Archive

Archive for the ‘Giáo dục ở Nhật Bản’ Category

Tự nảy mầm, tự vươn lên-triết lý giáo dục của Ohmae Kenichi

May 7, 2018 Leave a comment

 

Nếu bạn là một phụ huynh có con trong độ tuổi đến trường và đang đau đầu với chuyện học hành của con, bạn nên đọc “Yêu thương không cấm đoán” hay “Tự nảy mầm tự vươn lên” của Ohmae Kenichi. Đây là cuốn sách viết về giáo dục gia đình của Ohmae Kenichi, một người Nhật thành công cả trong sự nghiệp lẫn trách nhiệm làm cha. Cuốn sách sẽ giúp bạn lý giải tốt hơn những băn khoăn của bản thân trước hiện trạng giáo dục hiện tại và tiếp thêm cho bạn cảm hứng trên con đường đồng hành cùng con.

tu nay mam

Ở Nhật Bản, tác giả của những cuốn sách nuôi dạy con thường là các bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ tâm lý. Những cuốn sách này thường được viết căn cứ trên các nghiên cứu khoa học kết hợp với các trường hợp điển hình mà các tác giả đã điều trị, tư vấn thành công. Tuy nhiên, ở đây, Ohmae Kenichi không phải là bác sĩ, cũng không phải chuyên gia tâm lý. Ông là một doanh nhân, một nhà tư vấn tài chính và đồng thời cũng là một người thầy trực tiếp làm công việc đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp quốc tế. Bởi thế, sách của ông sẽ không đi vào chi tiết việc nuôi dạy con, mà xuyên suốt cuốn sách, ông trình bày về những quan điểm chi phối cách nhìn của ông đối với bản chất của giáo dục, mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình cũng như những điều cần chú ý để tôn trọng và phát triển cá tính, tài năng của con trẻ.

Trên thế giới, Ohmae Kenichi được biết đến trong vai trò là chuyên gia tư vấn tài chính của McKinsey & Company. Năm 1993, ông được bình chọn là 1 trong 17 người có tầm ảnh hưởng toàn thế giới trên tờ Tạp chí Doanh nhân của Vương quốc Anh. Năm 1994, ông thuộc tốp 5 của danh sách này. Ông cũng là người mở trường Attackers Business, chuyên đào tạo nhân lực toàn cầu chất lượng cao. Chính vì vậy, việc ông có cái nhìn phê phán đối với giáo dục trường học và khát vọng dùng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của mình truyền lại cho các thế hệ đi sau là điều dễ hiểu.

Cuốn sách “Yêu thương không cấm đoán” của ông lần đầu tiên được nhà xuất bản PHP của Nhật xuất bản với tên gọi “Dù cha mẹ có phản đối thì con vẫn làm”, sau đó được in lại năm 2012, đổi tên thành “Phương pháp giáo dục con của gia đình Ohmae” và có bổ sung phần phỏng vấn hai người con trai. Bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch từ bản in năm 2012. Khi đọc cuốn sách của ông, có ba điều khiến tôi, một giáo viên đồng thời cũng là một phụ huynh phải suy ngẫm: thứ nhất là các quan điểm giáo dục độc đáo; thứ hai là sự tôn trọng và theo đuổi các giá trị truyền thống như hạnh phúc gia đình, thứ ba là sự phản hồi “thực chứng” từ hai người con trai.

Các quan điểm giáo dục độc đáo của Ohmae Kenichi

Quan điểm giáo dục độc đáo của Ohmae Kenichi được hình thành dựa trên sự phân tích sắc sảo về đặc trưng của thế giới và xã hội Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa. Theo ông, đó là thời đại mà xã hội biến đổi nhanh và không ngừng: “Đây là thời kì mà “mô hình thành công” thoắt cái đã trở nên hỗn bại, “kết quả của các đáp án” luôn bất ngờ thay đổi xoành xoạch”. Chính vì vậy mà theo ông, trường học vốn là nơi chỉ biết dạy người ta làm theo khuôn mẫu để đáp ứng một bậc thang giá trị tiêu chuẩn định sẵn, giờ đã không còn đáp ứng được yêu cầu tạo ra những con người năng động, có khả năng trí tuệ ứng phó nhanh nhạy, hiệu quả với thế giới đang thay đổi chóng mặt ở xung quanh. Trong con mắt ông, giáo dục nhà trường là nơi chứa đựng đầy rẫy những sự vô lý và bất lực. Ông cho rằng nhà trường “chỉ biết cho trẻ học thuộc lòng những gì được viết sẵn trong sách giáo khoa, đào tạo nên những con người thụ động ngoan ngoãn vâng lời không biết phản kháng”. Xuất phát từ tư duy đó, ông không đánh giá cao những học sinh có điểm số tốt trong quá trình học tập ở trường. Đi xa hơn, ông cho rằng: “Trẻ càng giỏi ở trường, tương lai càng đáng lo”. Ông giải thích cụ thể hơn: “Thành tích học tập của con có kém, thì các bậc cha mẹ cũng không cần phải ca thán. Ngược lại, đối tượng cần phải lo lắng chính là những học sinh được nhà trường đánh giá là ưu tú. Nói một cách khác, nếu bạn tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, bạn có thể nghĩ đến một bi kịch ở tương lai”.

Đây quả thực là một quan điểm gây “sốc” cho rất nhiều người cho dù họ là các nhà quản lý giáo dục, giáo viên hay phụ huynh. Trong xã hội đương đại, các ngôi trường và giáo viên vẫn thường tự hào về những “học sinh giỏi” của mình và các bậc phụ huynh thì luôn cảm thấy sung sướng, tự tin với những danh hiệu và điểm tốt mà con mình giành được. Điểm số làm họ yên tâm về tương lai của con cái, vì với họ, đó là chỉ dấu cho thấy con mình có khả năng vào được các trường danh tiếng, một bước đệm hoàn hảo để có thể kiếm được chỗ làm tốt, lương cao hay trở thành viên chức nhà nước – một công việc nhàn nhã, ổn định và nhanh thăng tiến.

Tuy nhiên, nếu bình tĩnh nhìn vào hiện thực giáo dục trường học và suy ngẫm, chúng ta sẽ phần nào đồng cảm với Ohmae Kenichi. Rất khó để phản đối ông khi gần đây chúng ta tận mắt chứng kiến tình trạng hàng chục nghìn cử nhân thất nghiệp, trong đó có những người đã từng có thành tích học tập rất tốt, thậm chí là “thủ khoa”. Ý kiến của Ohmae Kenichi cũng không phải là một nhận định vu vơ vì bản thân ông là người sành sỏi trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp và trực tiếp tuyển dụng, đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới. Ở vị trí nghề nghiệp của mình, hơn ai hết, ông thấu hiểu điểm mạnh và điểm yếu của thanh niên sau khi học xong đại học và phải bước vào con đường lập nghiệp.

Nhưng không chỉ dừng lại ở chỉ trích, ông đã tự đặt ra câu hỏi cùng với các bậc phụ huynh: “Nếu không còn mong đợi gì nơi trường học, chúng ta nên làm gì? Chúng ta nên làm như thế nào để con trẻ “vươn lên bằng năng lực của chính mình”? Rất đơn giản. Đó là mỗi người làm cha làm mẹ hãy tự mình dạy con cái của chính mình”.

Trong giáo dục, cho dù là giáo dục gia đình hay giáo dục nhà trường, có được triết lý – mục tiêu giáo dục tốt là điều kiện tiên quyết để có được thành công. Vậy, đối với Ohmae Kenichi, mục tiêu – triết lý giáo dục của ông là gì?

Theo Ohmae Kenichi, mục tiêu trung tâm của giáo dục gia đình là hình thành cho con “năng lực sinh tồn” (hay còn gọi là “năng lực sống”). Đây cũng chính là mục tiêu trọng tâm số một được đề ra trong Báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng Thẩm định Giáo dục Trung ương (cơ quan có trách nhiệm cao nhất của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản về chiến lược, nội dung giáo dục). Mục tiêu này cũng là mục tiêu trung tâm trong các bản “Hướng dẫn học tập” – văn bản chỉ đạo về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đối với toàn bộ giáo dục phổ thông của Nhật Bản hiện tại. Nói một cách ngắn gọn, “năng lực sinh tồn” mà Ohmae Kenichi coi trọng là năng lực thích nghi với sự biến đổi của xã hội, năng lực tự mình phát hiện vấn đề, tự học, tự suy nghĩ và giải quyết vấn đề. Do quan niệm như vậy nên Ohmae Kenichi phân biệt rõ “giáo dục” (thứ trường học hay lãng quên) và “huấn luyện” (thứ trường học hay thiên vị), đồng thời cho rằng bản chất của giáo dục là “dạy trẻ khả năng tự mình suy nghĩ, tư duy”.

Như vậy, có thể hiểu, con người lý tưởng mà ông muốn con mình trở thành là người có tư duy độc lập và khả năng sáng tạo cao để ứng phó với sự thay đổi của xã hội. Vì thế, xuyên suốt cuốn sách, chúng ta thấy, ông đã luôn cố gắng để tôn trọng cá tính của con và phát huy tối đa sự độc lập của các con trong mọi vấn đề. Chẳng hạn, ông đã để con “lên kế hoạch đi du lịch cho cả nhà”, “tích lũy lợi nhuận ngay trong gia đình”, và chủ trương “không cho con tiền tiêu vặt” mà yêu cầu con lao động để bố mẹ trả lương… Điển hình cho lối tư duy sắc sảo và cương quyết của ông là hành động chấp nhận cho hai con bỏ học giữa chừng để theo đuổi đam mê và lập nghiệp. Đấy là một quyết định dũng cảm và bao dung mà không phải phụ huynh nào cũng làm được.
Ông cũng là người chú ý dạy con trở thành người có trách nhiệm. Dạy con trở thành người sống có trách nhiệm trong thời đại ngày nay không phải là chuyện dễ dàng. Nhìn ra xung quanh, chúng ta thấy có rất nhiều phụ huynh vì quan tâm, bảo bọc con quá mức nên đã vô tình biến con thành người ích kỉ. Những đứa trẻ được yêu thương quá mức và chỉ biết đến mình đó, khi lớn lên rất dễ trở thành những người vô trách nhiệm. Ohmae Kenichi thì khác. Cho dù tôn trọng tối đa cá tính của con, ông luôn tâm niệm và thực thi nhất quán việc dạy con về “trách nhiệm”. Ông chỉ ra bốn trách nhiệm lớn mà cha mẹ nên dạy cho con hiểu cho dù lớn lên chúng có trở thành người như thế nào, làm ở đâu. Đó là trách nhiệm đối với “bản thân”, trách nhiệm đối với “gia đình”, trách nhiệm đối với “xã hội” và trách nhiệm đối với “đất nước”. Theo ông, “… nếu ai cũng làm tròn 4 trách nhiệm này thì cho dù có đi đến bất kỳ nơi nào trên thế giới, có làm bất cứ công việc gì thì vẫn có thể sống tốt được”. Cũng theo ông, bởi vì 4 trách nhiệm này “không được trường học đưa vào giảng dạy” nên “không còn cách nào khác, những người làm cha làm mẹ như chúng ta phải trực tiếp chỉ dạy cho con cái của mình”.
Một con người của gia đình và theo đuổi các giá trị nhân văn
Thật thú vị khi thấy ở Ohmae Kenichi có hai con người. Một con người thành đạt, bận rộn và say mê công nghệ, có tư tưởng quyết đoán mạnh mẽ, dám “một mình chống lại cả xã hội” và một con người kiên trì bảo vệ các giá trị truyền thống như hạnh phúc gia đình. Ông cho rằng “Gia đình là khởi nguồn của tất cả” và cảnh báo rằng “Nếu bạn không xây dựng được một gia đình mà bản thân bạn thấy hài lòng thì chắc chắn đó chính là thất bại đầu tiên của vợ chồng bạn. Kể cả bạn có tự gây dựng được công ty riêng đi chăng nữa thì đó cũng chỉ như một cái cây không có rễ, hoàn toàn vô nghĩa”. Ông cũng là người nhận thức rất sâu sắc về mối quan hệ giữa hạnh phúc gia đình và sự phồn vinh, vững mạnh của quốc gia. Người Nhật thường e ngại khi nói về bản thân và gia đình mình, nhưng ở đây, Ohmae Kenichi không ngần ngại bày tỏ: “Cá nhân tôi, tôi đã từng cho ra mắt rất nhiều tác phẩm, cũng từng mở công ty riêng. Thế nhưng, trong tất cả các những thành quả tôi đạt được, với tôi, gia đình là thứ quan trọng nhất. Gia đình là điều cơ bản nhất, phản ánh tất cả giá trị quan của người gây dựng nên nó. Khi nền tảng gia đình không bền vững thì chúng ta sao có thể xây dựng đất nước, cống hiến cho công ty hay giúp đỡ công ty của khách hàng được? Tôi nghĩ, nếu gia đình không êm ấm, nghĩa là giá trị bản thân của chúng ta đã bị phủ nhận về mọi mặt”.

Để gìn giữ, vun đắp hạnh phúc gia đình, tránh làm cho gia đình đổ vỡ gây ảnh hưởng xấu đến các con, bản thân ông dù bận rộn vẫn cố gắng dành thời gian cho gia đình. Ông quan niệm: “Để xây dựng một gia đình yên ấm, chúng ta không thể không đầu tư thật nhiều thời gian vào nó. Dành thời gian xây dựng một gia đình lý tưởng theo mong muốn của bản thân cũng chính là nhiệm vụ, là công việc và là một cơ hội tốt của mỗi người”. Từ quan niệm như thế, ông đưa ra lời cảnh báo cho những người đàn ông đang thành công trong sự nghiệp hay luôn luôn bận rộn: “Tình yêu của bạn dành cho gia đình như thế nào sẽ được thể hiện bằng chính thời gian bạn dành cho họ… Giai đoạn bận rộn cho sự nghiệp có lẽ là khi chúng ta bước vào độ tuổi 30, 40; nhưng nếu vì thế mà bạn thường xuyên vắng nhà và không có buổi trò chuyện nào cùng với các con, thì quãng đời của bạn khi về già, bạn chỉ còn ở lại với người bạn đời của mình mà thôi”. Xuất phát từ nhận thức như thế, gia đình ông đã cố gắng tối đa để cùng nhau đi trượt tuyết, câu cá, lặn biển cho dù ông là “người bận rộn nhất thế giới”.

Cũng trong cuốn sách này, ông không hề che giấu tình cảm yêu thương và đầy trách nhiệm của mình dành cho người vợ Mĩ – người đã bỏ học đại học giữa chừng, kết hôn với ông và đến Nhật, một đất nước xa lạ, khi mới 19 tuổi. Mặc dù bận rộn, ông vẫn cần mẫn dạy người vợ trẻ học tiếng Nhật và giúp đỡ vợ hòa nhập với cuộc sống ở Nhật Bản. Thật cảm động khi đọc lại những gì ông đã làm khi đó: “Hồi đó, vợ tôi mới chỉ 19 tuổi vừa chân ướt chân ráo đến Nhật. Cô ấy nói tiếng Nhật chữ được chữ mất vất vả vô cùng nên tôi dành phần lớn thời gian để chỉ thêm cho cô ấy. Đầu tiên, tôi để cô ấy viết nhật ký mỗi ngày, đi làm về tôi tranh thủ sửa những lỗi sai và ôn tập lại vào ngày hôm sau… Chính tôi đã đảm nhiệm luôn vai trò thầy giáo dạy nấu ăn kiêm thầy dạy tiếng Nhật cho vợ”. Từ trải nghiệm của chính bản thân mình, ông khuyên những ông chồng khác phải biết “hẹn hò với bạn đời của mình mỗi tuần một lần” hay “nhất định phải ở bên cạnh vợ lúc vợ lâm bồn”, những việc tưởng nhỏ nhưng không phải người đàn ông nào có gia đình cũng làm được.

Ohmae Kenichi cũng là người con rất hiếu thảo. Ông cố gắng không từ chối bất cứ sở thích hay yêu cầu gì của bố mẹ khi bố mẹ đã già. Ông cũng thường đưa bố mẹ đi du lịch cùng gia đình. Ông kể “Ngay cả khi bố tôi đã 70 tuổi và vừa trải qua ca phẫu thuật u não, tôi cũng đưa ông cùng đi lặn với mình ở vùng biển Philippin. Bố tôi từng tham chiến ở vùng biển phía nam (phía Đông Việt Nam) nên trong khi chúng tôi lặn ngụp dưới biển, ông thường ngồi trầm ngâm nhìn xa về phía nam”. Một chi tiết đó đủ cho thấy ông rất thương và hiểu bố.

Trong cuốn sách, ông cũng dành những dòng rất xúc động khi viết về người mẹ 78 tuổi của mình: “Tôi nghĩ rằng bố mẹ tôi đã quá vất vả vì tôi luôn chống đối tất cả những gì thầy cô và bố mẹ nói. Những việc tôi làm không phải chỉ là vì muốn bù đắp lại cho những vất vả của mẹ, mà chính vì bản thân bà từng nói rằng, tuy có những lúc rất khổ sở với tôi nhưng cũng có rất nhiều chuyện khiến bà cảm thấy hạnh phúc. Và sự cân bằng đó đã giúp tôi trở thành một con người như mẹ tôi luôn mong muốn. Tôi rất biết ơn mẹ về những cảm xúc đó của bà, chính vì vậy tôi luôn muốn được là người động viên, cổ vũ và khích lệ tinh thần cho bà”. Chắc chắn thái độ và hành động của ông đối với gia đình, với vợ đã có ảnh hưởng lớn đến hai người con của ông sau này.
Sự phản hồi “thực chứng” từ sản phẩm giáo dục của gia đình

Ohmae Kenichi

Không giống như các ngành sản xuất, nơi có thể kiểm định chất lượng sản phẩm trước khi bán cho khách hàng, người ta rất khó có thể đánh giá chính xác con người – sản phẩm của giáo dục khi học sinh tốt nghiệp rời trường học. Bởi vì xã hội mới là nơi thử thách “chất lượng” của giáo dục. Ohmae Kenichi đã dẫn ra một ví dụ rất sinh động và có phần hài hước về vấn đề này: “Ví dụ, khi bạn tham gia họp lớp cấp ba, sẽ luôn có một điều thú vị xảy ra. Kinh phí họp lớp thì mỗi người đều đóng như nhau, thế nhưng theo bạn, ai là người sẽ chi trả tiền cho tăng hai? Kì lạ là những người hay đề xuất cho tăng hai thường là những người trước đây luôn có thành tích học tập lẹt đẹt. Tôi tốt nghiệp từ trường nam sinh nên hễ có họp lớp là y hệt như thế. Và thường những người cất lời đề nghị lại là những người làm nghề kinh doanh tự do”. Ông cũng dẫn ra nhiều ví dụ khác cho thấy sự trái ngược, rất nhiều học sinh, sinh viên học trường danh tiếng, có thành tích học tập tốt đã không hề thành công trong công việc và hạnh phúc trong đời sống gia đình và ngược lại nhiều học sinh có thành tích học tập bình thường hoặc không có điều kiện học hành nhiều tại trường lớp lại có được sự thành công.

Như vậy, có lẽ bạn đọc chắc hẳn sẽ tò mò rằng với những gì ông đã thể hiện trong cuốn sách, cuối cùng thì hai người con trai của ông, những người có cá tính mạnh mẽ, được ông chấp nhận cho bỏ học và sớm có cuộc sống tự lập, lớn lên trở thành người như thế nào. Sự thành công hay thất bại của hai người con, cũng như ý nghĩ của họ về cách giáo dục của ông sẽ là căn cứ “thực chứng” chứng minh cho sự hợp lý hoặc bất hợp lý trong tư duy giáo dục gia đình của Ohmae Kenichi.

Thật may, phần phụ lục trong cuốn sách, nơi đăng tải hai bài phỏng vấn hai người con trai của ông đã giúp chúng ta có thêm thông tin tham khảo để kiểm chứng.

Bài phỏng vấn Ohmae Souki, con trai cả của ông, được thực hiện vào tháng 3 năm 2012 tại phòng giám đốc công ty Creative Hope, Shinjuku, Tokyo và bài phỏng vấn Ohmae Hiroki, con trai thứ, được thực hiện vào tháng 4 năm 2012 tại nhà riêng ở Kojimachi, Tokyo.

Phần đầu của bài phỏng vấn cung cấp cho chúng ta những thông tin cơ bản về hai người con trai của ông. Xin trích lại ở đây để bạn đọc suy ngẫm:

“Con trai đầu: Ohmae Souki

Sinh năm 1974. Tốt nghiệp trường Trung học và Phổ thông Nội trú Tomei. Bỏ ngang khi học Đại học Nhật Bản, khoa Công nghiệp. Tốt nghiệp trường Digital Hollywood. Năm 2002 thành lập công ty Creative Hope chuyên về tư vấn thiết kế website. Tên công ty được đặt theo tên của Souki (có nghĩa là Niềm hi vọng). Công ty Creative Hope có rất nhiều khách hàng là các doanh nghiệp nổi tiếng. Tổng số nhân viên 45 người”.
“Con trai thứ: Ohmae Hiroki

Sinh năm 1979. Sau khi bỏ ngang Đại học Nam California, vào làm tại Công ty IT Venture-From Software. Phụ trách cài đặt và đánh giá Middeware, thiết kế và phát triển Game. Năm 2009 thành lập công ty riêng với mục tiêu hướng tới việc xây dựng tập đoàn phát triển Game thời đại mới. Bên cạnh đó, anh còn góp phần vào việc phổ cập và khai thác chương trình lập trình game “Unity” và Công ty Unity Technologies Japan. Đây cũng là nơi làm việc của anh hiện tại”.

Nhìn vào tiểu sử tóm tắt của hai người con của ông, chúng ta sẽ thấy nếu xét theo tiêu chí thông thường, phổ biến trong xã hội hiện tại thì hai người con của Ohmae Kenichi có vẻ là người “không thành đạt cho lắm”. Cả hai đều bỏ dở đại học, không có học vị cao và không làm việc trong bộ máy nhà nước (quan chức) hay làm ở các vị trí lãnh đạo của các tập đoàn nổi tiếng. Họ chỉ là chủ một doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực IT.
Như thế, phải chăng Ohmae Kenichi đã thất bại và những gì ông viết về giáo dục gia đình chỉ là những thứ giống như “lý luận suông”?

Nếu nhìn bằng con mắt tầm thường, chúng ta sẽ thấy như thế. Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, nghĩa là nhìn giáo dục như là sự trợ giúp tối đa để tạo ra những cá nhân độc lập, sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm, Ohmae Kenichi đã rất thành công. Hai người con của ông là hiện thân của những gì ông muốn trong mục tiêu giáo dục của mình. Ông không định biến các con ông thành các thiên tài. Ông muốn chúng thành những người độc lập và sáng tạo. Hai người con của ông đã nỗ lực học hỏi và trở thành những người độc lập về kinh tế. Độc lập về kinh tế là nền tảng cơ bản để có độc lập về tư duy. Chính vì được nuôi dưỡng trong môi trường tự do, được thể hiện sự độc lập về tư duy và lớn lên có khả năng độc lập về kinh tế nên trong bài phỏng vấn, cho dù bày tỏ sự cảm phục, kính trọng đối với bố mình, cả hai vẫn khẳng định sẽ bước đi trên con đường riêng cả trong giáo dục gia đình và sự nghiệp, chứ không rập khuôn theo ông bố “nổi tiếng”. Khi được hỏi “Tương lai anh có muốn trở thành một người bố như ông Ohmae Kenichi không?”, người con thứ Hiroki đã thẳng thắn đáp: “Tôi sẽ không như vậy. Qua cách giáo dục của gia đình Ohmae, bài học tôi rút ra là: “Điều quan trọng là phải tự suy nghĩ và chịu trách nhiệm như một con người độc lập”, nên nếu tôi bắt chước lại những gì bố đã làm, tất cả mọi thứ sẽ bị phá hủy. Với tư cách là một người con, tôi muốn tự mình suy nghĩ, tự mình xây dựng một phương thức cho riêng mình”. Đấy là tư duy của một người có “năng lực sinh tồn” – thứ mà Ohmae Kenichi cả đời tâm niệm.

Trên thực tế, chúng ta thấy không phải cứ học cao, có địa vị xã hội hay có nhiều tiền là con người ta có tư duy độc lập và biết sống như một người có trách nhiệm. Rất nhiều người cho dù có đủ các thứ trên vẫn chấp nhận “vong thân” hay sống “đa nhân cách” chỉ để tồn tại và theo đuổi các giá trị ảo. Một khi sống như vậy, họ sẽ không có trách nhiệm với gia đình và xã hội, bởi vì khi chấp nhận như vậy, họ đã không có trách nhiệm với chính bản thân mình. Một xã hội tốt đẹp không thể nào được hình thành nhờ vào những cá nhân như thế. Câu chuyện của gia đình Ohmae Kenichi bởi thế là chỉ dẫn cho chúng ta suy ngẫm sâu sắc về xã hội, về thế giới và gia đình trong bối cảnh nhiều bất an hiện nay. Xã hội chỉ có thể thay đổi khi từng gia đình thay đổi. Đơn giản vì bố mẹ là những người thầy đầu tiên của con và có ảnh hưởng lớn tới các con trong suốt cả cuộc đời.

Xin trích ở đây lời nhắn gửi của Ohmae Kenichi để khép lại bài viết này: “… một mình tôi dù có cố gắng đến thế nào đi nữa, khả năng của tôi cũng chỉ có giới hạn. Vì thế, mỗi một gia đình chúng ta hãy thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi cách giáo dục con cái, nếu chúng ta không có những bước cải cách thực sự trong vấn đề này thì chắc chắn đất nước chúng ta sẽ không thể nào đi lên được. Nói cách khác, những người làm cha mẹ không tiên phong thay đổi thì đất nước sẽ chẳng bao giờ có thể đổi thay”.
Đây có lẽ là lời nhắn gửi mà không một ông bố, bà mẹ nào đang thực sự lo lắng cho tương lai của con mình và nỗ lực kiến tạo tương lai ấy bằng tư duy sáng suốt của người công dân phản đối.

Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Nguyễn Quốc Vương

Advertisements

Nhật Bản sắp bỏ thi trắc nghiệm trong tuyển sinh

September 21, 2016 Leave a comment

Kì thi tuyển sinh vào đại học lần thứ nhất ở Nhật Bản được tiến hành hoàn toàn bằng hình thức thi trắc nghiệm, diễn ra từ năm 1988. Hiện nay nước này đang xem xét thay đổi cách tuyển sinh, bổ sung thêm hình thức tự luận.

Kì thi tuyển sinh vào đại học lần thứ nhất là gì?Đây là kì thi do Trung tâm tuyển sinh vào đại học (National Center for University Entrance Exammination), một tổ chức có tư cách pháp nhân hành chính độc lập tiến hành trên toàn quốc dành cho các thí sinh muốn dự thi vào các trường đại học ở Nhật Bản.

Mục đích của kì thi này là kiểm tra mức độ thu nhận các kiến thức cơ bản của thí sinh vì vậy toàn bộ các môn thi đều được tiến hành bằng hình thức trắc nghiệm.

Kết quả của kì thi này sẽ trở thành điều kiện để thí sinh đăng ký xét tuyển hoặc dự thi tiếp kì thi thứ hai do các trường đại học tổ chức (ở Nhật Bản không có kì thi tốt nghiệp THPT, việc xét tốt nghiệp do các trường tự chủ tiến hành).

thi trắc nghiệm, thi trắc nghiệm môn toán, kỳ thi THPT quốc gia, thi đại học, thi trắc nghiệm ở Nhật Bản
Kỳ thi tuyển sinh ở Nhật Bản. Ảnh: Japan Times

Kì thi này được tiến hành thử nghiệm năm 1988 và chính thức bắt đầu vào năm 1990. Ban đầu chỉ có các trường đại học công lập sử dụng kết quả này tuy nhiên dần dần các đại học tư thục cũng tham gia. Hiện nay có đến 80% các đại học tư thục ở Nhật Bản sử dụng kết quả kì thi này trong công tác tuyển sinh.

Đây là kì thi chung cho tất cả các thí sinh bất kể thí sinh đó sẽ đăng kí xét tuyển vào trường đại học nào, ngành học nào.

Thời gian thi thường được diễn ra trong hai ngày thứ bảy và chủ nhật đầu tiên ngay sau ngày 13 tháng 1 hàng năm. Trước đó vào tháng 9 các tài liệu hướng dẫn cần thiết đã được gửi tới các thí sinh và vào khoảng tháng 10 các thí sinh sẽ nộp hồ sơ đăng ký dự thi. Sau khi thi, vào cuối tháng 1 các thí sinh sẽ nhận được kết quả để nộp đơn xét tuyển hoặc dự thi vào các trường đại học (kỳ thi thứ hai).

Địa điểm thi thường là ở các trường đại học nhưng cũng có năm Trung tâm tuyển sinh sử dụng cả một bộ phận các trường dự bị hoặc trường phổ thông.

Cách thức ra đề

Việc ra đề thi hoàn toàn do Trung tâm tuyển sinh nói trên tiến hành.

Để biên soạn các đề thi trung tâm lập ra một ủy ban chuyên môn gọi là “Ủy ban thứ nhất về các môn giáo khoa” gồm 400 thành viên chủ yếu là các giảng viên ở các trường đại học công lập và tư thục trên toàn quốc.

Các thành viên này sẽ luân phiên làm việc trong khoảng 2 năm ở 24 tiểu ban để xây dựng nên toàn bộ các đề thi.

Đề sau khi làm xong sẽ được chuyển cho “Ủy ban thứ hai” gồm 100 người vốn từng là thành viên của “Ủy ban thứ nhất” và có nhiều kinh nghiệm ra đề. Các thành viên này sẽ làm việc trong các tiểu ban để kiểm tra cẩn thận nội dung câu hỏi, đáp án, cấu tạo đề, thuật ngữ, chính tả.

Sau khi công việc này kết thúc, bộ đề được chuyển tới “Ủy ban thứ ba” để các thành viên ở đây kiểm tra xem cách thức diễn đạt của đề đã hợp lý chưa, có sự trùng hợp các câu hỏi giữa các môn không, câu hỏi đưa ra có vượt ra khỏi phạm vi chương trình hay không…

Các đề sau khi được rà soát xong lần cuối cùng sẽ được chuyển đi in và bảo quản trong kho với chế độ an ninh nghiêm ngặt 24/24. Sau đó, trước ngày thi, đề sẽ được chuyển đến khoảng 700 địa điểm thi trên toàn quốc.

Kết quả thi trong kì thi này được sử dụng để xét tuyển vào đại học vì thế khi làm bài các thí sinh thường ghi chú câu trả lời của mình vào tờ đề để sau đó mang về so sánh với đáp án công bố trên báo hoặc trang web của trung tâm tuyển sinh (http://www.dnc.ac.jp/). Vì vậy, thí sinh sẽ biết được mình được bao nhiêu điểm để lựa chọn trường đại học thích hợp để nộp đơn dự tuyển.

Thí sinh sẽ thi những môn nào?

Về nguyên tắc, các thí sinh sẽ đăng kí thi những môn mà trường đại học mình muốn dự tuyển yêu cầu. Hiện tại các thí sinh ở Nhật có thể lựa chọn 9 phân môn trong số 30 phân môn thuộc 6 môn giáo khoa để đăng ký dự thi.

Tuy nhiên thí sinh không được phép lựa chọn 2 môn có cùng chung tên gọi (ví dụ thí sinh không được chọn cả môn Địa lý A và Địa lý B, Lịch sử Nhật Bản A và Lịch sử Nhật Bản B…).

Sau khi đã nộp đơn đăng kí cho trung tâm, thí sinh không có quyền thay đổi số môn thi và phân môn đã lựa chọn. Dưới đây là các phân môn thuộc 6 môn giáo khoa, thí sinh Nhật Bản có thể lựa chọn cho Kì thi tuyển sinh vào đại học lần thứ nhất năm 2017 (Kì thi trung tâm).

Các môn giáo khoa và phân môn thí sinh có thể đăng ký trong kì thi trung tâm năm 2017

Môn giáo khoa Phân môn đăng ký dự thi Ghi chú Thời gian thi (tính điểm)
Quốc ngữ Quốc ngữ Phạm vi ra đề nằm trong phân môn “Quốc ngữ tổng hợp” với các đề liên quan đến các văn bản từ thời cận đại trở đi (2 câu, 100 điểm) và cổ điển (cổ văn: 1 câu, 50 điểm; Hán văn: 1 câu, 50 điểm) 80 phút (200 điểm)
Lịch sử – Địa lý Lịch sử thế giới ALịch sử thế giới B

Lịch sử Nhật Bản A

Lịch sử Nhật Bản B

Địa lý A

Địa lý B

Thí sinh chọn tối đa 2 phân môn trong số 10 phân môn (không được chọn 2 phân môn có cùng chung tên gọi).Đề thi phân môn “Luân lý, Kinh tế – Chính trị” sẽ ra trong phạm vi tổng hợp phân môn “Luân lý” và “Kinh tế – Chính trị”. Chọn 1 phân môn: 60 phút, 100 điểm.Chọn 2 phân môn: 120 phút, 200 điểm
Công dân Xã hội hiện đạiLuân lý

Kinh tế – chính trị

Toán học Toán học I(1) Toán học I-Toán học A

(2) Toán học II

Toán học II – Toán học B

Sổ sách – Kế toán

Thông tin cơ bản

Chọn một trong hai phân mônChọn một trong bốn phân môn 60 phút, 100 điểm60 phút, 100 điểm
Khoa học (1) Vật lý cơ sởHóa học cơ sở

Sinh vật cơ sở

Địa học cơ sở

(2) Vật lý

Hóa học

Sinh vật

Địa học

Trong 8 phân môn này sẽ có 4 cách chọn môn thi.A. Từ Khoa học (1) chọn 2 phân môn

B. Từ Khoa học (2) chọn 1 phân môn

C. Từ Khoa học (1) chọn 2 phân môn và từ Khoa học (2) chọn 1 phân môn

D. Từ Khoa học (2) chọn 2 phân môn

Trong các môn “Vật lý”, “Hóa học”, “Sinh vật”, “Địa học” sẽ có một bộ phận câu hỏi dành cho tự chọn.

Chọn 2 phân môn thuộc Khoa học (1): 60 phút, 100 điểmChọn 1 phân môn thuộc Khoa học (2): 60 phút, 100 điểm

Chọn 2 phân môn: 120 phút, 200 điểm

Ngoại ngữ Tiếng AnhTiếng Đức

Tiếng Pháp

Tiếng Trung Quốc

Tiếng Hàn Quốc

Chọn 1 trong 5 phân môn Thi trên giấy: 80 phút, 200 điểmThi nghe (chỉ dành cho tiếng Anh): 30 phút, 50 điểm

(Nguồn: Kỳ thi trung tâm- nghiên cứu các vấn đề quá khứ môn Lịch sử Nhật Bản B, NXB Kyogaku, 2016, tr.5).

Để phục vụ thí sinh, hàng năm các nhà xuất bản đều phát hành các tài liệu luyện thi trong đó có hướng dẫn chi tiết về kì thi như cách thức đăng kí, cách chọn môn thi và hướng dẫn chi tiết giải các đề đã từng xuất hiện trong các kì thi trước đó.

Sau nhiều thập kỉ tồn tại, bên cạnh những ý kiến đánh giá tốt về kì thi trung tâm cũng có nhiều ý kiến cho rằng cách thức thi cử này không còn phù hợp. Kết quả là nước Nhật dự kiến sẽ đình chỉ kì thi này vào năm 2020 để thay bằng hình thức thi khác thích hợp hơn trong thời đại mới.

Đề xuất thay thế cách tuyển sinh từ năm 2020

Đầu tháng 9, Bộ Công nghệ, Khoa học, Thể thao, Văn hóa và Giáo dục Nhật Bản đã đưa ra một đề xuất cụ thể nhằm thay thế Kỳ thi trung tâm quốc gia để tuyển sinh đại học từ năm học 2020. Kỳ thi mới tạm thời được đổi tên thành “Kỳ thi đánh giá học thuật dành cho những người muốn vào đại học”.

Thay vì toàn bộ là đề thi trắc nghiệm, bài thi mới sẽ đưa vào những câu hỏi yêu cầu câu trả lời ngắn với các môn như tiếng Nhật, Toán học. Riêng môn tiếng Anh sẽ có các bài thi riêng cho kỹ năng nói và viết. Đây là một số điểm khác trong bài thi mới.

Bài thi cũ – chỉ sử dụng hình thức thi trắc nghiệm của Nhật Bản – đang bị chỉ trích là không thể đánh giá đúng khả năng hiểu biết của thí sinh. Các trường đại học của nước này cũng nhấn mạnh rằng một số sinh viên thiếu kỹ năng viết.

Mục đích của bài thi mới nhằm đánh giá khả năng tư duy và thể hiện bản thân của ứng viên, chứ không phải chỉ đánh giá họ biết bao nhiêu kiến thức. Việc cải cách trong bài thi tuyển sinh vào các trường đại học được kỳ vọng sẽ mang lại những thay đổi trong các lớp học phổ thông.

  • Nguyễn Thảo (Theo Japan Times)
  • Nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Vương (Nhật Bản)

VN xếp sau Trung Quốc về số lượng lưu học sinh ở Nhật

May 14, 2016 Leave a comment

Theo kết quả điều tra của Cơ quan hỗ trợ sinh viên Nhật Bản có tư cách pháp nhân hành chính độc lập, năm 2015 lần đầu tiên số lượng lưu học sinh người nước ngoài học ở Nhật vượt con số 20 vạn, mức cao nhất từ trước đến nay.

Tuy nhiên việc thực hiện mục tiêu tăng số lượng lưu học sinh nước ngoài lên 30 vạn vào năm 2020 của chính phủ sẽ gặp khó khăn căn cứ vào tình hình hiện tại.

Số lượng lưu học sinh người nước ngoài học tại Nhật Bản năm 2015 là 208.379 người, tăng 24.224 người so với năm trước (13.2%).

Đây là năm thứ ba liên tục số lượng lưu học sinh người nước ngoài ở Nhật Bản gia tăng.

Cụ thể, có 152.062 người học tại các trường cao đẳng, đại học, sau đại học, 56.317 người học tại các trường Nhật ngữ.

Tỉ lệ lưu học sinh người nước ngoài phân chia theo quốc tịch như sau: Trung Quốc (45.2%), Việt Nam (18.7%), Nepal (7.8%), Hàn Quốc (7.3%), Đài Loan (3.5%), Indonesia (1.7%), Myanmar (1.3%), Malaisia và Mĩ (1.2%). 97, 2% số lưu học sinh người nước ngoài ở Nhật là người châu Á, 1.3% là người Âu Mĩ, 0.8% là người Trung Đông, 0.7% là người châu Phi, trung nam Mĩ, 0.3% là người châu Đại Dương.

Đặc trưng nổi bật là số lượng du học sinh người châu Á chiếm trên 90%.

So với năm trước số lượng lưu học sinh người Trung Quốc và Hàn Quốc suy giảm trong khi lưu học sinh các nước khác lại tăng mạnh như: Nepal (55.5%), Việt Nam (47.1%), Mynamar (42.4%). Nhìn vào con số này có thể thấy học sinh đến từ các nước đang phát triển ở châu Á này đang quan tâm tới Nhật Bản.

Tỷ lệ lưu học sinh học phân chia theo chủng loại trường học như sau:ở bậc sau đại học: Quốc lập (61.7%), công lập (4.4%), tư thục (33.9%); bậc đại học: quốc lập (16.3%), công lập (2.6%), tư thục 81.1%.

Ở bậc sau đại học trường đại học quốc lập tiếp nhận khoảng 60% lưu học sinh trong khi ở bậc đại học các trường đại học tư thục thu hút trên 80% lưu học sinh.

Tỷ lệ lưu học sinh người nước ngoài phân chia theo khu vực cư trú như sau: Kanto (49.9%), Kinki (18.1%), Kyushu (12.0%), Chubu (9.7%), Chugoku (4.7%), Tohokku (2.6%), Hokkaido (1.8%), Shikoku (1%). Lưu học sinh chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn và nó đặt ra các vấn đề cần phải giải quyết từ giờ về sau.

Tỷ lệ lưu học sinh phân chia theo lĩnh vực học tập như sau: Khoa học xã hội (36.2%), khoa học nhân văn (24.8%), Kĩ thuật công nghệ (16.2%), nghệ thuật (3.7%), nông học (2.2%). Nhìn tổng thể lĩnh vực xã hội- nhân văn thu hút trên 60% lưu học sinh.

Chính phủ Nhật Bản hiện đang theo đuổi mục tiêu đạt “30 vạn lưu học sinh” vào năm 2020 tuy nhiên theo dự đoán mục tiêu này sẽ rất khó đạt được. Những đặc điểm nhìn thấy từ cuộc điều tra như lưu học sinh chủ yếu đến từ các nước châu Á, lĩnh vực học tập được quan tâm nhất là khoa học xã hội-nhân văn sẽ trở thành những yếu tố cân nhắc quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách thu hút lưu học sinh của Nhật Bản trong thời gian tới.

Có lẽ cần phải suy nghĩ về chính sách lưu học sinh đáp ứng nhu cầu của lưu học sinh người nước ngoài trên cơ sở suy nghĩ lại về hiện thực như lưu học sinh chủ yếu đến từ các nước châu Á, lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu là xã hội nhân văn.

  • Nguyễn Quốc Vương(theo Sankei)

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/du-hoc/303931/vn-xep-sau-trung-quoc-ve-so-luong-luu-hoc-sinh-o-nha-t.html

Nhật Bản: 40% phụ huynh không thể gửi con vào trường mầm non mình muốn

May 3, 2016 Leave a comment

03/05/2016  09:31 GMT+7

Đây là kết quả điều tra thực tế đối với phụ huynh về “hoạt động tìm kiếm trường mầm non cho con” do Bộ Lao động, sức khỏe và phúc lợi Nhật Bản lần đầu tiên tiến hành được công bố ngày 28/4.

mầm non Nhật Bản

Trước làn sóng chỉ trích dâng cao đối với vấn đề trẻ em không thể vào trường mầm non nhân chuyện một blogger nặc danh viết bài phê phán, Bộ Lao động – Sức khỏe và Phúc lợi xã hội từ ngày 11/4 đã trưng cầu ý kiến người dân qua trang web và tổng hợp xong kết quả trước ngày 19/4.

Đối tượng điều tra là các phụ huynh đã tiến hành hoạt động tìm kiếm trường mầm non cho con kể từ tháng 4 năm nay ở các thành phố có trên 50 vạn dân và các thành phố, thôn làng tính ở thời điểm tháng 4 năm trước có trên 50 trẻ em phải đợi để vào trường mầm non. Có 1.544 người trả lời câu hỏi điều tra trong đó 90% là phụ nữ.

Theo kết quả điều tra có 892 người (57.8%) đã gửi con vào đúng trường mình muốn. Trong khi có 550 người (35.6%) người không thể gửi con vào trường mầm non theo như nguyện vọng đăng ký và có đến 61 người (4%) không thể gửi con. Ngoài ra trong số 1300 người trả lời “gặp khó khăn trong việc tìm kiếm trường mầm non cho con” có 69 người cho biết “cần phải chuyển chỗ ở” đến những địa phương có điều kiện tốt hơn.

Bộ lao động, sức khỏe và phúc lợi xã hội sẽ tiếp tục điều tra và đưa ra kết quả vào giữa tháng 5. Về kết quả lần này, Bộ lao động, sức khỏe và phúc lợi xã hội cho biết “Đây là kết quả thu được giữa chừng vì thế nó chưa thể hiện hết tình hình trong thực tế”.

  • Nguyễn Quốc Vương(Theo Sankei)

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/302647/nha-t-ba-n-40-phu-huynh-khong-the-gu-i-con-va-o-truo-ng-ma-m-non-mi-nh-muo-n.html

Nhật Bản: 990 giáo viên phạm quy tắc thẩm định sách giáo khoa

April 2, 2016 Leave a comment

Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản ngày 31/3 cho biết, có 990 người tham dự vào việc tuyển chọn sách giáo khoa (SGK) vi phạm quy tắc thẩm định.

giáo dục, Nhật Bản, sách giáo khoa, giáo viên, học sinh

Sau khi tiếp nhận kết quả điều tra của Ủy ban giáo dục các tỉnh, Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản cho rằng, vấn đề này “không có ảnh hưởng tới việc tuyển chọn” nhưng nó làm nảy sinh sự nghi ngờ tính công bằng của quá trình tuyển chọn vì vậy mà bộ đã ra thông báo yêu cầu tuân thủ nguyên tắc tới từng ủy ban giáo dục.

Sau khi vấn đề bất chính được phát hiện ở công ty Sanshodo, các công ty SGK đã báo cáo kết quả tự điều tra tới Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.

12 công ty lớn trong đó có Nihonshoseki đưa ra báo cáo cho biết từ năm 2009 đến 2014 đã cho khoảng 5.000 người xem SGK đang trong quá trình thẩm định mà theo quy định người ngoài không được phép tiếp cận.

Vì vậy, Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ đã yêu cầu Ủy ban giáo dục các tỉnh điều tra lại. Kết quả lần này bao gồm các trường quốc lập nơi quyền lựa chọn SGK thuộc về hiệu trưởng và giáo viên các trường tư thục.

Theo kết quả công bố thì số giáo viên được các công ty SGK cho xem sách, đưa ra ý kiến và nhận quà cảm ơn là 3.454 người. Trong đó có 799 người có liên quan đến công việc lựa chọn SGK với vai trò là các điều tra viên biên soạn các tài liệu tham khảo phục vụ cho Ủy ban giáo dục các thành phố, khu phố, thôn làng lựa chọn SGK.

Ngoài ra cũng có 1081 người chỉ xem SGK mà không nhận quà cảm ơn trong số đó có 185 người là điều tra viên. Trong số những người có liên quan có cả 6 chủ tịch Ủy ban giáo dục và Ủy viên có quyền lựa chọn SGK.

Các Ủy ban giáo dục cũng tiến hành điều tra xem vấn đề trên có ảnh hưởng đến việc lựa chọn SGK hay không. Kết quả cho thấy có 99 vụ đổi từ SGK của công ty khác thành SGK của công ty đang trong quá trình kiểm định. Tuy nhiên không xác định được việc chỉ những SGK của các công ty mà giáo viên đã nhận quà cảm ơn được giới thiệu.

Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ cho biết “cần phải tiến hành triệt để việc đảm bảo tính công bằng tránh xảy ra các nghi ngờ từ giờ về sau”.

Nguyễn Quốc Vương

link: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/297384/990-gia-o-vien-pha-m-quy-ta-c-tha-m-di-nh-sa-ch-gia-o-khoa.html

Tính “địa phương” trong giáo dục phổ thông – một bài học sâu sắc

October 23, 2015 Leave a comment

22/10/15 06:35

(GDVN) – Các phong trào giáo dục tại Nhật Bản đã có tác dụng lớn trong việc phục hưng địa phương đặc biệt là vùng nông thôn trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt.

LTS: Đọc những sách viết về lịch sử Nhật Bản những năm 60, 70 của thế kỉ trước, tác giả Nguyễn Quốc Vương (Nghiên cứu sinh tại Nhật Bản) bỗng giật mình vì thấy ở đó những hiện tượng, vấn đề giống hệt ở Việt Nam hiện tại. 

Đấy là khoảng cách ngày một rộng ra giữa nông thôn và thành thị với hàng loạt vấn đề nóng bỏng; là tình trạng lao động trẻ đổ về nông thôn làm cho mật độ dân số ở đô thị tăng cao trong khi các vùng quê rơi vào tình trạng “hoang phế hóa”. 

Cùng với công nghiệp hóa, các địa phương cũng đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng và các vấn đề xã hội. Nhưng rồi nước Nhật đã dần khắc phục được những vấn đề của địa phương bằng chính sách phát triển bền vững và giáo dục. 

Giáo dục Việt Nam đang ở trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư kể từ 1945. Những gì giáo dục Nhật đã và đang làm hướng vào những vấn đề của địa phương dưới đây hẳn sẽ là tham khảo hữu ích.

Phong trào “viết văn về đời sống” và “giáo dục quê hương”

Địa phương vốn được quan tâm khá sớm trong mối quan hệ với quốc gia ở Nhật. Kể từ thời Minh Trị, những tư tưởng tiến bộ về vai trò của địa phương đã dội vào giáo dục và tạo nên các phong trào giáo dục.

Hai phong trào tiêu biểu nhất trong số đó trước 1945 là phong trào “viết văn về đời sống” và “giáo dục quê hương”.

“Viết văn về đời sống” là hoạt động giáo dục ở đó giáo viên lấy các bài văn do chính học sinh viết một cách trung thực những suy nghĩ, cảm xúc về sự thực sinh động của đời sống hàng ngày làm tài liệu giảng dạy-học tập (giáo tài) và tiến hành thảo luận tập thể.

Nhờ các hoạt động đó, giáo viên làm cho học sinh nhận thức được những vấn đề của quê hương, nảy sinh tình cảm với quê hương và tinh thần trách nhiệm.

Hoạt động này không chỉ được tiến hành trong môn Quốc ngữ mà còn kết hợp với các môn học khác và thông qua các xuất bản phẩm như tạp chí, sách tạo thành phong trào trong toàn quốc. Nổi tiếng nhất là tạp chí “Akai Tori” (Con chim đỏ), nơi đăng tải những bài văn viết về hiện thực đời sống của học sinh trên cả nước.

Tạp chí “Viết văn về đời sống” năm 1929 trong bản Tuyên ngôn lần hai (năm 1930) đã nhấn mạnh tới bốn điểm:

(1) Quan sát các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày hay hiện thực cuộc sống hàng ngày.

(2) Lý giải các nguyên tắc vận hành, tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.

(3) Xây dựng cuộc sống tự trị nhờ vào sự hiệp lực của giáo viên và học sinh.

(4) Sáng tạo ra giáo dục đời sống lấy trung tâm là việc viết văn hay nói cách khác là tạo ra chương trình.

Ảnh minh họa. Vietnamnet

Đáng chú ý là từ trong phong trào đã xuất hiện hai xu hướng: “Viết văn điều tra” và “phong trào giáo dục tính Bắc phương”. “Viết văn điều tra” là phương pháp chỉ đạo học sinh tiến hành thu thập, điều tra thông tin về các hiện tượng xã hội rồi tiến hành “sáng tác tập thể”.

“Phong trào giáo dục tính Bắc phương” là phong trào viết văn chú trọng từ ngữ, phong tục, tập quán và những đặc trưng của vùng phía bắc nước Nhật-nơi thiên nhiên khắc nghiệt và nghèo khó. Phong trào đã thu hút được sự chú ý của dư luận toàn quốc.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nước Nhật đang bị chủ nghĩa quân phiệt thống trị với bộ máy trấn áp khổng lồ, một thời gian sau “Phong trào viết văn về đời sống” bị chính quyền bức tử.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi xã hội dân chủ được xây dựng, những người giáo viên tha thiết với “viết văn về đời sống” đã lập nên “Hội viết văn Nhật Bản” (1950).

Cuốn sách tập hợp các bài văn viết về đời sống của học sinh có tên “Trường học Yamabiko” khi xuất bản đã tạo ra tiếng vang lớn. “Viết văn về đời sống” đã có tác động đáng kể tới môn Nghiên cứu xã hội khi chia sẻ điểm chung về mục đích giáo dục nên “nhận thức xã hội” và “phẩm chất công dân” ở học sinh.

Yếu tố tạo ra thành công của cải cách giáo dục Nhật Bản

(GDVN) – Trong hai cuộc cải cách giáo dục lớn ở Nhật Bản có vai trò của các chuyên gia giáo dục nước ngoài đã có một vai trò không thể phủ nhận.

Cùng với phong trào viết văn về đời sống là phong trào giáo dục quê hương. Phong trào này diễn ra chủ yếu vào những năm 30 của thế kỉ XX. Ở đó giáo viên lấy quê hương với tự nhiên, cuộc sống, văn hóa làm nội dung giáo dục và dùng nó làm tài liệu để trực quan hóa nội dung học tập khác.

Giáo dục quê hương với tư cách là phong trào tạo lập mối quan hệ giữa giáo dục trường học và địa phương đã trở nên cực thịnh vào những năm 1930.

Phong trào giáo dục từ khối dân sự đã tác động đến Bộ giáo dục khiến cho vào năm 1927, Bộ giáo dục Nhật Bản xác định phương châm “địa phương hóa” nội dung giáo dục và tiến hành điều tra tình hình thực tế của giáo dục quê hương ở các trường học trên toàn quốc lấy trung tâm là các trường tiểu học trực thuộc trường sư phạm.

Năm 1930, Bộ giáo dục lại quyết định chi kinh phí xây dựng các cơ sở nghiên cứu giáo dục quê hương đặt trong các trường sư phạm trên toàn quốc. Năm 1931, Bộ giáo dục Nhật Bản, đưa thêm “Nghiên cứu địa phương” vào môn Địa lý.

Các phong trào giáo dục nói trên đã có tác dụng lớn trong việc phục hưng địa phương đặc biệt là vùng nông thôn trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt.

Môn Xã hội và môn Đời sống

Hòa bình và dân chủ là nền tảng khá thuận lợi cho giáo dục Nhật Bản sau 1945. Tuy nhiên trong hai thập kỉ đầu tiên sau chiến tranh, tăng trưởng kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị đã làm cho giáo dục lãng quên địa phương.

Để rồi đến thập kỉ 70, 80 khi hàng loạt vấn đề xảy ra ở địa phương như hoang phế hóa, ô nhiễm môi trường…giáo dục một lần nữa chú ý tới địa phương  bằng các lý luận và thực tiễn lấy địa phương làm nền tảng.

Môn Xã hội (Nghiên cứu xã hội), môn học ra đời năm 1947 có ở ba cấp học từ thập niên 70 đã chú ý đặc biệt tới giáo dục về địa phương. Trong chương trình môn Xã hội ở Nhật Bản hiện tại, ở tiểu học học sinh lớp 3 và 4 sẽ được học về đời sống xã hội địa phương từ sản xuất, sinh hoạt tới những vấn đề mà địa phương đang đối mặt.

Ở đó, học sinh bằng các hoạt động học tập điều tra, phỏng vấn, quan sát, phân tích số liệu thống kê sẽ tìm hiểu và khám phá địa phương.

Lý luận “môn Xã hội bắt rễ vào địa phương” cũng được coi trọng. Những vấn đề của toàn quốc sẽ được giáo viên giúp học sinh lý giải thông qua sử dụng các tài liệu ở địa phương hoặc cho nghiên cứu trường hợp ở địa phương.

Từ thập niên 90 môn Đời sống được đưa vào lớp 1 và lớp 2 trường tiểu học. Môn học này đã lấy cuộc sống sinh hoạt của học sinh ở gia đình và xã hội địa phương làm trọng tâm trong nội dung giáo dục.

Chẳng hạn trong bản “Hướng dẫn học tập”, văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục hiện hành, mục tiêu đầu tiên của môn Đời sống được xác định trong là “làm cho học sinh có mối quan tâm tới mối quan hệ giữa bản thân với con người và các địa điểm, vật chất công cộng phong phú ở xung quanh mình.

Chú ý tới ưu điểm của địa phương, có lòng yêu địa phương đồng thời suy nghĩ về vai trò và cách thức hành động của bản thân, có hành động an toàn và thích hợp với tư cách là một thành viên của tập đoàn, xã hội”.

Tại sao không dạy nghề mà chỉ là “định hướng nghề nghiệp”?

(GDVN) – Theo tôi, điểm bất ổn lớn nhất là quan điểm coi chương trình giáo dục phổ thông chỉ có vai trò “định hướng nghề nghiệp”.

Ở phần nội dung học tập, tài liệu này cũng nhấn mạnh việc học sinh “Hiểu được rằng cuộc sống của bản thân có mối quan hệ với những người đang lao động, sinh sống ở địa phương và các địa điểm phong phú, có tình cảm thân thiết và yêu mến đối với chúng, có thể sinh sống an toàn trong sự thân thiện với mọi người”.

Nhờ lý luận và thực tiễn giáo dục trên mà học sinh Nhật Bản có cơ hội để trải nghiệm và suy ngẫm về mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội địa phương.

Nền tảng giáo dục đó có quan hệ mật thiết với sự xuất hiện và phát triển của các phong trào công dân ở địa phương, sự hợp tác của người dân địa phương trong xây dựng quê hương và giải quyết các vấn đề chung trong đời sống.

Ở Việt Nam hiện tại, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa, những vấn đề của địa phương đang ngày càng trầm trọng: ma túy, bạo lực, ô nhiễm môi trường…

Bên cạnh đó, sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế-xã hội và nhịp điệu đời sống truyền thống ở nông thôn bị phá vỡ khiến cho vai trò giáo dục của xã hội địa phương mất đi làm cho thanh thiếu niên đối mặt với nguy cơ bị cuốn vào tệ nạn xã hội và lối sống trụy lạc.

Giáo dục Việt Nam hơn lúc nào hết phải chú ý đến địa phương. Xã hội địa phương phải trở thành nội dung học tập trong trường học. Địa phương phải trở thành không gian học tập với các hoạt động điều tra thực tế, quan sát, điền dã, điều tra xã hội học của học sinh.

Học sinh trong quá trình học tập sẽ vừa tìm hiểu, khám phá của địa phương, từ đó phát hiện ra những vấn đề của địa phương, đi tới hành động để địa phương ngày càng tốt đẹp hơn.

Từng giáo viên phải biết tận dụng cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” để chủ động, sáng tạo về nội dung giáo lục địa phương thông qua các thực tiễn giáo dục của bản thân.

Nguyễn Quốc Vương
Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Tinh-dia-phuong-trong-giao-duc-pho-thong–mot-bai-hoc-sau-sac-post162663.gd

Người Nhật dạy trẻ về “Tự do”

June 12, 2015 Leave a comment

Các bậc phụ huynh và giáo viên Việt Nam tham khảo nhé.

Đây là một trang trong cuốn sách “Trò chuyện về Hiến pháp”-một dạng sách đọc tham khảo dành cho học sinh tiểu học Nhật Bản. Có lẽ nó là phiên bản mới của cuốn “Trò chuyện về Tân hiến pháp” (tôi đã dịch và đăng trên Tia sáng).

Trang này giải thích cho học sinh hiểu về “Tự do” dưới dạng tư vấn tình huống

Bìa sách

Bìa sách “Trò chuyện về Hiến pháp”

tham khẩo2

Trang sách giải thích về “Tự do”

Nếu bạn là phụ huynh hay giáo viên liệu bạn có đủ dũng cảm dạy con hoặc học sinh của bạn như thế này không?

Bố tớ nói rằng hãy học nhiều vào rồi vào đại học tốt như thế là hạnh phúc nhưng tớ lại thích trở thành cầu thủ bóng đá…”

Hạnh phúc của bố và hạnh phúc của bạn là khác nhau vì thế bạn có thể nghe theo hoặc không nghe theo. Không việc gì phải sợ khi va chạm ý kiến. Thay vào đó hãy tự mình suy nghĩ thật kĩ. Hạnh phúc của bản thân phải do bản thân mình quyết định.
Điều này cũng có thể là rất khó khăn phải không nào

P.s: Ảnh lấy lại từ FB của một phụ huynh người Việt có con từng học ở Nhật.

%d bloggers like this: