Archive

Archive for the ‘Môi trường-phát triển bền vững’ Category

Trung Quốc phơi bày sự yếu kém về hành chính môi trường và quản lý tài nguyên nước.

March 2, 2013 Leave a comment

Tiết xuân kết thúc, sự ô nhiễm không khí không những không được cải thiện mà các tin tức bi thảm về đất nước và quốc dân bị khốn khổ vì ô nhiễm vẫn liên tục được truyền đi từ Trung Quốc. Có vẻ như Bộ bảo vệ môi trường Trung Quốc vốn có quyền hạn yếu dịp này đã lộ rõ thực tế hành chính môi trường yếu kém. Cùng với không khí, thứ không thể thiếu đối với sự sống con người là nước. Hiện trạng quản lý tài nguyên nước cũng đang đối mặt với các vấn  đề. Tin tức nào cũng vậy nếu như là Nhật Bản thì phải chiếm đầu trang nhưng nó lại được truyền đi nhàn nhạt vì thế có thể thấy sự phán đoán giá trị có vẻ điên khùng.

Tin có tính mạnh mẽ là  “Chính phủ Trung Quốc công nhận nguyên nhân của “làng ung thư” với  100 địa điểm trên toàn quốc”. Các vụ xả ra ngoài với khối lượng lớn chất thơm hỗn hợp và đổ chất thải bất hợp pháp trở nên có quy mô toàn quốc, hành chính môi trường thì đổ trách nhiệm lẫn nhau làm cho thiệt hại của người dân trở nên to lớn không có gì cứu vãn được.

Theo “Kế hoach 5 năm lần thứ 12 về phòng trừ, ngăn ngừa nguy cơ môi trường từ chế phẩm hóa học” do Bộ bảo vệ môi trường Trung Quốc công bố, chính phủ Trung Quốc  dự định “ trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) sẽ thực thi các biện pháp phòng ngừa, cải thiện toàn diện đối với trên 3000 loại chất ô nhiễm công nghiệp, hóa học có ảnh hưởng nặng đến môi trường sinh thái và thân thể con người”, “theo bản báo cáo này thì không chỉ xuất hiện sự ô nhiễm trầm trọng nguồn nước uống ở rất nhiều khu vực do ô nhiễm môi trường mà các “làng ung thư” với vô số các bệnh nhân cũng tồn tại trên toàn quốc.

Theo tin tức từ phương tiện truyền thông Trung Quốc, số lượng các địa điểm trên lên tới trên 100. Các “làng ung thư” ban đầu tập trung tại những khu vực dọc bờ biển phía đông nơi công nghiệp phát triển sớm nhất với các ngành công nghiệp được đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên do sự tăng cường chính sách bảo vệ môi trường và điều tiết cơ cấu công nghiệp của khu vực duyên hải phía đông, các ngành công nghiệp có liên quan đến ô nhiễm môi trường đã di chuyển vào phía trong và cùng với nó là sự  mở rộng của các “làng ung thư” và khu vực ô nhiễm.

Tin tức thời sự của Trung Quốc cho biết việc  97%  đô thị đều có nguy cơ cao về ô nhiễm nước ngầm là sự việc trầm trọng tới mức làm cho cả Nhật Bản phải náo động. Các nhà máy hóa học và nhà máy giấy đã đưa nước ô nhiễm có hại vào trong lòng đất và lờ đi biện pháp xử lí chính quy.

Người ta biết rằng có khoảng 64% đô thị của Trung Quốc đang phải đối mặt với ô nhiễm nước ngầm trầm trọng. Có 118 đô thị đang trong quá trình tiếp tục điều tra, thu thập dữ liệu vì vậy  khoảng 33% đô thị ô nhiễm nhẹ do đó số đô thị “về cơ bản có nước ngầm sạch” chỉ dừng lại ở 3%. Tờ Nam Phương đô thị báo (bản điện tử)-tờ báo của Trung Quốc công bố thông tin này vào ngày 17 đã cảnh báo nguy cơ:  “sự ô nhiễm nước ngầm của Trung Quốc trước đó đã không thể làm ngơ, đã đến lúc phải có biện pháp chế ngự cơ bản”. Tài nguyên nước của Trung Quốc có đến 1/3 là nước ngầm. Bên cạnh việc nước ngầm bị ô nhiễm do các nhà máy hóa học thải ra nước ô nhiễm trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng cao là sự mở rộng của sự tổn hại sức khỏe do con người do uống phải nước ngầm bị ô nhiễm các chất có hại.

Cơ quan nghiên cứu Yamatosoken đã đưa ra “Hiện trạng vấn đề ô nhiễm nguồn nước trầm trọng và vấn đề môi trường nước ở Trung Quốc”. Dưới đây tôi trích dẫn “Biểu 2. Lượng tài nguyên nước theo đầu người theo sự phân chia của chính phủ Trung Quốc:

 

Trung Quốc mặc dù có các sông lớn như  Trường Giang và nước thì phong phú nhưng do dân số đông nên không thể nói lượng nước dành cho mỗi người là giàu có. Thêm nữa do lãnh thổ rộng nên phân bố không đều, theo như biểu đồ trên thì  các thành phố trực thuộc trung ương như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân tính trung bình lượng nước “bình quân 1 người/năm là dưới 550m3, tức là rơi vào tình trạng thiếu nước tuyệt đối”

Hãy so sánh với đoạn ghi chép của Nhật Bản trong Thông cáo thư của Bộ giáo dục, khoa học, văn hóa: “Lượng sử dụng tài nguyên nước của Nhật Bản tính trung bình trong năm  là khoảng 130m3/người, lượng cung cấp nước ngọt cho công nghiệp nếu được quy đổi sang theo đầu người thì vào khoảng 110m3/người, nước dùng cho sản xuất nông nghiệp chừng 460m3/người, tính chung khoảng 700m3/người”. Tài nguyên nước của Bắc Kinh, Thượng Hải gần với lượng nước sử dụng cho sinh hoạt ở Nhật Bản.

Tỉ lệ phần trăm dựa vào nước ngầm ở Bắc Kinh khá cao trong khi mực nước ngầm thì có xu hướng suy giảm. Các đô thị khác cũng có tình hình tương tự, sự ô nhiễm do chất thải công nghiệp đã trở nên cực nguy hiểm. Mặc dù “công trình điều tiết nước từ Nam tới Bắc” với việc tạo ra đường dẫn nước từ Trường Giang ở phía nam, nơi có nguồn tài nguyên nước phong phú, lên phía bắc đang được xúc tiến nhưng việc xây dựng đang tiến hành rất chậm chạp và tương lai của đường dẫn nước tới Bắc Kinh còn mờ mịt. Tuy nhiên sự tập trung dân số ở các đô thị không hề dừng lại. Trên toàn Trung Quốc có khoảng 300 triệu người thiếu nước uống.

Trong bối cảnh đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và thiếu tài nguyên, phát biểu của người đứng đầu Bộ bảo vệ môi trường ở cấp bộ trưởng năm 2007 đã được báo cáo của Cơ quan nghiên cứu Yamatosoken ghi lại. “Về lý do đưa vào chế độ xem xét trách nhiệm môi trường của cán bộ chính phủ địa phương: “Bất chấp năng lực cấp phép môi trường của khu vực, lưu vực nhiều chính quyền địa phương đang tiệm cận giới hạn năng lực của mình, vẫn tiếp tục theo đuổi mù quáng tỉ lệ tăng trưởng GDP, hi sinh lợi ích toàn quốc gia và sức khỏe của quốc dân để bảo đảm lợi ích đặc quyền của thiểu số (tác giả chú: có lẽ là chỉ cán bộ của chính quyền địa phương và xí nghiệp). Để cải thiện tình trạng này giáo dục hay khai sáng là không đủ mà cần đến cơ chế có tính sức mạnh”.

Cho dù lần này Bộ bảo vệ môi trường có tăng cường quy chế về chất lượng của nhiên liệu chạy xe ô tô do sự ô nhiễm khói độc nặng thì nó cũng không tiến triển do vấp phải bức tường tạo nên từ sự câu kết của giới lãnh đạo cao cấp và các xí nghiệp quốc doanh.

Có vẻ như Tokyo Shimbun (Báo Tokyo) đã chớp lấy cơ hội này khi bài báo “Trung Quốc: cứ 2.6 ngày có một vụ thông báo ô nhiễm, quá nửa là chất hóa học nguy hiểm” cho biết “Bộ bảo vệ môi trường Trung Quốc trước ngày 23 đã công bố số vụ ô nhiễm môi trường có thông báo trong vòng 4 năm từ 2008 đến 2011 là  568 vụ. Tính trung bình là 2.6 ngày có 1 vụ. Trong số đó 287 vụ (khoảng một nửa) là ô nhiễm do các chất hóa học nguy hiểm với nguyên nhân là xả thải bất hợp pháp hoặc xảy ra sự cố trong quá trình vận chuyển hay sản xuất. Cơ quan này cũng đưa ra cảnh báo nguy cơ “làm xảy ra tổn hại sức khỏe nghiêm trọng và các vấn đề xã hội”. Cũng có trường hợp đưa tin chính thức rằng Bộ môi trường của Trung Quốc cũng tương đương cấp “bộ” của Nhật Bản.

Tham khảo: Mời tham khảo các link sau:

『中国は終わった』とメディアはなぜ言わない

日本への中国重篤スモッグ流入ぶり連続アニメ

第343回「中国大気汚染の絶望的な排出源構成と規制遅れ」

http://webronza.asahi.com/bloggers/2013022500001.html

Tác giả: Dando Yasuharu

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Advertisements

So sánh công việc của giáo viên với công việc của bác sĩ.

March 21, 2012 Leave a comment

1.  Điểm giống nhau giữa nghề bác sĩ và nghề giáo viên.

Nghề bác sĩ và nghề giáo viên đều là nghề mà không thể thiếu được trong xã hội. Tất nhiên cũng còn rất nhiều nghề khác đối với xã hội là không thể thiếu được. Tuy nhiên nếu chúng ta sống ở trong một xã hội mà ở đó giả sử như cả bác sĩ và giáo viên không làm việc hết mình thì chúng ta không thể sống an tâm mỗi ngày. Do xã hội luôn mong muốn người bác sĩ và người giáo viên là những người xứng đáng được xã hội kính trọng cho nên người ta dùng chữ Sư (師) thay cho chữ “Sĩ”( 士)

Trong quốc gia hiện  đại, ngành công nghiệp thứ ba đóng vai trò lớn, trong đó việc cung cấp các cơ quan y tế, cơ quan giáo dục cùng với cơ quan tài chính, giao thông, liên lạc là những vấn đề trọng yếu. Do vậy để đào tạo nên các bác sĩ, giáo viên một cách có kế hoạch và ngăn ngừa những người không đủ tư cách vào ngành mà nhiều quốc gia đã thiết lập chế độ cấp giấy phép chặt chẽ. Ở Nhật ở mỗi tỉnh đều có đặt các trường đại học y, đại học giáo dục quốc lập hay khoa y, khoa giáo dục và sự bố trí này là để thực hiện điều nói trên. Và khác với các khoa khác tỉ lệ sinh viên vào học ngay từ đầu đã xác định là mình sẽ trở thành giáo viên hay bác sĩ chiếm tỉ lệ cao. Việc sinh viên có ý thức nghề nghiệp sớm ngay khi vào học là đặc trưng của hai ngành này.

2. Sự khác biệt trong đánh giá xã hội đối với bác sĩ và giáo viên.

Tuy nhiên sự đánh giá của xã hội đối với giáo viên và bác sĩ lại khác nhau. Nói chung ở nhiều nước có thể thấy xã hội đánh giá bác sĩ cao hơn giáo viên.

Tại sao lại có điều này? Tất nhiên là có sự ảnh hưởng của việc khác biệt về thu nhập cao thấp. Tuy nhiên không phải cứ nghề nào cứ có thu nhập cao là nhận được sự đánh giá cao của xã hội. Nó do mấy lí do sau:

Thứ nhất, đó là do sự khác biệt về độ dễ khó khi vào học hai khoa y và giáo dục. Ở Nhật điều này thể hiện rất rõ trong thi cử. Ở Nhật các khoa y trường y luôn đứng hàng đầu về khó trên cả giáo dục. Không chỉ ở Nhật mà ở nhiều nước cũng thấy rõ điều này.

Thứ hai việc đào tạo bác sĩ so với đào tạo giáo viên tốn thời gian hơn và mang tính chuyên môn hơn. Sinh viên khoa y phải học 6 năm, để thành bác sĩ phải vượt qua kì thi bác sĩ quốc gia và phải trải qua thời gian thực tập trước khi được công nhận là bác sĩ chính thức. Và hơn nữa hiện nay để trở thành bác sĩ thì ngoài việc vào làm sinh viên các khoa y không có con đường nào khác.

Trong khi đó sinh viên học khoa giáo dục chỉ phải học có 4 năm khi lấy đủ số đơn vị học trình quy định, lấy được giấy phép hành nghề giáo viên, vượt qua kì thi tuyển dụng giáo viên là trở thành thầy giáo. Đấy là con đường thông dụng tuy nhiên nếu sinh viên  học trong các trường cao đẳng với khóa trình học tương tự thì chỉ cần hai năm là có thể trở thành giáo viên. Để trở thành giáo viên tiểu học thì cần phải học trong các khoa, trường có chương trình đạo tạo giáo viên. Tuy nhiên để trở thành giáo viên trung học phổ thông cơ sở, trung học phổ thông  thì cho dù tốt nghiệp các khoa, trường khác không phải là giáo dục nhưng nếu lấy đủ số đơn vị học trình theo quy định và giấy phép hành nghề thì cũng có thể thành thầy giáo và trên thực tế tỉ lệ giáo viên nằm trong số này khá cao. Người ta một mặt đánh giá cao tính “mở” của chế độ cho phép mọi sinh viên  có cơ hội trở thành giáo viên nhưng mặt khác nó cũng sinh ra mâu thuẫn với  độ cao của tính chuyên môn trong đào tạo giáo viên.

Thứ ba là tính minh xác của mục tiêu hành động. Mục tiêu hành vi của bác sĩ là trị bệnh, vết thương hay phòng bệnh. Cho dù bệnh tật từng thời có khác nhau, ở khu vực có khác nhau song mục tiêu hành vi này của bác sĩ là không đổi. Tuy nhiên mục tiêu giáo dục thì chịu ảnh hưởng  theo khu vực, thời đại, văn hóa, xã hội. Chẳng hạn như ở Nhật trước Chiến tranh thế giới thứ hai mục tiêu tối cao của giáo dục là tạo ra con người “Trung quân ái quốc”. Sau chiến tranh nó được thay bằng mục tiêu tạo ra “con người dân chủ”. Có thể nói đây là sự thay đổi 180 độ. Tuy nhiên cũng khó có thể nói hiện tại tất cả người dân Nhật đều đồng ý với mục tiêu nói trên. Mà giả sử như tất cả người dân Nhật đều đồng ý đi chăng nữa thì mục tiêu đó so với mục tiêu giáo dục của các nước khác trên thế giới cũng có sự khác biệt.

Thứ tư đó là tính minh xác của kết quả hành vi. Kết quả hành vi của bác sĩ có thể thể hiện rất rõ. Tức là bệnh, vết thương có khỏi không. Các thầy đồng cốt cũng hành nghề để chữa bệnh tuy nhiên trong xã hội hiện đại thì người ta không tin tưởng họ mấy vì kết quả hành vi của họ không được làm rõ.

Kết quả hành vi của giáo viên, mặc dù không mờ ảo như thầy đồng nhưng cũng không rõ như kết quả hành vi của bác sĩ. Việc giáo viên đào tạo được bao nhiêu học sinh lên lớp hay thi đậu vào trường  nào đó là kết quả đơn giản và dễ hiểu nhất nhưng nó mất đến nhiều thời gian. Việc hình thành nên nhân tính mất đến nhiều năm tháng và cách đánh giá kết quả không phải bao giờ cũng giống nhau.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tài liệu tiếng Nhật.

P/s: “Tuy nhiên nếu chúng ta sống ở trong một xã hội mà ở đó giả sử như cả bác sĩ và giáo viên không làm việc hết mình thì chúng ta không thể sống an tâm mỗi ngày”.


Đọc rồi ngẫm thấy buồn vì thực tế ở VN bây giờ cả bác sĩ và giáo viên đang lâm tình trạng không sống nổi bằng lương hay nói chính xác hơn là sống mòn mỏi. Sẽ có người phản đối bảo: “Tôi thấy rất nhiều bác sĩ và giáo viên giàu đấy chứ”. Không sai. Nhưng thu nhập phần lớn không đến từ lương và trong số đó cũng không thể nói tất cả đều “minh bạch, sạch sẽ”.

Chất độc màu da cam, phóng xạ và sức mạnh của điện ảnh

October 20, 2011 Leave a comment

Heather Bowser (38 tuổi) người phụ nữ Mĩ đóng  vai chính trong bộ phim tài liệu “Hãy sống dậy mùa xuân im lặng!” nói về ảnh hưởng của chất độc màu da cam ở Việt Nam đối với thế hệ thứ hai (đạo diễn Sakata Masako) vừa đặt chân đến Nhật Bản. Ở Nhật Bản nơi chị lần đầu tiên đặt chân tới thăm là  “Fukushima” và “Miyagi” nơi đang khốn khổ vì phóng xạ rò rỉ từ nhà máy điện nguyên tử Fukushima số 1 do trận động đất lớn Đông Nhật Bản gây ra. Bộ phim sẽ được công chiếu tại Tokyo và Iwanami đến ngày 21 tháng 10. Tại Yamagata từ ngày 6 đến ngày 8 liên hoan phim tài liệu quốc tế cũng được tổ chức. Liệu điện ảnh có thể thay đổi thế giới hay không?

Với tư cách là nạn nhân chất độc màu da cam.  

“Điều cụ  lo lắng nhất là gì?”

Ở một góc khu nhà tạm nơi người dân của Itatemura vốn được coi là “khu vực sơ tán theo kế hoạch” đang sơ tán, Heather và đạo diễn Sakata đã hỏi cụ Kanno Akira (83 tuổi) như thế.

“Có lo cũng chả thể làm gì. Tôi đã già rồi. Chỉ lo cho các con thôi”.

Đạo diễn Sakata Masako và chị Heather Browser

Bố của Heather vốn là binh sĩ tham dự chiến tranh Việt Nam. Ông đã phục vụ tại căn cứ Biên Hòa nơi  hiện nay vẫn là điểm nóng tồn dư chất độc màu da cam từ năm 1968 đến năm 1969. Sau khi về nước ông sinh ra Heather  bị khuyết tật với chân phải cụt đến gối, chân trái thì thiếu ngón chân cái và các ngón ở hai bàn tay đều có khuyết tật.

Đương thời người ta chưa hề biết về mối quan hệ giữa chất da cam có chứa thành phần hóa học Dioxin nồng độ cao và khuyết tật. Chất độc đã hủy hoại cả thân thể và tinh thần bố chị nhưng vào lúc đó gần như không có đoàn thể nào trợ giúp những người lính trở về bị ảnh hưởng sức khỏe và con cái của họ. Ngay cả tới bây giờ chính phủ Mĩ vẫn chưa công nhận Heather  là nạn nhân của chất độc màu da cam. Việc công nhận cha cô là nạn nhân chất độc màu da cam là việc diễn ra sau khi cha cô đã mất.

Đạo diễn Sakata-người theo đuổi hiện tình của cuộc chiến tranh Việt Nam vốn khốn khổ vì chất độc da cam đã cùng với Heather  trong tư cách là một “nạn nhân” tới Việt Nam làm bộ phim tài liệu này.

Nghe nói động lực thúc đẩy Heather  tới thăm vùng Đông Bắc là chuyện  sau khi chương trình “Chuyên đề ETV” của NHK nói về Heather phát sóng, lượng truy cập từ vùng Đông Bắc tới website  nơi cất lên tiếng nói về chất độc màu da cam tăng mạnh. Đương nhiên trước ngày 11 tháng 3 Heather chưa hề biết về “Tohokku” (Đông Bắc-ND) và “Fukushima”.

“Ngẫu nhiên thôi nhưng ngay trước ngày 11 tháng 3 truyền hình đã phát sóng. Sau đó động đất xảy ra. Tôi cảm thấy lo lắng không biết những người đã từng truy cập vào web của tôi giờ ra sao”.

Gửi tới thế hệ tiếp theo.

Tại  buổi liên hoan chiếu bộ phim này do mạng lưới Fukushima hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi ảnh hưởng của chất phóng xạ tổ chức, các giáo viên và phụ huynh đã đưa ra câu hỏi:  “Chính phủ nói rằng là an toàn nhưng chúng tôi nên tin vào điều gì đây?”.

“Đương thời người ta cũng nói chất da cam là an toàn. Tôi cũng đã từng xem đoạn phim chiếu cảnh nhà hóa học uống Dioxin để làm an lòng mọi người”, Heather đáp. “Cần phải làm rõ trách nhiệm là của ai. Cả bản thân mình nữa cũng phải điều tra. Và việc đó sẽ có sức mạnh lớn lao”.

Tên của bộ phim “Hãy sống dậy mùa xuân im lặng” là lấy ý tứ từ tác phẩm “Mùa xuân im lặng”-lời cảnh cáo nông dược sẽ làm cho các loài sinh vật biến mất của nhà văn Mĩ Rachel Carson.

Đạo diễn Sakata nói: “Carson không để lại lời văn nào nói tới chất da cam nhưng tôi nghe nói trước khi chết bà có lo lắng về điều này. Lời cảnh cáo của Carson có thể thấy qua sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1”.

Chất da cam được tạo ra từ bàn tay con người và cả chất phóng xạ cũng thế. Đương thời chính phủ Mĩ cũng thuyết minh về chất da cam rằng nó “không có ảnh hưởng tới thân thể con người và đất đai chỉ cần 1 năm là hồi phục” nhưng cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc trên 30 năm mà người Việt Nam vẫn phải chịu đựng khổ đau qua nhiều thế hệ. Cả phía rải là Mĩ cũng phải chịu di chứng giống như Heather.

Hành chính nhà máy điện nguyên tử Nhật Bản cũng có cơ cấu tương tự. Điện nguyên tử vốn được tuyên bố là “an toàn”  nhưng khi sau khi động đất xảy ra đã phơi bày tất cả.

Số người dân nghi ngờ tiêu chuẩn tạm thời về phóng xạ “không ảnh hưởng tới sức khỏe” không phải là ít.

“Không ai biết được 50, 100 năm sau nó sẽ có ảnh hưởng như thế nào”, rất nhiều người dân tham gia buổi chiếu phim đã nói như thế.

“Hoa đã đi về đâu” 

Động lực thúc đẩy đạo diễn Sakata làm bộ phim tài liệu là chuyện chồng chị  nhà báo Fort nguyên là binh sĩ trở về từ cuộc chiến tranh Việt Nam qua đời ở độ tuổi rất trẻ do ung thư gan.

Bộ phim tài liệu đầu tay  “Hoa đã đi về đâu” (2007) khắc họa hành trình truy tìm dấu tích của người chồng ở Việt Nam và tình yêu gia đình đối với những đứa trẻ bị ảnh hưởng nặng nề bởi chất da cam đã nhận nhiều giải thưởng như  giải thưởng phim tài liệu của báo Mainichi và Giải môi trường quốc tế Paris…

Có thể nói tác phẩm lần này vẫn là sự tiếp tục tác phẩm nói trên.

Đây là bộ phim được quay trong thời gian chị sống ở Việt Nam để vừa tiến hành các hoạt động cung cấp học phí cho những trẻ em bị nhiễm chất da cam vừa học tiếng Việt. Và sự gặp gỡ với Heather là duyên cớ cho bộ phim ra đời.

Lời cảnh cáo của Rachel Carson đã bị làm ngơ trong chiến tranh Việt Nam và cả ở Nhật Bản nó cũng đã không được đoái hoài tới. Trong tác phẩm lần này cho dù nó không khắc họa cảnh thiên tai nhưng cũng có thể nói bộ phim  đã tạo ra nhiều điểm chung.

Điểm chung đó là câu hỏi: “Để không để lại di chứng cho thế hệ tương lai, chúng ta có thể làm gì đây…?”.

Đạo diễn Sakata  không có ý làm bộ phim tài liệu về động đất một cách chính thức nhưng chị vẫn tiếp tục thu thập tiếng nói của những ngừơi sơ tán.

Sức mạnh của điện ảnh.

Liên hoan phim tài liệu được thế giới biết tới sẽ diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 trong thành phố Yamagata. Do thiệt hại lớn vì trận động đất Đông Nhật Bản mà  người ta đã xem xét hoãn tạm thời buổi khai mạc nhưng nó vẫn diễn ra theo đúng lịch trình dự định.

Chính vào thời điểm như thế này, sức mạnh của phim tài liệu,  tác phẩm dự a trên quan điểm khách quan để nhìn nhận thế giới mà đưa ra thông điệp dựa trên chủ kiến sẽ tạo nên mối liên hệ với quá trình thúc đẩy phục hưng.

Có 29 tác phẩm tập trung vào chủ đề động đất. 29 tác phẩm trong đó có tác phẩm “Ngày 3 tháng 11” được quay tại vùng bị hại ngay sau khi diễn ra động đất của 4 tác giả đứng đầu là Mori Tatsuya sẽ được công chiếu.

Hướng đến tương lai

Đạo diễn Sakata và Heather được người dân hướng dẫn vào thăm những ngôi nhà ở giờ đã thành nhà hoang ở Itatemura.

Ở đó đập vào mắt họ là chú chó nhỏ sinh ra trong khu vườn nơi con người đã đi sơ tán hết.

”Khi muốn cho chó ăn tôi lại lấy chó bông ra. Tôi nghĩ chắc là nó đã ra đời trót lọt rồi”.

Chủ ngôi nhà nói vậy và nhìn chú chó nhỏ được chó mẹ cưng chiều trìu mến. Chủ nhà cho biết chó mẹ thuộc giống Labrador có thân hình to lớn nên không thể chở đến nơi sơ tán được.

Chú chó con  lâu mới gặp người mừng rỡ vẫy đuôi thật hồn nhiên và chạy quanh phía sau Heather.

Khi được yêu cầu đặt tên cho chú chó  mới ra đời, Heather đã đặt cho con chó nhỏ cái tên Hope (Hy vọng).

Trong lần đầu tới thăm Nhật Bản những thứ Heather để lại cho nơi đây thật lớn.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Sankei.

Bạn nào quan tâm có thể truy cập web của chị Heather tại địa chỉ: http://www.agentorangespeaker.com/default.html

 

Xã luận báo Asahi: Xuất khẩu điện nguyên tử ư? Chính phủ đâu có rỗi!

August 24, 2011 Leave a comment


Chính phủ hiện tại tiếp tục thể hiện chủ trương xuất khẩu điện nguyên tử ra nước ngoài. Quốc hội lần này đang bàn thảo về hiệp định điện nguyên tử giữa Nhật Bản và Jordan.

Trên thế giới sự du nhập điện nguyên tử ở các nước mà trọng tâm là các nước đang phát triển đang diễn ra nhanh chóng với bối cảnh đằng sau là sự tăng giá dầu và chính sách đối phó với hiệu ứng nhà kính.  Chính phủ của Đảng dân chủ đã để mắt tới điều này và coi nó như là cột trụ của chiến lược tăng trưởng lâu dài. Trong nội dung xuất khẩu cơ sở hạ tầng ra nước ngoài, bản thân thủ tướng cũng dốc sức vào việc tiếp thị xuất khẩu điện nguyên tử cho các nước đối tác.

Tuy nhiên khi sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1 diễn ra thì tình hình đã đổi khác. Trong phương châm nhắm tới sửa đổi  tân chiến lược phát triển lâu dài chính quyền Kan đã ra quyết nghị “giảm thiểu mức độ phụ thuộc vào điện nguyên tử”. Cả việc xây dựng các nhà máy mới cũng dừng lại và cũng chưa rõ lộ trình tái khởi động các nhà máy điện nguyên tử đã hoàn thành kiểm tra định kì.

Ở vào thời điểm sự cố lớn nhất trong lịch sử xảy ra và sự tồn tại của điện nguyên tử đang trở thành dấu hỏi, chính phủ lại đi đầu trong việc bán điện nguyên tử ra nước ngoài. Điều này thật khó thông. Một khi sự cố nhà máy điện nguyên tử còn chưa giải quyết xong thì chắc chắn chính phủ sẽ không có thời gian rỗi rãi để làm những việc như thế.

Việc chính phủ cùng với nhà sản xuất điện nguyên tử- các công ty điện lực- tham gia vào thương vụ này là do ở các nước du nhập điện nguyên tử không chỉ đưa ra yêu cầu xây dựng các nhà máy mà còn yêu cầu trông coi cả về vận hành, bảo trì, đào tạo nguồn nhân lực và hệ thống pháp quy nữa.

Tuy nhiên sự cố nhà máy điện nguyên tử đã làm rõ một điều: ở các công ty điện lực đảm nhận vận hành, bảo trì tồn tại rất nhiều vấn đề. Cả sự tắc trách trong quản lý an toàn và hệ thống pháp quy cũng được phơi bày.

Trước đó Điện lực Tokyo đã tuyên bố sẽ rút lui hoàn toàn khỏi việc xuất khẩu điện nguyên tử. Cả các công ty điện lực  khác cũng đang phải gấp rút sửa đổi ngành nghề điện nguyên tử từ gốc rễ. Vậy thì “Đội bóng cờ mặt trời” thiếu vắng các tuyển thủ chủ chốt kia lấy đâu ra cơ hội giành chiến thắng?

Nếu cứ thế này mà cạnh tranh với nước khác thì có khả năng Nhật Bản sẽ bị xô đẩy vào những điều kiện bất lợi như phải bồi thường tiền khi sự cố xảy ra hay phải hỗ trợ ở các lĩnh vực khác.

Ban đầu cả 3 công ty sản xuất điện nguyên tử ở trong nước  đều có đủ năng lực cạnh tranh quốc tế. Việc chính phủ và dân sự hợp làm một cùng tiếp nhận chế ước không bằng việc tổ chức nên đội mạnh nhất có năng lực kĩ thuật và mạng lưới độc lập  để tiếp nhận các đơn đặt hàng. Làm như thế thì sẽ hợp lý hơn.

Đối với Việt Nam, nước đã kí hiệp định hợp tác trước đó hay Thổ Nhĩ Kì – nước đang tiến hành thương thảo- thì cần phải xác nhận nguyện vọng của đối tác vừa phải thuyết minh rõ ràng tình hình và các vấn đề của nước Nhật. Ít Nhất thì chính phủ cũng phải tránh là người đóng vai đi trước phất cờ.

Cần phải  làm rõ nguyên nhân sự cố và đứng trên lập trường phản tỉnh nghiêm khắc, phát huy kinh nghiệm trong tăng cường quy chế an toàn, công tác chuẩn bị cho sự cố và cơ chế bồi thường. Chính điều đó  là cống hiến tốt nhất mà Nhật Bản có thể làm cho cộng đồng quốc tế.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Asahi

 

 

Bài học mỏ đồng núi Ashio

July 20, 2011 Leave a comment

Vụ ô nhiễm mỏ đồng núi Ashio kéo dài suốt từ thế kỉ 19 đến cuối thế kỉ 20 được biết đến như là vụ ô nhiễm công nghiệp đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 1550 hai người nông dân lần đầu tiên phát hiện ra đồng ở đây. Vào thời điểm ấy không ai nghĩ rằng phát hiện mang tính ngẫu nhiên này sẽ mang đến biết bao khổ đau và nước mắt cho cư dân vùng mỏ này kéo dài suốt 400 năm.

Từ phát hiện ban đầu đến khi được khai thác với quy mô lớn

Mỏ đồng Ashio nằm ở khu phố Ashio, thành phố Nikko trên thượng lưu sông Watarase phía tây tỉnh Tochigi.

Năm 1550, khoáng đồng ở đây được được phát hiện lần đầu tiên nhưng phải đến năm 1610 dưới thời Ê-đô, hoạt động khai mỏ mới chính thức được bắt đầu. Vào thời đó phố Ashio được mệnh danh là khu phố “ngàn nhà” rất phồn vinh, với hệ thống công trường khai mỏ, luyện đồng và có cả xưởng đúc tiền riêng. Vào thời điểm đỉnh cao mỏ đạt sản lượng khai thác khoảng 1200tấn/năm. Nhưng từ cuối thời Ê-đô đến đầu thời Minh Trị hoạt động khai khoáng nơi đây đình đốn có lúc rơi vào tình trạng bên bờ vực phá sản.

Trong bối cảnh các ý kiến bi quan về tương lai của mỏ đồng Ashio ngày một tăng, năm 1877 ( năm Minh Trị thứ 10) Furukawa Ichibei, người sáng lập tập đoàn tài phiệt Furukawa bắt tay vào kinh doanh khai khoáng tại đây. Trong một vài năm đầu, việc kinh doanh không đem lại kết quả gì đáng kể nhưng vào năm 1881(năm Minh Trị thứ 14) thì phát hiện ra mạch đồng lớn. Sau thời điểm này cùng với sự tiến bộ của kĩ thuật thăm dò, các mạch đồng liên tiếp được khám phá và đến đầu thế kỉ XX , sản lượng đồng khai thác được ở Ashio đã chiếm tới ¼ sản lượng đồng của toàn nước Nhật.

Không khí khu vực mỏ đồng Nishio bị ô nhiễm nặng

Trải qua thời Minh Trị, Taisho rồi Showa, mỏ đồng liên tiếp được mở rộng và kĩ thuật khai thác quặng tiên tiến cũng được đưa vào phục vụ thăm dò khai khoáng. Trong lòng ngọn núi chứa mỏ đồng dần hình thành một hệ thống đường hầm khai khoáng ngoằn ngòeo và từng bước được nối dài qua mỗi thời kì lịch sử. Xung quanh khu vực khai khoáng là hệ thống lọc rửa quặng, nhà xưởng tinh luyện đồng, khu nhà ở cho người lao động, trường tiểu học và đền thờ Thần đạo. Ban đầu người ta dùng xe ngựa để vận chuyển nguyên vật liệu, khoáng sản và người lao động nhưng sau đó các phương tiện giao thông hiện đại như ô tô và hệ thống đường sắt được xây dựng phục vụ đắc lực công cuộc khai khoáng ở đây. Ngày 28 tháng 2 năm 1973, mỏ đồng đóng cửa. Trải qua 400 năm khai thác toàn bộ đường hầm mỏ chạy dọc ngang trong lòng núi đã đạt đến độ dài kỉ lục 1234 Km (tương đương với khoảng cách từ Tokyo đến Hakata).

Tác giả trước cửa vào đường hầm

Sau khi mỏ đóng cửa, ở đây vẫn diễn ra hoạt động chế luyện đồng tại các công xưởng với nguyên luyện ngoại nhập nhưng đến năm 1989 cùng với sự ngừng hoạt động của tuyến đường sắt vận chuyển hàng hóa đến Ashio, hoạt động của các công xưởng ở đây chấm dứt.

Nỗi ám ảnh mang tên Ashio

Hoạt động khai thác và chế biến đồng ở núi Ashio với quy mô lớn đã gây ra sự ô nhiễm khủng khiếp suốt từ thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20 trong phạm vi lưu vực sông Watarase thuộc tỉnh Gunma và Tochigi.
Hơi gas độc và mưa a-xít từ hoạt động khai khoáng đã biến khu phố Ashio và vùng núi phụ cận xung quanh thành hoang mạc. Từng vùng đất lần lượt bị mất cây và đổ nát. Hiện tượng đất đai sạt lở này cho đến nay vẫn còn tiếp diễn dù mức độ nguy hiểm đã giảm dần.

Mỏ đồng bị ô nhiễm nặng

Đất đai sạt lở từ núi theo nước mưa chảy xuống sống Watarase và tích tụ ở hạ lưu. Sự tích tụ này là nguyên nhân chính gây nên nạn lụt lớn trên sông Watarase. Cư dân trong vùng lần đầu tiên cảm nhận thấy rõ ràng sự ô nhiễm trên diện rộng ở đây khi thấy một lượng lớn cá Ayu trên sông watarase bị chết. Tuy nhiên tờ báo đầu tiên đưa tin về hiện tượng này là tờ Asano cũng chỉ viết một cách mập mờ “rất có thể là do việc khai khoáng ở núi Ashio”.

Ngày 31 tháng 10 năm 1885 báo Shitano đưa tin cây cỏ ở núi Ashio bị chết khô. Cá chết hàng loạt trên sông Watarase và cây cỏ trên núi héo khô là hai sự kiện đầu tiên về vụ ô nhiễm Ashio được đưa tin trên báo. Tiếp theo là sự chết héo trên diện rộng của lúa do trồng trên đất ruộng là nơi trầm tích đất lở từ mỏ đồng. Diện tích đất trồng bị bao phủ bởi thứ đất này ngày một rộng ra do ảnh hưởng của những trận lụt do sông Watarase gây nên. Phạm vi ô nhiễm đã mở rộng ra khỏi khu vực phụ cận sông Watarase.
Năm 1901 ngôi làng Matsugi tiếp giáp với phố Ashio trở thành ngôi làng hoang vì cư dân ở đây không thể chịu nổi khói độc từ mỏ khoáng. Các ngôi làng gần Matsugi cũng dần dần trở thành chốn không người. Nhiều biện pháp khắc phục được đưa ra nhưng kết quả không đem lại là bao. Đến tận năm 1971 gạo thu hoạch được ở Morita qua kiểm tra còn thấy nhiễm Cadimi.

Năm 1899 theo Văn phòng theo dõi ô nhiễm mỏ đồng của hai tỉnh Tochigi và Gunma thì số người chết do nhiễm độc lên tới 1064 người. Đương thời ( năm 1901) có đến hơn 800 người sinh sống ở đây nhưng trong vòng năm năm liền tuyển lính chỉ có hai người trúng tuyển, trong hai người đó thì một người sau khi vào quân đội chỉ 10 ngày đã mắc bệnh phải rời ngũ.

Những chính sách nửa vời và hai mặt của chính phủ

Từ năm 1891 bất chấp sự phản đối của nghị viên Tanaka tại quốc hội, chính phủ Minh Trị không ngừng đẩy mạnh khai thác mỏ đồng. Đương thời các cuốn sách có liên quan đến mỏ đồng và sự ô nhiễm nơi đây như “ Ô nhiễm mỏ đồng Ashio-thông tin về miền duyên hải watarase” ngay sau khi phát hành đã bị chính quyền Minh Trị ban hành lệnh cấm bán.
Năm 1897 nông dân trong vùng xung quanh mỏ xếp thành hàng dài kéo lên Tokyo để “trần tình”. Hành động này đẩy dư luận lên cao và để đối phó vào tháng 3 cùng năm, chính phủ Minh Trị cho thành lập “ Ủy ban điều tra ô nhiễm mỏ đồng Ashio” và sau đó là sự ra đời một vài sắc chỉ về “phòng trừ ô nhiễm”.

Cảnh phu lao động trong hầm mỏ

Tuy nhiên tất cả những biện pháp nửa vời và mang tính hai mặt của chính phủ Minh Trị đưa ra trên thực tế đều không đưa lại kết quả gì. Thực tế này được về sau nhắc lại và công nhận chính thức trong “Sách trắng về môi trường” phát hành năm 1993.

Không cam chịu số phận, những nạn nhân của mỏ đồng tiếp tục đấu tranh phản đối việc khai mỏ ở đây. Cuộc đấu tranh quy mô lớn lần 3 nổ ra vào tháng 9 năm 1898 và lần 4 bùng phát vào tháng 2 năm 1900. Trong lần thứ tư đã diễn ra xung đột giữa những người nông dân và cảnh sát. Kết quả là có nhiều nông dân bị bắt.

Ngày 10 tháng 12 Năm 1901 ( năm Minh Trị thứ 34), nghị viên quốc hội Tanaka lập kế hoạch chặn kiệu thiên hoàng Minh Trị giữa đường để tố cáo sự tình mỏ đồng . Kế hoạch bị lộ và thất bại . Tanaka bị cảnh sát bắt giam và thẩm vấn suốt một ngày liền. Tuy thất bại nhưng sự kiện này đã làm cho cả thành phố Tokyo náo động, số đặc biệt của các tờ báo đưa tin vụ việc được phân phát khắp nơi, những thông tin trung thực về mỏ đồng được khuyếch tán rộng trong dân chúng. Sau cố gắng bất chấp nguy hiểm của Tanaka , liên tiếp các đoàn học sinh đã kéo đến đây tham quan học tập, dư luận lên cao và kết quả là vào năm 1902 chính phủ phải thành lập “Ủy ban điều tra ô nhiễm mỏ đồng” lần thứ hai. Ủy ban này vào năm 1903 đã đưa ra kết luận rằng sau khi thực thi sắc chỉ phòng chống ô nhiễm năm 1897 thì sự ô nhiễm đã giảm đi đáng kể và đưa ra đề án xây dựng “hồ chứa nước thải” quy mô lớn nhằm ngăn chặn thứ nước này tràn ra sông Watarase. Ủy ban cũng kết luận rằng tác hại đối với cây trồng vật nuôi chủ yếu là do hoạt động khai khoáng đã diễn ra từ thời gian trước đó, hoạt động khai khoáng hiện tại không gây ra ảnh hưởng ô nhiễm nào đáng kể bằng chứng là trong vùng đã có vụ lúa bội thu. Tuy nhiên trên thực tế thì không phải vậy. Tanaka trong buổi vừa đi bộ vừa diễn thuyết vào tháng 10 năm 1903 với chủ đề “ Vụ lúa bội thu trên vùng đất ô nhiễm” đã khẳng định “ Nguyên nhân được mùa nhất quyết không phải là do tác dụng của các biện pháp phòng tránh. Đó là do trận lụt năm ngoái đã đem đất mới phủ lên vùng đất bị ô nhiễm”. Năm 2006 Bộ giao thông, vận tải, đất đai Nhật Bản chính thức thừa nhận nội dung bài diễn thuyết trên là đúng hoàn toàn chính xác.

Những nạn nhân của mỏ đồng và hành trình đi tìm công lý

Nạn nhân của “Vụ ngộ độc núi Ashio” nổi tiếng toàn quốc chủ yếu là những người dân sống quanh khu mỏ và ở khu vực hạ lưu sông Watarase. Hơi gas độc cùng với kim loại nặng sản sinh từ quá trình đào, rửa và tinh luyện quặng hòa cùng với nước thải chảy về hạ lưu làm ô nhiễm toàn bộ nguồn nước và diện tích đất nông ngiệp trong vùng. Hơi gas độc gây nên mưa A-xít khiến những ngọn núi quanh vùng mỏ trở thành những ngọn núi chết. Mưa gây ra nạn sạt lở ở những ngọn núi không bóng cây này và lượng đất lở theo sông Watarase chảy về vùng hạ lưu chất lại ở đó, cản trở dòng chảy gây nên nạn lụt lớn. Lũ lụt đưa đất đai bị nhiễm độc đi khắp nơi. Những ngôi làng nơi người dân sống bằng nông nghiệp trở thành những ngôi làng hoang vì lúa ở đây không sống được và có sống được cũng không thể trổ bông.

Từ những phản ứng lẻ tẻ ban đầu những người nông dân đã tập hợp lại để đấu tranh. Sát cánh cùng với những người nông dân bất hạnh là nghị viên Tanaka Shozo( 1841-1913). Ngay từ rất sớm Tanaka đã nhận ra khuôn mặt gớm ghiếc của mỏ đồng và tương lai không mấy tốt đẹp của những người dân trong vùng. Bất chấp sự nguy hiểm khi phải đấu tranh đơn độc và đối đầu với nhiều thế lực năm 1896, Tanaka chính thức chất vấn về tính bất chính của mỏ đồng tại quốc hội. Không dừng lại ở đó, ông cùng với những người bạn đã lập ra các văn phòng theo dõi ô nhiễm mỏ đồng tại hai tỉnh Gunma và Tochigi.

Tanaka Shozo

Mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng với quy mô lớn do mỏ đồng Ashio khiến ông đi đến một quyết định mạo hiểm. Năm 1901 Tanaka từ bỏ công việc nghị viên quốc hội để lập kế hoạch trực tiếp gặp thiên hoàng Minh Trị đưa đơn tố cáo. Ông định chặn thiên hoàng Minh Trị trên đường trở về từ phiên khai mạc quốc hội để đưa đơn tố cáo nhưng kế hoạch bất thành. Ông bị cảnh sát bắt, thẩm vấn nhưng đến chiều tối thì được thả. Sự đàn áp này không làm ông nản chí. Năm 1904 khi biết chính phủ Minh Trị sẽ tiến hành đại dự án xây dựng hồ chứa nước trong vùng và ngôi làng Yutana sẽ nằm dưới lòng hồ, Tanaka quyết định dọn nhà đến sống ở đây. Ông trở thành người lãnh đạo của phong trào đấu tranh đòi đóng cửa mỏ đồng. Tanaka cùng với nông dân trong vùng đặc biệt là nông dân làng Yutana đã đấu tranh quyết liệt chống “ sáp nhập” với làng khác, chống “ thu mua ruộng đất” , phản đối “ cưỡng chế di dời”…Nhưng cố gắng ấy đều vô vọng. Năm 1906 toàn bộ ngôi làng bị mua với giá rẻ với lí do khu đất ở đây thuộc danh sách “đất bất hợp pháp”. Trong số 2500 người dân ở đây có trên 100 người bao gồm Tanaka quyết ở lại đến cùng dù đất đã bị bán. Đến năm 1907, chính quyền tỉnh Tochigi cưỡng chế người dân phá hủy các ngôi nhà và cho phá đê làm ngôi làng ngập chìm trong nước. Những người nông dân không khuất phục tiếp tục dựng nhà tạm nán lại trên mảnh đất của mình nhưng đến năm 1917 thì họ cũng phải dời bỏ đến sống ở các khu phố khác. Ngôi làng mang tên Yutana đến đây hoàn toàn xóa sổ.

Mỏ đồng sau bốn trăm năm

Sau cuộc hành trình 400 năm ròng, ngọn núi Ashio lại dần trở về nguồn cội . Sau khi mỏ đồng đóng cửa vào năm 1973, những hoạt động khắc phục ô nhiễm và tái bảo tồn thiên nhiên được cấp tập tiến hành. Khu mỏ đồng Ashio cùng với những dấu tích của nó trở thành di sản văn hóa quốc gia vào năm 2007 .

Năm 2008 dấu tích nhà kho chứa thuốc nổ và khu vực hầm mỏ được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hồ nước mang tên Yutana có hình trái tim được hoàn thành vào năm 1990 trở thành nơi điều tiết và cung cấp nước cho các thành phố vệ tinh. Màu xanh dần phủ lại nơi này. Vào ngày nghỉ khu vực quanh hồ đã trở thành nơi người dân từ khắp nơi đổ về tiến hành các hoạt động vui chơi ngoài trời, dã ngoại thể thao. Con tàu trước đó vốn được dùng để chở công nhân vào hầm mỏ và chở quặng ra thì giờ đây trở thành phương tiện đưa du khách thưởng ngoạn đường hầm. Những đoạn đường hầm rộng và an toàn nhất được gia cố để đón khách du lịch. Những bức tượng tái hiện cảnh lao động dưới hầm mỏ qua từng thời đại được dựng khắp nơi. Khi dạo trong đường hầm du khách cũng sẽ có cơ hội được tham quan một bảo tàng nho nhỏ nơi ghi lại những bước thăng trầm của mỏ đồng. Ở đó có bộ sưu tập tiền qua từng thời đại, có cảnh phu phen lao động nặng nhọc dưới lòng đất sâu, có những bức ảnh chụp từng đoàn người nông dân trên hành trình đi tìm công lí. Và tất nhiên ở đó có chân dung của Tanaka  Shozo với bộ râu dài bạc trắng, vầng trán rộng đầy nếp nhăn và đôi mắt u sầu. Tanaka cùng với Saigo Takamori rồi sau này là Yosano Akiko đã trở thành những nhân vật lịch sử được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều người yêu mến. Tư tưởng và hành động của họ đã vượt rất xa thời đại họ sống, họ đã đau và thức tỉnh trước đại đa số người Nhật cả một, hai thế kỉ. Và cũng bởi sự tiên phong này, họ đã cô đơn ngay trong lòng đồng loại và chịu không ít đắng cay. Saigo Takamori, vị tướng có vai trò quan trọng trong việc đưa chính quyền từ tay Mạc phủ Tokugawa về tay phe Minh Trị, cuối đời đã phải chấp nhận cầm gươm đứng lên chống lại Minh Trị và rồi tự sát để giữ trọn khí tiết. Tanaka Masazo đã đơn độc giữa quốc hội, bị bắt, bị thẩm vấn và chết khi công lí chưa được thực thi. Yosano Akiko không bị bắt như Tanaka, không bị dồn đến đường cùng như Saigo Takamori nhưng bị coi là “đồ phản quốc” và trên mặt báo chí đương thời rất nhiều thi sĩ, triết gia công khai kêu gọi đuổi bà ra khỏi nước Nhật.

Mỏ đồng Nishio hiện tại (ảnh: NQV)

Một vòng quay hoàn hảo của mỏ đồng Ashio cũng như số phận của ba nhân vật lịch sử cận đại Nhật Bản: Tanaka Shozo, Saigo Takamori, Yosano Akiko vừa giống như ví dụ minh họa cho sự trớ trêu của lịch sử vừa là bằng chứng hiển nhiên chứng minh cho sự bất diệt của chân lý.

Xã luận báo Asahi: Nhật Bản cần dứt khoát từ bỏ điện nguyên tử

July 14, 2011 Leave a comment

 

 

Chúng ta cần phải tiến hành đại chuyển đổi chính sách năng lượng của Nhật Bản và nhanh chóng xây dựng xã hội không phụ thuộc vào nhà máy điện nguyên tử.

 

Trước sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima 1 hiện vẫn chưa tìm thấy lối ra, phần lớn quốc dân đều nghĩ vậy. Theo kết quả điều tra của báo Asahi  thì có đến 77% số người được hỏi đồng  ý từng bước từ bỏ điện nguyên tử.

 

Dẫu sao quốc dân cũng đã hiểu được sự khủng khiếp của năng lượng nguyên tử nằm ở chỗ “có muốn dừng cũng không thể dừng được”. Thêm nữa các nhà máy lại nằm trên quần đảo Nhật Bản, cái ổ của động đất và người ta nói rằng hiện đang ở vào thời kì động đất. Nếu sự cố diễn ra một lần nữa thì xã hội Nhật Bản sẽ không thể gượng dậy.

 

Vì vậy, chúng tôi muốn đề xướng “Xã hội không có điện nguyên tử” như là mục tiêu của tương lai. Về phương sách này chúng tôi đã đăng tải nhiều ý kiến ở phần xã luận chuyên đề, kính mời quý độc giả đọc.

 

Điểm quan trọng của việc xúc tiến thoát điện nguyên tử  nằm ở trục thời gian.

Cho đến  nay  có gần 30 % lượng điện phụ thuộc vào điện nguyên tử. Do đó nếu như ngay lập tức xóa bỏ điện nguyên tử thì tình trạng thiếu điện sẽ xảy ra và chắc chắn cuộc sống cũng như hoạt động kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Việc giảm từ từ không nôn nóng sẽ mang tính khả thi hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ đến đích.

Một mục tiêu được đưa ra là xác định tuổi thọ của điện nguyên tử chừng 40 năm nữa. Nếu như không xây thêm lò phản ứng mới và tuần tự ngừng trong vòng 40 năm thì đến năm 2050 số lò phản ứng sẽ bằng 0. Và như thế cho dù muộn  nếu chúng ta tập trung sức lực vào việc khai phát, du nhập nguồn điện thay thế và nỗ lực tiết kiệm điện thì ngày số lò phản ứng bằng 0 sẽ sớm đến gần.

Ngôi sao hi vọng của nguồn điện thay thế là năng lượng tự nhiên tiêu biểu như năng lượng gió, năng lượng mặt trời. .. Chúng ta sẽ chuyển hướng chính sách năng lượng theo hướng tăng cường những năng lượng này và cải cách cơ bản thể chế độc chiếm khu vực của các công ty điện lực. Đây là kịch bản được vẽ ra trong bài xã luận này.

 

Từ trước đến nay việc tăng cường điện hạt nhân được tối ưu tiên và năng lượng tự nhiên đã bị ức chế ngấm ngầm hoặc công khai. Nguồn năng lượng tự nhiên phân bố khắp các địa phương sẽ trở thành nhà máy phát điện gắn chặt với địa phương do đó  sự tham gia tự do theo quy chế mới kiểu tự do hóa là không thể thiếu. Nếu như phí điện năng được tính theo cung và cầu thì cũng sẽ có tác dụng khuyến khích tiết kiệm điện.

 

Tuy nhiên, chi phí vẫn còn rất đắt. Nếu như đưa vào đột ngột thì giá điện sẽ tăng cao và cuộc sống cũng như hoạt động kinh tế sẽ phải chịu gánh nặng. Tăng giá ở mức độ nào thì có thể chấp nhận được đây? Việc cân nhắc công việc giảm các nhà máy điện nguyên tử nguy hiểm, tạo ra sự đồng thuận của quốc dân và xúc tiến việc phế bỏ các lò phản ứng là việc làm quan trọng.

Thêm nữa, để làm được điều đó thì cần nhiều thời gian do đó không thể không tăng cường các nhà máy nhiệt điện sử dụng gas thiên nhiên. Khí CO2 thoát ra sẽ gây tác dụng tiêu cực đối với việc phòng chống trái đất nóng lên nhưng việc khai phát năng lượng tự nhiên, xúc tiến tiết kiệm năng lượng đồng thời về lâu dài tiến hành phế bỏ điện nguyên tử cần phải được tiến hành song song. Đây cũng là trách nhiệm mang tính quốc tế của Nhật Bản.

 

Một khi những nỗ lực nói trên được thực thi thì đến bao giờ sẽ không còn điện nguyên tử?

 

Do nó phụ thuộc vào sự phát triển của kĩ thuật và tình hình kinh tế thế giới cho nên việc dự đoán sẽ rất khó khăn nhưng có lẽ khoảng 20, 30 năm nữa.

 

Và như vậy tại sao chúng ta lại không thử  quyết tâm đưa ra mục tiêu “20 năm nữa đưa điện nguyên tử về 0” và dốc toàn lực thực hiện rồi tiến hành sửa đổi  kế hoạch sau một số năm nhất định theo chu kì?

 

Hiện tại, 35 trong số 54 nhà máy điện nguyên tử đang ngừng hoạt động và đến tháng 8 thì có thêm 5 nhà máy nữa phải dừng để kiểm tra. Cho dù rơi vào tình thế đó nếu như chúng ta mỗi người nỗ lực tiết kiệm điện và vượt qua được thời kì cần đến điện nhất trong mùa hè này thì nó sẽ chứng minh rằng cho dù không có điện nguyên tử mọi việc cũng vẫn sẽ ổn.

 

Từ giờ về sau nếu như chúng ta chọn lựa nhà máy điện nguyên tử dựa trên tiêu chuẩn an toàn là số một và chỉ vận hành những  nhà máy cần thiết dựa trên việc xem xét nhu cầu thì điện nguyên tử sẽ giảm nhiều và nhanh chóng. Nếu như chúng ta bước vào con đường tiến tới không còn điện nguyên tử, thì việc có được sự thông cảm của quốc dân đối với việc tái vận hành chắc chắn sẽ trở nên dễ dàng hơn.

 

Nghiên cứu về năng lượng nguyên tử sau chiến tranh đã xuất phát từ cụm từ “sử dụng vì mục đích hòa bình”. Tuy nhiên, điện nguyên tử đã trở thành quốc sách và một khi nó bắt đầu chuyển động như là sự thống nhất giữa sự độc chiếm của địa phương và công ty điện lực thì lý luận phản đối nó đã bị nhìn nhận một cách ác ý và không còn phanh được nữa.

Phần lớn quốc dân đã không suy nghĩ gì nhiều về nguồn điện và hưởng thụ cuộc sống dùng điện tùy thích.

 

Việc lựa chọn nguồn điện theo mô hình phân tán thoát khỏi điện nguyên tử sẽ chuyển từ mô hình phó mặc cho chính sách năng lượng sang mô hình tham gia và có mối liên quan tới mục tiêu xây dựng xã hội phân quyền. Điều này sẽ thống nhất với việc xây dựng mô hình  xã hội phát triển bền vững trong thế kỉ 21.

 

Xã luận chuyên đề ngày hôm nay chẳng qua cũng chỉ là một phác thảo hướng tới “Xã hội không có điện nguyên tử” mà thôi. Điều cần thiết là  chúng ta vừa phải làm sâu sắc sự tranh luận của quốc dân vừa phải tiến hành thực hiện nhanh chóng những việc có thể.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ báo Asahi ngày 13/7/2011

“Mùa Xuân Im Lặng”

July 14, 2011 Leave a comment

Đấy là tên cuốn sách của  nhà văn, nhà sinh vật học người Mĩ: Rachel Carson. Một cuốn sách hay và đáng đọc.

Rachel Carson

Mạo hiểm và dám thay đổi ước mơ

Hiếm có nhà khoa học nào có nhiều cống hiến cho nhân loại lại không sớm có những ước mơ. Rachel Carson cũng không là ngoại lệ. Ngày còn nhỏ cô bé Rachel Carson say mê những sinh vật nhỏ nhoi như: dế, nhện, những con chim cổ đỏ…Rachel Carson say mê chúng chẳng  kém gì tờ tạp chí dành cho thiếu nhi “St.Nicholas” mà cô đọc mỗi tối. Tờ tạp chí này cũng là nơi đăng “ A Battle in the Clouds” (Trận chiến trên mây) – truyện ngắn đầu tay do Rachel sáng tác. Nó làm mơ ước trở thành nhà văn trong Rachel thêm cháy bỏng.
Nhưng cuộc đời của những người ưa mạo hiểm và giàu trí tưởng tượng như Rachel không hề bình lặng như dòng nước chảy. Vào năm thứ hai ở trường đại học, các sinh viên của phải học môn khoa học như một môn bắt buộc dù trường mà Rachel theo học chuyên về văn chương. Nỗi say mê khám phá thế giới tự nhiên trong Rachel trỗi dậy và cô chọn ngành sinh vật học. Sau đó Rachel dành được học bổng thạc sĩ ngành động vật học tại đại học Johns Hopkins ( Johns Hopkin University). Và khi học ở đây Rachel đã gặp biển. Một cuộc gặp gỡ gần như là định mệnh. Rachel say mê khám phá biển và biển cũng tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhà khoa học trẻ tuổi.

Từ biển cả đến bầu trời

Chiến tranh thế giới thứ nhất rồi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm cho cuộc sống của người phụ nữ đam mê khoa học Rachel gặp nhiều khốn khó. Để có tiền phụ giúp gia đình Rachel đã làm việc bán thời gian rồi sau đó được tuyển dụng chính thức vào làm việc ở một trung tâm nghiên cứu biển. Công việc của Rachel là viết kịch bản cho các chương trình truyền thanh về biển. Rachel đã tạo nên bước ngoặt lớn lao cho chương trình vì các kịch bản giờ đây không phải chỉ là khoa học đơn thuần mà còn giàu chất thơ và đầy rung cảm. Rachel đã giúp cho trung tâm ra khỏi vũng lầy bởi trước đó làm việc ở đây là “ một nhà văn không biết gì về sinh vật biển và một nhà sinh vật biển không hề biết cách viết văn chương”.

Tháng 11 năm 1941 cuốn sách đầu tiên của Rachel được xuất bản. Cuốn sách mang tên “Under the Sea-Wind”. Cuốn sách nhận được nhiều lời khen ngợi vì đây là lần đầu tiên có người viết về biển dưới cái nhìn của sinh vật biển. Nhưng chiến tranh đã nhấn chìm cuốn sách vào sự lãng quên. Phải chờ đến cuốn thứ hai “The Sea Around Us( Biển quanh ta) xuất bản tháng 7 năm 1951 Rachel mới trở thành người của công chúng. Cuốn sách nhanh chóng trở thành “best-seller”. Sau thành công này Rachel nhận được nhiều giải thưởng và tiền bạc. Rachel từ bỏ công việc đang làm ở trung tâm nghiên cứu của chính phủ để sống bên ngôi nhà bên bờ biển và dành trọn thời gian cho viết sách.

Tác phẩm của Rachel Carson

Cuốn sách thứ ba được Rachel đặt tên là “The Edge of the Sea”( Bờ biển). Cho dù yêu cầu của nhà xuất bản chỉ là viết một cuốn sách chỉ dẫn về cuộc sống của các sinh vật bên bờ biển nhưng Rachel đã làm nhiều hơn thế. Rachel dồn hết tâm trí vào “Ecology”( sinh thái học), thuật ngữ “đã trở thành đỉnh điểm trong tâm trí” Rachel lúc đó. Ở cuốn sách này mục đích của Rachel không phải đơn thuần là liệt kê và phân loại các loại ốc biển mà quan trọng hơn là “muốn mọi người hiểu về những động vật sống trên vỏ ốc”.

Sau cuốn sách này Rachel chuyển mối quan tâm từ biển cả lên bầu trời. Rachel viết kịch bản cho chương trình truyền hình có tựa đề “Something about sky”( Tản mạn về bầu trời). Chương trình được phát sóng vào tháng 3 năm 1956.

Từ bầu trời trở v mặt đất để nhận ra “mùa xuân im lặng”

Sau chương trình truyền hình “Tản mạn về bầu trời”, Rachel lại có ý tưởng mới là khám phá thế giới tự nhiên qua con mắt trẻ thơ. Những cuộc dạo chơi trong rừng, ngoài bờ biển cùng đứa cháu trai đã được Rachel thuật lại trong những bài báo in trên tạp chí “Woman’s home Companion”. Những bài báo được đánh giá cao và nhà xuất bản yêu cầu Rachel chuyển chúng thành sách. Rachel cũng muốn làm điều đó nhưng không có thời gian. Cuốn sách mang tên “ The Sense of Wonder” chỉ được ấn hành một năm sau ngày bà qua đời.

Ở độ tuổi 50 Rachel bắt đầu quay ra quan sát mặt đất ở quanh mình. Những gì bà nhận ra không phải là những điều thú vị: rừng bị chặt đốn trơ trụi, những nhà máy thải chất độc giết hại vô số các dòng sông, những khu đất hoang bị dọn sạch để xây dựng các con đường và các ngôi nhà.

Rachel bàng hoàng nhận ra “Mọi người đang phá hủy thế giới”.

Cũng vào khoảng thời gian này ở nước Mĩ người ta dùng DDT phun trên diện rộng tạo thành những đám mây trong không khí để diệt muỗi và những côn trùng có hại nhưng nó cũng giết luôn cả các loài côn trùng có ích và chim. Nhiều người cầu cứu Rachel và bà biết phải làm gì.

Bà viết một số bài báo về tác hại của thuốc trừ sâu và gửi tới một vài tờ tạp chí. Nhưng những tạp chí này từ chối đăng với lí do các nhà quảng cáo đã mua chỗ trên tạp chí không đồng ý cho những bài báo có thể gây tranh cãi này xuất hiện.

Rachel quyết định viết một cuốn sách để vượt qua thử thách này. Khi biết Rachel có kế hoạch viết một cuốn sách về trái đất nhiều người khuyên bà không nên viết về thuốc trừ sâu bởi lí do thật đơn giản “sẽ chẳng có ai bỏ thời gian ra đọc cuốn sách viết về những cảnh thê lương như thế”.

Không nản lòng Rachel bắt tay vào nghiên cứu về thuốc trừ sâu được dùng để diệt các loại côn trùng và các loại sâu khác. DDT( Dichloro-diphenyl-dichloroethane) là thuốc trừ sâu phổ biến nhất vào thời đó. Nó được ưa chuộng vì nó giúp người sử dụng tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và lao động. Những người nông dân, các ông chủ rừng, những người chủ trại bò sử dụng khoảng nửa tỉ Pao( Pound) chất độc này mỗi năm. DDT tiêu diệt côn trùng, sâu bọ và tàn sát luôn cả các loài côn trùng có ích cùng chim, thỏ và mèo.

Vốn là nhà sinh vật biển, Rachel đặt ra câu hỏi liệu DDT có ảnh hưởng thế nào tới cá và bà khám phá ra DDT theo mưa, chảy ra sông và giết luôn cả cá. Câu hỏi đặt ra tiếp theo là DDT có ảnh hưởng như thế nào đối với con người khi họ ăn phải thực phẩm đã nhiễm DDT? Rachel biết đây là chủ đề “thê lương buồn thảm” nhưng bà cũng biết “không thể im lặng”.

Cuốn sách tiến triển chậm. Ban đầu Rachel định đặt tên là “ Man against the Earth” nhưng bà nhận ra cái tựa này không hay. Rachel suy nghĩ nhiều về tên của cuốn sách. Rachel nhận ra ở chương đầu tiên bà đã đặt cho độc giả câu hỏi: “Tại sao chim chóc lại lặng im không cất tiếng hót vào mùa xuân? Cái gì đã làm cho loài chim im lặng?” Và thế là bà quyết định đặt tên cho cuốn sách là “ The Silent Spring” ( Mùa xuân im lặng).

Cuốn sách dự định được xuất bản vào tháng 9 năm 1962 nhưng vào mùa hè năm đó vài phần của cuốn sách đã xuất hiện trên tạp chí New Yorker và không nhận được gì ngoài sự im lặng.

Nhưng khi tờ New York Times vào cuộc thì tình hình thay đổi.

Cuốn sách của Rachel đã gọi về cái nóng bỏng của mùa hè.

Các ông trùm hóa chất gào lên “ đây là cuốn sách sẽ đẩy chúng ta đến chân tường”. Các bài báo liên tiếp ra đời “nện” “Mùa xuân im lặng” tới tấp. Có bài báo còn gọi Rachel “ Nature Nut” ( Kẻ gàn gở tự nhiên).

Không giống như các cuốn sách trước đó Rachel chỉ nhận được lời khen ngợi, “Mùa xuân im lặng” nhận được cả sự chỉ trích, lăng mạ và cả những lời ca ngợi. Những lá thư ngập đầy hộp thư trước nhà Rachel. Người dân khẩn thiết kêu gọi những nhà khoa học như bà phải làm cái gì đó để ngăn chặn thảm họa gây ra bởi DDT.
Ngày 7 tháng 1 năm 1963 Rachel được trao tặng “ Scherweitzer Medal of the Animal Welfare Institute”. Phần thưởng mang tên người đã dành trọn cuộc đời cống hiến cho nhân loại: Albert Scherweitzer.

Dư luận quanh cuốn sách của Rachel đã theo chân các chính khách lọt vào phòng họp trong nhà trắng. Tổng thống Kenedy cho thành lập một ủy ban điều tra thảm họa môi trường. Rachel gặp gỡ các thành viên của ủy ban vào tháng 1 năm 1963. Bản báo cáo của ủy ban công bố vào tháng 5 đã thừa nhận những điều mà Rachel tìm tòi đưa ra là đúng. Kết quả là Rachel được mời tới Oa-sinh-tơn để làm chứng trước thượng viện.

Sau đó cuốn sách của bà còn nhận được thêm nhiều phần thưởng khác nữa. Nhưng ở các bữa tiệc mừng hay diễn đàn nào giữa những lời chúc tụng bà luôn cảnh báo công việc bà và mọi người cần làm vẫn còn chưa đến hồi kết thúc.

Rachel đã làm việc hăng say cho đến lúc nói lời vĩnh biệt vào mùa xuân năm 1964 khi bà chưa kịp lắng nghe tiếng dế chào mùa hè trở lại trong sân nhà. Nhưng đấy không phải là vấn đề gì lớn lao bởi “ bà đã lắng nghe trái đất và nói cho mọi người biết những gì bà đã thấy”.

Và bây giờ, độc giả trên khắp hành tinh vẫn tìm đọc những cuốn sách của bà nhất là “Mùa xuân im lặng”. “Mùa xuân im lặng” đã làm cho chúng ta nhận ra rằng chúng ta có trong tay sức mạnh để chấm dứt phá hủy hành tinh và bắt đầu bảo tồn những nguồn tài nguyên. Nhưng như Rachel đã cảnh báo những người đồng nghiệp, công việc này chưa đến hồi kết thúc. Chúng ta cũng là một phần của sự sống, sự hít thở, bò trườn, bay, chạy nhảy và bơi lội-bắt nguồn từ thứ gọi là Tự Nhiên.

Và chúng ta không được phép quên điều đó.

Nguyễn Quốc Vương

 

%d bloggers like this: