phương đang dần mất đi vai trò trong việc giáo dục trẻ, việc cha mẹ tự học để hoàn thiện bản thân và nỗ lực trong việc nuôi dạy trẻ sẽ càng trở nên cấp thiết.

 

Thuận lợi của cha mẹ trẻ hiện nay là phương tiện để học tập ngày càng phong phú và dễ tiếp cận. Số lượng sách xuất bản ngày càng lớn, chủ đề ngày càng phong phú. Tuy nhiên nó cũng là cái khó cho phụ huynh khi bị lạc trong rừng thông tin. Khi đi trong rừng thông tin đó nhiều phụ huynh sẽ có cảm giác lạc lối và hoang mang.
Như trước đó đã nói, việc nuôi dạy con không phải là việc dễ dàng cũng không phải là việc giản đơn. Kinh nghiệm của gia đình này chưa chắc đã đắc dụng với gia đình khác, biện pháp này tốt với đứa trẻ này nhưng chưa chắc đã thích hợp với đứa trẻ khác.

Rất nhiều người đã than phiền rằng tại sao tôi đọc sách về giáo dục gia đình nhiều như vậy mà chưa có kết quả.

Ở đây, cần bình tĩnh dể thấy rằng giáo dục là công việc cần đến thời gian mới có thể kiểm nghiệm được kết quả. Ngay cả đối với giáo dục trường học vốn được thẩm định, đánh giá kết quả bằng điểm số thường xuyên người ta cũng không chắc đánh giá đúng được kết quả trong một thời gian ngắn. Một người học trò có thành tích tốt, thi đỗ các trường nổi tiếng rất có thể khi trưởng thành, ra ngoài xã hội lại là một con người tồi hoặc một công dân tồi. Những trường hợp ngược lại cũng không thiếu.

 

Nếu coi mục tiêu giáo dục là con người, thì không có cách nào khác cha mẹ vừa phải đồng hành với con, yêu thương dõi theo con và đợi cho đến ngày con trưởng thành.

Sự tác động thông qua giáo dục tới con là sự tác động từ từ đem lại kết quả từ bên trong chứ không phải là sự tác động dồn dập để có kết quả ngay.

 

Nôn nóng sẽ dẫn tới kì vọng hoặc thất vọng quá mức.

Đặc biệt, sự thay đổi tích cực, sự trưởng thành ở con chỉ có thể đến thông qua sự biến chuyển và trưởng thành từ chính phụ huynh. Cha mẹ là người thầy đầu tiên của con, là tấm gương chân thật và gần gũi nhất đối với con.

 

Là người lớn mà con tiếp xúc thường xuyên và da diện nhất.

 

Vì thế, muốn con thay đổi , bố mẹ phải thay đổi. Và đây mới chính là điều khó nhất đối với những ai làm cha làm mẹ.

 

Tôi biết có nhiều ông bố có thói quen hút thuốc và dù yêu con, lo lắng cho sức khỏe của con họ cũng vẫn không (chưa) thể từ bỏ được việc hút thuốc. Nhiều ông chồng có thói quen xem tivi hay đi uống bia hơi vỉa hè sau giờ làm thay vì giúp vợ  làm việc nhà hay chơi với con.

 

Thay đổi những thói quen đã hình thành trong nhiều năm thậm chí là hình thành từ nhỏ rât khó nhưng khó hơn nữa là thay đổi giá trị quan.

Muốn có giá trị quan tốt đẹp ở con, phụ huynh phải có được giá trị quan tốt đẹp đó hoặc ít nhất cũng phải chân thành thể hiện được thái độ cố gắng để có được giá trị quan đó.
Muốn con yêu thương người khác, cha mẹ phải cố gắng là người biết yêu thương.
Muốn con trung thực, cha mẹ phải nỗ lực trở thành người trung thực hay ít nhất cũng tán thành giá trị trung thực…

 

Đấy là chân lý cực kì giản đơn nhưng cũng là thứ cực kì khó khăn khi hiện thực hóa  nó  trong nhận thức và hành động.

Để hiện thực hóa nó trong tâm tưởng và hành động, cha mẹ sẽ cần đến sức mạnh của nội tâm. Sức mạnh ấy có thể đến từ những trải nghiệm hàng ngày. Nhưng thế thôi chưa đủ, những trải nghiệm đó chỉ có thể được cộng hưởng và xâu chuỗi lại tạo ra sức mạnh nội tâm khi nó được kích thích bằng việc đọc sách và suy tưởng.
Có sức mạnh của nội tâm con người sẽ không sợ hãi trước các thách thức từ thực tế.
Vai trò của đọc sách đối với giáo dục gia đình là chỗ ấy.

 

Tôi rất mong, ở mỗi gia đình trên đất nước Việt Nam  này sẽ có một tủ sách.

 

Sự hiện diện của tủ sách trong cuộc sống hàng ngày sẽ nhắc ta suy ngẫm về sức mạnh của nội tâm và những sự đổi thay tốt đẹp đến từ sức mạnh ấy.

 

Hải Phòng ,31. 5. 2018.

 Nguyễn Quốc Vương

 

 

 

 

[1] http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/them-200-000-cu-nhan-that-nghiep-trong-nam-2017-356094.html

%d bloggers like this: