Archive

Archive for the ‘Giáo dục lịch sử ở Nhật Bản’ Category

Những đề thi trắc nghiệm môn Lịch sử ở Nhật Bản

September 21, 2016 Leave a comment

 – Trong bài viết “Nhật Bản sắp bỏ thi trắc nghiệm trong tuyển sinh”trước đó, tôi đã giới thiệu sơ lược về Kì thi thứ nhất vào đại học được tiến hành bằng hình thức trắc nghiệm ở Nhật Bản. 

Trong bài viết này tôi sẽ tiếp tục giới thiệu về đề thi môn “Lịch sử Nhật Bản B” trong kì thi này. Liên quan đến môn Lịch sử, ở Nhật Bản học sinh THPT sẽ học các môn như: Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B. Trong kì thi thứ nhất vào đại học, các thí sinh sẽ lựa chọn môn thi phù hợp với yêu cầu của trường đại học mình muốn nộp đơn xét tuyển, tham dự kì thi thứ hai do trường tổ chức.

Kiểu đề thi

Đề thi lịch sử Nhật Bản do Trung tâm tuyển sinh quốc gia ra thường trải rộng từ thời nguyên thủy tới hiện đại. Theo các tác giả tài liệu “Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B” (NXB Kyogaku, 2016) thì đề thi môn lịch sử của trung tâm có thể phân ra làm 3 kiểu chủ yếu: Kiểu đề yêu cầu lựa chọn câu đúng-câu sai, kiểu đề ghép nối và kiểu đề yêu cầu sắp xếp theo trật tự niên đại, thời đại.

Trong 3 kiểu đề trên thì kiểu đề yêu cầu lựa chọn câu đúng-câu sai quan trọng nhất và cũng…khó nhất.

Trong kỳ thi chính thức năm 2006 đối với môn Lịch sử Nhật Bản B, tỉ lệ các câu hỏi trong bài thi phân theo ba kiểu đề nói trên như sau: Số câu yêu cầu sắp xếp theo trật tự niên đại, thời đại (11%), số câu yêu cầu ghép nối (61%), số câu yêu cầu chọn câu đúng-câu sai (28%).

Ở Nhật Bản nhiều người cũng nghĩ môn Lịch sử là môn có vẻ như chỉ yêu cầu học thuộc lòng.

Tuy nhiên, khi khảo sát các đề thi của trung tâm người ta thấy rằng các tác giả ra đề rất coi trọng việc đo đạc xem “thí sinh có hiểu chính xác hay không”.

Vì vậy các câu hỏi yêu cầu thí sinh lựa chọn câu đúng-câu sai trở thành trung tâm của đề thi. Trong kì thi chính thức của trung tâm năm 2016, ở môn Lịch sử Nhật Bản B có 28% tổng số câu hỏi là thuộc kiểu chọn câu đúng-câu sai (10/36 câu) và nếu tính thêm cả các câu yêu cầu ghép nối các câu đúng, câu sai thì tỉ lệ này tăng lên 64% (23/36 câu).

Dưới đây là một số câu hỏi trong đề thi phân theo 3 kiểu câu hỏi nói trên.

Kiểu 1. Câu hỏi yêu cầu lựa chọn câu đúng-câu sai (câu hỏi số 4 trong Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2004)

Hãy lựa chọn câu văn trình bày chính xác về mối quan hệ đối với vùng phía Bắc trong số các câu từ 1 đến 4 dưới đây.

1. Mogami Tokunai đã thám hiểm hướng Shiberia.

2. Laxman đã cùng với Takadaya Kahee đến Nemuro.

3. Ino Tadataka đã đo đạc vùng bờ biển Ezochi

4. Rezanop cùng với Daikokuya Kodayu đã đến Nemuro

Đáp án: 2

Kiểu 2. Câu hỏi ghép nối

Kiểu này có ba dạng là “ghép nối từ-cụm từ”, “ghép nối các câu” và “ghép nối giữa thuật ngữ lịch sử với câu văn thuyết minh”.

Dạng 1: “Ghép nối từ-cụm từ” (Câu số 1 trong Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2004)

Khi bước vào thời kì Heian, những quý tộc có thế lực đã thiết lập (a) và cho đệ tử của dòng họ nghỉ lại để tiện lợi cho việc học tập. Trong khi Đại học-Quốc học là cơ quan đào tạo quan lại thì Shugeishuchiin do (b) thành lập lại là nơi học tập của tăng lữ và dân chúng.

Câu hỏi: Hãy chọn một câu trả lời đúng nhất trong số các câu từ 1 đến 4 để điền vào chỗ trống trên câu trên tạo ra câu văn chính xác.

1. a. Daigaku Besso b. Saicho

2. a. Daigaku Besso b. Kukai

3. a. Untei b. Saicho

4. a. Untei b. Kukai

Đáp án: 3

Dạng 2: “Ghép nối các câu” (câu hỏi số 6 trong Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2004)

Các câu từ X đến Z dưới đây nói về xã hội và văn hóa nửa sau thế kỉ XV. Hãy chọn ra phương án đúng nhất trong số các phương án từ 1 đến 4

X. Ki-tô giáo truyền tới và lan rộng với trung tâm là Tây Nhật Bản.

Y. Bằng hoạt động truyền giáo của Nisshin, phái Nichiren đã mở rộng tới các địa phương ở Tây Nhật Bản với trung tâm là Kyoto.

Z. “Ứng an tân thức”, cuốn sách về quy tắc của Renka đã được biên soạn.

1. X đúng, Y đúng, Z sai

2. X sai, Y đúng, Z đúng

3. X đúng, Y sai, Z sai

4. X sai, Y đúng, Z sai

Đáp án: 4.

Dạng 3: “Ghép nối thuật ngữ lịch sử với câu văn thuyết minh:” (Câu số 4 trong Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2015)

Hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong số các phương án từ 1 đến 4 ở dưới đây với tư cách là câu văn chính xác khi ghép nối câu văn X, Y viết về giao thông của vùng Tây Nhật Bản thời cận thế với các tên người tương ứng.

X. Kết nối Osaka với vùng Đông Bắc và xây dựng đường thủy tới phía Tây (hải vận).

Y. Đào sông Takase-gawa và có đóng góp cho sự phát triển của vận tải đường sông bằng thuyền trong vùng nội địa

a. Kawamura Zuiken b. Kinokuniya Bunzaemon c. Tanaka Shosuke

1. X-a Y-c

2. X-a Y-d

3. X-b Y-c

4. X-b Y-d

Đáp án: 2

Kiểu 3. Câu hỏi về sắp xếp trật tự niên đại, thời đại

Thông thường câu hỏi kiểu này sẽ đưa ra ba câu văn và yêu cầu thí sinh sắp xếp đúng theo trật tự niên đại. Ví dụ câu số 5 trong Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2009 như sau:

Hãy lựa chọn đáp án đúng trong các phương án từ 1 đến 6 với tư cách là sự sắp xếp chính xác theo trật tự niên đại từ xưa đến nay.

I. Chính đảng xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Nhật Bản ra đời và hô hào thực hiện bầu cử phổ thông.

II. Phong trào hộ hiến lần hai nổ ra

III. Tư cách nộp thuế trong quyền bầu cử đã hạ xuống mức trên 3 yên đối với thuế trực thu.

1. I-II-III

2. I-III-II

3. II-I-III

4. II-III-I

5. III-I-II

6. III-II-I

Đáp án : 2

Ngoài ra cũng có thể kể thêm một kiểu nữa được gọi là kiểu câu hỏi “lựa chọn đơn giản”. Số lượng các câu hỏi yêu cầu ghi nhớ thuần túy này chiếm số lượng rất ít trong đề thi. Ví dụ như câu số 5 trong Đề thi bổ sung môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2003 dưới đây:

Vào ngày 1/1/1946, Thiên hoàng đã ra tuyên bố

Câu hỏi: “Tuyên bố” được gạch chân ở trên gọi là gì? Hãy chọn câu trả lời đúng nhất trong các phương án từ 1 đến 4.

1. Sắc chỉ giáo dục

2. Tuyên bố quốc thể minh trưng

3. Tuyên ngôn độc lập

4. Tuyên ngôn Thiên hoàng là con người

Đáp án: 4

Nội dung đề thi

Đề thi bố trí các câu hỏi bao quát một phạm vi khá rộng. Vì vậy, nhìn ở phương diện nội dung có thể thấy các câu hỏi được thiết kế phân chia theo thời đại hoặc theo lĩnh vực.

Khi phân chia theo thời đại, thông thường các câu hỏi sẽ được tính toán để có cả câu hỏi về lịch sử theo chủ đề và các câu hỏi theo thời đại.

Từ năm 1997 trở lại đây, các câu hỏi đầu tiên trong bài thi thường là các câu hỏi về lịch sử theo chủ đề.

Các chủ đề thường được sử dụng trong 10 năm trở lại đây có thể được tổng hợp như dưới đây:

Kỳ thi chính thức Kỳ thi bổ sung
2016 Nhật ký với tư cách là sử liệu
2015 Những người vượt biển Các vấn đề liên quan đến mô hình sinh hoạt
2014 Các vấn đề liên quan đến bảo quản văn kiện lịch sử Cái nhìn của người nước ngoài về Nhật Bản
2013 Lịch sử Hokkaido và Lịch sử Okinawa Lịch sử kinh tế Nhật Bản nhìn từ Tokuseirei (Đức chính lệnh)
2012 Lịch sử Nhật Bản nhìn từ các di sản văn hóa Lịch sử chiến tranh
2011 Lịch sử đèn chiếu sáng và nguồn năng lượng Sự di động sang xu hướng kết hợp Thần đạo với Phật giáo
2010 Lịch sử võ sĩ Nhật Bản trong lòng thế giới
2009 Sự thay đổi quy hoạch hành chính khu vực Lịch sử Kyoto
2008 Lễ hội và tín ngưỡng ở đền thờ Thần đạo Lịch sử chế độ thuế khóa
2007 Khảo sát di sản văn hóa Tham quan học tập di tích ở vùng phía nam khu vực Kanto

(Nguồn: Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B, NXB Kyogaku, 2016, tr.25)

Các câu hỏi còn lại sẽ phân chia thành câu hỏi về thời nguyên thủy-cổ đại, câu hỏi về thời trung thế, câu hỏi về thời cận thế, câu hỏi về thời cận-hiện đại.

Cũng có thể thấy các câu hỏi được thiết kế dựa trên ý đồ “rải đều” trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: lịch sử chính trị, lịch sử văn hóa, lịch sử kinh tế xã hội, lịch sử ngoại giao, các lĩnh vực khác.

Kĩ thuật thiết kế câu hỏi trong đề thi

Một đặc điểm nổi bật đáng chú ý của các câu hỏi được đưa ra trong kì thi do Trung tâm tuyển sinh quốc gia nói trên tổ chức là sự xuất hiện rất nhiều các sử liệu, tài liệu.

Các sử liệu được sử dụng ở đây không chỉ là sử liệu thành văn mà còn bao gồm cả bức ảnh chụp các tác phẩm mĩ thuật, bản đồ, biểu đồ-đồ thị, bảng biểu(ở Nhật người ta gọi những sử liệu này là “sử liệu thị giác”).

Ví dụ như trong câu hỏi số 2, Đề thi chính thức môn Lịch sử Nhật Bản B năm 2008 có dẫn ra sử liệu là đoạn trích tác phẩm “Nhật Bản linh dị kí”, được viết vào đầu thời Heian (794-1185) kèm các chú thích cần thiết từ đó đặt ra yêu cầu học sinh phải chọn ra một câu sai trong 4 câu được đưa ra với tư cách là kết quả có thể đọc được (suy luận) từ tư liệu nói trên.

Đề thi trắc nghiệm, môn Lịch sử, Nhật Bản, thi trắc nghiệm
Nguồn: Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B, NXB Kyogaku, 2016, tr.32)

Xu hướng sử dụng đoạn trích các tác phẩm với tư cách là sử liệu rất phổ biến trong những năm trở lại đây. Một số tác phẩm hay được trích là “Vạn diệp tập”, “Lưu Cầu quốc đồ”, “Tống thư”… những đoạn trích này nếu là cổ văn sẽ có thêm phần dịch sang ngôn ngữ hiện đại và các chú thích cần thiết.

Đề thi cũng sử dụng rất nhiều “sử liệu thị giác” (ảnh tác phẩm mĩ thuật, đồ thị, bảng biểu, bản đồ). Ví dụ câu hỏi số 4 trong Đề thi bổ sung năm 2004 có đưa ra bốn bức tranh đánh số từ 1 đến 4 và yêu cầu thí sinh lựa chọn ra bức tranh vẽ cảnh các thương nhân đang tiến hành phương pháp buôn bán mới có tên “Genkinkakenenashi”.

Đề thi trắc nghiệm, môn Lịch sử, Nhật Bản, thi trắc nghiệm
 (Nguồn: Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B, NXB Kyogaku, 2016, tr.34).

Ngoài ra đề thi cũng sử dụng bản đồ, đồ thị, bảng biểu để yêu cầu thí sinh đọc hiểu, giải mã thông tin. Ví dụ câu hỏi số 6 Đề chính thức năm 2007 có đưa ra “Biểu đồ diễn tả sự di động dân số của thủ đô Tokyo, phủ Osaka, tỉnh Aichi trong 40 năm từ năm 1920-1960”. Từ đó đặt ra yêu cầu thí sinh chọn ra một câu sai trong số 4 câu được đưa ra dưới đây:

– Bối cảnh đằng sau sự suy giảm dân số trong năm 1945 là sự hư hại của các đô thị do hậu quả của chiến tranh.

– Sự suy giảm dân số của thủ đô Tokyo 1945 năm tương đương với sự gia tăng dân số trong những năm 1920-1944

– Dân số của phủ Osaka trong thời kì chiến tranh Thái Bình Dương có xu hướng giảm

– Thủ đô Tokyo và phủ Osaka trong suốt những năm 1950 vẫn chưa hồi phục được mức dân số trước chiến tranh

Đáp án: 4

Đề thi trắc nghiệm, môn Lịch sử, Nhật Bản, thi trắc nghiệm
 (Nguồn: Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B, NXB Kyogaku, 2016, tr.36)

Như vậy, nhìn vào mô hình, nội dung và cách thức kĩ thuật của đề thi trắc nghiệm môn Lịch sử ở Nhật Bản sẽ thấy đề thi chú trọng đến tư duy sử học và các phương pháp của sử học như phân tích, đọc hiểu, phê phán tư liệu.

Nó phản ánh chân thực lý luận mối quan hệ giữa sử học và giáo dục lịch sử không phải là mối quan hệ một chiều ở đó giáo dục lịch sử truyền đạt các thành tựu của sử học mà giáo dục lịch sử còn tích cực sử dụng các phương pháp của nhà sử học.

Nội dung lịch sử cũng trải rộng từ thời cổ đại đến hiện đại và bao trùm mọi lĩnh vực.

Từ đó có thể liên tưởng đến sự hiện diện của ba hình thái giáo dục lịch sử đang tồn tại trong trường học của Nhật là “lịch sử theo chủ đề” thông sử và “lịch sử lội ngược dòng” cũng như triết lý giáo dục lịch sử hướng đến “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” mà người Nhật đang theo đuổi.

  • Nguyễn Quốc Vương
Advertisements

Wikipedia tiếng Nhật viết về “Tu thân” (5)

September 15, 2016 Leave a comment

 

 

Tuy nhiên chuyện chấp nhận dòng chảy phục cổ Nho giáo không phải là chuyện dễ dàng. Ngay từ sớm Ito Hirobumi trong tác phẩm “Bàn về giáo dục” đã phản đối sự quay về với giáo dục theo chủ nghĩa Nho giáo. Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi vào năm 1882 (năm Minh Trị thứ 15) cũng công bố luận văn có tên “Thế nào là đạo đức”, trong đó viết “Giáo dục đạo đức phải là thứ dựa trên sự tranh luận tự chủ của quốc dân” và phê phán “tinh thần tín ngưỡng và phục tùng, thứ trở thành nền tảng của giáo dục theo chủ nghĩa Nho giáo”.

Thêm nữa, Nishimura Shigeki trong tác phẩm “Nhật Bản đạo đức luận” (1887) cũng chỉ rõ “Nho giáo chỉ dạy toàn “những thứ không được làm” mà không giáo dục nên tính tự chủ”. Như trước đó đã đề cập, ông cũng là người viết cuốn “Tiểu học tu thân huấn” với tư cách như là sách giáo khoa môn Tu thân nhưng nó là tác phẩm có sự kết hợp khéo léo giữa quan điểm luân lý, triết học của phương Tây với phương Đông vì thế nó không phải là thứ nghiêng về một phía Nho giáo.

Cả Mori Arinori, bộ trưởng bộ giáo dục đầu tiên cũng có lập trường phê phán chủ nghĩa Nho giáo. Ông đòi hỏi “tính tự giác” ở giáo dục đạo đức và cho rằng chủ nghĩa Nho giáo vốn đặt ra yêu cầu ghi nhớ đạo đức trung hiếu có giới hạn nhất định và năm 1887 trong tác phẩm “Luân lý thư” ông đã công bố quan điểm về luân lý cho rằng đó là sự kết hợp giữa bản thân và người khác “bản thân và người khác luôn giúp đỡ lẫn nhau để sống”. Ông cũng cho rằng giáo dục đạo đức “nên được tiến hành bởi các môn như môn Thể dục để “làm cho học sinh nhớ bằng thân thể” hơn là dạy bằng lời nói thông qua môn Tu thân.

Ngoài ra còn có nhiều chủ trương, lập trường khác. Ví dụ như Sugiura Jugo trong tác phẩm “Nhật Bản giáo dục ngôn luận”  (1887) đã cho rằng phải tiến hành giáo dục đạo dức dựa trên quan điểm luân lý của truyền thống Nhật Bản và nền tảng là Nho học và Dương học. Kato Hiroyuki vào năm 1887 cũng công bố tác phẩm “Dự thảo phương pháp giáo dục đạo đức” và chủ trương “giáo dục đạo đức được đặt ra trong tôn giáo”. Theo ông, thứ quan trọng nhất trong giáo dục đạo đức là giáo dục “lòng yêu nước” và để làm được điều đó thì không chỉ là Nho giáo mà cần phải tiến hành giáo dục kết hợp cả thần đạo, phật giáo và Ki-tô giáo.

Cuộc tranh luận về giáo dục đạo đức nổ ra vào những năm 1880 này được gọi là “cuộc tranh luận về đạo đức”. Nose Sakae khi chứng kiến cuộc tranh luận đã nhận xét “Khó có thể đánh giá luận điểm nào hơn luận điểm nào và cũng không có giới hạn”. Năm 1890, ông đã tóm tắt lại cuộc tranh luận về đạo đức này trong tác phẩm “Đạo đức trấn định luận’’. Nội dung của tác phẩm khẳng định cho dù là chủ nghĩa Dương học hay chủ nghĩa Nho giáo “không cần thiết phải tiến hành giáo dục đạo đức chỉ bằng một chủ nghĩa” mà cần phải tiến hành giáo dục đạo đức với sự coi trọng “common sense”(văn hóa thường thức) mà người Nhật có từ quá khứ.

Và như thế, cuộc tranh luận về giáo dục đi vào bế tắc không có hồi kết và rơi vào ngõ cụt khi “Tiểu học giáo tắc” được sửa đổi vào năm 1887.

 

Tuy nhiên kết quả cuối cùng nó cũng không thể chống lại phương châm được đưa ra trong “Thánh chỉ giáo dục” và không thay đổi được nội dung giáo dục theo chủ nghĩa Nho giáo. Thêm nữa vào năm 1889, Mori Arinori bị ám sát và sự phê phán trong nội bộ chính phủ đối với Mori Arinori hiện rõ. Năm 1890, “Kiến nghị về giáo dục đạo đức “ được đưa ra và “Sắc chỉ giáo dục” đã được hình thành với nội dung dựa trên tư tưởng Nho giáo.

(còn tiếp)

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

 

Vụ án sách giáo khoa ở Nhật Bản thời Minh Trị.

August 26, 2016 Leave a comment

 

Sách giáo khoa ở Nhật Bản hiện tại được biên soạn, phát hành và tuyển chọn theo chế độ “sách giáo khoa kiểm định”. Trong chế độ này, các nhà xuất bản tư nhân sẽ tiến hành biên soạn sách giáo khoa dựa trên bản “Hướng dẫn học tập”, văn bản chỉ đạo về nội dung và phương pháp tổ chức học tập các môn giáo khoa của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản. Những bản thảo sau khi hoàn thiện sẽ trình lên Bộ trưởng. Dựa trên sự tư vấn hội đồng chuyên môn, Bộ trưởng sẽ quyết định bản thảo đó đủ tư cách trở thành sách giáo khoa hay không. Tuy nhiên, hầu hết các bản thảo trình lên đều nhận được yêu cầu chỉnh sửa, hoàn thiện nếu muốn trở thành sách giáo khoa.

Chế độ kiểm định sách giáo khoa này, xuất hiện khá sớm trong lịch sử giáo dục Nhật Bản. Vào đầu thời Minh Trị khi Nhật Bản đẩy mạnh công cuộc “văn minh khai hóa”, việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa là tự do. Trong giai đoạn này rất nhiều cuốn sách do Fukuzawa Yukichi đã được sử dụng trong các trường cả công và tư như là sách giáo khoa. Tuy nhiên về sau cùng với sự tập quyền ngày càng mạnh của chính phủ Minh Trị, mức độ tự do đối với sách giáo khoa giảm dần. Kết quả là năm 1880, chính phủ công bố danh mục các cuốn sách bị cấm sử dụng như là sách giáo khoa trong đó có cả sách của Fukuzawa Yukichi. Đến năm 1881, chế độ báo cáo sách giáo khoa được thực thi. Các trường học có nghĩa vụ phải thông báo cho cơ quan quản lý sách giáo khoa những cuốn mình đang sử dụng. Năm 1883, chính phủ thực thi chế độ cấp phép cho sách giáo khoa. Các trường muốn sử dụng cuốn sách giáo khoa nào phải xin phép. Năm 1886 chế độ kiểm định sách giáo khoa chính thức bắt đầu.

Chế độ kiểm định sách giáo khoa hiện tại gây ra nhiều tranh cãi đặc biệt là việc kiểm định các sách giáo khoa lịch sử với những nội dung liên quan đến tội ác của quân Nhật trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai ở Okinawa và các nước châu Á khác. Tuy nhiên, không cần chờ đến những năm 60 của thế kỉ trước khi giáo sư Ienaga Zaburo kiện Bộ trưởng bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ đã “đánh trượt” cuốn sách lịch sử viết cho học sinh THPT của ông, ngay từ thời Minh Trị chế độ kiểm định đã gây ra một vụ án lớn làm rung động nước Nhật. Vụ án này thường được gọi là “Vụ án sách giáo khoa”.

“Vụ án sách giáo khoa” xảy ra năm 1902 (năm Minh Trị thứ 35) khi những người của công ty xuất bản sách giáo khoa hối lộ những người có trách nhiệm lựa chọn sách giáo khoa ở trường học. Vụ án xuất phát từ việc Yamada Teizaburo, giám đốc một công ty sách giáo khoa và cũng nguyên là hiệu trưởng trường sư phạm Ibaraki bỏ quên cuốn sổ tay trong đó có những đoạn ghi chép về việc hối lộ trên tàu khiến cho mọi việc bại lộ.

Cảnh sát đã đồng loạt khám xét và bắt giam những người có liên quan trên toàn quốc bao gồm cả tỉnh trưởng tỉnh Niigata, nhân viên của bộ giáo dục, nhân viên phụ trách sách giáo khoa ở các địa phương, hiệu trưởng trường sư phạm, trường tiểu học và những người thuộc các nhà xuất bản. Tổng số có trên 200 người thuộc 40 đô, đạo, phủ tỉnh bị bắt giữ. Về sau có 116 người bị tòa kết tội. Một số nhà xuất bản có liên quan bị cấm không được xuất bản sách giáo khoa.

Nhân khi vụ án này xảy ra, kế hoạch “quốc định hóa” sách giáo khoa vốn được chính phủ nhen nhóm từ trước được thực hiện nhanh chóng. Năm 1903 (năm Minh Trị thứ 36), Luật sách giáo khoa quốc định dành cho trường tiểu học ra đời và sách giáo khoa quốc định (bộ sách duy nhất do nhà nước biên soạn và phát hành trên toàn quốc) được biên soạn, phát hành.

Chế độ sách giáo khoa quốc định này đươc duy trì từ đó cho đến tận tháng 8 năm 1945 khi Nhật Bản bại trận.

Mấy năm gần đây, ở Nhật Bản lại xảy ra hiện tượng một số công ty sách giáo khoa tặng quà hoặc tiền cho các giáo viên ở trường phổ thông và nhờ họ “đóng góp ý kiến” cho các cuốn sách giáo khoa đang được kiểm định. Việc làm này được coi là “hành vi bất chính” vì các cuốn sách đang trong thời gian kiểm định không được phép lộ ra bên ngoài. Vì vậy Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản đã tiến hành điều tra và xử lý hàng trăm giáo viên có liên quan với hình thức nặng nhất là buộc thôi việc.

Ở Việt Nam, cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” cũng có thể coi là chế độ “sách giáo khoa kiểm định”. Cơ chế này mới được công nhận và đang được triển khai. Theo dự kiến đến năm 2018 sẽ có sách giáo khoa được biên soạn theo cơ chế này. Khả năng xảy ra “tiêu cực” trong khâu biên soạn, phát hành và lựa chọn sách giáo khoa là rất lớn. Để ngăn chặn cần có một quy chế chặt chẽ để minh bạch hóa mọi hoạt động liên quan đến sách giáo khoa và kiểm soát sự móc ngoặc giữa những người có liên quan. Sự tham gia của Bộ giáo dục và đào tạo như là một tác giả sách giáo khoa cũng sẽ làm gia tăng nguy cơ ấy. Đấy là điều cần hết sức lưu tâm.

 

Nguyễn Quốc Vương 

Môn “Nghiên cứu xã hội” là gì?

November 11, 2015 Leave a comment
Ở Việt Nam chuyện tranh cãi xem môn Sử là môn “bắt buộc” hay “tự chọn” đang trở nên …hót. Người ta mải chỉ trích “tích hợp” và cãi nhau xem nên bắt buộc hay tự chọn mà quên mất đi tìm hiểu ngọn nguồn xem môn “tích hợp” là gì? Mối quan hệ giữa môn học này với các môn giáo khoa độc lập ra sao? Nghe cãi nhau tôi đâm tò mò liền tìm hiểu xem ở Nhật vấn đề này thế nào. Đọc bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội tiểu học” -văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục Nhật ban hành năm 1947 tôi đã tìm thấy nhiều điều thú vị. Đây là văn bản giải thích khá rõ về vai trò, sứ mệnh của môn Nghiên cứu xã hội (Xã hội), môn học mới lần đầu tiên được đưa vào Nhật Bản và là linh hồn của cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến. Tài liệu dài 500 trang. Tôi đặt mục tiêu “nhai” hết nó trong một tuần. Trước mắt mời các bạn nếm thử một…đoạn. Đây là mục đầu tiên trong tài liệu có tên “Môn Xã hội là gì?” MÔN XÃ HỘI LÀ GÌ?”
Môn Xã hội là gì?
Nhiệm vụ của môn Xã hội được thiết lập lần này là làm cho thanh thiếu niên lý giải đời sống xã hội và giáo dục năng lực, thái độ xúc tiến sự phát triển xã hội đó. Vì vậy việc tiến hành phát triển và làm sâu sắc, phong phú hơn nữa các kinh nghiệm xã hội của thanh thiếu niên rất quan trọng.
Để lý giải đời sống xã hội, việc lý giải các mối quan hệ tồn tại tương hỗ, đa dạng về chủng loại trong đời sống xã hội đó là quan trọng nhất. Các mối quan hệ tồn tại tương hỗ này tùy theo cách nhìn mà được phân chia khác nhau nhưng ở đây có thể chia thành ba.
– Mối quan hệ giữa con người với con người
– Mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên
– Mối quan hệ giữa cá nhân với chế độ xã hội và cơ sở vật chất
Mối quan hệ tương hỗ giữa con người với con người không phải chỉ đơn giản là mối quan hệ cá nhân mà nó còn bao gồm mối quan hệ tương hỗ giữa các tập đoàn được coi là nơi nhiều cá nhân hợp lại và giữa các dân tộc. Khỏi cần phải nói cũng rõ đây là điều quan trọng trong lý giải đời sống xã hội.
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên như mô hình ăn, mặc, ở của chúng ta được vận hành tương thích với từng địa phương và bằng việc chúng ta sử dụng tự nhiên một cách công phu sáng tạo mà đời sống của chúng ta trở nên phong phú hơn. Khi tư duy rằng môi trương tự nhiên được bảo vệ, duy trì, phát triển bởi tất cả con người thì cần phải làm sâu sắc kinh nghiệm của thanh thiếu niên về nó và đạt đến sự lý giải đời sống xã hội.
Nếu như tư duy rằng các cơ quan tổ chức của xã hội như trường học, công đoàn, chính phủ, các hệ thống phong phú của xã hội, và văn hóa như đạo đức, pháp chế, tập quán cũng được tạo ra từ sự nỗ lực của con người và là thứ đang hoạt động thì cần phải làm phong phú, mở rộng các kinh nghiệm của thanh thiếu niên liên quan tới chúng và phải dẫn tới sự lý giải sâu sắc hơn về đời sống xã hội.
Để lý giải đời sống xã hội, việc lý giải các mối quan hệ tồn tại tương hỗ rất quan trọng và để lý giải các mối quan hệ này thì sự lý giải về tính người cũng là cần thiết.
Nếu quên đi việc con người đang tìm kiếm cuộc sống thật sự là người và mơ ước của họ trong gốc rễ đời sống xã hội và chỉ lý giải về những biểu hiện bên ngoài của xã hội thì không thể nói đó là sự lý giải về đời sống xã hội thật sự.
Khi nhìn vào và suy ngẫm về đời sống của quốc dân nước ta trước đó thì thấy ước vọng muốn có sự tự giác với tư cách là con người của từng cá nhân và đời sống thật sự là người đã bị đè nén bởi yêu cầu bên ngoài của quốc gia, gia đình vì thế mà không thực hiện được.
Vì vậy mà việc nảy sinh vô vàn những việc bất tự nhiên, phi đạo đức ở trong đời sống với tư cách là quốc dân hay trong đời sống với tư cách là một thành viên của gia đình là nỗi đau chung. Việc giáo dục tấm lòng muốn có cuộc sống thật sự là người của thanh thiếu niên là việc hướng đến chủ trương nhân quyền cơ bản đồng thời cũng là việc giáo dục tình yêu, sự lý giải đối với người khác và xây dựng nền tảng đời sống xã hội.
Một khi trở thành người biết duy trì sự độc lập của đời sống cá nhân và biết đến việc thưởng thức cuộc sống thật sự là người thì sẽ có thể lý giải được các mối quan hệ tồn tại tương hỗ trong đời sống của bản thân và người khác, có lòng nhiệt tình muốn làm cho đời sống xã hội của bản thân trở nên tốt đẹp hơn.
Môn Xã hội là môn làm cho học sinh hiểu được các mối quan hệ tồn tại tương hỗ của xã hội được dựa trên những tính người như thế đồng thời nó cũng phải làm cho học sinh quen với tư duy về sự vật bằng việc tự mình thúc đẩy những tri thức ấy và biến nó thành thứ của bản thân.
Khuyết điểm lớn trong giảng dạy lịch sử, địa lý, tu thân trong giáo dục của nước ta trước đó là việc không tôn trọng tư duy và năng lực tư duy của thanh thiếu niên-những người muốn tiếp cận một cách đúng đắn sự thật và mối quan hệ giữa các sự thật, thay vào đó là làm cho họ tiếp nhận nguyên xi những kiến giải của người khác. Giờ đây, điều này cần phải được phản tỉnh đầy đủ. Đương nhiên, đó không phải chỉ là việc của giới giáo dục mà nó là việc được tiến hành thông qua toàn thể xã hội nước ta và có thể nói không ngoa rằng kết quả tai hại của nó được thể hiện bằng cuộc chiến tranh vừa rồi. Để giáo dục tư duy khoa học tự chủ thì cần phải luôn luôn công phu sáng tạo trong các hoạt động phong phú được tiến hành trong môn Xã hội.
Trong môn Xã hội cần phải giáo dục các loại năng lực và thái độ cần thiết cho việc vận hành đời sống xã hội của thanh thiếu niên. Những năng lực và thái độ này là gì sẽ được thể hiện trong “2. Mục đích của môn Xã hội”. Đó không phải là thứ trừu tượng được nghĩ ra để chuẩn bị cho đời sống xã hội tương lai mà là thứ làm cho đời sống xã hội của thanh thiếu niên hiện tại phát triển vì thế nó là thứ mà cả giáo viên và học sinh đều hiểu cụ thể. Bằng việc làm phát triển kinh nghiệm xã hội của thanh thiếu niên, nó là thứ được hình thành và trang bị một cách tự thân. Đó là các năng lực và thái độ trở nên cần thiết đương nhiên khi muốn phát triển đời sống xã hội của bản thân cùng với sự tiến triển của sự lý giải về đời sống con người và đời sống xã hội của học sinh. Và rồi chúng trở thành thái độ, năng lực cần thiết trong đời sống xã hội tương lai.
Những tri thức, tư duy, thái độ, năng lực được trình bày ở trên đương nhiên phải thống nhất với nhau bên trong tính cách của thanh thiếu niên.
Thứ trở thành nền tảng của tính cách đó đương nhiên là yêu cầu bên trong mong muốn có được cuộc sống thật sự là người, là tấm lòng thành thực đối với bản thân và người khác, là tấm lòng chính nghĩa đối với xã hội. Thứ chúng ta hướng đến là các thanh thiếu niên tươi sáng và thật sự là thanh thiếu niên như thế. Trong môn Xã hội kinh nghiệm xã hội của thanh thiếu niên sẽ được làm cho phát triển thành thứ phong phú hơn, hiệu quả hơn nhưng nhất định đó không phải là việc tạo ra thanh thiếu niên định trước.
Bởi vì thanh thiếu niên không phải chỉ là con người xã hội của tương lai mà còn là con người xã hội ở hiện tại, và trong cuộc sống từng ngày mà bản thân truy tìm cuộc sống thật sự là người. Do đó, môn Xã hội là thứ giúp cho thanh thiếu niên có thể vận hành đời sống xã hội, đời sống thật sự là người. Việc làm cho học sinh hiểu đời sống xã hội là như thế nào, giáo dục thái độ và năng lực tham gia, cống hiến cho sự phát triển của nó vốn là công việc của giáo dục và trước đó các môn học như Tu thân, Công dân, Địa lý, Lịch sử, Thực nghiệp đều có liên quan trực tiếp đến công việc này.
Tuy nhiên, các môn học này không đặt trọng tâm vào việc phát triển các trải nghiệm xã hội của thanh thiếu niên mà chỉ chăm chú vào việc làm cho thanh thiếu niên tiếp nhận các tri thức luân lý học, phát luật học, kinh tế học, địa lý học, lịch sử học. Vì vậy thông qua các môn học này mà học sinh có được các tri thức về đời sống xã hội nhưng chúng lại không được thống nhất lại thành một và phát huy tác dụng trong thực tiễn. Nói một cách khác là không thực hiện được việc xúc tiến sự phát triển tự nhiên kinh nghiệm xã hội của thanh thiếu niên. Môn Xã hội là môn không dựa trên hệ thống học thuật mà lấy vấn đề trong đời sống hiện thực của thanh thiếu niên làm trung tâm, từ đó mở rộng kinh nghiệm xã hội của thanh thiếu niên và làm sâu sắc chúng.
Do đó, nó không phải là sự tập hợp hay gán ghép các môn giáo khoa như trước đó. Cho nên hình bóng của việc giảng dạy Tu thân, Công dân, Lịch sử, Địa lý từ trước đến nay sẽ không còn thấy trong môn Xã hội nữa.
Thêm nữa, các tri thức , thái độ, năng lực đã được trang bị và trở thành nền tảng khi học Luân lý học, Luật học, Kinh tế học, Địa lý học, Lịch sử học sẽ được phát triển hơn trong môn Xã hội.
Ở ý nghĩa này, môn Xã hội là môn học mới được sinh ra với tư cách là hạt nhân của hoạt động giáo dục nhắm tới thanh thiếu niên từ trường học, gia đình đến bên ngoài trường học. Đây là môn giáo khoa sinh ra từ sự thống nhất toàn thể giữa đặc trưng hoạt động tâm lý của thanh thiếu niên và đời sống hiện thực và cũng là môn học đem lại niềm hi vọng và sinh khí cho đời sống của thanh thiếu niên.
Vậy thì mối quan hệ giữa môn Xã hội với các môn cùng tồn tại song hành khác như Quốc Ngữ, Toán học, Khoa học sẽ thế nào?
Nếu tư duy tách rời riêng biệt các môn học này với môn Xã hội về mặt nội dung thì sẽ có gì đó không tự nhiên.
Tuy nhiên nếu cố phân biệt chúng thì sự khác biệt giữa chúng chẳng qua chỉ nằm ở thứ chúng hướng tới. Vì vậy việc trong giờ học môn xã hội mà đưa vào giờ học môn khác hay khi dạy môn Xã hội mà cân nhắc, phối hợp với mục tiêu của môn giáo khoa khác thì đó là việc làm hết sức tự nhiên, thậm chí là phương thức mơ ước.
(CÒN TIẾP)
Nguyễn Quốc Vương dịch từ Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội, 1947 (tài liệu của Bộ giáo dục Nhật Bản)

Chương trình môn Lịch sử ở Trường trung học phổ thông Nhật Bản

November 3, 2015 Leave a comment

Bậc học Trung học phổ thông Nhật Bản kéo dài 3 năm, tùy theo từng trường mà có các ban khác nhau nhưng thông thường sẽ có các ban: Tổng hợp, phổ thông và nghề nghiệp (còn gọi là ban chuyên môn). Ở Trung học phổ thông sẽ có một hệ thống các môn bắt buộc và tự chọn (tương ứng theo ban) cho học sinh lựa chọn. Giáo dục lịch sử ở cấp THPT được thực hiện trong môn giáo khoa có tên Lịch sử-Địa lý. Đối với phân môn Lịch sử trong môn giáo khoa này, nó được phân chia thành 4 môn học nhỏ cho học sinh lựa chọn tương ứng với năng lực và nguyện vọng của bản thân  là Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B. Trong đó học sinh bắt buộc phải chọn một môn Lịch sử thế giới và một môn Lịch sử Nhật Bản.

Về mục tiêu, ngoài mục tiêu tổng quát chung cho môn học Lịch sử-Địa lý, còn có mục tiêu của từng phân môn như đã liệt kê ở phía trên.

Mục tiêu của môn giáo khoa Lịch sử-Địa lý được quy định trong bản “Hướng dẫn học tập”-văn bản chỉ đạo hiện hành của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ công bố năm 2011 như sau:

Làm sâu sắc sự lý giải và nhận thức về quá trình lịch sử hình thành nước ta, thế giới và các đặc trưng có tính địa phương của đời sống, văn hóa, giáo dục phẩm chất và sự tự giác cần thiết với tư cách là công dân Nhật Bản xây dựng nên quốc gia-xã hội hòa bình, dân chủ và sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế”

Dưới đây sẽ lần lượt giới thiệu mục tiêu và nội dung của từng môn học cụ thể nằm trong môn Lịch sử-Địa lý trích từ bản Hướng dẫn học tập hiện hành.
1. Lịch sử thế giới A

Mục tiêu

Dựa trên các tư liệu làm cho học sinh lý giải lịch sử thế giới với trung tâm là lịch sử cận hiện đại trong mối quan hệ với các điều kiện địa lý và lịch sử Nhật Bản, giáo dục năng lực tư duy lịch sử thông qua việc cho học sinh khảo sát từ quan điểm lịch sử các vấn đề của xã hội hiện đại, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Nội dung

(1) Nhập môn lịch sử thế giới

Thông qua hoạt động thiết lập và khảo sát các chủ đề thích hợp như môi trường tự nhiên với lịch sử, mối quan hệ giữa lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới mà đề cập đến các kĩ năng cơ bản của việc học tập lịch sử thế giới đồng thời nâng cao mối quan tâm tới địa lý và lịch sử, nhận ra ý nghĩa của việc học tập lịch sử thế giới

a. Môi trường tự nhiên và lịch sử

Về môi trường tự nhiên với tư cách là vũ đài của lịch sử thì đưa ra các ví dụ thích hợp như sông ngòi, biển, thảo nguyên, ốc đảo, rừng, thông qua các hoạt động như đọc hiểu bản đồ, ảnh, mà làm cho học sinh hiểu về tác dụng tương hỗ giữa môi trường tự nhiên và hoạt động của con người

b. Lịch sử thế giới trong quần đảo Nhật Bản

Về mối quan hệ và giao lưu với lịch sử thế giới được nhìn từ trong quần đảo Nhật Bản thì đưa ra các ví dụ thích hợp như con người, vật, kĩ thuật, văn hóa, tôn giáo, đời sống, thông qua hoạt động biểu hiện bằng niên biểu, bản đồ mà làm cho học sinh nhận ra mối liên hệ giữa lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới.

(2) Sự nhất thể hóa của thế giới và Nhật Bản

Đề cập tới đặc trưng của các nền văn minh Á-Âu với tư cách là tiền đề để lý giải thế giới cận hiện đại đồng thời, làm cho học sinh lý giải về sự hướng tới nhất thể hóa của thế giới với trung tâm là sự phát triển của thương nghiệp thế giới và sự xác lập chủ nghĩa tư bản từ sau thế kỉ 16  trở đi. Khi đó làm cho học sinh chú ý vào xu hướng của thế giới và mối quan hệ với Nhật Bản

a. Các nền văn minh Á-Âu

Vừa chú ý tới môi trường tự nhiên, đời sống, tôn giáo vừa khái quát về đặc trưng của các nền văn minh được hình thành ở Đông Á, Nam Á, Tây Á, Châu Âu và sự giao lưu ở biển, lục địa Á-Âu

b. Thế giới gắn kết lại và Nhật Bản cận thế

Đưa ra sự tiếp xúc và giao lưu giữa châu Âu và châu Phi, châu Mĩ, châu Á ở thời kỳ Phát kiến địa lý, các đế quốc châu Á và thể chế quốc gia chủ quyền ở châu Âu, sự phát triển của thế giới Đại Tây Dương và sự biến đổi của xã hội châu Mĩ, châu Phi, làm cho học sinh nắm vững các động thái nhất thể hóa của thế giới từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18 và sự ứng phó của Nhật Bản thời cận thế

c .Công nghiệp hóa và hình thành dân tộc của châu Âu, Mĩ

Sử dụng cách mạng công nghiệp và sự xác lập chủ nghĩa tư bản, cách mạng Pháp và sự độc lập của Mĩ, sự tiến triển của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa dân tộc, làm cho học sinh lý giải quá trình công nghiệp hóa và hình thành dân tộc ở Âu-Mĩ

d. Sự biến đổi của các nước châu Á và Nhật Bản cận đại

Sử dụng tình hình các nước châu Á ở thời kỳ châu Âu xâm nhập, sự phản kháng và sụp đổ của quá trình thực dân hóa, phụ thuộc hóa, sự biến đổi của văn hóa truyền thống, động thái của Nhật Bản trong bối cảnh đó, làm cho học sinh lý giải được sự nhất thế hóa của thế giới vào thế kỉ 19 và quá trình cận đại hóa Nhật Bản.

(3) Xã hội toàn cầu và Nhật Bản

Làm cho học sinh lý giải đặc trưng và quá trình triển khai thế giới hiện đại có cấu tạo nhất thể hóa ở quy mô toàn cầu, cho học sinh khảo sát từ quan điểm lịch sử về các vấn đề của nhân loại. Khi đó, làm cho học sinh chú ý tới động thái của thế giới và mối liên quan tới Nhật Bản

a. Sự biến đổi mau chóng của xã hội loài người.

Làm cho học sinh lý giải được sự phát triển khoa học kĩ thuật, sự cực đại hóa quốc gia và công ty, sự phổ cập giáo dục công và thống nhất dân tộc, sự gia tăng di dân quốc tế, sự phát triển của phương tiện truyền thông đại chúng, đại chúng hóa xã hội và sự biến đổi của chính trị, văn hóa; cho học sinh khảo sát về sự biến đổi của xã hội từ cuối thế kỉ 19 đến nửa đầu thế kỉ 20 từ cái nhìn lịch sử nhân loại

b. Chiến tranh thế giới và hòa bình

Làm cho học sinh lý giải về tranh chấp giữa các nước đế quốc và sự ứng phó của châu Á, châu Phi, tính chất với tư cách là cuộc chiến tranh tổng lực và nguyên nhân của hai cuộc chiến tranh thế giới, ảnh hưởng của chúng đối với thế giới và Nhật Bản, khảo sát về xu hướng của thế giới từ nửa cuối thế kỉ 19 đến nửa đầu thế kỉ 20và ý nghĩa của hòa bình

c. Thế giới thứ ba và động thái của Nhật Bản

Làm cho học sinh lý giải về sự đối lập giữa Mĩ và Liên Xô sau chiến tranh thế giới thứ hai và động thái của Nhật Bản, phong trào giải phóng dân tộc ở Á-Phi và sự độc lập khỏi sự cai trị thực dân, khảo sát về các vấn đề mà các nước Á-Phi đang đối mặt, vấn đề vũ khí hạt nhân.

d. Những bước đi tới xã hội toàn cầu và vấn đề đặt ra

Làm cho học sinh lý giải quá trình toàn cầu hóa của kinh tế thị trường từ sau thập niên, sự chấm dứt chiến tranh lạnh, sự phát triển của liên kết khu vực, sự di chuyển tới xã hội lấy nền tảng là tri thức, sự liên tục của các cuộc xung đột khu vực, các vấn đề xung quanh môi trường, năng lượng, tài nguyên, khảo sát các bước đi tới xã hội toàn cầu và các vấn đề đang ngày càng trầm trọng ở quy mô toàn cầu.

e. Thiết lập các chủ đề thích hợp liên quan đến đặc trưng và các vấn đề của thế giới hiện đại, thông qua các hoạt động như sử dụng tư liệu từ quan điểm lịch sử để nghiên cứu, trình bày kết quả đó, tiến hành thảo luận, làm cho học sinh hy vọng rằng nhờ vào sự hợp tác của mọi người trên thế giới mà có thể thực hiện được xã hội phát triển bền vững cùng chung sống.

2. Lịch sử thế giới B

Mục tiêu

Làm cho học sinh lý giải cơ cấu lớn và sự triển khai của lịch sử thế giới dựa trên các tư liệu trong mối quan hệ với các điều kiện địa lý và lịch sử Nhật Bản, thông qua khảo sát từ tầm nhìn rộng lớn tính đa dạng, phức hợp của văn hóa và đặc trưng của thế giới hiện đại mà giáo dục năng lực tư duy lịch sử, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Nội dung

(1) Cánh cửa dẫn vào lịch sử thế giới

Thông qua hoạt động thiết lập, khảo sát các chủ đề thích hợp như mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người, mối quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Nhật Bản, lịch sử thế giới nhìn từ cuộc sống thường ngày nâng cao mối quan tâm với địa lý và lịch sử, làm cho học sinh nhận ra ý nghĩa của học tập lịch sử thế giới.

a. Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người

Về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và con người, đưa ra các ví dụ lịch sử thích hợp từ các nội dung nghề nghiệp, cuộc sống, phương tiện giao thông, tài nguyên, thiên tai để cho học sinh khảo sát từ đó làm cho học sinh nhận ra tầm quan trọng của cái nhìn địa lý trong học tập lịch sử thế giới

b. Mối quan hệ giữa lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới

Về sự tiếp xúc và giao lưu của các khu vực trên thế giới với Nhật Bản: đưa ra và cho học sinh khảo sát các ví dụ lịch sử thích hợp từ con người, vật, kĩ thuật, văn hóa, tôn giáo, đời sống, làm cho học sinh nhận ra mối liên hệ giữa lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới

c. Lịch sử thế giới nhìn từ đời sống hàng ngày

Về lịch sử thế giới nhìn từ đời sống hàng ngày: đưa ra các ví dụ cụ thể từ ăn, mặc, ở, gia đình, giải trí, thể thao, cho học sinh khảo sát về sự biến đổi đó, làm cho học sinh nhận ra việc tiếp cận lịch sử thế giới từ đời sống hàng ngày.

(2) Hình thành thế giới khu vực

Làm cho học sinh nắm được rằng nhân loại vừa thích ứng với môi trường tự nhiên của từng khu vực vừa tạo ra văn minh dựa trên nền tảng nông nghiệp và chăn nuôi, từ đó tạo ra thế giới khu vực lớn hơn.

  1. Thế giới Tây Á-Thế giới Địa Trung Hải

Làm cho học sinh nắm được đặc trưng địa lý của Tây Á, khu vực Địa Trung Hải, văn minh phương Đông, hoạt động của người Iran, văn minh Hy lạp, Rô-ma, quá trình hình thành thế giới Tây Á và thế giới Địa Trung Hải

a. Thế giới Nam Á-Thế giới Đông Nam Á

Đề cập đến đặc trưng địa lý của Nam Á và Đông Nam Á, văn minh sông Ấn, sự phát triển của văn hóa, quốc gia, xã hội Nam Á sau khi người Arian xâm nhập, sự hình thành các quốc gia Đông Nam Á và làm cho học sinh nắm vững quá trình hình thành thế giới Nam Á và thế giới Địa Trung Hải.

b. Thế giới Đông Á-Thế giới châu Á lục địa.

Đề cập đến đặc trưng địa lý của Đông Á và châu Á lục địa, khởi nguyên văn minh Trung Hoa và động thái của đế quốc Tần, Hán, quốc gia du mục, đế quốc Đường và hoạt động của các dân tộc Đông Á, làm cho học sinh nắm vững quá trình hình thành thế giới Đông Á bao gồm Nhật Bản và thế giới châu Á lục địa.

c. Các thế giới khu vực nhìn từ trục thời gian

Thông qua các hoạt động thiết lập chủ đề, sắp xếp các nội dung liên quan theo niên đại, tạo ra mối liên hệ nhân quả và hoạt động so sánh các thế giới khu vực mà làm cho học sinh chú ý tới mối liên hệ về thời gian của lịch sử thế giới, học tập kĩ năng chỉnh lý và biểu hiện .

(3) Sự giao lưu và tái cấu trúc các thế giới khu vực

Làm cho học sinh nắm được rằng dựa trên bối cảnh là mạng lưới lục địa và khu vực biển Á-Âu, giao lưu thế giới khu vực đã trở nên sôi nổi hơn một bước và sự hình thành, tái cơ cấu thế giới khu vực mới đã được xúc tiến.

a. Sự hình thành và mở rộng thế giới đạo Hồi.

Đề cập đến sự phát triển của đế quốc người Ả-rập và đế quốc người Hồi giáo, hoạt động của các dân tộc thuộc hệ Thổ Nhĩ Kỳ, quá trình Hồi giáo hóa của châu Phi, Nam Á, làm cho học sinh nắm vững sự hình thành và mở rộng của thế giới Hồi giáo

b. Sự hình thành và triển khai thế giới châu Âu

Đề cập đến động thái của đế quốc Bizantium và Đông Âu, sự thành lập và biến động của xã hội phong kiến Tây Âu, làm cho học sinh nắm vững sự hình thành và phát triển Thiên chúa giáo và thế giới châu Âu

c. Động thái của châu Á lục địa và các thế giới khu vực

Đề cập đến các dân tộc châu Á lục địa và cuộc kháng chiến của nhà Tống, sự hưng vong của đế quốc Mông Cổ và thế giới khu vực Á-Âu, sự biến đối của Nhật Bản, làm cho học sinh nắm vững sự giao lưu của các dân tộc châu Á lục địa với các thế giới khu vực và vai trò đối với sự tái cấu trúc chúng

d. Các thế giới khu vực nhìn từ trục thời gian

Thông qua các hoạt động như chú ý tới tính đồng đại, thiết lập chủ đề, thể hiện trên bản đồ sự giao lưu, tiếp xúc của các thế giới khu vực, so sánh theo từng thế kỉ làm cho học sinh chú ý tới lịch sử thế giới theo mối liên hệ không gian, làm cho học sinh có được kĩ năng biểu hiện và chỉnh lý.

(4) Sự kết hợp và biến đổi của các thế giới khu vực

Làm cho học sinh nắm được rằng với bối cảnh là sự mở rộng châu Âu và sự phồn vinh của châu Á, sự kết hợp của các thế giới khu vực đã được xúc tiến thêm một bước đồng thời bằng sự nổi lên của Châu Âu hoàn thành công nghiệp hóa và thể chế quốc gia chủ quyền, sự cấu tạo hóa thế giới đã tiến triển và làm cho xã hội biến đổi.

a. Sự phồn vinh của khu vực châu Á và Nhật Bản

Sử dụng động thái của khu vực biển Đông Nam Á, các đế quốc Hồi giáo của Tây Á, Nam Á, mối quan hệ giữa đế quốc Minh, Thanh với Nhật Bản và Triều Tiên, làm cho học sinh lý giải đặc trưng của các khu vực châu Á từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18 và vị trí của Nhật Bản trong đó

b. Sự mở rộng châu Âu và thế giới Đại tây dương.

Sử dụng phong trào phục hưng, cải cách tôn giáo, sự thành lập thể chế quốc gia chủ quyền, sự hình thành thế giới Đại Tây Dương, sự tiến vào các khu vực thế giới, làm cho học sinh lý giải được đặc trưng của thế giới châu Âu từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18 và mối quan hệ với châu Mĩ, châu Phi

c. Xã hội công nghiệp và sự hình thành quốc gia dân tộc

Sử dụng cách mạng công nghiệp, cách mạng Pháp, độc lập của các bang ở bắc Mĩ, sự thay đổi về chính trị, kinh tế của Mĩ, châu Âu từ nửa sau thế kỉ 18 đến thế kỉ 19 để làm cho học sinh hiểu về xã hội công nghiệp và sự hình thành quốc gia dân tộc.

d. Sự hình thành thị trường thế giới và Nhật Bản

Sử dụng sự hình thành thị trường thế giới, sự xâm nhập vào châu Á của các nước châu Âu, biến động và cải cách của các nước châu Á như đế quốc Thanh, Ốt-tô-man, Nhật Bản để làm cho học sinh hiểu đặc trưng của châu Á thế kỉ 19 và vị trí của Nhật Bản trong đó

e. Lịch sử thế giới nhìn từ tư liệu

Thông qua các hoạt động như thiết lập chủ đề, lựa chọn tư liệu về thời đại đó, tóm tắt nội dung tư liệu, suy đoán về ý đồ và mục tiêu, đưa ra các nghi vấn đối với tư liệu mà làm cho học sinh khảo sát đa diện, đa góc độ tư liệu, có được kĩ năng đọc hiểu.

(5) Thời của thế giới toàn cầu

Làm cho học sinh lý giải được rằng với bối cảnh là sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự phát triển mạnh mẽ của năng lực sản xuất, thế giới đã nhất thể hóa ở quy mô toàn cầu, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới và chiến tranh lạnh, sự tồn tại phụ thuộc lẫn nhau đã trở nên ngày một mạnh hơn. Ngoài ra, cho học sinh khảo sát từ quan điểm lịch sử những vấn đề mà nhân loại ngày nay đang đối mặt và hi vọng vào thế giới trong thế kỉ 21.

a. Chủ nghĩa đế quốc và sự biến đổi của xã hội

Làm cho học sinh lý giải được sự phát triển của khoa học hoc kĩ thuật, sự mở rộng quy mô lớn của xí nghiệp, quốc gia, sự tiến triển của thống nhất dân tộc, kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc và sự ứng phó của châu Á, châu Phi, sự gia tăng di dân quốc tế, cho học sinh khảo sát xu hướng của thế giới và đặc trưng của xã hội từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20

b. Hai cuộc chiến tranh thế giới và sự xuất hiện của xã hội đại chúng

Làm cho học sinh lý giải được hai cuộc chiến tranh thế giới với tư cách là chiến tranh tổng lực, cách mạng Nga và sự thành lập Liên bang Xô Viết, sự xuất hiện của xã hội đại chúng.

c. Chiến tranh lạnh Xô-Mĩ và thế giới thứ ba

Làm cho học sinh lý giải được sự triển khai của chiến tranh lạnh giữa hai phe Mĩ và Liên Xô, sự phục hưng và phát triển kinh tế sau chiến tranh, sự độc lập của các nước Á-Phi, các vấn đề sau đó và sự tìm kiếm hòa bình, cùng chung sống, khảo sát về xu hướng của thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 1960.

d. Thế giới toàn cầu hóa và Nhật Bản

Làm cho học sinh lý giải được quá trình toàn cầu hóa kinh tế thị trường và sự tăng trưởng kinh tế của châu Á, sự kết thúc chiến tranh lạnh và sự giải thể Liên bang Xô Viết, sự tiến triển của thống nhất khu vực, sự di chuyển sang xã hội có nền tảng tri thức, sự liên tục của các cuộc xung đột khu vực, các vấn đề về môi trường, tài nguyên, năng lượng, khảo sát xu hướng và đặc trưng xã hội của thế giới và Nhật Bản từ sau những năm 1970.

e. Sử dụng tư liệu, nghiên cứu các vấn đề của thế giới toàn cầu

Thông qua các hoạt động cho học sinh thiết lập các chủ đề thích hợp về các vấn đề của thế giới toàn cầu, sử dụng tư liêu từ quan điểm lịch sử để nghiên cứu, trình bày, thảo luận kết quả đó mà làm cho học sinh học được kĩ năng sử dụng tư liệu, kĩ năng biểu hiện đồng thời có hi vọng về xã hội phát triển bền vững và phương thức tồn tại của Nhật Bản, thế giới với sự hợp tác của mọi người trên thế giới.

  1. Lịch sử Nhật Bản A

Mục tiêu

Dựa trên các tư liệu, tạo ra mối quan hệ giữa lịch sử cận hiện đại nước ta và các điều kiện địa lý, lịch sử thế giới, làm cho học sinh chú ý và khảo sát các vấn đề hiện đại, từ đó giáo dục năng lực tư duy lịch sử, giáo dục phẩm chất và sự tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong cộng đồng quốc tế.

Nội dung

(1) Thời đại của chúng ta và lịch sử

Thông qua hoạt động tư duy về mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử cận hiện đại và hiện tại từ quan điểm xã hội hiện đại và các vấn đề của nó là thứ được hình thành một cách lịch sử mà nâng cao mối quan tâm đối với lịch sử và làm cho học sinh nhận ra ý nghĩa của việc học tập lịch sử.

(2) Nhật Bản hiện đại và thế giới

Cho học sinh coi trọng và khảo sát kinh tế, chính trị, môi trường quốc tế, đời sống quốc dân và văn hóa và mối quan hệ qua lại giữa chúng từ khi mở cửa đất nước tới khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai.

a. Hình thành quốc gia cận đại và sự dịch chuyển quan hệ quốc tế

– Chú ý tới sự khởi đầu của cận đại, sự xâm lược châu Á của các nước Âu Mĩ, sự biến đổi của xã hội, văn hóa do các cải cách của chính phủ Minh Trị và sự du nhập văn hóa Âu Mĩ trong văn minh khai hóa, phong trào tự do dân quyền và sự thành lập thể chế lập hiến, cho học sinh khảo sát về quá trình hình thành quốc gia cận đại trải từ khi mở cửa đất nước trải qua cải cách Minh Trị.

– Chú ý tới sự sửa đổi điều ước, sự biến đổi của quan hệ đối ngoại trước và sau chiến tranh Nhật-Thanh, Nhật-Nga, nền tảng xã hội và vai trò của chính đảng, cho học sinh khảo sát về sự dịch chuyển của môi trường quốc tế và chính trị chính đảng

b. Sự phát triển của công nghiệp cận đại và tình hình quốc tế xung quanh hai cuộc chiến tranh thế giới.

– Chú ý tới cách mạng công nghiệp, sự biến đổi của đời sống nông thôn, đô thị và sự phát sinh các vấn đề xã hội, sự phát triển của học thuật, văn hóa và sự phổ cập giáo dục, xã hội đại chúng và sự hình thành văn hóa đại chúng, cho học sinh khảo sát về sự phát triển của công nghiệp cận đại và sự biến đổi của đời sống quốc dân.

– Chú ý tới mối quan hệ đối lập và hợp tác giữa các quốc gia và lập trường Nhật Bản, xu hướng kinh tế và xã hội trong nước, mối quan hệ với các nước láng giềng châu Á, cho học sinh khảo sát về hai cuộc chiến tranh thế giới và sự biến đổi tình thế trong nước và ngoài nước trong khoảng thời gian đó

c. Nghiên cứu thời hiện đại

Thông qua hoạt động thiết lập các chủ đề thích hợp về sản xuất với đời sống, tình hình quốc tế và dân tộc, sự biến đổi xã hội trong mối quan hệ với các sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ thể từ quan điểm các động thái về chính trị, kinh tế, môi trường quốc tế, đời sống quốc dân và văn hóa có mối quan hệ qua lại với nhau, giáo dục cho học sinh cách nhìn, tư duy lịch sử.

(3) Nhật Bản hiện đại và thế giới

Về xu hướng chính trị, kinh tế của thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, môi trường quốc tế và đời sống quốc dân, văn hóa: coi trọng và cho học sinh khảo sát về mối quan hệ giữa các vấn đề hiện đại và lịch sử cận hiện đại

a. Chú ý tới chính trị Nhật Bản hiện đại và cộng đồng quốc tế, chính sách chiếm đóng và các cải cách, sự ra đời của hiến pháp, hiệp ước hòa bình và độc lập, giao lưu quốc tế và sự mở rộng cống hiến quốc tế, cho học sinh khảo sát về sự tái xuất phát của nước ta và sự dịch chuyển của chính trị, chính sách đối nội và đối ngoại sau đó.

b. Sự phát triển kinh tế và sự biến đổi đời sống quốc dân

Chú ý tới sự phục hưng kinh tế sau chiến tranh, tăng trưởng kinh tế cao độ và sự phát triển khoa học kĩ thuật, quốc tế hóa kinh tế, sự biến đổi về ý thức đời sống và giá trị quan, cho học sinh khảo sát về sự phát triển của kinh tế Nhật Bản và sự biến đổi của đời sống quốc dân.

c. Tìm kiếm từ hiện đại.

Từ quan điểm xã hội hiện đại và các vấn đề của nó là thứ được hình thành một cách lịch sử mà cho học sinh thiết lập các chủ đề thích hợp có liên quan đến các hiện tượng xã hội xung quanh bản thân và lịch sử cận hiện đại, nghiên cứu nó sử dụng tư liệu và thông qua hoạt động biểu hiện tư duy hướng về sự giải quyết nó mà làm cho học sinh có được tư duy và cách nhìn lịch sử.

  1. Lịch sử Nhật Bản B

Mục tiêu

Dựa trên các tư liệu cho học sinh khảo sát tổng hợp về sự triển khai lịch sử nước ta trong mối liên quan với các điều kiện địa lý và lịch sử thế giới, làm sâu sắc nhận thức về đặc trưng truyền thống và văn hóa nước ta, nuôi dưỡng tư duy lịch sử và giáo dục phẩm chất, lòng tự giác với tư cách là công dân Nhật Bản sống một cách chủ thể trong xã hội quốc tế.

Nội dung

(1) Nhật Bản nguyên thủy , cổ đại và Đông Nam Á

Cho học sinh khảo sát về đặc trưng xã hội nguyên thủy, xã hội cổ đại và đặc trưng văn hóa, xã hội trong mối quan hệ với môi trường quốc tế.

a. Lịch sử và tư liệu

Chú ý đến đặc trưng của các tư liệu lịch sử phong phú như di tích, di vật, văn bản, làm cho học sinh hiểu phương pháp cơ bản quan sát lịch sử, ở đó lịch sử được trần thuật dựa trên các tư liệu, nâng cao mối quan tâm tới lịch sử, đồng thời làm cho học sinh nhận ra tầm quan trọng của bảo vệ tài sản văn hóa.

b. Buổi bình minh của văn hóa Nhật Bản và sự hình thành quốc gia cổ đại

Cho học sinh khảo sát về quá trình xác lập thể chế luật lệnh và sự hình thành quốc gia ở nước ta trải qua văn hóa đá cũ, thời đại văn hóa Jomon à Yayoi, chú ý tới mối quan hệ với Tùy, Đường và thế giới Đông Á, văn hóa Kofun, văn hóa Tenpyo, sự hình thành và phát triển của quốc gia cổ đại, đặc trưng văn hóa và bối cảnh hình thành của nó

c. Sự dịch chuyển quốc gia cổ đại và sự biến đổi của xã hội.

Chú ý đến sự biến đổi trong quan hệ với thế giới Đông Á, các động thái của địa phương như hoạt động của trang viên, lãnh địa và sự xuất hiện của võ sĩ, cho học sinh khảo sát về sự dịch chuyển của nhà nước cổ đại, đặc trưng, bối cảnh và sự hình thành của nó cũng như sự manh nha xã hội trung thế.

(2) Nhật Bản trung thế và Đông Nam Á

Cho học sinh khảo sát về quốc gia trung thế và đặc trưng của văn hóa xã hội trong mối liên quan với môi trường quốc tế.

a. Giải thích lịch sử

Cho học sinh giải thích về ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng trong lịch sử, thông qua các hoạt động như sử dụng các tư liệu bao gồm tư liệu lịch sử, khảo sát sự dịch chuyển, biến đổi của các sự kiện, hiện tượng lịch sử và nguyên nhân nhân quả

b. Sự hình thành quốc gia trung thế

Chú ý tới sự cai trị đất đai của võ sĩ và mối quan hệ quý tộc và võ sĩ, mối quan hệ với Tống, Nguyên, xu hướng của Phật giáo, cho học sinh khảo sát về quá trình hình thành quốc gia trung thế, cơ chế xã hội, đặc trưng văn hóa, sự hình thành và bối cảnh của nó.

c. Sự triển khai xã hội trung thế

Chú ý tới xu hướng của các địa phương ở Nhật Bản, mối quan hệ mậu dịch Nhật-Minh và thế giới Đông Á, sự phát triển của kinh tế sản xuất, sự xuất hiện của thường dân, các cuộc khởi nghĩa, mối quan hệ giữa văn hóa võ sĩ và văn hóa quý tộc, sự manh nha của văn hóa thường dân, cho học sinh khảo sát sự phát triển đa dạng và đặc trưng của văn hóa xã hội thời trung thế cùng bối cảnh và sự ra đời của nó.

(3) Nhật Bản cận thế và thế giới.

Cho học sinh khảo sát về quốc gia cận thế và đặc trưng văn hóa, xã hội trong mối quan hệ với môi trường quốc tế.

a. Thuyết minh lịch sử

Làm cho học sinh nhận ra rằng trong các sự kiện, hiện tượng lịch sử có tồn tại nhiều sự giải thích lịch sử, cho học sinh xây dựng lô-gic và tư duy về nó dựa trên các căn cứ và lý luận.

b. Hình thành quốc gia cận thế

Chú ý tới sự tiếp xúc với thế giới châu Âu và mối quan hệ với các nước châu Á, chính quyền Oda-Toyotomi và nền tảng kinh tế, chính trị dưới thể chế Mạc phủ, sự hình thành chế độ phân biệt thân phân, vai trò của Nho giáo, đặc trưng văn hóa, cho học sinh khảo sát về quá trình hình thành quốc gia cận thế và đặc trưng của nó cũng như cơ cấu của xã hội.

c. Sự phát triển của kinh tế sản xuất và sự biến đổi của thể chế Mạc phủ

Chú ý đến các ngành sản xuất dưới thể chế Mạc phủ như nông nghiệp, sự phát triển giao thông, kĩ thuật, sự hình thành văn hóa thị dân, sự xâm nhập châu Á của các nước Âu Mĩ, các động thái học thuật, tư tưởng, cho học sinh khảo sát về đặc trưng đời sống, văn hóa ở các làng nông nghiệp, ngư nghiệp, đô thị cùng bối cảnh hình thành chúng, sự biến đổi của thể chế Mạc phủ và sự hình thành nền móng của cận đại hóa.

(4) Sự hình thành Nhật Bản cận đại và thế giới

Cho học sinh khảo sát về sự thình thành quốc gia cận đại và đặc trưng văn hóa, xã hội trong mối quan hệ với môi trường quốc tế

a. Cải cách Minh Trị và sự ra đời thể chế lập hiến

Chú ý tới việc mở cửa đất nước và sự diệt vong của Mạc phủ, ảnh hưởng của văn hóa-tư tưởng Âu Mĩ như văn minh khai hóa và sự biến đổi của môi trường quốc tế, phong trào tự do dân quyền và sự thành lập thể chế lập hiến, cho học sinh khảo sát về quá trình cận đại hóa của nước ta kể từ thời Minh Trị

b. Sự dịch chuyển quan hệ quốc tế và sự phát triển quốc gia lập hiến

Chú ý tới sự sửa đổi các điều ước, chiến tranh Nhật –Thanh, Nhật-Nga và sự dịch chuyển mối quan hệ với châu Á và các nước Âu Mĩ sau đó, cho khảo sát sự phát triển của nước ta với tư cách là quốc gia lập hiến

c. Sự phát triển của sản xuất cận đại và văn hóa cận đại

Chú ý đến sự nâng cao đời sống quốc dân và sự phát sinh các vấn đề xã hội, sự phát triển của học thuật và sự mở rộng chế độ giáo dục, cho học sinh khảo sát quá trình phát triển của sản xuất cận đại, đặc trưng văn hóa cận đại, sự ra đời và bối cảnh của nó.

(5) Nhật Bản trong thời kì diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới và Nhật Bản

Cho học sinh khảo sát về sự phát triển của quốc gia hiện đại và đặc trưng văn hóa, xã hội trong mối quan hệ với môi trường quốc tế.

a. Sự phát triển của chính trị chính đảng và sự hình thành xã hội đại chúng

Chú ý đến xu hướng chính trị và phong trào xã hội, sự phát triển của đô thị và sự biến đổi của các làng nông nghiệp ngư nghiệp, quá trình đại chúng hóa văn hóa, sự phát triển của chính trị chính đảng, đặc trưng của xã hội đại chúng và bối cảnh sự hình thành nó.

b. Chiến tranh thế giới thứ nhất và xã hội, kinh tế Nhật Bản

Chú ý đến lập trường của Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế, cho học sinh khảo sát sự dịch chuyển chính sách đối ngoại trước và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ảnh hưởng của cuộc chiến đối với kinh tế, chính trị nước ta.

c. Chiến tranh thế giới thứ hai và Nhật Bản

Chú ý tới động thái xã hội quốc tế, chính trị trong nước và sự dao động về kinh tế, mối quan hệ với các nước láng giếng châu Á, cho học sinh khảo sát về các động thái của Nhật Bản và mối quan hệ với Chiến tranh thế giới thứ hai như sự dịch chuyển chính sách đối ngoại, sự tăng cường thể chế thời chiến.

(6) Nhật Bản hiện đại và thế giới

Cho học sinh khảo sát về xã hội hiện đại và đặc trưng đời sống quốc dân trong mối liên quan với môi trường quốc tế, làm cho học sinh nhận thức về lập trường của Nhật Bản trong thế giới.

a. Chính trị Nhật Bản hiện đại và cộng đồng quốc tế

Chú ý đến chính sách chiếm đóng và các cải cách, sự ra đời hiến pháp mới, hiệp ước hòa bình và độc lập, giao lưu quốc tế và sự mở rộng cống hiến quốc tế, cho học sinh khảo sát về sự tái xuất phát của nước ta và sự dịch chuyển quan hệ đối ngoại, chính trị sau đó.

b. Sự phát triển kinh tế và sự biến đổi đời sống quốc dân.

Chú ý đến sự phục hưng kinh tế sau chiến tranh, tăng trưởng kinh tế cao độ và sự phát triển khoa học kĩ thuật, quốc tế hóa kinh tế, sự biến đổi của ý thức đời sống và giá trị quan, cho học sinh khảo sát về sự phát triển của kinh tế Nhật Bản và sự biến đổi của đời sống quốc dân

c. Luận về lịch sử

Thông qua hoạt động cho học sinh thiết lập các chủ đề thích hợp về xã hội và cá nhân, Nhật Bản trong lòng thế giới, lịch sử xã hội địa phương và đời sống, sử dụng tư liệu và tìm kiếm, hoạt động trình bình về tư duy mà làm cho học sinh trang bị cho mình tư duy và cách nhìn lịch sử.

Có thể dễ dàng nhận thấy mấy đặc điểm chung của cả bốn môn học về lịch sử nói trên.

Thứ nhất, lịch sử được xem xét và biên soạn dựa trên cái nhìn rộng lớn về mối quan hệ giữa lịch sử Nhật Bản và lịch sử thế giới. Ở đó, việc nhìn lịch sử Nhật Bản từ lịch sử thế giới và ngược lại được coi trọng. Vấn đề “Nhật Bản trong lòng thế giới” với trọng tâm là vị trí và ảnh hưởng của Nhật Bản trong thế giới khu vực và thế giới được quan tâm đáng kể.
Thứ hai, là các nội dung học tập được tuyển chọn mặc dù được xây dựng dựa trên trục thời gian nhưng lại được kết cấu thành các chủ đề xuất phát hoặc có mối liên hệ gắn bó mật thiết với xã hội hiện tại. Tính chất “giáo dục lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội” được thể hiện rất rõ.

Thứ ba, tư duy lịch sử, cách học lịch sử cũng trở thành một nội dung học tập quan trọng trong chương trình. Các năng lực như năng lực tư duy, năng lực sử dụng tư liệu, năng lực biểu hiện được chú trọng xuyên suốt cả cấp học.

Cuối cùng, ở lịch sử thế giới, lịch sử khu vực được quan tâm trong mối quan hệ mật thiết với các khu vực khác và dòng chảy chung của thế giới và ở lịch sử Nhật Bản, lịch sử-văn hóa địa phương cũng được đưa vào chương trình. Sự chú ý tới lịch sử địa phương này có mối liên hệ mật thiết với lý luận sử học và giáo dục lịch sử được phát triển trong suốt 70 năm qua, đặc biệt là lý luận giáo dục môn Nghiên cứu xã hội “giáo tài bắt rễ từ địa phương”.

Nguyễn Quốc Vương

Nhật Bản , 11/2015

Chương trình giáo dục lịch sử ở trường tiểu học Nhật Bản

November 3, 2015 Leave a comment

Ở Nhật Bản hiện tại, giáo dục lịch sử có một vị trí quan trọng trong trường phổ thông và được thực hiện ở cả ba cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông (THPT). Giáo dục lịch sử ở đây được thực hiện thông qua môn Nghiên cứu xã hội (Xã hội) và môn Lịch sử. Vì vậy trên thực tế ở trường phổ thông Nhật Bản tồn tại hai kiểu giáo dục lịch sử: giáo dục lịch sử trong môn Lịch sử và giáo dục lịch sử trong môn Nghiên cứu xã hội. Để giúp những người soạn chương trình môn Lịch sử nước nhà và công chúng có thêm thông tin tham khảo, ở đây tôi sẽ lần lượt giới thiệu mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục lịch sử hiện hành ở cả ba cấp học phổ thông của Nhật Bản.

Từ sau 1945, giáo dục tiểu học ở Nhật kéo dài 6 năm. Trước thập niên 90 của thế kỉ XX, môn Nghiên cứu xã hội có ở cả lớp 1 và lớp 2 tuy nhiên sau đó nó được thay thế bằng môn Đời sống. Trong chương trình hiện nay, giáo dục lịch sử được bắt đầu từ lớp 3 trong môn Nghiên cứu xã hội. Đây là môn học có tính tổng hợp cao, bao hàm trong nó cả lịch sử, địa lý, công dân.

Mục tiêu của môn học này là nhằm “làm cho học sinh có hiểu biết về đời sống xã hội, giáo dục hiểu biết và tình yêu đối với lịch sử và lãnh thổ nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng nên quốc gia-xã hội hòa bình dân chủ và sống trong cộng đồng quốc tế”.

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát này, bản chương trình (có tên gọi “Hướng dẫn học tập”) xác định mục tiêu và nội dung học tập ở từng khối lớp.

Lớp 3 và lớp 4

  1. Mục tiêu
    (1) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của địa phương và đời sống tiêu dùng cùng các hoạt động nhằm bảo vệ đời sống khỏe mạnh của mọi người, bảo vệ môi trường sống tốt đẹp.

(2) Học sinh có hiểu biết về môi trường địa lý của địa phương, sự biến đổi của đời sống con người và lao động của những người đi trước đã nỗ lực vì sự phát triển của địa phương.

(3) Quan sát, điều tra các hiện tượng xã hội ở địa phương đồng thời sử dụng có hiệu quả bản đồ và các tư liệu cụ thể khác, giáo dục năng lực tư duy, năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm về đặc trưng và mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng xã hội của địa phương.

  1. Nội Dung

(1) Quan sát, điều tra về địa hình đặc trưng của thành phố, quận, khu phố, làng, địa phương, tình hình sử dụng đất đai, địa điểm và hoạt động của các cơ sở công cộng chủ yếu, tình hình giao thông, các tòa nhà còn lại từ thời xưa.

(2) Tham quan học tập và điều tra về sản xuất, buôn bán của người dân địa phương và suy ngẫm về công phu sáng tạo của những người làm những công việc đó.

(3) Điều tra, tham quan học tập những nội dung liên quan tới việc đảm bảo nước uống, điện, ga cần thiết cho đời sống người dân địa phương và việc xử lý rác thải, hiểu được rằng những biện pháp và công việc đó có ích cho việc duy trì và nâng cao môi trường sống tốt đẹp và đời sống lành mạnh của người dân địa phương.

(4) Tham quan học tập, điều tra về việc phòng chống tai nạn, thiên tai trong xã hội địa phương, sử dụng các tư liệu điều tra được để suy ngẫm về công phu và nỗ lực của những người làm việc ở các cơ quan bảo vệ sự an toàn của người dân và người dân địa phương.

(5) Tham quan học tập, điều tra về đời sống của người dân địa phương, tóm tắt lại thành niên biểu, suy ngẫm về sự biến đổi của đời sống dân cư, nguyện vọng của con người lao động và nỗi cực nhọc của những người đi trước đã nỗ lực nâng cao đời sống của người dân ở địa phương.

(6) Điều tra về tình hình tỉnh, sử dụng tư liệu đó để tạo ra bản đồ câm, điều tra và suy ngẫm về đặc trưng của các tỉnh: vị trí của thành phố mình đang sống, tên gọi và vị trí của 47 tỉnh, địa hình của tỉnh, khái quát về sản xuất, giao thông của tỉnh, đặc trưng đời sống người dân trong tỉnh, mối quan hệ giữa các tỉnh và với nước ngoài…

Lớp 5

  1. Mục tiêu

(1) Học sinh hiểu biết về lãnh thổ nước ta, mối quan hệ giữa môi trường lãnh thổ và đời sống quốc dân, làm sâu sắc mối quan tâm về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, giáo dục tình yêu đối với lãnh thổ.

(2) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của nước ta và mối quan hệ giữa sản xuất và đời sống quốc dân, có mối quan tâm tới sự phát triển của sản xuất của nước ta và sự tiến triển của thông tin hóa trong xã hội.

(3) Điều tra cụ thể về các hiện tượng xã hội, đồng thời sử dụng có hiệu quả các tư liệu cơ bản các loại như bản đồ, quả địa cầu, số liệu thống kê, giáo dục năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm được và năng lực tư duy về ý nghĩa của các hiện tượng xã hội.

  1. Nội dung

(1) Sử dụng quả địa cầu, bản đồ, tư liệu để điều tra về tình hình tự nhiên của lãnh thổ, mối quan hệ mật thiết giữa môi trường lãnh thổ với sản xuất và đời sống của con người.

(2) Sử dụng bản đồ, quả địa cầu và tư liệu, tiến hành điều tra về nông nghiệp và thủy sản nước ta, suy ngẫm về mối quan hệ sâu sắc giữa việc phát huy vai trò quan trọng đảm bảo thực phẩm của quốc dân và môi trường tự nhiên.

(3) Sử dụng bản đồ, quả địa cầu, tư liệu để điều tra về sản xuất công nghiệp của nước ta, tư duy về vai trò quan trọng của nó đối với đời sống quốc dân.

(4) Sử dụng tư liệu điều tra các nội dung về tình hình xã hội thông tin hóa và ngành công nghệ thông tin của nước ta, tư duy được rằng sự phát triển của thông tin hóa có ảnh hưởng lớn đến đời sống quốc dân và việc sử dụng hiệu quả thông tin rất quan trọng.

Lớp 6

  1. Mục tiêu

(1) Học sinh có mối quan tâm, hứng thú và sự hiểu biết sâu sắc về sự nghiệp của những người đã có vai trò lớn đối với sự phát triển của quốc gia-xã hội và các di sản văn hóa ưu tú.

(2) Học sinh có hiểu biết về tác dụng của chính trị trong đời sống thường ngày, tư duy chính trị của nước ta, đời sống của các nước có mối quan hệ sâu sắc với nước ta, vai trò của nước ta trong cộng đồng quốc tế, sự tự giác về tầm quan trọng của việc cùng chung sống với mọi người ở các nước khác trên thế giới với tư cách là người Nhật mong ước hòa bình.

(3) Điều tra cụ thể về các hiện tượng xã hội, đồng thời sử dụng một cách hiệu quả các tư liệu cơ bản các loại như bản đồ, quả địa cầu, niêu biểu… giáo dục năng lực biểu hiện những gì điều tra, suy nghĩ được, năng lực tư duy từ tầm nhìn rộng lớn về ý nghĩa của hiện tượng xã hội.

  1. Nội dung

(1) Sử dụng các tư liệu, di sản văn hóa mà trung tâm là các di sản văn hóa tiêu biểu và hoạt động của nhân vật để điều tra về các sự kiện, hiện tượng chủ yếu trong lịch sử nước ta, làm cho học sinh suy ngẫm về ý nghĩa của việc học tập lịch sử đồng thời làm sâu sắc sự hiểu biết và mối quan tâm về bối cảnh lịch sử của đời sống bản thân chúng ta, lịch sử nước ta và vai trò của những người đi trước.

  1. Điều tra về đời sống hái lượm, săn bắt, nông nghiệp và Kofun (mộ cổ), hiểu tình hình thống nhất lãnh thổ do trình đình Yamato tiến hành.
  2. Điều tra về sự tiếp nhận văn hóa đại lục, cải cách Taika, tình hình chế tạo đại tượng phật, đời sống của quý tộc, việc xác lập chính trị với trung tâm là thiên hoàng và sự ra đời văn hóa kiểu Nhật.
  3. Điều tra về trận chiến Genpei, sự ra đời Mạc phủ Kamakura, trận chiến với quân Nguyên, sự ra đời của chính trị do võ sĩ tiến hành.
  4. Điều tra về các công trình kiến trúc tiêu biểu và tranh vẽ ra đời vào khoảng thời gian Mạc phủ được đặt ở Muromachi của Kyoto.
  5. Điều tra về nguồn gốc du nhập của đạo Thiên chúa, việc thống nhất thiên hạ của Oda-Toyotomi, sự ra đời của Mạc phủ Edo, chế độ võ sĩ luân chuyển về Tokyo, thời kì tỏa quốc, thời kì chiến quốc chấm dứt, chế độ phân biệt thân phận xác lập và chính trị do sĩ tiến hành trở nên ổn định.
  6. Điều tra về Kabuki, tranh Phù thế, Quốc học, Lan học, sự ra đời của học thuật mới và sự phồn thịnh của văn hóa thị dân.
  7. Điều tra về sự xuất hiện của Hắc thuyền, Cải cách Minh Trị, văn minh khai hóa, hiểu được rằng bằng việc tiến hành bỏ các phiên lập tỉnh, cải cách tứ dân bình đẳng và đưa vào văn hóa Âu Mĩ, cận đại hóa đã được xúc tiến.
  8. Điều tra về việc công bố Hiến pháp đại đế quốc Nhật Bản, chiến tranh Nhật –Thanh, chiến tranh Nhật-Nga, sự phát triển của khoa học, hiểu được rằng sức mạnh của nước ta tăng lên và địa vị quốc tế được nâng cao.
  9. Điều tra về sự biến Nhật-Hoa, Chiến tranh thế giới thứ hai với sự tham gia của nước ta, việc chế định Hiến pháp nước Nhật Bản, tổ chức Olympic, hiểu được rằng sau chiến tranh thế giới thứ hai nước ta xuất phát với tư cách là quốc gia dân chủ và đời sống quốc dân được nâng cao, đảm nhận vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế.

(2) Điều tra các nội dung sau liên quan tới vai trò của chính trị của nước ta, sử dụng các tư liệu điều tra được để điều tra, tư duy về việc chính trị có vai trò quan trọng trong việc làm ổn định và nâng cao đời sống quốc dân trong mối quan hệ với chủ quyền quốc dân, và việc chính trị dân chủ của nước ta hiện nay là dựa trên tư duy cơ bản của Hiến pháp nước Nhật Bản.

  1. Vai trò của chính quyền địa phương, chính trị nhà nước được phản ánh trong đời sống quốc dân.
  2. Việc hiến pháp Nhật Bản quy định nền tảng của quốc gia và đời sống quốc dân như lý tưởng của quốc gia, vị trí của thiên hoàng, quyền lợi và nghĩa vụ của quốc dân.

(3) Sử dụng quả địa cầu, bản đồ và tư liệu điều tra được để điều tra về các nội dung sau về vai trò của Nhật Bản trong lòng thế giới, làm cho học sinh tư duy rằng để sống cùng với người dân các nước thì việc hiểu biết lẫn nhau về văn hóa, tập quán rất quan trọng, tầm quan trọng của hòa bình và vai trò  quan trọng của nước ta trên thế giới.

  1. Tình hình đời sống của các nước có mối quan hệ sâu sắc ở phương diện kinh tế và văn hóa với nước ta.
  2. Tình hình giao lưu, hợp tác quốc tế của nước ta và tvai trò của liên hợp quốc trong nỗ lực thực hiện cộng đồng quốc tế hòa bình.

Nhìn vào chương trình giáo dục lịch sử thông qua môn Nghiên cứu xã hội ở cấp tiểu học có thể thấy, mục tiêu cơ bản của nó là nhắm đến giáo dục nên người công dân dân chủ. Nội dung học tập được thiết kế theo nguyên lý “vòng tròn đồng tâm khuếch tán”. Ở đó các nội dung kiến thức được lựa chọn phù hợp với trải nghiệm  và các giai đoạn phát triển của học sinh sẽ mở rộng dần từ gia đình tới khu phố, làng, thành phố, tỉnh, quốc gia và thế giới. Theo đó ở lớp 3 và lớp 4 học sinh học về đời sống sản xuất và xã hội địa phương, lớp 5 học về lãnh thổ và sản xuất nước Nhật, lớp 6 học về lịch sử và chính trị Nhật Bản. Tương ứng với mục tiêu và các nội dung học tập trên là các hoạt động học tập học sinh có vai trò chủ đạo như: học tập điều tra, học tập trải nghiệp, học tập tác nghiệp…

Nhật Bản, tháng 11/2015

 Kinh nghiệm xây dựng chương trình môn lịch sử bậc phổ thông ở Nhật

October 23, 2015 Leave a comment

                  

Giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản hiện nay có nguồn gốc từ cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến sau 1945. Trong 70 năm kể từ 1945, giáo dục lịch sử Nhật Bản đã có nhiều thay đổi với nhiều cải cách. Ở mỗi lần cải cách chương trình lịch sử lại được sửa đổi và hoàn thiện. Nghiên cứu quá trình đó sẽ giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam. Trong bài viết này tác giả sẽ trình bày khái quát mấy nội dung chính.

  • Chương trình lịch sử trong trường phổ thông hiện tại
  • Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử
  • Mấy đặc trưng đáng chú ý trong chương trình môn lịch sử ở Nhật Bản
  1. Chương trình lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản hiện tại.

Chương trình lịch sử hiện tại là kết quả của rất nhiều lần thay đổi từ sau năm 1945. Tuy nhiên điểm lớn nhất vẫn duy trì xuyên suốt từ sau 1945 đến nay là sự tồn tại của môn Nghiên cứu xã hội (thường được gọi vắn tắt là môn Xã hội). Môn học hoàn toàn mới này được thiết lập lần đầu tiên năm 1947 từ tiểu học cho đến trung học phổ thông. Đến thập niên 90 của thế kỉ trước, xu hướng đòi giải thể môn Xã hội để tách các môn Địa lý, Lịch sử trở thành môn khoa học độc lập mạnh lên nhưng nó cũng vấp phải sự phản đối. Chương trình hiện tại có thể coi như là sự dung hòa của hai xu hướng: xu hướng nhấn mạnh triết lý, vai trò của môn Nghiên cứu xã hội và xu hướng nhấn mạnh sự độc lập của Lịch sử, Địa lý.

Cụ thể chương trình liên quan tới lịch sử ở trường phổ thông Nhật Bản hiện tại như sau:

1.1. Tiểu học (6 năm)

Ở lớp 1, 2 trước kia vốn tồn tại môn Xã hội nhưng từ thập niên 90 của thế kỉ trước trở đi thì được thay bằng môn Đời sống. Trong môn Đời sống sẽ có những nội dung có liên quan đến tri thức lịch sử.

Ở lớp 3, 4: Học sinh học về đời sống xã hội địa phương (mua bán, phương tiện giao thông vận tải, hoạt động kinh tế…). Ở lớp 5 trong môn Xã hội, học sinh được học về lãnh thổ và kinh tế sản xuất của Nhật Bản. Ở đây học sinh sẽ sử dụng phương pháp tư duy lịch sử để tìm hiểu các vấn đề xã hội hiện tại cũng như cuộc sống trong quá khứ và sự biến chuyển của nó đến hiện nay.

Ở lớp 6: Học sinh học Lịch sử và Chính trị Nhật Bản. Ở phần lịch sử học sinh sẽ học lịch sử từ cổ đại đến hiện đại với trung tâm là các nhân vật lịch sử và di sản văn hóa. Tuy nhiên đó không phải là học tập kiểu kể chuyện hay học tập nhân vật mà nhân vật và di sản văn hóa chỉ là phương tiện để học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử và xã hội đương thời.

Mặc dù phần lịch sử ở lớp 6 là thông sử nhưng nó vẫn được coi nằm trong môn Xã hội.

1.2. Trung học cơ sở (3 năm)

Ở Trung học cơ sở môn Xã hội tồn tại nhưng được chia ra làm ba “lĩnh vực”  (bunya) là “lĩnh vực địa lý” và “lĩnh vực lịch sử”, “lĩnh vực công dân” (hay kinh tế-chính trị). Tùy theo từng trường mà bố trí việc học ba lĩnh vực này khác nhau. Có trường cho học lịch sử và địa lý song song ở năm thứ nhất và thứ hai để năm thứ 3 học công dân. Có trường lại bố trí học theo kiểu “xếp chăn đệm”: năm thứ nhất học địa lý, năm thứ hai học lịch sử, năm thứ ba học công dân.

1.3. Trung học phổ thông (3 năm)

Ở cấp trung học phổ thông các môn học khá phong phú. Liên quan đến lịch sử có môn Lịch sử thế giới, Lịch sử Nhật Bản ngoài ra còn có một môn tổng hợp thuộc môn Xã hội có tên “Xã hội hiện đại”. Học sinh bắt buộc phải học Lịch sử nhưng trong môn Lịch sử lại có phân hóa thành Lịch sử Nhật Bản A, Lịch sử Nhật Bản B, Lịch sử thế giới A, Lịch sử thế giới B với cách thức trần thuật, sắp xếp chủ đề và mức độ khác nhau cho học sinh lựa chọn.

 

  1. Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử

Cách thức xây dựng chương trình môn Lịch sử được định hình từ năm 1947. Văn bản thể hiện chương trình do Bô giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản ban hành có tên “Hướng dẫn học tập”. Bản “Hướng dẫn học tập” này có ba loại hay ba cấp độ.
Thứ nhất là bản “Hướng dẫn học tập tổng quát” trình bày về khóa trình giáo dục chung, tổng thể cho toàn bộ cấp học. Như vậy sẽ có 3 cuốn “Hướng dẫn học tập” dạng này dành cho ba cấp Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Thứ hai là bản “Hướng dẫn học tập” dành cho từng môn học trong từng cấp học. Ví dụ đối với môn Lịch sử sẽ có bản “Hướng dẫn học tập môn Xã hội tiểu học”, “Hướng dẫn học tập môn Xã hội trung học cơ sở”, “Hướng dẫn học tập môn Xã hội Trung học phổ thông” (qua đây có thể thấy môn Lịch sử vẫn được tư duy nằm trong cơ cấu môn Xã hội).

Thứ ba là văn bản có tên “Giải thích bản hướng dẫn học tập” dành cho từng môn ở từng cấp học. Văn bản này sẽ giải thích và hướng dẫn chi tiết các nội dung được trình bày tron bản “Hướng dẫn học tập”.

Chương trình môn Nghiên cứu xã hội lần đầu tiên được đưa ra năm 1947 và sau đó cứ khoảng 10 năm được sửa đổi một lần. Lần sửa đổi gần đây nhất là 2008 (đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở), 2011 (đối với cấp trung học phổ thông).

Ngoại trừ bản “Hướng dẫn học tập” đầu tiên được công bố năm 1947, các bản “Hướng dẫn học tập” về sau đều do “Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục” biên soạn. Hội đồng này được  lập ra trong Bộ giáo dục năm 1950 và đến năm 2001 thì hợp nhất với các Hội đồng khác như “Hội đồng thẩm định học tập suốt đời”, “Hội đồng thẩm định giáo dục sản xuất và giáo dục khoa học”…trở thành “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương”
Trên website của Bộ giáo dục Nhật Bản có công khai quy trình tạo ra bản “Hướng dẫn học tập” với vai trò chủ đạo của “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” như sau:
1.    Bộ trưởng đề nghị “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” biên soạn mới bản “Hướng dẫn học tập”.
2.    Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương  nghiên cứu, thảo luận và công bố kết quả bằng văn bản
3.    Kết quả được công bố rộng rãi để công chúng bình luận, đánh giá
4.    “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” tiếp nhận ý kiến đánh giá, thảo luận và đưa ra kết luận
5. Bộ trưởng Bộ giáo dục chính thức công bố bản “Hướng dẫn học tập
Ngay sau khi bản “Hướng dẫn học tập” được công bố, “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” lại tiếp tục làm việc để chuẩn bị cho việc sửa đổi văn bản này theo định kỳ khoảng 10 năm một lần cho phù hợp với tình hình thực tế và đưa vào các lý luận, kết quả nghiên cứu mới.
3. Một vài đặc trưng trong chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông  Nhật Bản.

3.1. Tính “mở”  trong tư cách tài liệu tham khảo, coi trọng tính địa phương

Trước năm 1950 các bản “Hướng dẫn học tập” đều đề rõ hai chữ “tham khảo” trên bìa với hàm nghĩa đây chỉ là một cách thức bố trí nội dung giáo dục cho giáo viên ở các trường tham khảo. Bản “Hướng dẫn học tập” đầu tiên năm 1947 ghi rõ: “Đây là cuốn sách được viết ra như là hướng dẫn nghiên cứu đối với bản thân từng giáo viên để làm sao phát huy được khóa trình giáo khoa mới tương ứng với yêu cầu mới của học sinh và yêu cầu của xã hội”.

Về sau Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao và khoa học công nghệ Nhật Bản có xu hướng tăng cường tính pháp lý của bản “Hướng dẫn học tập”. Chữ  “tham khảo” trên bìa biến mất nhưng trên thực tế thì các giáo viên ở các trường vẫn coi nó là một tài liệu tham khảo. Rất nhiều trường dựa trên đó tự nghiên cứu và sử dụng chương trình riêng. Các giáo viên khi giảng dạy cũng có quyền tự biên soạn nên chương trình của mình tạo ra các “thực tiễn giáo dục”.

Bản “Hướng dẫn học tập” cũng coi trọng “tính địa phương”. Đối với môn Xã hội tính địa phương này càng được coi trọng. Lý luận “môn Xã hội bắt rễ vào địa phương” với ý nghĩa sử dụng tài liệu ở địa phương, lấy xã hội địa phương làm đối tượng học tập được coi trọng.

3.2. Duy  trì hai kiểu họctập lịch sử đọc lập và nghiên cứu xã hội

Trong 70 năm qua trong lịch sử giáo dục lịch sử Nhật Bản luôn tồn tại hai xu hướng: Xu hướng nhấn mạnh vai trò của môn Nghiên cứu xã hội và xu hướng muốn Lịch sử, Địa lý tách ra làm hai khoa học độc lập. Sự tranh luận này đã dẫn tới cơ cấu “nhị nguyên” đang tồn tại hiện nay. Ở cấp tiểu học môn Xã hội chiếm địa vị thống soái, lên trung học cơ sở và trung học phổ thông thì tách ra thành Địa lý và Lịch sử (người Nhật gọi là môn Xã hội phân hóa) đi kèm với sự tồn tại của môn tổng hợp “Xã hội hiện đại”.

Vì vậy trong trường phổ thông Nhật Bản tồn tại hai kiểu học tập lịch sử.
Một là hình thức học tập lịch sử kiểu thông sử trong tư cách là môn khoa học độc lập.
Hai là hình thức học tập lịch sử theo kiểu nghiên cứu xã hội. Nghĩa là lấy các vấn đề của xã hội hiện tại làm chủ đề học tập, là điểm xuất phát từ đó dùng tư liệu và phương pháp sử học để giải thích, nhận thức, giải quyết nó.

Việt Nam hiện tại đang xúc tiến việc “tích hợp hóa” với sự ra đời của môn KHXH ở Trung học cơ sở và Trung học phổ thông cũng như các môn học có tính tổng hợp khác ở tiểu học. Trong cách làm này hiển nhiên xuất hiện nhu cầu cần phải giải quyết mối quan hệ giữa học tập lịch sử như là một khoa học độc lập và học tập lịch sử trong cơ cấu môn KHXH. Ở đó, kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ là một tham khảo hữu ích. Đương nhiên nó cần đến những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn.

Nguyễn Quốc Vương

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghê, Hướng dẫn học tập tổng quátHướng dẫn học tập môn Xã hội (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông từ 1947 đến nay)
  2. Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Từ điển giáo dục môn Xã hội, Gyosei, 2000
  3. Kaigo Tokiomi (chủ biên), Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến-Cải cách giáo dục I,  Nhà xuất bản Đại học Tokyo, 1975
%d bloggers like this: