Archive

Archive for the ‘Liên Chung’ Category

Sự biến mất của những chú cua đồng

August 6, 2016 Leave a comment

Tháng Tám ở Nhật nóng nhức mắt. Lươn nướng bán rất chạy. Người Nhật tin rằng ăn lươn nướng khi trời nóng bức sẽ giải nhiệt tốt cho cơ thể. Nghe nói có một học giả Hà Lan học sống vào thời Edo đã tạo ra huyền thoại này. Ông cần tiền để nghiên cứu nên đã nhận viết một cuốn sách nói về tác dụng của lươn nướng trong ngày trời nóng cho một chủ cửa hàng lươn. Kết quả là cuốn sách của ông có sức tác động ngoài tưởng tượng. Nước Nhật hình thành thói quen ăn lươn nướng vào những ngày nóng nhất trong năm. Ở ý nghĩa đó, ông giống như là cha đẻ của ngành marketing ở Nhật.

Nắng thế này lại nhớ chuyện bắt cua ở quê.

Những ngày tháng Tám hồi đó vào những ngày nắng nóng như thế này tôi và bọn trẻ trong làng thường ra các con đầm trước làng như Chầm Viên, Bờ Cầu, Chầm Sông bắt cua.

Nắng to, nước nóng cua hoặc là chui vào hang hoặc là bò lên bờ hoặc trèo lên các gốc gạ. Lũ trẻ con chỉ việc nhặt. Bắt cua trong hang kinh nhất là thò tay vào hang gặp rắn. Loại rắn trốn trong hang cua thường là rắn Mú. Có cắn cũng chỉ đau tí chút vì không có đôc. Nhưng cảm giác sờ phải con rắn trơn nhớt cuộn tròn trong hang đầy bùn và nước cũng rất hãi. Nếu bắt phải con cua đá hay cua kềnh có càng to nó cắp chặt lấy ngón tay và tử thủ cho đến khi càng gãy thì cũng hãi. Đau không rút được cả tay ra. Có rút ra, ngón tay có khi còn dính nguyên cả cái càng cua.

Cũng có đứa thì lội dọc các bờ quanh ruộng lúa để bắt cua. Đọc sách người Nhật viết về Việt Nam thấy họ bày tỏ sự ngạc nhiên khi ở Việt Nam người ta có thể bắt cua, cá, ốc… trên phần đất thuộc sở hữu của người khác mà không xảy ra vấn đề gì. Ở Nhật, đất nào cũng có chủ. Những con cua, con ốc, con chim sống trên đất của ai thì thuộc sở hữu của người đó.

Sau này việc bắt cua trở nên chuyên nghiệp hơn khi bọn trẻ biết chế ra cái móc cua làm bằng thanh sắt một đầu uốn cong và một đầu lắp vào chuôi tre hoặc gỗ. Dùng thanh này có thể bắt được cua ở đủ các loại hang sâu, có gờ sỏi,đá mà bình thường dùng tay để bắt sẽ bị xước da rớm máu.

Nắng tháng tám cháy cả tóc nhưng vẫn thích trốn mẹ ra đồng bắt cua. Mẹ cũng thích cua cáy nên mang cua về không thấy mẹ mắng.
Những ngày đó nhà lại có món canh cua ăn dưới hiên nhà.

Bây giờ ở làng, tháng Tám trời có vẻ nắng hơn nhưng không có đứa trẻ nào chạy ra Chầm Sông, Chầm Viên nhặt cua nữa. Cua, cá đã bỏ làng mà đi. Nước ở đầm hoặc là trong một cách đáng ngờ hoặc là sầu bọt. Đỉa cũng không còn chỉ có ốc bươu vàng là trụ được. Có lẽ thuốc trừ sâu, phân hóa học và nước sông bị ô nhiễm đã làm cho sinh vật sống trong đất biến mất. Cá cua không có gì ăn và cũng không thể nào sinh đẻ được. Bây giờ ở làng, mấy ai nhìn thấy trứng ếch hay trứng tôm ngoài đồng nữa?

Cánh đồng và mặt nước đã trở nên im lặng. Sự im lặng như dấu hỏi tại sao?

 

Nguyễn Quốc Vương

Nhật Bản, 5/8/2016

Advertisements

Đọc ít, bia rượu nhiều, đánh đấm gia tăng?

January 2, 2016 Leave a comment
 

TTO – Mỗi năm VN chi 63.000 tỉ đồng cho việc uống bia rượu, nhưng chỉ chi hơn 2.000 tỉ đồng cho việc mua sách báo. Từ những con số này, thấy gì về việc chi tiêu của dân Việt?

Mỗi năm VN chi 63.000 tỉ đồng cho việc uống bia rượu - Ảnh: TL
Mỗi năm VN chi 63.000 tỉ đồng cho việc uống bia rượu – Ảnh: TL

Dưới đây là ý kiến của ông Nguyễn Quốc Vương – nghiên cứu sinh VN tại Nhật Bản, người dịch cuốn “Cải cách giáo dục Nhật Bản” của Ozaki Mugen và cuốn “Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản”.

“Nhìn vào con số thống kê năm 2015, người Việt chi hơn 2.000 tỉ đồng cho hoạt động xuất bản, nhưng lại chi 63.000 tỉ đồng cho việc uống bia rượu, tôi thấy buồn nhưng không thấy ngạc nhiên. Chưa cần đến thống kê tôi cũng có thể cảm nhận thực tế đó trong cuộc sống hằng ngày.

“Tôi nghĩ việc ít đọc sách, uống rượu bia nhiều còn có mối quan hệ mật thiết với tình trạng bạo lực gia tăng tại VN thời gian gần đây. Khi không có giải trí lành mạnh và không gian để sáng tạo, thưởng thức văn chương, nghệ thuật… con người dễ trụy lạc và đánh mất nhân tính. Sự thiếu hụt tri thức về cuộc sống, thế giới thông qua sách vở đi kèm với thói quen nhậu nhẹt bia rượu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy mà dễ thấy nhất là bạo lực”.
Ông Nguyễn Quốc Vương – nghiên cứu sinh VN tại Nhật Bản

Ở VN rất hiếm cảnh người ngồi trong công viên, tàu xe, hành lang bệnh viện… đọc sách. Kể cả những người làm việc liên quan đến sách vở nhiều như giáo viên cũng ít đọc. Chuyện giáo viên chỉ đọc các sách liên quan trực tiếp đến bài giảng hoặc luyện thi không phải hiếm.

Ở những giới khác có lẽ tình hình còn xấu hơn.

Trong các cuộc trò chuyện thường ngày, người ta cũng ít nhắc đến sách vở. Đơn giản vì thói quen đọc sách chưa có. Tôi có nói vui rằng có lẽ cần phải làm một cuộc điều tra thống kê nữa xem tương quan giữa số thư viện và quán bia xem thế nào.

Nếu so sánh những con số trên với Nhật Bản, có thể nhận xét ngay rằng nhìn vào lịch sử và cả hiện tại thì Nhật Bản là dân tộc thích đọc và viết. Sự phát triển của ngành xuất bản và số lượng sách, thư viện ở Nhật nói lên điều ấy.

Ở Nhật có thể thấy người ta đọc sách ở bất cứ đâu. Các đầu sách bán chạy ở Nhật thường có số lượng vài triệu bản, thậm chí có cuốn đạt 10 triệu bản. Tôi cũng có đọc một bài báo người Nhật viết rằng số sách trung bình một người Nhật đọc trong một năm là 46 cuốn, đứng hạng nhất nhì thế giới.

Để biết nguyên nhân chính xác vì sao người Việt đầu tư cho đọc sách ít hơn nhiều việc chi tiền cho bia rượu, có lẽ cần đến một nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng cá nhân tôi cho rằng đằng sau sự chênh lệch này là một xuất phát điểm thấp và gặp nhiều trục trặc ở nhiều phương diện.

Người Việt chưa có thói quen đọc sách trong sinh hoạt và dùng sách như một công cụ để tìm kiếm thông tin, biến thông tin đó thành sản phẩm hoặc dùng nó phục vụ cuộc sống. Nói kiểu dân dã là “không đọc sách vẫn sống như thường” hay “đọc sách đâu có ra tiền”…

Trong giáo dục thì lối giáo dục nặng về khoa cử với triết lý học để làm quan, học để kiếm tiền, học để thành người “thành đạt” đã làm cho mối quan tâm của người học với thế giới hẹp lại một cách đáng tiếc. Khi thế giới hẹp lại như vậy, họ sẽ không có động lực thôi thúc từ bên trong để đọc sách. Lối giáo dục khoa cử sẽ tạo ra kiểu giáo dục với đáp án đúng – sai có tính tuyệt đối. Một khi như vậy, học sinh chỉ cần tìm kiếm câu trả lời, đáp án có trong sách giáo khoa.

Hệ quả nhìn thấy rõ của sự chênh lệch đó là sự lệch chuẩn so với các giá trị phổ quát mà thế giới công nhận. Thay vì tập trung sức khỏe, tinh thần và tuổi trẻ làm những việc thật sự có giá trị thì thanh niên sẽ dành nó cho trụy lạc hoặc tiêu khiển. Nhìn xa hơn là sự nới rộng ngày càng lớn về văn minh, phát triển bền vững giữa nước ta và thế giới. Nó tạo ra một vòng luẩn quẩn giữa thiếu hụt tri thức, tư duy và nghèo đói, lạc hậu, bảo thủ.

Tôi nghĩ việc ít đọc sách, uống rượu bia nhiều còn có mối quan hệ mật thiết với tình trạng bạo lực gia tăng tại VN thời gian gần đây. Khi không có giải trí lành mạnh và không gian để sáng tạo, thưởng thức văn chương, nghệ thuật… con người dễ trụy lạc và đánh mất nhân tính. Sự thiếu hụt tri thức về cuộc sống, thế giới thông qua sách vở đi kèm với thói quen nhậu nhẹt bia rượu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy mà dễ thấy nhất là bạo lực.

Những người có hiểu biết thật sự sẽ không chọn bạo lực là phương thức giải quyết khúc mắc trong cuộc sống thường ngày.

Muốn có giải pháp đúng cho vấn đề này, cho dù chỉ là trên lý thuyết thì cần đến các nghiên cứu thật sự công phu nghiêm túc.

Ở phương diện là một giáo viên, một người bố, tôi thấy muốn hình thành thói quen đọc sách, giáo viên và phụ huynh phải có nhận thức đúng, hợp lý về triết lý giáo dục. Nếu muốn có những con người khỏe mạnh về thể chất, sắc bén về trí tuệ và phong phú, tự do trong tâm hồn thì đương nhiên phải chú trọng đọc sách. Thay vì cung cấp trực tiếp các chân lý tuyệt đối có tính đúng sai thì sự gợi mở cho trẻ em tự trải nghiệm, khám phá, tra cứu, thể hiện sẽ tạo ra động lực đọc sách hiệu quả.

Xét ở phạm vi rộng, trong khi chưa có những chính sách hiệu quả, quy mô từ vĩ mô thì sự tự thức tỉnh và thúc đẩy đọc sách của các cá nhân, dòng họ, trường học ở khắp nước là những tia hi vọng”.

NGUYỄN QUỐC VƯƠNG (Nghiên cứu sinh VN tại Nhật)

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20151229/doc-it-bia-ruou-nhieu-bao-luc-gia-tang/1029421.html

Huyền thoại làng (8) : Đom đóm ngậm ngùi

May 19, 2014 Leave a comment

Giữa tháng năm. Đỉnh những ngọn núi quanh trường đã không còn tuyết trắng. Dọc đường tới trường là những bông hoa dại vô danh khoe sắc. Hè đã cận kề.
Thứ bảy, một bác Nhật cùng một cậu sinh viên người Việt tới rủ đi đào măng trên núi. Xe chạy  trên con đường vòng vèo. Bác Nhật nói với tôi bằng tiếng Việt: “đường hình rắn”. Giữa đường xe dừng lại đón vợ bác và bà cụ chủ rừng. Bà cụ đã 72 tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh và minh mẫn như người 60 tuổi. Bác Nhật vỗ vỗ vào hai bên vai bà cụ bảo: “Khỏe lắm! Cơ bắp vẫn cuồn cuộn đây này”. Cả mấy người đi cùng cười vui vẻ. Lâu lắm mới lại được cầm trong tay chiếc cuốc. Nó gần giống như thứ ở quê tôi vẫn gọi là “cuốc chim” khác cái chỉ có một đầu. Cứ nhằm những chiếc măng mới nhú lên mà đào. Hai thằng thả sức làm lâm tặc. Chẳng mấy chốc được một xe rùa đầy có ngọn. Chủ rừng và bác Nhật chỉ lấy tượng trưng vài cái. Hai túi to trở thành chiến lợi phẩm của hai thằng lâm tặc người Việt.
Nhà bà cụ chủ rừng nằm ngay dưới chân rừng trúc. Một ngôi nhà gỗ tùng với những chiếc cột và xà to bằng cả người ôm. Bà cụ bảo trước kia gia đình ở  đây  nhưng bây giờ lũ trẻ lớn lên tìm đường ra phố. Ngôi nhà lớn chỉ có bà thi thoảng qua lại trông nom. Góc nhà là một tủ sách lớn. Liếc qua dày đặc tiểu thuyết lịch sử của “Shibaryo Taro”, tiểu thuyết gia chuyên viết về thời cận đại nước Nhật. Dường như đoán được ý nghĩ của tôi  bà cụ bảo: “Cháu nó đọc đấy. Chỉ thích sách thôi”. Hóa ra cháu nội bà cụ đang du hoc tại Úc. Bà cụ bảo: “Chẳng biết nó ở đấy có học hành cố gắng hay không?”.
Bữa trưa diễn ra trong căn nhà gỗ. Cơm hộp do bác Nhật mua từ trước. Chém gió dông dài. Và…sửng sốt. Hóa ra bác Nhật là …người Việt năm mươi phần trăm. Bố bác là lính phát xít Nhật đã từng chiếm đóng Việt Nam. Khi quân Nhật bại trận ông cụ ở lại thành lính Việt Minh rồi lấy vợ Việt. Ông đưa vợ trở lại Nhật Bản, nhưng người  vợ đêm ngày thương nhớ quê hương chưa kịp trở về thăm lại một lần thì ngã bệnh qua đời trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc một năm. Bác Nhật vừa kể vừa rơm rớm nước mắt. Giờ tôi đã hiểu tại sao bác có thể nói được tiếng Việt và thân thiết với người Việt Nam như thế.
Sắp về thì gặp một đoàn người lên núi. Bác bảo: “các cụ trong hội bảo vệ đom đóm đấy”. Ở Nhật đóm đóm giờ đây giống như báu vật. Xưa kia đom đóm ở Nhật cũng hàng bầy khi hè tới nhưng rồi nông nghiệp hiện đại với thuốc trừ sâu đã làm đom đóm biến mất. Những hội đoàn bảo vệ môi trường đã dốc sức làm sạch môi trường đặc biệt là nguồn nước tự nhiên sông suối và thật kì diệu đom đóm lại về.
Câu chuyện của bác làm tôi nhớ đến thôn Sấu của tôi. Cho đến hồi tôi học trung học, đêm hè đom đóm vẫn theo gió bay vào nhà từng bầy. Có con to bằng đầu đũa sáng xanh lè. Anh em tôi thường bắt bỏ vào lọ thủy tinh chơi. Nhưng rồi càng lớn lên, đom đóm cứ thưa dần rồi mất hẳn. Tôi không hề nhận ra sự lạ lùng và cảm thấy tiếc nuối cho đến khi đến Nhật. Đến đây, xuống trường tiểu học đọc sách và chơi cùng học sinh nước Nhật tôi mới hiểu đom đóm là dấu hiệu của môi trường. Một khi môi trường nước ô nhiễm, đom đóm sẽ không còn nữa. Đom đóm quê tôi giờ dường như chỉ còn trong nỗi nhớ ngậm ngùi.

 

19/5/2014

 

 

Huyền thoại làng (6)

March 20, 2014 Leave a comment

Khi ấy làng chỉ bằng nửa bây giờ và rừng phủ quanh làng. Lũy tre vây kín xung quanh làng tạo hành một bức tường thành tự nhiên. Cổng làng sáng mở tối đóng. Chỗ nhà tôi ở bây giờ là chỗ rừng rậm nhất. Rừng chạy từ đó dọc theo con ngòi đổ ra sông Thương.
Con ngòi nối với sông Thương bằng một chiếc cống do người Pháp chỉ đạo xây. Khi tôi lớn lên cống vẫn còn nguyên. Cống rộng xây bằng đá, mái uốn vòng cung, phía dưới, nơi đổ ra sông có hai cánh sắt. Hai cánh sắt này được thiết kế rất tài tình để khi nước sông dâng lên thì đóng lại ngăn nước chảy vào con ngòi và ngược lại khi nước sông cạn sẽ mở ra xả lũ. Cống có tên “cống Chuông”. Có lẽ cái tên bắt nguồn từ tiếng kêu của nước chảy trong lòng cống.
Vào quãng cuối xuân đầu hạ khi những cơn mưa rào đầu mùa trút xuống, nước con ngòi cuồn cuộn đổ ra sông. Đây cũng là lúc cá từ ngoài sông ngược dòng nước vào đồng. Tháng 7, tháng 8 nước ngập trắng đồng. Trẻ con tắm bơi thỏa thích. Cánh đồng trước mặt nhà tôi biến thành biển nước mênh mông.Chừng một tháng nước sông xuống, cánh cống mở ra . Nước chảy cuồn cuộn. Chờ đến khi hở miệng cống, làng sẽ cử người đưa các cọc tre xuống dọc theo miệng cống kèm theo mành chắn. Mành tre không ngăn nước nhưng ngăn được cá. Cá theo dòng nước xuống khi tới cống sẽ bơi ngược. Đuôi chạm mành, cá giật mình lao lên. Và cứ thế, nước cạn đến độ nhất định làng sẽ cử người mở mành và đặt ở đó một dụng cụ đan bằng tre gọi là “sa”. Cá gặp lỗ hổng bơi vào ngã xuống sa. Mỗi năm làng thu vài tấn cá.

Năm ấy, cụ Phồng được làng cử làm “thủ cống” trông coi việc “đổ sa” bắt cá. Rượu vào, cụ Phồng lưng đeo dao quắm lên đường. Con đường mòn từ cổng làng tới cống Chuông uốn lượn dưới trăng. Cách miệng cống chừng mươi bước chân, cụ Phồng giật mình. Một kẻ lạ mặt đang lom khom bắt cá. Cụ Phồng đi nhẹ chân vòng ra phía sau vỗ mạnh vào lưng kẻ trộm quát lên : “Này! Định ăn bẩn hả?”. Một tiếng gầm như tiếng sét! Trong phút chốc giun dế ngừng kêu! Kẻ lạ mặt phóng thẳng vào bụi rậm để lại một mình cụ Phồng ngây người hóa đá!

Cụ Phồng vừa vỗ vai chúa tể sơn lâm trong ánh trăng đêm nhễ nhại.

19/3/2014

Nguyễn Quốc Vương 

Huyền thoại làng (4)

March 13, 2014 1 comment

 

Tháng ba miền Bắc thường có mưa phùn. Trong mưa, cảnh phố xá lầy lội và buồn thảm. Quê nghèo, mưa lại càng buồn hơn. Làng bây giờ vẫn nghèo xơ xác nhưng ngày xưa còn nghèo nữa.

Ngày ấy….

Mưa! Mưa dầm làm đường làng lầy lội. Chân người, chân trâu bò dẫm trên mặt đường làng lầy lội tạo nên một thứ bùn sền sệt khai nồng nước đái và phân trâu bò. Lũ trẻ con đi chân đất hay bị “sâu nước” cắn chân. Ngứa lắm. Thứ thuốc dùng để trị là bấc đèn dầu. Mẹ gào thét rồi vạch kẽ chân ra lấy bấc đèn dầu lau qua. Hơi xót nhưng dễ chịu. Trời hửng nắng hay giữ khô chân vài ngày là khỏi.

Cùng với mưa dầm là cái đói. Gạo hết phải đi vay. Không hiểu sao cái kỉ niệm vác rá đi vay gạo hàng xóm lúc về vấp ngã đổ gạo ra đường vừa khóc vừa bốc cả gạo và sỏi cứ ám ảnh mãi không thôi. Tháng ba thường phải ăn gạo kho. Thứ gạo  xát từ thóc để lâu nhìn rất trắng nhưng nấu lên chẳng hạt cơm nào dính hạt cơm nào. Nhạt thếch. Thức ăn không có gì. Hôm thì bắp cải luộc chấm nước mắm. Thứ nước mắm đóng trong túi ni lông bán với giá 500 đồng một túi. Hôm nào khó ăn quá mẹ lấy quả cà chua cho vào bát, thả thêm chút muối rồi hấp trong nồi cơm. Lúc dọn cơm, mẹ lấy đũa dầm nát quả cà chua thế là có bát nước chấm rau cải luộc. Thi thoảng có chút tiền mẹ cũng mua vài con cá mắm. Cá mắm bán ngoài chợ. Đi chăn trâu mà được vào chợ ngắm hàng cá khô thì thật thích. Đủ loại to nhỏ. Nhưng mẹ cũng như nhiều người khác trong làng chỉ dám mua loại cá nhỏ về ăn. Rán lên hoặc hôm nào không có mỡ thì nướng. Mấy chị em tranh nhau ăn hết bỏ lại toàn đầu cá. Bữa sau không còn gì ăn đầu cá bỗng ngon đến lạ lùng. Mưa mãi, gạo hết. Nhà dần chuyển sang ăn cơm trộn sắn. Sắn miếng ngâm vào nước rồi đổ vào nồi lúc cơm sôi. Nồi cơm lổn nhổn toàn sắn và chỗ khô chỗ nhão. Hai chị gái lớn thì biết ý ăn cả sắn còn tôi và thằng em cứ hồn nhiên ăn, chỗ nào gặp sắn là nhổ luôn xuống mâm. Mẹ dùng đũa nhặt lên ăn hết. Có hôm thằng em lúc đó chừng 4, 5 tuổi vòi vĩnh không ăn. Nó cứ quay lưng vào mâm quay mặt ra ngoài chống đũa trong bát. Dỗ mãi không ăn. Nhưng tài thật, chỉ cần bố bảo “Thôi! Đi lấy quả trứng gà rán cho em”, tức thì cu cậu quay vào ngay tức khắc! Nhưng không phải lúc nào cũng có trứng. Gà tháng ba  cũng đói không cả đủ sức kêu cục tác.

Có lẽ cái sướng nhất trong những ngày mưa là không phải đi chăn trâu. Trâu bị nhốt trong chuồng nhai rơm. Rơm hết thì nhai rạ. Những ngày mưa ấy tôi thường ngồi bên cửa sổ đọc đi đọc lại những cuốn sách bố mua.  “Hai vạn dặm dưới đáy biển” và “Robinson Crusoe” là hai cuốn tôi thích nhất. Cũng có lúc hai anh em cùng lũ trẻ con chạy khắp làng săn tìm nấm mọc nhĩ trên những cây sắn làm hàng rào. Nấm được xâu vào sợi rơm đem về cho mẹ treo trên gác bếp. Đôi lúc gặp may vớ được những chiếc nắm to bằng nửa bàn tay có hình thù kì dị. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ những nhà nào có hàng rào nhiều nấm.

Bây giờ….

Làng vẫn nghèo nhưng có lẽ tháng ba không còn nhà nào phải đi vay gạo. Cá mắm giờ cũng không thấy ai ăn nữa. Đôi lần về quê vào ngày mưa không khỏi bâng khuâng. Dường như có những thứ lúc đang trải nghiệm là đắng cay nhưng qua rồi lại trở thành những kỉ niệm. Khung cửa sổ ngày xưa giờ không thể vào ngồi được nữa nhưng những cuốn sách ngày xưa tôi vẫn giữ. Cửa sổ ấy nhìn xuống con đường, nơi bố vỗ vào vai tôi ngày tôi đầu tiên tới lớp.

13/03/2014

Nguyễn Quốc Vương

 

 

 

Huyền thoại làng (3)

March 9, 2014 Leave a comment

Kị nội nhà  tôi có quan hệ họ hàng thân thích với cụ Phồng. Nhà cụ Phồng ở giữa làng gần sân điếm. Bố tôi bảo cụ có thân hình cao lớn, tiếng nói vang như chuông, tay chân săn chắc. Cụ vừa gan dạ lại vừa vui tính vì thế cánh thanh niên rất thích được gần cụ. Mỗi lúc cụ đi ra đường trẻ con, thanh niên bu xung quanh như đám rước. Cụ Phồng chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng, cũng chưa bao giờ làm chức tước gì nhưng cụ tạo nên nhiều huyền thoại. Người này kể, người kia kể lưu truyền mãi.

Cụ Phồng có thú vui chơi diều. Diều cụ chơi vào hàng to cự phách. Thông thường ở quê tôi người ta gọi tên và phân loại diều dựa vào tiếng kêu của sáo. Sáo diều là ống tre rỗng hai đầu bịt “vửng sáo” có khe hở được đục rất khéo hình hàm ếch để khi gió lùa vào sẽ tạo nên âm thanh. Sáo nhỏ kêu “vo vo”, sáo trung bình kêu “vu vu”, sáo lớn kêu “đu đu”. Diều cụ Phồng ngoại cỡ, lúc phóng lên không trung sáo kêu ù ù như tiếng cối xay.

Thời xưa, chơi diều cũng lắm công phu. Diều được làm bằng tre, dây diều cũng thế. Dây vót từ cật tre được chuốt, phơi kĩ và nối với nhau bằng nút thắt con ong rất khéo. Mỗi lần có gió lớn, cụ Phổng vác diều ra chơi, thanh niên làng lại í ới kéo ra giữ dây cho cụ. Bốn năm cậu thanh niên lực lưỡng giữ mà mỗi lần chiếc diều chao đảo các cậu vẫn bị lôi đi xềnh xệch. Chiếc diều khổng lồ là niềm kiêu hãnh của cả làng. Có một lần, trời nổi gió lớn, cụ Phồng đang đi cày liền vứt cày ở ruộng chạy về sân điếm nơi vẫn để diều thường ngày.  Cụ vác diều lên vai phóng một mạch ra đồng. Thanh niên hò reo kéo ra giữ dây. Diều phóng lên không trung nhưng kì lạ gió lớn mà sáo diều không kêu. À mà không! Có kêu nhưng tiếng nghe tưng tức lạ. Bực mình cụ Phồng giật xuống ngó vào bên trong chiếc sáo. Thật kinh ngạc! Bên trong là hai mẹ con ăn xin đang…ngủ ngon lành! Chuyện này lúc tôi vào học trường tiểu học được bố kể cho nghe đến mấy lần. Lần nào nghe cũng khoái chỉ mong sao chiếc diều ấy còn để chui vào sáo diều bay vút lên trời xanh một lần cho biết

Bây giờ, làng đã khác xưa nhiều. Hỏi tên cụ Phổng có lẽ không mấy người còn nhớ. Nhưng sáo diều vẫn kêu trên bầu trời xanh vi vút. Trẻ con, thanh niên trong làng vẫn chơi diều. Bây giờ không ai dùng dây diều chế từ cật tre nữa. Dây ni lông đã được dùng thay thế. Đôi lúc trốn chạy từ đô thị ồn ào trở về dưới mái hiên lắng nghe tiếng sáo diều, tôi không thể nào thoát khỏi những ý nghĩa về chiếc diều khổng lồ của cụ Phồng ngày xưa.

9/3/2014

Nguyễn Quốc Vương 

Huyền thoại làng (2)

March 6, 2014 Leave a comment

Một trong những điều làm tôi choáng váng đến sững sờ khi đến Nhật Bản là…rừng. Rừng có mặt ở khắp nơi. Nước Nhật giống như một công viên dã sinh khổng lồ. Những cánh rừng thông, tuyết tùng với tán hình chóp đẹp mê hồn. Hình ảnh ấy khác xa hình ảnh nước Nhật tôi hình dung trước đó. Mùa xuân, nước Nhật rực rỡ sắc hoa. Rừng nhiều đến độ người Nhật rất sợ chứng “dị ứng phấn hoa”. Riêng tôi, mũi tôi đã quen với bụi ở Hà Nội, phấn hoa nước Nhật không gợi cho mũi tôi một chút gì “cảm động”.

Trong những chuyến đi khám phá vẻ đẹp của những cánh rừng nước Nhật, tôi lại nhớ làng. Dường như trong nỗi nhớ nhà, nhớ ngôi làng nhỏ nhìn ra sông Thương có chút gì giống như đau đớn. Nghe kể ngày xưa, làng cũng đã từng  có rừng bao phủ. Những địa danh còn lại bây giờ còn phảng phất điều ấy: Rừng Non, Rừng Điếc, Xó Rừng…. Khi tôi bắt đầu biết trèo cây, làng vẫn còn những vạt rừng thưa cùng một vài vài cây lim sót lại to một hai vòng tay người ôm. Nhưng ngày xưa, nghe kể cả làng phủ kín rừng. Đường đi từ “trong làng” ra “ngoài trại”-nơi gia đình tôi sống bây giờ chỉ là một lối mòn, hai bên cây cối rậm rạp, um tùm. Rừng phủ kín xuống tận con ngòi đổ ra sông Thương. Chim, cáo, cú, chồn, hổ… sống chung với người. Bố tôi bảo khi ông chừng 9 hay 10 tuổi đã chứng kiến rất nhiều lần ông nội soi đèn cướp gà từ  tay cáo. Khi tôi học tiểu học đường làng hai bên vẫn dày đặc tre với đom đóm từng bầy và trong bụi tre lúc lúc lại vang lên tiếng “có..”, “có…”. Thấy bảo tiếng đó là tiếng cáo. Nửa đêm tỉnh giấc nghe tiếng kêu ma quái này, thà đái ra quần còn hơn mò mẫm ra vườn.

Sống cùng rừng là biết bao huyền thoại. Thực hay hư không biết nữa.

 

Nghe đồn bảo chỗ nhà bố mẹ tôi ở bây giờ rất nhiều ma mà toàn ma Khách. Dân làng khiếp hãi, người ngày một đông nhưng không ai dám ra đó khai hoang xây nhà. Bố tôi đi bộ đội về  không một tấc đất cắm dùi đánh liều ra ở. Dân làng lè lưỡi, xì xào. Giếng bố đào rộng, nước trong vắt. Có người đồn: giếng ấy toàn nước đái ma. Mẹ bảo, lúc mới ra hôm nào bố đi công tác, chỉ có hai mẹ con sợ lắm! Bố bảo: “Nhảm nhí. Làm gì có ma”. Bố không tin là có ma thật vì bố toàn cuốc đất san đồi dưới ánh trăng. Khi tôi lớn lên một chút rất nhiều lần tôi chứng kiến. Có lẽ tôi giống bố nên không ít lần đi câu cá ban đêm tôi một mình ngủ trên những ngôi mộ xây ngoài nghĩa địa mà không hề…sợ! Nhưng bố lại rất thích kể chuyện ma. Bố bảo cách nhà tôi một quãng đi ngược về phía trong làng nơi có một ngôi miếu cổ. Ngay trước cửa miếu là một cây trám cổ thụ. Ma ở đó tụ họp thành bầy nhát người đi đường. Có người bảo đã từng nhìn thấy cả ma xõa tóc ru con. Kinh quá! Nghe bố kể, tôi và thằng em rúc vào nách bố mắt mở thao láo. Ngày hôm sau đi qua chỗ ngày xưa là ngôi miếu phải rón rén đi vòng ra xa hơn một tí.  Ngôi miếu ấy sau thành lớp học mầm non. Nơi tôi ê a những chữ cái đầu tiên….

 

Nguyễn Quốc Vương 

%d bloggers like this: