Archive

Archive for January, 2019

Kỳ cuối: Không thể né tránh vấn đề cốt tử

January 10, 2019 Leave a comment
.
Triết lý giáo dục Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam

Kỳ cuối: Không thể né tránh vấn đề cốt tử

10:09 | 20/11/2018
Nhìn từ Nhật Bản, có lẽ chúng ta cũng sẽ nhận ra nhu cầu cần tranh luận để tiến tới đồng thuận và luật hóa triết lý giáo dục. Giáo dục sẽ không thể thoát ra khỏi mớ bòng bong như hiện tại khi các cơ quan có trách nhiệm né tránh vấn đề cốt tử và đầu tiên của giáo dục là “triết lý giáo dục”.

>> Kỳ 1: Xã hội tương lai và con người mơ ước

Triết lý giáo dục quy định trong Luật Giáo dục cơ bản hiện hành (Luật này ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006) đã trở thành căn cứ để các tổ chức, trường học ở Nhật Bản xây dựng triết lý giáo dục riêng của mình. Những triết lý đó rất phong phú, cụ thể, nhưng không được phép mâu thuẫn với triết lý giáo dục đã được luật hóa. Trong các bộ luật khác liên quan đến giáo dục, những điều khoản đầu tiên đều nhắc đến hoặc tóm tắt lại triết lý này. Trong văn bản có tên “Hướng dẫn học tập” – văn bản chỉ đạo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản, các điều luật liên quan đến triết lý giáo dục của Luật Giáo dục cơ bản, Luật Giáo dục trường học được trích dẫn và đưa vào phần đầu văn bản như là một sự nhắc nhở đối với tất cả những người làm giáo dục. Chính vì vậy mà trong 70 năm qua, ở nước Nhật, giáo dục cũng luôn là tâm điểm tranh luận nhưng người ta không đặt ra vấn đề thay đổi triết lý giáo dục đã được luât hóa này. Có lẽ tính khái quát và hướng đến các giá trị phổ quát, vĩnh hằng của nó đã thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của người Nhật về giáo dục.


Nguồn: ITN

Ở Việt Nam, câu chuyện về triết lý giáo dục đã từng được xới lên từ những năm 2005 – 2006, nhưng trên thực tế, vẫn thiếu những công trình chuyên khảo, chuyên luận và những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc trong không gian thích hợp về vấn đề này. Cải cách giáo dục vẫn được tiến hành; chương trình, sách giáo khoa vẫn được thay đổi, trong khi tranh luận về triết lý giáo dục chưa ngã ngũ, bản thân triết lý giáo dục không được luật hóa là một thực tế tiềm ẩn nhiều rủi ro bất lợi cho cải cách. Vậy chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề như thế nào?

Tôi cho rằng triết lý giáo dục, cho dù có được phát biểu tường minh bằng thuật ngữ trong các bộ luật về giáo dục hay không đều có ảnh hưởng, tác động to lớn đến toàn bộ nền giáo dục và cả sự phát triển của xã hội. Giáo dục là hoạt động có tính mục đích, tư tưởng rất cao, nên ngay cả khi con người chưa ý thức được sự cần thiết phải minh định “triết lý giáo dục” bằng văn bản thì trên thực tế trong quá trình phác thảo nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục và thực thi các hành vi, hoạt động giáo dục trong thực tiễn, cho dù đơn lẻ hay hệ thống, con người trên khắp thế giới đã thể hiện triết lý giáo dục và bị dẫn dắt bởi triết lý ấy. Triết lý đó chi phối toàn bộ những người làm giáo dục và các hoạt động giáo dục.

Nhìn từ Nhật Bản, có lẽ chúng ta cũng sẽ nhận ra nhu cầu cần tranh luận để tiến tới đồng thuận và luật hóa triết lý giáo dục. Giáo dục sẽ không thể thoát ra khỏi mớ bòng bong như hiện tại khi các cơ quan có trách nhiệm né tránh vấn đề cốt tử và đầu tiên của giáo dục là “triết lý giáo dục”. Nếu sai lầm hay lúng túng ngay từ khi định ra đích đến ban đầu, cho dù chúng ta nỗ lực đến đâu cũng sẽ không có kết quả hoặc sẽ rơi vào trạng thái hoang mang. Triết lý giáo dục sẽ là thứ đầu tiên và quan trọng nhất mang lại sự hấp dẫn của nền giáo dục và năng lượng cho toàn nhân dân, thu hút toàn dân vào sự nghiệp giáo dục.

Sự vắng mặt của thuật ngữ “triết lý giáo dục” trong các bộ luật về giáo dục, các văn bản quan trọng như “Chương trình phổ thông tổng thể” song hành với những lời biện giải rằng chúng ta đã có triết lý giáo dục là một sự mâu thuẫn không có lợi cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam hiện đại.

Cuối cùng xin được dẫn ra đây phần giải thích thuật ngữ “triết lý giáo dục” của từ điển Britanica online (tiếng Nhật) để chúng ta tham khảo cách hiểu phổ thông nhất về triết lý giáo dục của người Nhật:

Triết lý giáo dục là hình dáng lý tưởng tận cùng cần đạt tới của giáo dục. Thứ thể hiện phương hướng cần phải hướng tới cái đó (triết lý giáo dục) là mục đích giáo dục và thứ thể hiện cụ thể hơn nữa là mục tiêu giáo dục. Triết lý giáo dục của Nhật Bản trước Chiến tranh thế giới thứ Hai được thể hiện bằng Sắc chỉ giáo dục. Tương phản với nó, Luật Giáo dục cơ bản (cũ) được thực thi năm 1947 là văn bản thể hiện triết lý giáo dục và các nguyên tắc cơ bản, đó là giáo dục biến việc thực hiện triết lý của Hiến pháp Nhật Bản thành có thể, nghĩa là nền giáo dục hướng tới việc giáo dục nên những con người biết tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, truy tìm chân lý và hòa bình. Trong Luật Giáo dục cơ bản (mới) năm 2006 nó có thêm những điểm mới với tư cách là giáo dục nhằm thực hiện lý tưởng làm phát triển hơn nữa quốc gia văn hóa và dân chủ được xây dựng nên bởi những nỗ lực không mệt mỏi, cống hiến cho sự nâng cao phúc lợi của nhân loại và hòa bình thế giới, giáo dục nên những con người tôn trọng tinh thần công cộng, có tính sáng tạo và tính người phong phú, hướng tới kế thừa truyền thống và sáng tạo ra văn hóa mới.

Nguyễn Quốc Vương
Advertisements

Kỳ 1: Xã hội tương lai và con người mơ ước

January 10, 2019 Leave a comment
Triết lý giáo dục Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam

Kỳ 1: Xã hội tương lai và con người mơ ước

07:37 | 19/11/2018
Nhật Bản là một trường hợp khá đặc biệt khi họ thể hiện tường minh thuật ngữ “Triết lý giáo dục” trong các bộ luật quan trọng về giáo dục, trong đó quan trọng nhất là Luật Giáo dục cơ bản. Triết lý đó bao gồm 2 thành tố: “Hình ảnh xã hội tương lai” và “hình ảnh con người mơ ước”.

>> Kỳ cuối: Không thể né tránh vấn đề cốt tử 

Vấn đề triết lý giáo dục đang được hâm nóng trở lại trên các diễn đàn lớn. Đây là điều tất yếu vì trong quá trình tiến hành cải cách giáo dục “căn bản và toàn diện”, Việt Nam sẽ cần phải sửa các bộ luật liên quan đến giáo dục và các bộ luật này phải thể hiện được đường hướng, đích đến cuối cùng của giáo dục. Kinh nghiệm từ Nhật Bản có thể là gợi ý tốt cho Việt Nam.

Luật Giáo dục cơ bản được Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006, sau Lời nói đầu là “Chương I. Mục đích và triết lý giáo dục”. Mục đích giáo dục được bộ luật xác định là: Giáo dục phải nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội – quốc gia hòa bình và dân chủ(Điều 1). Trên cơ sở mục đích lớn lao này, bộ luật cũng xác định “Mục tiêu của giáo dục” (Điều 2) với 5 mục tiêu cụ thể. Xin trích nguyên văn:

Điều 2. Giáo dục để thực hiện mục đích nói trên phải tôn trọng tự do học thuật đồng thời phải đạt cho được những mục tiêu sau:

a. Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ hướng tới chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh.

b. Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động.

c. Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ động dựa trên tinh thần công cộng.

d. Có thái độ tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường.

e. Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương, đất nước chúng ta, nơi đã nuôi dưỡng những giá trị đó đồng thời giáo dục thái độ tôn trọn nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế”.

Sau “Mục tiêu giáo dục” là các điều luật về “Triết lý học tập suốt đời” (Điều 3), “Bình đẳng cơ hội giáo dục” (Điều 4). Các bộ luật giáo dục khác như “Luật Giáo dục trường học” sẽ nhắc lại các nội dung này một cách cụ thể hơn trong phạm vi trường học.

Như vậy, ta có thể thấy, triết lý giáo dục của Nhật Bản được thể hiện rõ trong tên chương và nằm chủ yếu ở “Mục đích giáo dục” (mục tiêu cao cả, tối thượng của giáo dục, thứ giáo dục cuối cùng phải đi đến, đạt được có tính chất giống như là lý tưởng, hoàn hảo) và “mục tiêu giáo dục” (những mục tiêu cụ thể, đích đến cụ thể cần phải đạt được trên con đường tiến tới mục đích). Triết lý giáo dục này sẽ gồm hai bộ phận hay hai thành tố. Thứ nhất là “hình ảnh xã hội tương lai” hay “hình ảnh xã hội mơ ước”. Đây là xã hội mà nền giáo dục muốn tạo ra, hướng tới để xây dựng và bảo vệ nó. Ở đây, nó được xác định trong bộ luật là “xã hội – quốc gia hòa bình và dân chủ”. Đây là những đặc trưng cơ bản của xã hội được định hình trong Hiến pháp 1946 của Nhật (bản Hiến pháp có ba trụ cột chủ yếu: Hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền).

Thứ hai là “hình ảnh con người mơ ước”. Đó là những con người có khả năng tạo ra xã hội mới, những người mà nền giáo dục mới có nhiệm vụ tạo ra và cũng là người sẽ bảo vệ xã hội mơ ước ở trên. Đặc trưng của con người mơ ước này được “vẽ” ra cơ bản ở “Mục đích”. Đó là “quốc dân” (công dân) khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội -quốc gia hòa bình và dân chủ”.

Những đặc trưng này tiếp tục được phác họa rõ hơn, cụ thể hơn ở phần “Mục tiêu” (Điều 2) nói trên về tri thức, thái độ, đạo đức, tình cảm, năng lực cá nhân, năng lực nghề nghiệp, trách nhiệm…

Đây cho dù là con người mơ ước, con người lý tưởng, con người cần được tạo ra trong tương lai nhưng không phải là con người “chân không” mà là con người cụ thể gắn liền với một xã hội được định hướng cụ thể.

Nước Nhật chính thức bắt đầu cải cách giáo dục ở quy mô quốc gia theo mô hình của phương Tây để cận đại hóa đất nước một cách có hệ thống từ năm 1872 khi ban hành “Học chế”. Đây là văn bản quy định hệ thống trường học, nội dung giáo dục và cách thức tiến hành giáo dục cận đại theo mô hình phương Tây của Nhật Bản.

Từ 1872 – 1947 (thời điểm ban hành Luật Giáo dục cơ bản), hình ảnh “xã hội mơ ước” và con người mơ ước” của Nhật Bản đã thay đổi liên tục. Hình ảnh xã hội mơ ước trong 10 năm đầu thời Minh Trị là xã hội “khai sáng, thực nghiệp, phú quốc, cường binh”. Đấy là xã hội sẽ được dựng xây bởi các “quốc dân” có ý thức sâu sắc về sự độc lập của bản thân và quốc gia, có tinh thần khai sáng, học hỏi khoa học kỹ thuật của phương Tây để kiến tạo nước Nhật hùng mạnh, độc lập. Từ 1889 trở đi, xã hội mơ ước được phác họa là “Đại đế quốc Nhật Bản” là “hoàng quốc” mạnh về quân sự, giàu về kinh tế và có vị trí bá chủ ở Viễn đông. Con người được kỳ vọng từ nền giáo dục kiến tạo nên xã hội ấy là các “thần dân trung quân ái quốc”.

Như vậy, có thể thấy đã có một sự chuyển dịch mạnh mẽ và dứt khoát từ hình ảnh “đế quốc” sang “quốc gia hòa bình và dân chủ”, từ “thần dân trung quân ái quốc” sang “người công dân dân chủ” (người làm chủ) trong triết lý giáo dục của Nhật Bản.

Nguyễn Quốc Vương

Những “điểm giao” bất ngờ giữa xe buýt và giáo dục

January 10, 2019 Leave a comment

Những kẻ khôn vặt khác cũng đừng dại dột nghĩ rằng khi xe buýt đông, mình chen tốt kiếm được một chỗ ngồi là yên tâm ngủ chờ đến bến

Sáng nay, tôi đã có ba tiếng đứng trên xe buýt. Trời mưa khiến những bệ rạc, lộn xộn, đông đúc của phố xá tăng lên gấp đôi. Những dòng người như thác và hỗn độn. Biển xe, biển người chen nhau trong những tấm áo đi mưa, những chiếc ô, những chiếc xe đủ màu sắc, hình dáng. Nhưng chúng có điểm chung là đều “lầm than” – hiểu theo nghĩa đen của từ này nghĩa là lấm lem bùn đất.

Xe buýt quá đông, chen nhau ngộp thở, tôi không có không gian để đọc sách như thường lệ nên đành suy nghĩ giết thời gian. Tự nhiên tôi liên tưởng hình ảnh chiếc xe buýt và giáo dục.

“Theo bạn xe buýt và giáo dục ta có mối quan hệ gì?”, tôi viết chơi như vậy trên Facebook để đánh dấu ý nghĩ vụt qua trong đầu mình.

Lạng lách, đánh võng và rối chằng chịt”.

“Cũ nát, lạc hậu, không đi xa được” “ý thức.

“Đều là phương tiện của nhà nước, mang lại sự tiếp cận (một cách bình đẳng đối với một số hệ thống giáo dục) đến cho mọi tầng lớp xã hội”.

“Nhồi nhét, thu chi chưa rõ ràng, trình độ không đồng đều, mua bằng cấp”.

“Chung mục đích đưa đón người đi học đến khi nhận được bằng cấp”…

“Nhồi nhét” ….

Quả thật, trí tưởng tượng và ngôn ngữ của người đọc rất phong phú. Theo mạch tư duy đó sẽ tìm thấy vô vàn điểm giao nhau giữa hai thực thể xa lạ.

Nhưng có một ý chưa thấy ai nói tới. Đấy là “chủ nghĩa thành tích” và bệ đỡ phía sau nó.

Chiếc xe buýt ban đầu chở tôi sau hơn một tiếng đứng im tại chỗ, đã thoát ra và đi được đến Cầu Giấy. Tuy nhiên tại đây, lái xe thông báo với phụ xe là “âm giờ” và ra lệnh cho phụ xe thông báo cho khách xuống để “quay đầu”. Tất cả khách bị đuổi xuống và để hạn chế sự bất mãn của khách, phụ xe giải thích là “các bác đi xe sau cứ bảo là xe quay đầu thì không mất tiền nữa”. Khách khó chịu nhưng đành phải xuống.

Hóa ra, đến xe buýt cũng bị chủ nghĩa thành tích cai trị.

Đơn giản vì có lẽ xí nghiệp quản lý xe buýt quản lý lái xe và xe theo kiểu “khoán giờ”, “khoán chuyến” vì thế khi lái họ ưu tiên “giờ định mức”, “số chuyến” của họ hơn là sự an toàn, thuận lợi và sự bằng lòng của khách.

Vì thế, khi thiếu giờ, thiếu chuyến họ sẵn sàng đuổi ngay khách xuống để đạt được định mức của mình khỏi bị phạt lương, trừ thưởng.

Đấy là lý do giải thích tại sao khi đến Việt Nam, người Nhật có một nhận xét rất ý nhị “Người Việt làm gì cũng lề mề nhưng lên và xuống xe buýt thì nhanh kinh khủng”.

Họ ngạc nhiên là phải vì khi lên, xuống xe người ta lẽ ra phải rất thận trọng và bình tĩnh vì đó là thời điểm nguy hiểm số một khi đi xe buýt. Nhưng họ không hiểu tiếng Việt nên không biết rằng nếu không lên nhanh, xuống nhanh sẽ bị lái xe, phụ xe giục thậm chí nói những lời rất khó nghe… Có nhiều trường hợp xe còn đóng cửa luôn, đi ngay bỏ mặc khách chậm chân ngơ ngác.

Cách làm như vậy rất giống cách thức của những trường, các sở chạy theo thành tích. Ở những nơi như thế này, lãnh đạo, giáo viên chỉ quan tâm đến bao nhiêu phần trăm học sinh giỏi, đỗ đại học bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu giáo viên giỏi, bao nhiêu học sinh bị hạnh kiểm yếu… mà bỏ qua tính toàn diện và vĩ mô của mục tiêu giáo dục.

Thành tích hiển thị bằng các con số trở thành tiêu chuẩn duy nhất và tuyệt đối để đánh giá chất lượng giáo dục và năng lực của giáo viên.

Hậu quả là tất cả những ai bị chi phối bởi cơ chế đó đều chọn các con số làm đối tượng ưu tiên.

Mọi thứ nếu không phục vụ việc tạo ra các con số đẹp sẽ bị hạn chế hoặc loại trừ.

Vì thế mà Thể dục,Mĩ thuật, Âm nhạc học như đùa. Sử, Địa, Giáo dục công dân học như là học chép chính tả.

Vì thế mà đời sống-văn hóa trường học chỉ là “thực hiện nghiêm nề nếp”, “đi học đúng giờ”, “không nghỉ học không phép”, “làm bài đầy đủ”, “thi đạt điểm cao”… Mọi thứ biến thành vật hi sinh kể cả sự đam mê, mối quan tâm hứng thú đa dạng của học sinh.

Và từ đó, sau mỗi vụ bạo lực học đường là bóng ma của chủ nghĩa thành tích.

Trước sức ép của “bệnh thành tích” và cơ chế tạo ra nó, giáo viên đã dùng bạo lực và quên hẳn rủi ro về đạo đức, pháp lý .

Xem thế, đủ biết sự tác động của chủ nghĩa thành tích suy ra từ cơ chế quản lý đơn giản hóa mục tiêu của giáo dục nguy hiểm thế nào.

Trở lại câu chuyện xe buýt. Cho dù những lời bạn đọc viết ở trên khá gay gắt, cũng rất khó để phủ nhận các vấn đề đặt ra ở đó. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng, cho dù tắc đường, cho dù hỗn loạn, xe buýt rồi cũng sẽ trở thành một phương tiện giao thông công cộng quan trọng của người Việt khi di chuyển trong thành phố.

Muốn có cuộc sống văn minh nơi đô thị, người ta không thể nghĩ cách làm cho nó tốt lên.

Tất nhiên, có những người có tiền có thể “tị nạn xe buýt” bằng cách đi taxi, đi ô tô riêng.

Tuy nhiên, cho dù không đi xe buýt, họ cũng bị xe buýt chi phối vì đều chia sẻ chung không gian.

Nếu xe buýt làm tắc đường, có đi xe gì họ cũng sẽ phải đợi. Nếu xe buýt đi ẩu, họ cũng có thể trở thành nạn nhân. Né tránh, không phải là cách giải bài toán đem lại hạnh phúc cho mình và mọi người.

Đừng nghĩ mình đi ô tô rồi thì không cần quan tâm đến xe buýt nữa.

Những kể khôn vặt khác cũng đừng dại dột nghĩ rằng khi xe buýt đông, mình chen tốt kiếm được một chỗ ngồi là yên tâm ngủ chờ đến bến. Như thế là khờ dại.

Chỉ có cách nhìn vào vấn đề, tìm ra nguyên nhân và từng bước giải quyết các nguyên nhân ấy bằng sự khôn ngoan và lý trí.

Để làm được điều ấy, tất cả mọi người đều phải suy nghĩ, hợp tác và hành động tích cực. Và tất nhiên, đấy cũng là thử thách lớn đặc biệt là lúc trời mưa và đường sá ngổn ngang như công trường xây dựng.

Nguyễn Quốc Vương

Nguồn:https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/xe-buyt-va-giao-duc-501615.html?fbclid=IwAR3VaVjazpTmcHbY9VyGs5X_yCsgmdDXNtWIsznfvW9Q7x6JIKYO_eB-MSo

%d bloggers like this: