Archive

Archive for the ‘Nhìn ra thế giới’ Category

Vẽ bậy ở di tích lịch sử Nhật Bản: Sự phạm tội hồn nhiên?

November 7, 2018 Leave a comment

 

Dịch giả Nguyễn Quốc Vương cho biết một nhóm sinh viên Nhật Bản đã bị kỷ luật khi ký tên mình vào di tích ở Italy. Hiệu trưởng trường đó còn phải họp báo công khai xin lỗi.

Mấy ngày qua, các tớ báo lớn ở Nhật như Mainichi, Yomiuri, Sankei… đều đưa tin, bài về sự việc du khách nào đó đã khắc các ký tự, ký hiệu lên tảng đá ở khu di tích thành cổ Yonago, thành phố Yonago, tỉnh Tottori, Nhật Bản.

Câu chuyện ở nước Nhật

Thông tin trên các tờ báo này cho hay sự việc được Ban quản lý khu di tích phát hiện vào ngày 30/10. Theo mô tả, du khách đã dùng vật cứng khắc trên tảng đá trong khu di tích chữ “Hào”, hình ngôi sao và trái tim.

Ban quản lý di tích cho biết đây là lần đầu tiên xảy ra việc viết, vẽ bậy tại khu này. Thành phố Yanago, chính quyền tỉnh Tottori và Cục Văn hóa đang xây dựng bản thảo để đề ra phương án phục hồi nguyên trạng tảng đá trong di tích. Cảnh sát thành phố Yonago cũng tiến hành điều tra thủ phạm vì hành vi này đã phạm vào Luật Bảo vệ di sản văn hóa của Nhật Bản.

Ve bay o di tich lich su Nhat Ban: Su pham toi hon nhien? hinh anh 1
Dịch giả Nguyễn Quốc Vương. Ảnh: Quỳnh Trang. 

Thông tin trên đã lan truyền trên các diễn đàn ở Nhật Bản, Việt Nam và thu hút rất nhiều bình luận. Đối với người Nhật, nhìn chung, họ rất sốc trước sự việc này.

Cần phải nhớ lại rằng trước đó vài năm, một nhóm sinh viên Nhật Bản du lịch tại Roma (Italy) từng ký tên mình lên di tích. Khi truyền thông địa phương đưa tin, dư luận nước Nhật đã sôi sục. Sau đó, trường học ở Nhật tìm ra và xử lý kỷ luật sinh viên vi phạm. Người đứng đầu trường phải họp báo công khai xin lỗi.

Trong trường hợp ở khu di tích thành cổ Yonago, ký tự “Hào” được cho là khá giống một chữ trong tiếng Việt.

Dù thế nào, nó rất dễ gợi liên tưởng đến những câu chuyện “không mấy hay ho” mà một số người Việt Nam do thiếu hiểu biết hoặc có nhận thức xấu, đã gây ra trên đất Nhật, làm ảnh hưởng hình ảnh quốc gia, cũng như người khác.

Trong hai năm làm phiên dịch cho luật sư Nhật Bản, tiến hành hỗ trợ pháp lý những người Việt bị tạm giữ, tạm giam tại đây, tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp phạm pháp của người Việt mà động cơ ban đầu rất… “lãng xẹt” như “Thấy hay hay thì lấy”, “Em cứ nghĩ rằng làm thế không sao”, “Em nghĩ giá trị nó nhỏ thế có lấy cũng không phạm tội”, “Em thấy cá ở sông dùng lưới bắt thôi, không nghĩ là phạm luật”…

Sống trên đất Nhật nhưng không chịu tìm hiểu pháp luật, phong tục, văn hóa của nước sở tại và hành xử thuần túy theo thói quen tuỳ tiện và cảm tính là nguyên nhân gây ra nhiều rắc rối, làm mất đi thiện cảm của người Nhật. Sau không ít sự việc, những người Việt lương thiện và tuân thủ tốt pháp luật dần bị vạ lây khi gánh chịu ánh mắt soi mói hoặc cái nhìn đầy cảnh giác từ người bản xứ.

Tất nhiên, trong sự việc này, truyền thông nước Nhật rất thận trọng khi đưa tin. Họ chỉ nói ai đó đã viết bậy lên tảng đá ở khu di tích, mà không bình luận hay chỉ ra đó là ngôn ngữ của nước nào, thủ phạm có thể là người nước nào.

Nhưng có lẽ nếu là người Việt, nhìn hình ảnh nói trên, chúng ta không khỏi giật mình. Tuy nhiên, ngẫm cho kỹ, câu chuyện đó ở Việt Nam không phải hiếm hoi.

Câu chuyện ở Việt Nam

Nếu để ý, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy những dòng chữ, ký hiệu du khách để lại ở các khu du lịch, di tích lịch sử trên cả nước. Đấy có thể là tên người viết, có thể là ngày giờ đến di tích hoặc những ký hiệu “bí ẩn” khác.

Có lần khi vào thăm bảo tàng có tiếng là sạch sẽ và phục vụ tốt ở Hà Nội, tôi rất kinh ngạc khi nhìn thấy những thân cây trúc ở đây bị khắc la liệt tên người và các thông tin khác.

Thậm chí, rất “hồn nhiên”, nhiều người còn khắc lên đó cả email, địa chỉ Facebook, số điện thoại. Có chỗ dưới dòng tên và ngày tháng khắc, người ta còn để lại cả địa chỉ lớp. Đọc kỹ thì thấy ở đó có cả địa chỉ của học sinh, sinh viên các trường trên địa bàn Hà Nội.

Những bạn trẻ khi khắc, viết, vẽ dòng chữ, kỹ hiệu đó nghĩ gì khi làm hành động đó? Có lẽ họ đơn giản chỉ nghĩ “mình đã đến đây rồi thì nên lưu lại gì đó để ghi lại sự có mặt của bản thân”. Giản đơn thế thôi chăng?

Ve bay o di tich lich su Nhat Ban: Su pham toi hon nhien? hinh anh 2
Nhân viên tại khu di tích Yonago (tỉnh Tottori, Nhật Bản) phát hiện nhiều chữ viết bằng tiếng Nhật và Latin nguệch ngoạc trên các tảng đá. Nổi bật trong số đó là chữ “Hào” có kích thước khoảng 60 cm. Ảnh: Mainichi.

Xét về mặt tâm lý, chuyện muốn lưu lại dấu ấn, đánh dấu sự có mặt của mình ở một địa điểm nào đó rất dễ hiểu. Chẳng hạn nhìn theo chiều dài lịch sử, người ta dễ dàng nhận ra loài người ở nhiều khu vực khác nhau đã để lại các dấu hiệu trên vách đá, ngọn núi họ đã chinh phục.

Tuy nhiên, trong thế giới văn minh ngày nay, bất cứ di tích nào được công nhận, bảo vệ sẽ có nội quy và được pháp luật bảo hộ. Việc “hồn nhiên phạm tội” bằng cách viết vẽ bậy khó có thể chấp nhận.

Để viết một chữ số, cái tên hay vẽ vài hình thù đơn giản lên một tấm bia, tảng đá, bức tường ở khu di tích nào đó, du khách chỉ cần mất vài phút, thậm chí vài giây, rất đơn giản. Nhưng để khắc phục, xóa đi ký hiêu đó sẽ rất vất vả, tốn kém, khó khăn, thậm chí là bất khả thi.

Ví dụ, đối với những dòng chữ các bạn trẻ đã khắc, viết lên trên thân trúc trong bảo tàng kia, làm thế nào để xóa được? Người ta không thể cạo trắng thân cây hay chặt đi cây trúc ấy vì thế. Những dòng chữ nham nhở cứ trơ ở đó rất phản cảm. Hơn nữa, thiếu gì cách ghi lại dấu ấn nơi mình đã đến như chụp ảnh, quay phim, mua quà lưu niệm, đóng góp một khoản tiền tu bổ di tích?

Một người làm, hai người làm không sao, nhiều người làm theo và mọi thứ trở thành bình thường. Không chỉ là di tích ở Việt Nam, chuyện viết, vẽ bậy vào nơi không được phép, không thuộc sở hữu của mình rất phổ biến.

Hãy thử nhìn ra những cây cột điện, bức tường ngoài phố xem sao? Có phải chăng trên đó nham nhở cũ mới không biết bao nhiêu lần dòng chữ kiểu như “Khoan cắt bê tông”, Thông hút bể phốt hầm cầu”, “Cứ alo là có tiền”…

Ngay cả ở quê, bức tường nhà tôi cũng trở thành nạn nhân khi một sáng mẹ thức dậy, thấy kẻ nào đó đã điềm nhiên viết một dòng chữ dài to tướng chính giữa bức tường gạch đỏ: “Taxi… phục vụ 24/24. Hãy gọi số…”.

Tình trạng ấy nói lên rất nhiều điều trong tư duy và lối sống của người Việt. Đó có thể là vấn đề về mỹ học, nhận thức sở hữu, nhận thức về không gian công cộng, nhận thức luật pháp… và có thể là sự tổng hợp của tất cả vấn đề ấy. Thậm chí, ngẫm kỹ thì vấn đề lớn nhất có khi nằm ở chính thực tế này.

Tại sao chỉ vài ký tự viết trên tảng đá trong khu di tích lịch sử mà sự việc đó ở Nhật trở thành vụ án đang được cảnh sát điều tra, trở thành tâm điểm của truyền thông? Trong khi đó, ở ta, nếu xảy ra chuyện tương tự (như nó vẫn đang xảy ra hàng ngày), sự việc lại bị bỏ qua, lãng quên, thậm chí được coi là bình thường?

Phải chăng đấy mới là vấn đề lớn nhất của chúng ta?

Ông Nguyễn Quốc Vương là nghiên cứu sinh tiến sĩ về giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa, Nhật Bản. Ông từng là giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, hiện là người dịch, viết chuyên nghiệp và hỗ trợ phong trào phát triển văn hoá đọc tại Việt Nam.

Ông viết và dịch nhiều cuốn sách về giáo dục như Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản? (2017), Môn Sử không chán như em tưởng (2017), Nước Nhật nhìn từ những thứ bình thường (2016), Đi tìm triết lý giáo dục Việt Nam (2017)

Nguồn: https://news.zing.vn/ve-bay-o-di-tich-lich-su-nhat-ban-su-pham-toi-hon-nhien-post890169.html

Advertisements

Chính sách ngoại thương của Trung Quốc và những hệ quả lịch sử từ 1500 đến 1840

March 21, 2015 Leave a comment

Tác giả: Sử Chí Hoành (Shi Zhihong)

Viện kinh tế

Viện khoa học xã hội Trung Quốc

Dẫn Nhập

Từ những năm đầu của thế kỉ 15, người châu Âu đã bắt đầu các cuộc phát kiến địa lý để tìm ra những con đường mới tới phương Đông, nơi mà đương thời người ta tin rằng nó có đầy vàng, bạc và hương liệu. Theo sau dấu chân của các nhà hàng hải vĩ đại, những người đã khám phá ra các con đường biển từ châu Âu tới châu Á và lục địa mới là châu Mĩ và cùng với việc  hoàn thành  chuyến đi vòng quanh thế giới bắt đầu từ Châu Âu vào cuối thế kỉ 15 đầu thế kỉ 16, những người châu Âu đã mở rộng sức mạnh và ảnh hưởng của họ trên khắp thế giới  báo hiệu một kỉ nguyên mới với đặc trưng là sự cướp bóc thuộc địa trong lịch sử thế giới hiện đại.

Những cuộc đại phát kiến và sự bành trướng thuộc địa theo sau không chỉ mang lại những tiến bộ chưa từng thấy trong sự phát triển xã hội và kinh tế ở Tây Âu và thúc đẩy sự tăng tiến của chủ nghĩa tư bản ở đây mà còn làm thay đổi lớn lao bản đồ chính trị thế giới. Một vài quốc gia nhỏ như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh vốn nằm ở “bên ngoài” nền văn minh Châu Âu giờ đây nổi lên như những siêu quyền lực của thế giới sở hữu uy thế về hải quân và lãnh thổ trên biển rộng lớn đi kèm. Sự bành trướng ra khắp thế giới của chủ nghĩa tư bản phương Tây đang lên tạo ra bộ mặt của thế giới là dòng chảy chính của lịch sử thế giới hiện đại. Dưới dòng chảy dữ dội này, nhiều nền văn minh cổ xưa ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ đã suy tàn hoặc biến mất.

Trung Quốc với tư cách như là  một bộ phận của thế giới đã không tìm thấy lối ra để tránh khỏi dòng chảy này. Thực tế nền văn minh Cathaysian, một trong những nền văn minh cổ và huy hoàng nhất trên thế giới, bắt đầu xuống dốc từ thế kỉ 16 đã tạo ra hình ảnh tương phản với sự nổi lên mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Rất đúng khi nói rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển trong vài trăm năm tiếp theo, nhưng  dưới hệ thống tọa độ thế giới và so sánh với Tây Âu, thì không còn nghi ngờ gì nữa trong thời kì này Trung Quốc đã bước đi chậm chạp và dần bị phương Tây bỏ lại phía sau trong kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác.

Trung Quốc cuối cùng cũng bị phương Tây đánh bại trong cuộc Chiến tranh thuốc phiện (1840-1842) và bắt đầu giai đoạn lịch sử nhục nhã trong hơn một trăm năm kể từ đó.

Điều đó đã diễn ra như thế nào? Tại sao một quốc gia vĩ đại chưa hề thua kém bất cứ một quốc gia nào khác ở vào thời điểm bắt đầu của các cuộc phát kiến địa lý và do có lãnh thổ rộng lớn và dân số đông đảo sức mạnh quốc gia của nó chắc chắn là đứng đầu thế giới vào thời gian đó lại suy sụp và cuối cùng bị đánh bại? Điều này có thể được phân tích ở nhiều phương diện  lịch sử trong chính trị, kinh tế, quân sự, tư tưởng và văn hóa, khoa học công nghệ, mâu thuẫn nội tại, mối quan hệ với bên ngoài… và sẽ có các câu hỏi khác nhau được đưa ra. Trong bài báo này, tác giả sẽ trình bày chi tiết quan điểm: chính sách ngoại giao bảo thủ tiến hành bởi nhà Minh và nhà Thanh ít nhất cũng là một trong những lí do quan trọng làm cho Trung Quốc rơi vào định mệnh nếu như nó không phải là nhân tố quan trọng nhất. Đó chính là bởi các chính sách ngu dốt và thiển cận đã làm Trung Quốc mất đi cơ hội cạnh tranh với phương Tây để tiếp tục duy trì vị trí tiên phong trên thế giới trong khi cơ hội này đã tồn tại rất dài sau các cuộc đại phát kiến.

Bản chất của nhà Minh và chính sách ngoại thương đầu triều Thanh.

  1. Chính sách ngoại thương của nhà Minh: 1368-1644

Nhà Minh thực thi chính sách “cấm biển” và nghiêm cấm người dân ra nước ngoài trong giai đoạn đầu và giai đoạn giữa. Trong những năm này, ngoại thương hợp pháp chủ yếu là “mậu dịch triều cống” có nghĩa rằng chỉ có thuyền nước ngoài tới triều cống mới được phép buôn bán với Trung Quốc. Không phải tất cả các nước ngoài đều được phép triều cống triều đình mà phải là những nước có tên được ghi chép chính thức trong Đại Minh hội điển (Da Ming Huidian) (bộ sưu tập các bộ luật của nhà Minh) và các thuyền triều cống chỉ được đến vào thời gian được quy định chính thức. Các thuyền triều cống được phép đến cũng chỉ được mang theo một số lượng hàng hóa nhất định để bán bên cạnh những món đồ được chuẩn bị để dâng lên hoàng đế. Tất cả các thuyền phải neo ở nơi các cảng biển duyên hải được chỉ định và trình lên “kanhe” – một giấy phép đặc biệt do nhà Minh cấp cho các sứ thần nước ngoài – để kiểm tra. Chính quyền nhà Minh mở ba cảng biển truyền thống đối với thế giới bên ngoài: Ning Ba (Ningbo) ở tỉnh Triết Giang (Zhejiang), Tuyền Châu (Quanzhou) ở tỉnh Phúc Kiến và Quảng Châu (Canton) ở tỉnh Quảng Đông. Đặc biệt những tổ chức được gọi là “Shibo Tiju Shi” được lập ra ở ba cảng trên đảm đương việc tiếp đón các sứ thần từ nước ngoài tới và quản lý các hoạt động ngoại thương tại cảng. Ở kinh đô,  đặt tại Nam Kinh trong thời gian 1368-1421 và Bắc Kinh trong thời gian  1421-1644, một tổ chức được gọi là “Huitong Guan” (Hội đồng quán) với chức năng tương tự được lập ra trực thuộc Bộ Lễ. Tất cả các hoạt động buôn bán với người Trung Quốc tại các cảng biển hay ở Hội Đồng Quán đều đặt dưới sự giám sát của các quan chức triều đình.

Thương mại triều cống hoàn toàn bị triều đình kiểm soát và luôn được coi như là  một bộ phận của ngoại thương quốc gia nhưng không được coi là hoạt động thương mại đơn thuần. Điều này rất khác với đầu thời nhà Minh khi vương triều mới thành lập đang phát triển với sức mạnh chính trị thống nhất, sức mạnh của quân đội và nền kinh tế huy hoàng vì thế các hoàng đế có tham vọng thu nhận các sứ thần nước ngoài để có thêm danh tiếng và uy tín hòng chứng tỏ Trung Hoa là quốc gia vĩ đại. Trong lịch sử Trung Hoa, sự thăm viếng của các thuyền triều cống nước ngoài từ bên ngoài thế giới đã được coi như là danh dự của quốc gia và là tín hiệu của kỉ nguyên hưng thịnh. Để thu hút thêm các quốc gia phái thuyền đến, các vua đầu triều nhà Minh đã thực thi chính sách “giá cao” và “miễn thuế” đối với các món hàng triều cống và hàng hóa đi kèm trên các con thuyền này. Dưới chính sách này, chính quyền nhà Minh không chỉ đáp lại các món đồ triều cống nước ngoài bằng  các phần quà có giá trị mà còn mua phần lớn các món hàng hóa đi kèm trên thuyền với giá cao hơn giá trị thực của chúng và cho phép các hàng hóa còn lại được bán ra ngoài chợ, thường thì chúng là những món đồ rẻ tiền.  Các mệnh lệnh đặc biệt về miễn thuế thường được đưa ra bởi các vua đầu vương triều nhà Minh mặc dù theo như quy định của triều đình thì tất cả các hàng hóa do các thuyền triều cống bán ra đều phải nộp thuế với tỉ lệ nhất định.

Bị hấp dẫn bởi thương mại sinh lợi dưới chính sách ưu đãi này, nhiều quốc gia ở biển phía đông và phía nam đã phái các con thuyền triều cống tới Trung Quốc vào đầu thời nhà Minh. Trong thời gian trị vì của vua Hồng Vũ (1368-1398), có hơn một tá các quốc gia đã triều cống nhà Minh được ghi chép lại. Sau các chuyến đi của Trịnh Hòa tới biển phía tây trong thời gian trị vì của hoàng đế Vĩnh Lạc (1403-1424) và hoàng đế Tuyên Đức (1426-1435), phạm vi ngoại thương của nhà Minh được mở rộng tới ngoại biên của Ấn Độ Dương bao gồm Tây Á và bờ biển phía đông của Châu Phi và các quốc gia  phái thuyền triều cống tới Trung Quốc tăng lên tới hơn 30 nước. Thương mại triều cống đã đạt tới thời kì hoàng kim trong thời gian đó.

Do luôn phải ưu tiên cho sự tính toán về chính trị, thương mại triều cống đem lại rất ít lợi ích cho nền kinh tế nhà Minh. Trên thực tế, chi phí mà nhà Minh bỏ ra lớn hơn nhiều so với lợi nhuận thu được từ nó. Để tiếp nhận các sứ thần triều cống và đoàn tùy tùng của họ, nhà Minh đã phải dùng rất nhiều tiền mỗi năm trong việc cung cấp cho họ nhà ở và thức ăn trong thời gian họ ở Trung Quốc, bảo vệ họ suốt cuộc hành trình qua các cảng biển duyên hải và khi họ tới kinh đô, đáp lễ lại họ và các ông vua của họ bằng các món quà Trung Hoa. Đặc biệt sau các chuyến đi của Trịnh Hòa, do sự cập bến thường xuyên ngày một nhiều của các thuyền triều cống nước ngoài và sự mở rộng quy mô phái đoàn (ngày càng có nhiều thương nhân mang theo các hàng hóa đi cùng với thuyền triều cống) nên nhà Minh đã cảm thấy không chỉ khó khăn trong việc đón tiếp họ mà chi phí tài chính chi trả cho việc đón tiếp các sứ thần nước ngoài cũng dần trở thành gánh nặng không thể chịu đựng nổi. Bởi thế quy mô và phạm vi thương mại triều cống đã bị giới hạn. Kể từ triều vua Vĩnh Lạc, triều đình nhà Minh đã dần dần tiến hành hệ thống ban hành kanhe đối với mỗi quốc gia triều cống và bắt đầu hạn chế sự thăm viếng thường xuyên của các con thuyền của họ cũng như số lượng thuyền và số lượng người của phái đoàn mỗi lần triều cống. Để việc quản lí thương mại trở nên dễ dàng hơn, thậm chí triều đình nhà Minh còn đặt ra các lộ trình cụ thể và các cảng biển được chỉ định cho thuyền của  từng quốc gia. Ví dụ theo Đại Minh hội điển, người Nhật chỉ có thể thực hiện triều cống 10 năm một lần và thuyền của họ phải vào cảng Ninh Ba và số lượng người của mỗi phái đoàn cho mỗi lần triều cống không vượt quá 300 và không quá 3 chiếc thuyền. Ryukyu (Lưu Cầu – nay là Okinawa của Nhật – chú thích của người dịch) thực hiện triều cống 2 năm một lần và vào cảng Tuyền Châu với số lượng người không quá 100, Zhancheng (champa), Zhenla (Cam-pu-chia), Xiêm và các quốc gia ở biển tây thực hiện triều cống 3 năm một lần và vào bến Quảng Châu (Canton)…Việc đặt ra ngày càng nhiều các giới hạn đối với các thuyền triều cống nói lên rằng nhà Minh đã trở nên kém mặn mà với việc đón tiếp các con thuyền triều cống nước ngoài.

Những thảm họa nghiêm trọng do các hải tặc người Nhật mang đến vào giữa thời Minh đã  làm cho chính sách ngoại giao của quốc gia trở nên bảo thủ và tự ti hơn và cuối cùng đã dẫn tới việc cấm biển dưới thời vua Gia Tĩnh (1522-1566). Sự quấy rối của hải tặc Nhật đã bắt đầu từ giữa thế kỉ 14 nhưng nó chưa trở thành vấn đề nghiêm trọng cho tới cuối thế kỉ 15 khi  người Nhật bước vào “Thời kì chiến quốc”. Trong thời kì này, các cuộc nội chiến và các cuộc nổi loạn trong nước đã tạo ra một số lượng lớn các võ sĩ lang thang, họ tụ tập trên biển và tiến hành các hoạt động cả trong vai thương nhân và cướp biển, thường xuyên  quấy rối vùng duyên hải đông nam Trung Quốc. Sự tranh giành giữa các phái đoàn triều cống khác nhau được phái tới bởi các lãnh chúa Nhật lớn, nhỏ vào thời gian đó cũng mang tới tai họa cho Trung Quốc. Một cuộc bàn cãi sôi nổi về chính sách ngoại thương đã nổ ra trong triều đình nhà Minh sau sự kiện “khẳng định quyền triều cống” giữa hai phái đoàn được cử đến bởi hai lãnh chúa Nhật khác nhau vào năm 1523. Kết quả của sự tranh giành này là hoàng đế Gia Tĩnh đã giải tán các “Shibo Tiju Si” ở tất cả các cảng duyên hải và tuyên bố cấm biển trong cùng năm đó. Cánh cửa ngoại thương đã đóng lại.

Lệnh cấm nghiêm ngặt trên biển không chống lại được sự quấy rối của hải tặc Nhật nhưng đã gây hại cho ngoại thương thông thường của Trung Quốc. Kể từ đó không có kênh nào để cho thương nhân Trung Quốc và thương nhân người nước ngoài buôn bán, buôn lậu trên vùng duyên hải đông nam đã bắt đầu trở nên sôi nổi hơn bất cứ khi nào trước đó. Các kẻ chuyên quyền ở địa phương và những thương nhân giàu có ở các tỉnh đông nam, đôi khi cũng được các quan chức địa phương hậu thuẫn, đã đóng vai trò đi đầu trong buôn lậu. Các thương nhân Trung Hoa đầy quyền lực này thường được vũ trang và đồng thời cũng là cướp biển đã thông đồng với người Nhật thậm chí đóng giả là người Nhật để giết người cướp của trong khu vực miền duyên hải. Nhà Minh tuyên bố cấm biển nhưng không làm gì nhiều để tăng cường phòng thủ cả ở bờ  biển và trên mặt biển. Trong phần lớn thời gian dưới triều vua Gia Tĩnh, cả hải tặc Nhật thật và giả đã hoành hành ở khu vực duyên hải Đông nam Trung Quốc và gây thiệt hại nặng cho sự phát triển thương mại, kĩ nghệ của vùng.

Cấm biển cũng làm sụt giảm thu nhập hàng năm của nhà Minh. Đặc biệt đối với tài chính địa phương ở Triết Giang và Phúc Kiến bởi vì phần lớn sự tiêu dùng của hai tỉnh này là đến từ ngoại thương và cấm biển đã làm cho các tỉnh này gặp thêm nhiều khó khăn về tài chính so với các tỉnh khác. Những yêu cầu từ bỏ lệnh cấm chưa bao giờ ngừng dưới triều vua Gia Tĩnh và phần lớn được chủ trì bởi các viên chức tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, các cuộc tranh cãi nảy lửa về chính sách ngoại thương đã  diễn đi diễn lại trong triều nhà Minh. Do vấn đề hải tặc Nhật quấy rối đã được giải quyết cơ bản vào cuối thời vua Gia Tĩnh, nhà Minh đã thay đổi chính sách trên biển bắt đầu từ sự lên ngôi của vua Long Khánh (1567-1572). Từ năm 1567, thương nhân Trung Quốc được phép ra nước ngoài buôn bán với các quốc gia ở Biển Đông và Biển Tây ngoại trừ Nhật Bản và các thuyền nước ngoài trừ các thuyền đến từ Nhật Bản được phép đến Trung Quốc. Năm 1599, Shibo Tiju Si được tái lập ở Quảng Châu (Canton) và Ninh Ba (Ningbo). Vì vậy chính sách cấm biển được thực thi từ đầu triều Minh cuối cùng đã được  hủy bỏ. Nhưng sự chuyển đổi này đến quá muộn khi chỉ còn có vài thập kỉ nữa là triều Minh chấm dứt.

Tuy nhiên, cuối cùng việc mở biển cũng đem đến cho ngoại thương một không gian hợp pháp cho sự phát triển bình thường của nó. Đặc biệt đối với thương mại phi chính phủ (chỉ việc những người Trung Hoa thông thường  buôn bán với nước ngoài), đã giải phóng năng lượng bị dồn nén bởi chính sách cấm biển. Thương mại phi chính phủ đã tồn tại kể từ khi triều Minh ra đời và chưa bao giờ gián đoạn thậm chí ngay cả trong thời gian lệnh cấm biển được thực thi nghiêm ngặt nhất. Nó đã trở thành làn sóng không thể cưỡng lại kể từ giữa thời Minh, với sự phát triển nhanh chóng của kĩ nghệ thủ công và thương mại trong nước, đặc biệt ở phần phía đông nam, mở cửa  ra thị trường bên ngoài đã trở thành một yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Buôn lậu với quy mô lớn trong thời vua Gia Tĩnh đã bùng nổ trong bối cảnh lịch sử đó. Sau khi lệnh cấm biển được dỡ bỏ, thương mại phi nhà nước đã trở nên ngày càng hưng thịnh hơn bất cứ khi nào trước đó. Yuegang, một thành phố bận rộn nhất có tiền thân là một làng đánh cá nhỏ ở huyện Chương Châu (Zhangzhou), tỉnh Phúc Kiến, tham gia vào hoạt động buôn lậu trên biển kể từ giữa thời Minh, đã trở thành một cảng biển nổi tiếng nhất đối với những người dân Trung Quốc đi ra nước ngoài ở vào thời gian đó. Theo một tác giả sống vào cuối thế kỉ 16, tích lũy thương mại của những người ra nước ngoài buôn bán từ cảng Yuegang không hề thua kém hàng trăm ngàn lạng vàng mỗi năm kể từ thời vua Long Khánh.

Để tăng cường sự quản lý ngoại thương, nhà Minh đã lập ra hạt Hải Thành (Haicheng) tại Yuegang và đặt ra một cơ quan đặc biệt gọi là “Du Xiang Guan” ở đó để thu thuế sau khi mở biển năm 1567. Chính quyền hạt ra điều kiện rằng tất cả các thuyền ra nước ngoài phải có giấy phép đặc biệt (“Chuan Yin”) và phải trả một khoản chi phí nhất định. Có chỉ tiêu đối với việc ban hành các giấy phép đó mỗi năm, lúc đầu nó là 88 và sau đó tăng lên tới 100 và 210. Tất cả các thuyền đi ra biển bị giới hạn về kích cỡ và không được phép mang theo vũ khí cũng như các món hàng phi pháp khác. Họ chỉ được phép đến những nước mà ông chủ họ đã đề nghị trước đó và phải trở về trước khi hết hạn thời gian được phép – tất cả những điều đó được viết rất rõ ràng trên giấy phép đã được ban hành. Cùng với phí thông hành, chính phủ thu ba loại thuế khi thuyền trở về, đó là thuế với tên gọi “shui xiang” đánh vào thuyền căn cứ theo kích thước, “lu xiang” đánh vào hàng hóa mang từ nước ngoài về, và “jiaeng xiang” được áp dụng đối với các thuyền trở về từ Luzon nơi thường không có hàng hóa nào được mang về ngoại trừ đồng bạc Mê-hi-cô.

Về mặt lý thuyết mà nói thì việc cho phép dân thường đi ra nước ngoài rõ ràng là một cải cách tích cực trong chính sách ngoại thương vào cuối thời Minh. Tuy nhiên nó đến quá muộn để đem lại lợi ích thực sự cho Trung Quốc. Với sự phát triển của rất nhiều mâu thuẫn nội tại giữa xã hội và tầng lớp thống trị kể từ giữa thời Minh, vương triều dần đi xuống và đã không có sức mạnh hoặc là tham vọng để tìm kiếm chính sách tích cực trên biển ở vào thời gian này. Việc cho phép người dân đi ra nước ngoài không có nghĩa rằng đó là sự mở cửa thị trường ngoài nước của Trung Quốc do chính nó khởi xướng như các nước phương Tây đã làm ở thời gian đó mà chỉ là hành vi bị động do sự tác động của xu hướng thương mại phi nhà nước. Việc nó đặt ra vô số giới hạn đối với những người dân ra nước ngoài chỉ ra rằng nó quan tâm tới sự an toàn hơn là mở ra thị trường ngoài nước và mong muốn đặt mọi thứ dưới sự kiểm soát của vương triều.

Thương mại phi chính phủ ở vào cuối thời Minh đã phát triển ấn tượng bởi những người dân thường, những gì chính phủ làm đối với sự phát triển này chỉ  đơn thuần là kiếm soát nó ở mức càng nhiều càng tốt để thu thuế. Tất nhiên, dưới tình trạng quản lý tồi tệ vào cuối Minh, đây không phải là nhân tố hay mà là nhân tố có hại.

Tóm lại, chính sách ngoại thương của nhà Minh trước sau như một có tính chất bảo thủ. Nó đã quan tâm tới sự an toàn của bản thân vương triều hơn là lợi ích kinh tế, thứ có thể thu được từ ngoại thương. Nó chưa bao giờ tự có khát vọng mở cửa thị trường ngoài nước thông qua khuyến khích mọi người đi ra ngoài và phát triển thương mại phi nhà nước. Thương mại triều cống, chủ yếu có hiệu lực vào đầu thời nhà Minh, đã thực sự được coi như là một phương tiện ngoại giao để thu lấy thanh thế cho vương triều, khía cạnh chính trị trong nó ưu thế hơn hẳn so với khía cạnh kinh tế.

Vào giữa triều Minh, chủ yếu dưới thời vua Chính Đức (1506-1521), khía cạnh chính trị của chính sách ngoại thương đã bị làm yếu đi trong một thời gian khi nhà Minh thực sự cho phép các thuyền buôn nước ngoài (không chỉ là các thuyền triều cống) đến và bán hàng hóa của họ ở Trung Quốc sau khi đóng thuế với tỉ lệ khoảng 2/10. Những cải cách này đã nhanh chóng bị thay thế bởi lệnh cấm biển hoàn toàn trong triều vua Gia Tĩnh tiếp theo. Sau khi mở biển dưới thời vua Long Khánh các thuyền nước ngoài không gặp phải giới hạn nào khi đến Trung Quốc và những người dân thường được phép đi ra nước ngoài nhưng ở trong nội địa thì như chúng tôi đã nói ở trên, nó không có nghĩa rằng các vua nhà Minh đã thực thi chính sách tự do thương mại như các quốc gia phương Tây đã làm ở cùng thời gian đó.

Các thương nhân người nước ngoài buôn bán với Trung Quốc ở các cảng biển phải tiến hành buôn bán thông qua các cơ quan do chính phủ chỉ định, việc giao thương trực tiếp với người Trung Quốc bị nghiêm cấm. Và quan trọng hơn, việc cho phép mọi người đi ra nước ngoài không phải là chính phủ muốn mở rộng thị trường ngoài nước mà đơn giản chỉ là vì không thể ngăn cản người dân làm việc đó, tức là không có lựa chọn nào khác và vẫn có những quy định cấm đoán riêng rẽ đối với những người đi ra nước ngoài. Vì vậy chúng tôi phải nói rằng chính sách ngoại thương của nhà Minh về bản chất vẫn rất bảo thủ ngay cả sau khi mở biển ở vào giai đoạn cuối.

  1. Chính sách ngoại thương đầu nhà Thanh (1644-1840)

Tình hình mở cửa thương mại với các quốc gia nước ngoài vào cuối thời Minh kéo dài không lâu. Nó lại được thay thế bằng chính sách cấm biển vào đầu triều Thanh Mãn Châu – vương triều thay thế nhà Minh thống trị Trung Hoa từ năm 1644. Trong những thập kỉ đầu của vương triều, nó đã phải dồn hết sức lực để chống lại các thế lực phản Thanh của  những người Hán nhằm phục hưng vương triều đã bị phế truất. Bởi vì nhiều lực lượng Hán ở vào thời điểm đó tập hợp ở vùng duyên hải đông nam khi rút chạy khỏi lục địa và chiếm đóng các hòn đảo ven bờ coi chúng thành trì của họ, nhà Thanh tuyên bố cấm biển không lâu ngay sau vào Bắc Kinh năm 1644. Tuy nhiên lệnh cấm không thể tiến hành một cách có hiệu quả cho tới khi những mệnh lệnh nghiêm ngặt hơn được đưa ra năm 1661 khi quân đội Mãn Châu đánh bại Trịnh Thành Công (Zheng Chenggong), lãnh tụ nổi tiếng nhất và quan trọng nhất của lực lượng phản Thanh ở vùng đông nam trong nửa sau triều vua Thuận Trị (1644-1661) ở lục địa và buộc ông ta cùng quân lính phải tháo chạy ra biển. Theo lệnh mới, tất cả mọi người sống ở vùng duyên hải phải rút lui một hai chục km vào đất liền sau khi phá hủy toàn bộ tài sản  nhằm cô lập quân phản Thanh ở ngoài biển. Lệnh cấm trên biển được thực thi chặt chẽ đến độ vào những ngày biển động không có một chiếc thuyền nào từ đất liền được phép ra biển và tất cả các thuyền từ nước ngoài đều bị cấm vào các cảng trong đất liền. Trong thời gian đó, lục địa gần như ngừng tất cả các quan hệ thương mại với nước ngoài ngoại trừ quy mô giới hạn ở Macao.

Nhà Thanh tái mở biển và cho phép người dân ra nước ngoài trở lại vào năm 1684, một năm sau khi vuơng triều Trịnh (Zheng) ở Đài Loan đầu hàng bởi cuộc tấn công mãnh liệt của hạm đội từ đất liền. Năm tiếp theo, bốn trạm hải quan được đặt ra ở Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông), Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến), Ninh Ba ( tỉnh Triết Giang) và Tùng Giang (tỉnh Giang Tô) một cách tách biệt nhau để buôn bán với nước ngoài. Do đó, sau 40 năm cấm biển, quan hệ thương mại của Trung Quốc với nước ngoài cuối cùng cũng bắt đầu bình thường trở lại. Trong nửa sau triều vua Khang Hi (1662-1722), không chỉ các thuyền buôn nước ngoài có thể đến để buôn bán với Trung Quốc tại tất cả các cảng biển mở mà các hoạt động thương mại của các thương nhân Trung Hoa cũng phát triển nhanh chóng cho dù sự đi ra nước ngoài của họ vẫn đặt dưới sự cấm đoán nhất định. Thương nhân Trung Hoa cũng như những người đi ra nước ngoài sinh sống có thể thấy gần như là ở khắp nơi ở cả các quốc gia ở biển phía nam và biển Đông. Đặc biệt ở Đông Nam Á số lượng người Hoa từ các vùng duyên hải đông nam tham gia vào buôn bán  hoặc sống ở đó thậm chí còn nhiều hơn cả thời kì cuối triều Minh. Người ta cho rằng chỉ ở Jakarta thôi, số lượng người Hoa sống ở đó vào thời điểm khi ấy đã vượt quá 100.000 người.

Nhưng tình hình này cũng không duy trì lâu. Kể từ những năm cuối của triều vua Khang Hi, chính sách trên biển của chính phủ nhà Thanh đã trở nên bảo thủ, tự ti trở lại và nó đã khiến Trung Quốc dần dần bước chân vào tình trạng nhà nước đóng cửa nửa chừng đối với những mối giao thiệp quốc tế cho tới khi nó bị đánh bại trong cuộc Chiến tranh thuốc phiện (1840-1842). Sự thay đổi bắt nguồn từ mối lo ngại sâu sắc rằng lực lượcng phản Mãn Thanh ở trong nước vốn đã tồn tại thậm chí ngay cả khi người Mãn thống nhất toàn bộ quốc gia sẽ thông đồng với người Hán ở nước ngoài để tiêu diệt sự thống trị của nhà Thanh. Với số lượng người Hán đi ra nước ngoài sinh sống ngày càng nhiều và nhiều người trong số họ định cư ở nước ngoài bất chấp quy định rằng họ phải trở về nhà sau một thời gian nhất định, hoàng đế Khang Hi và vài cận thần nhận ra rằng đó là một vấn đề nghiêm trọng. Người ta nói rằng vị hoàng đế này đã gửi các đặc vụ bí mật  tới Luzon những năm sau đó khi được tâu trình rằng vài hậu duệ của vua Minh bị phế truất có thể vẫn sống ở đó. Mặc dù việc điều tra không có kết quả và vấn đề không được giải quyết nhưng nó đã nâng cao thêm sự cảnh giác của hoàng đế. Bởi vậy năm 1717, hoàng đế Khang Hi ra lệnh cấm những chiếc thuyền tới biển phía nam và đồng thời nhà Thanh ban hành một loạt các lệnh cấm khác nghiêm ngặt hơn đối với các thuyền ra biển và tăng cường kiểm soát tại các cảng bờ biển. Tất cả những người đã định cư ở nước ngoài phải trở về Trung Quốc trong vòng 3 năm và nếu kẻ nào dám vi phạm lệnh cấm cư trú ở nước ngoài một lần nữa kẻ đó sẽ bị dẫn độ về nước và bị xử tử. Mặc dù lệnh cấm đối với các con tàu đi tới biển phía nam được dỡ bỏ vào năm 1727 dưới sức ép mạnh mẽ từ trong triều đình và giới bình dân, lệnh cấm cư trú ở nước ngoài đối với người dân và lệnh cấm đối với những thuyền đi ra nước ngoài không hề giảm nhẹ mà ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn. Do lệnh cấm của chính quyền, thương mại của Trung Quốc với vùng biển phía nam – thứ đã từng hưng thịnh trở nên tàn tạ kể từ thế kỉ 18.

Buôn bán với các thuyền nước ngoài tại các cảng biển duyên hải cũng được đặt dưới sự quản lý ngặt nghèo hơn trước đó. Chính quyền nhà Thanh mở 4 cảng biển để buôn bán với người nước ngoài trong những năm đầu sau khi mở biển. Nhưng chính sách này đã thay đổi dưới triều vua Càn Long (1736-1795) để dễ bề kiểm soát hoạt động của người nước ngoài trên đất Trung Quốc. Kể từ giữa thời Minh, thuyền nước ngoài tới Trung Quốc bằng đường biển đã không giới hạn trong các nước triều cống truyền thống mà còn đến từ các nước phương Tây xa xôi. Người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và sau đó là người Anh đã nối tiếp nhau tới phương Đông. Những người phương Tây tới phương Đông khi đó không phải chỉ là các thương nhân mà còn có cả cướp biển với những hạm đội tàu được trang bị đầy đủ. Kể từ khi những người phương Tây nổi lên trên biển Trung Hoa, họ  liên tục quấy rối các cảng bờ biển cùng lúc họ buôn bán với Trung Quốc. Trong suốt thời gian đầu thời Thanh, từ nửa sau thế kỉ 17 tới nửa đầu thế kỉ 18 mặc dù các quốc gia thực dân sớm như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan đã lần lượt suy sụp, thực dân Anh đầy triển vọng đã trở nên ngày một mạnh hơn và đầy tham vọng. Thương mại của Anh với Trung Quốc dưới sự kiểm soát của các công ty Đông Ấn trong thời nhà Thanh bắt đầu từ thời hoàng đế Khang Hi và phát triển đều đặn từ những năm 1720. Trước hết, các thương nhân Anh chỉ buôn bán với người Trung Quốc ở Quảng Châu (Canton). Nhưng từ năm 1755 và trong hai năm tiếp theo, chủ yếu là do không bằng lòng với sự cấm đoán thương mại ở Quảng Châu cũng như thuế xuất nhập khẩu của hải quan Quảng Đông đánh quá nặng, công ty Đông Ấn cũng đã gửi các thuyền tới Ninh Ba nơi môi trường buôn bán tốt hơn ở Quảng Châu và gần vùng sản xuất các mặt hàng chủ lực hơn. Người Anh mua ở Trung Quốc lụa, trà, bông…Nhà Thanh cảm thấy cực kì lo lắng với việc người Anh thay đổi thương cảng bởi vì nó không chỉ làm giảm thu nhập của hải quan Quảng Đông mà nó còn dẫn tới sự định cư của người nước ngoài tại vùng duyên hải khác và tạo nên một Macao nữa -thứ hoàng đế cho rằng nguy hiểm nhất. Trước hết hoàng đế cố gắng chặn các thuyền của thương nhân Anh đi tới Ninh Ba bằng việc tăng thuế tại hải quan Triết Giang nhưng việc này thất bại. Vì vậy vào mùa đông năm 1757, hoàng đế tuyên bố rằng vào đầu năm tiếp theo, tất cả những thuyền buôn bán với Trung Quốc chỉ có thể neo đậu ở Quảng Đông và không thuyền nào được phép vào Ninh Ba. Đây là một sự thay đổi quan trọng trong chính sách ngoại thương vào đầu thời nhà Thanh –  thứ có nghĩa rằng cánh cửa mở ra với bên ngoài đã khép lại một nửa dưới triều vua Khang Hi.

Cùng thời gian đó, chính quyền nhà Thanh tăng cường kiểm soát các hoạt động của người nước ngoài tại các cảng thương mại. Trong quản lý thương mại của người nước ngoài tại các cảng thương mại, nhà Thanh tiếp tục thực thi luật lệ của các cơ quan được bắt đầu từ thời nhà Minh. Theo quy định, tất cả các thương nhân người nước ngoài phải tiến hành công việc làm ăn của mình với một số thương nhân Trung Hoa đặc biệt do nhà Thanh chỉ định và không được buôn bán trực tiếp với người dân thường. Cho dù họ bán hay mua thì họ cũng chỉ được phép trao đổi với các thương nhân hoặc người môi giới do nhà Thanh chỉ định. Ngay vào những năm nhà Thanh mở các cảng biển cho tàu nước ngoài vào buôn bán, các chính quyền địa phương bắt đầu lựa chọn các nhân viên trong số các thương nhân để tiến hành việc buôn bán các món hàng nước ngoài. Ở Quảng Châu, những nhân viên này thường được gọi là “thương nhân Hang” bởi vì phường hội của họ được gọi là Hang (cách gọi cũ của “Hong”) hoặc “Yanghuo Hang”. Số lượng các thương nhân Hang ở thời điểm cao nhất lên tới 26 hoặc hơn và thấp nhất là 4 nhưng thông thường trong lịch sử người ta gọi là “13 Hang”. Các thương nhân Hang lập ra một tổ chức gọi là “Gong Hang” (“Co-hong”) năm 1720, thứ tan rã trong năm tiếp theo nhưng lại được phục hồi năm 1760. Trong những năm Quảng Châu đóng vai trò như cảng mở chính dành cho người nước ngoài trước cuộc Chiến tranh thuốc phiện, Gong Hang là trung gian qua đó các thương nhân phương Tây có thể buôn bán với Trung Quốc và thương nhân Hang  được trao cho độc quyền tuyệt đối trong việc buôn bán với thương nhân nước ngoài. Gong Hang và các thành viên của nó thậm chí còn đảm đương việc thu thuế và nợ cho chính phủ và trong tất cả các hoạt động với nước ngoài nó đóng vai trò làm trung gian giữa chính quyền địa phương và người nước ngoài bởi vì trong thời kì đó người nước ngoài không được phép liên lạc với các quan chức Trung Quốc trực tiếp.

Sau khi đóng cửa tất cả các cảng thương mại trừ Quảng Châu, chính quyền Thanh đã ban hành nhiều luật lệ để hạn chế các hoạt động của người nước ngoài ở Trung Quốc. Theo các luật lệ, quy định này, thương nhân người nước ngoài  phải giới hạn nơi cư trú tại nơi được chỉ định trong thời gian họ ở Trung Quốc và phải chịu một loạt các chế định khác đối với hoạt động và cư xử của họ nếu như họ không muốn bị trục xuất và mất đi lợi nhuận thương mại.Ở Quảng Châu, nơi được chỉ định dành cho người nước ngoài cư trú là vùng đất kéo dài  bên ngoài thành phố, nơi dưới sự giúp đỡ của Gong Hang, các thương nhân đến từ nước ngoài đã xây dựng các căn nhà gọi là “shang guan”  (từ này có nghĩa “nhà máy” trong cảm quan cũ của cư dân hoặc là có nghĩa nơi ở của “người đại diện”) cùng phòng tài vụ, kho hàng, kho bạc và nhà ở. Trước năm 1840, có 59 “shang guan” ở Quảng Châu và có hơn một nửa trong số đó thuộc về các thương nhân người Anh. Tất cả các thương nhân người nước ngoài tới Quảng Châu buôn bán phải sống trong chính Shang guan của họ và số lượng những người nước ngoài đi theo không được quá 5 người. Không một người phụ nữ hay trẻ em hoặc loại vũ khí nào được phép mang tới Shang guan. Tất cả các thương nhân nước ngoài phải rời Trung Quốc hoặc trở lại Macao ngay khi họ kết thúc việc buôn bán, không một ai trong số họ được phép ở lại Quảng Châu qua mùa đông. Khi sống trong Shang guan, người nước ngoài bị cấm liên lạc với người Trung Quốc ngoại trừ các thương nhân Hang và các phiên dịch viên  của họ, cấm dời Shang guan nếu không có các thương nhân Hang hoặc các phiên dịch viên đi kèm khi cần thiết, cấm thuê mướn các đầy tớ người Trung Quốc, cấm ngồi kiệu. Người nước ngoài không được phép liên lạc trực tiếp với các viên chức người Trung Quốc nếu có gì trình bày thì điều này phải được thực hiện thông qua các thương nhân Hang. Thương nhân Hang phải giám sát và  chăm sóc mọi thứ đối với người nước ngoài trong thời gian họ ở đây, từ những điều thiết yếu của đời sống  tới thái độ cư xử và các hoạt động của họ và họ bị cấm mượn tiền của người nước ngoài. Các quy định cũng quy định rằng tất cả các thuyền chiến nước ngoài đóng vai trò hộ tống các thuyền buôn không được phép vào Bogue và các thuyền buôn vào hoặc dời Bogue được đặt dưới sự kiểm soát toàn diện của các hoa tiêu và nhà nhà tư sải mại bản Trung Quốc – những người đã đăng kí với cơ quan hành chính địa phương của Trung Quốc ở Macao và đã nhận được giấy phép, nếu có bất cứ sự buôn hậu hay điều phi pháp nào xảy ra trên thuyền, người chủ thuyền sẽ bị trừng phạt. Mặc dù những quy định, luật lệ tầm thường tẻ ngắt này trên thực tế chỉ là trên giấy trong nhiều trường hợp, chúng đã thực sự phản ánh sự lo lắng, cảnh giác  của các vua nhà Thanh đối với thế giới bên ngoài.  Bằng việc tiến hành một cuộc điều tra toàn diện về chính sách ngoại thương trong đầu thời nhà Thanh, chúng ta phải nói rằng trong phần lớn thời gian  của hơn hai trăm năm này, Trung Quốc đã là nhà nước đóng kín hoặc đóng kín một nửa đối với thế giới bên ngoài ngoại trừ một vài thập kỉ trong giai đoạn sau của triều vua Khang Hi. So sánh với triều Minh, thái độ của các ông vua nhà Thanh đối với thế giới bên ngoài trở nên bảo thủ hơn. Vì vậy việc đánh giá  chính sách đối ngoại của đầu triều Thanh như là “chính sách đóng cửa” về cơ bản là sát với tình hình thực tế.

Lý do thực thi chính sách ngoại thương bảo thủ trong thời Minh và đầu thời Thanh.

Như những gì đã chỉ ra ở phần đầu bài viết này, từ nhà Minh tới đầu nhà Thanh, chính xác hơn là từ cuộc phát kiến địa lý vào giữa thời Minh cho tới chiến tranh thuốc phiện, là thời kì chủ nghĩa tư bản trưởng thành ở Tây Âu và mở rộng ảnh hưởng của nó tới toàn bộ thế giới – thứ đã dẫn tới những sự thay đổi vĩ đại trong trật tự thế giới truyền thống. Đó chính thời điểm mà sức mạnh hải quân, các nền văn minh ở nhiều phần trên thế giới, vốn tách biệt nhau bởi không gian địa lý bắt đầu trao đổi, cạnh tranh làm cho thế giới sau đó xích lại gần hơn. Trong thời kì này, những quốc gia phấn đấu cho quyền lực biển và chú tâm vào thương mại, buôn bán trên biển đã dẫn đầu con sóng lịch sử và tiến về phía trước. Người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Hà Lan và sau này là người Anh tất cả đã chộp lấy quyền lực trên biển và phát triển thương mại biển. Nhưng Trung Quốc, một quốc gia có nền văn minh lâu đời vốn không thua hề thua kém các nước phương tây cả về kĩ thuật hàng hải và các nhân tố bên trong để phát triển thương mại biển đã chống lại dòng chảy đó và thực thi một chính sách bảo thủ hạn chế thậm chí cấm buôn bán với nước ngoài. Vậy thì, điều này đã diễn ra như thế nào? Tác giả nghĩ rằng ít nhất lý do nằm ở các khía cạnh sau đây: truyền thống lịch sử, văn hóa của Trung Quốc, thực tế chính trị mà hai vương triều đã đối mặt vào thời điểm đó, tình hình phát triển kinh tế trong lịch sử Trung Quốc và cuối cùng là hệ thống kinh tế tương đối toàn diện của Trung Quốc với tư cách là một nước lớn.

  1. Ảnh hưởng của truyền thống văn hóa, lịch sử Trung Quốc

Cathaysian, chủ thể mang trên mình nền văn minh Trung Hoa cổ xưa, là một quốc gia chuyên về trồng trọt. Văn minh Cathaysian, ngay từ khi bắt đầu, đã có đặc trưng là nền văn minh nông nghiệp. Nó coi trọng sự phát triển nông nghiệp và coi trồng trọt như là một nguồn của cải xã hội trong khi mặt khác nó coi khinh thương mại khi coi nó là một nhân tố không có gì là quan trọng đối với nền kinh tế. Tư tưởng  trọng nông ức thương được đẩy mạnh trong suốt thời kì Chiến Quốc (475-221 trước CN) đã trở thành xu hướng chính của tư tưởng kinh tế Trung Hoa và được các ông vua tin tưởng và theo đuổi xuyên suốt toàn bộ lịch sử Trung Quốc kể từ từ nhà Tần và nhà Hán (221 tr.CN-220 sau CN). Vào cuối thời kì phong kiến, với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và thương mại tư tưởng coi thường thương mại đã bị thử thách ở một vài khu vực, nhưng thế thượng phong của nó trong giới nho sĩ và chính sách kinh tế của nhà nước thì không hề thay đổi. Các ông vua của triều Minh-Thanh tiếp tục duy trì chính sách coi nông nghiệp là nền tảng kinh tế trong khi thương mại chỉ được coi đóng vai trò phụ trong nền kinh tế – thứ cần thiết nhưng không đáng phải khuyến khích. Trong tư tưởng truyền thống Trung Hoa, thương mại và thương nhân thường bị cho là có liên quan tới với việc bán đắt với giá cắt cổ và hưởng thụ cuộc sống xa hoa vô độ. Vì thế sự phát triển quá mức của thương mại không chỉ gây hại cho kinh tế nông nghiệp thông qua việc tiêu tốn một số lượng lớn nhân lực của việc trồng trọt mà còn làm hư hỏng xã hội nói chung. Tư tưởng trọng nông ức thương truyền thống của Trung Hoa rõ ràng đã đi ngược lại làn sóng tranh giành thương mại trên biển lúc đương thời. Kể từ phát kiến địa lý, chủ nghĩa trọng thương đã trở thành thịnh hành trong giới kinh tế Tây Âu. Tất cả các quốc gia biển ở đó đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quay vòng hàng hóa và nhập khẩu kim loại quý đối với sự thịnh vượng của quốc gia ở thời kì này. Tất cả các nước đều chủ động hỗ trợ phát triển thương mại trên biển thông qua sử dụng sức mạnh quốc gia. Thương mại  thuộc địa của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, kỉ nguyên  người đánh xe ngựa trên biển của Hà Lan và sự thành lập của đế chế Anh đều là kết quả của chủ nghĩa trọng thương và chính sách quốc gia. Tuy nhiên, trong kỉ nguyên như vậy, các hoàng đế Trung Quốc vẫn chủ trương ức thương. Vì vậy rõ ràng là họ không có khả năng thực thi một chính sách ngoại thương tích cực để khuyến khích các thương nhân đi ra ngoài và mở rộng thị trường cho quốc gia. Khái niệm truyền thống “Hoa Di” của Trung Hoa cũng là một lý do quan trọng. Khái niệm này là thái độ chính trị văn hóa tự coi mình là trung tâm khẳng định rằng văn minh Trung Hoa là ưu việt hơn các nước khác. Mặc dù kiểu thái độ này là đặc điểm chung của tất cả các nền văn minh cổ tương đối phát triển nói chung, nhưng do vị trí địa lý đặc biệt của Trung Quốc tách biệt với các nền văn minh cổ đại khác bởi rào cản tự nhiên bốn mặt, cũng như vị trí thuận lợi của văn minh Trung Hoa và “thế giới của nó” mà chủ nghĩa coi mình là trung tâm của người Trung Quốc rất mạnh và  từ đó Trung Quốc đã không chỉ tạo ra một khái niệm có tính kết hợp và hệ thống là “Hoa Di” mà liên quan đến khái niệm này, họ đã phát triển thành một hệ thống tính cách và nguyên tắc trong giải quyết các mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Theo khái niệm này, Trung Quốc là trung tâm của thế giới và hoàng đế Trung Quốc là “Thiên tử” thay trời cai trị toàn bộ thế giới. Bên ngoài Trung Quốc nơi các hoàng đế trực tiếp cai trị là những vùng do “Man Di” sinh sống ở những quốc gia dã man. Mặc dù tất cả các quốc gia này đều hung dữ và hoang dã, hoàng đế vẫn luôn mong muốn tặng quà cho họ và coi họ như chư hầu nếu như họ có nguyện vọng muốn được khai hóa và công nhận sự cai trị của họ thông qua triều cống triều đình. Lý tưởng cao nhất của hoàng đế Trung Quốc cổ đại là thành lập một trật tự thế giới trong đó ông ta là người cai trị toàn bộ các quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên chủ nghĩa coi mình là trung tâm của Trung Quốc về bản chất không có nghĩa là hiếu chiến hoặc dũng cảm. Nó nhấn mạnh sự ưu việt của Trung Quốc trên thế giới nhưng nó chưa bao giờ thiên về bành trướng và chưa bao giờ muốn ép buộc các nước khác chấp nhận một thế giới thống nhất đặt dưới sự cai trị của Trung Quốc. Nó diễn tả sự khuất phục của các nước khác dưới đạo đức và sức mạnh kiểu mẫu của Trung Quốc. Do đó nó đặt trọng tâm vào việc bảo vệ nền văn minh Trung Hoa và duy trì trật tự bên trong chống lại những ảnh hưởng của các quốc gia bên ngoài hơn là mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc tới thế giới. Đây là dấu hiệu thực sự để phân biệt Trung Quốc với các nước khác. Từ cách nhìn của các hoàng đế “Thiên Triều”, trật tự cai trị bên trong là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, nó là thứ đã làm nên Trung Quốc kể từ khi nó trở thành quốc gia văn minh. Vì vậy, nó hoàn toàn cần thiết để các hoàng đế thực thi mọi biện pháp có thể để chống lại sự đầu độc của những người dã man bên ngoài. Chỉ khi các quốc gia bên ngoài có mong muốn quan sát phong tục và hệ thống lễ nghi Trung Hoa, thứ đã tạo ra trật tự cai trị bên trong Trung Quốc, họ mới được chấp nhận và đón tiếp chu đáo. Nhưng nếu họ dám thay đổi những phong tục và hệ thống này họ sẽ bị trục xuất và cấm cửa.

Khái niệm “Hoa Di” đã không gây trở ngại cho việc Trung Quốc mở rộng ra ngoài thế giới trong buổi đầu lịch sử, đặc biệt vào thời kì mà nó là quốc gia hùng mạnh như dưới thời nhà Hán (206 tr.CN-220), Đường (618-907). Tại thời kì đó, sự hùng mạnh của quốc gia đã làm cho các hoàng đế của Trung Quốc có đủ tự tin và mở rộng liên lạc với thế giới bên ngoài, cảm giác ưu việt về “Thiên Triều” và văn hóa Trung Hoa có lẽ đã ở mức cao nhất về mặt tâm lý. Nhưng từ thế kỉ 16, đặt biệt là từ sau thế kỉ 17, nền văn minh Trung Hoa phát triển cao đã phải đối mặt với một nền văn minh mới chưa từng nghe thấy do những người châu Âu mang đến với tàu chiến, thứ mà ít nhất xét ở mức độ nguyên liệu nó không hề thua kém Trung Quốc mà ở nhiều khía cạnh dường như nó còn vượt xa cả Trung Quốc.

Tình hình này đã làm chao đảo “Thiên Triều” của các hoàng đế. Vì vậy như một phản ứng bản năng đối với ảnh hưởng phương Tây, thái độ của các hoàng đế đối với thế giới bên ngoài bắt đầu ngày càng trở nên tiêu cực. Tất nhiên họ chưa bao giờ mong muốn thừa nhận đứng ngang bằng với các quốc gia phương Tây: không chỉ vì người phương Tây vẫn được coi là những người bán khai mà còn vì những nước phương Tây buôn bán với Trung Quốc vẫn tiến hành triều cống. Nhưng đây cũng chỉ nhằm mục đích bảo vệ lòng tự trọng của “Thiên Triều” ở vẻ ngoài và về mặt tâm lý mà thôi. Trên thực tế sự tự tin của “Thiên Triều” về sức mạnh của mình đã suy sụp. Bởi vậy, các vua ở thời Minh -Thanh đã chuyển vị trí của tổ tiên họ là mở ra thế giới sang bảo vệ văn minh Trung Hoa và trật tự cai trị khỏi ảnh hưởng của nước ngoài bằng chính biên giới của nó. Đây là lý do cơ bản giải thích tại sao các hoàng đế trong thời kì này nhấn mạnh và coi trọng việc phân ranh giới giữa người Trung Quốc và người nước ngoài đồng thời thực thi chính sách ngoại thương bảo thủ.

  1. Ảnh hưởng của thực tế chính trị

Ảnh hưởng của thực tế chính trị đối với chính sách ngoại thương cũng không thể bỏ qua bởi vì mục đích đầu tiên của bất cứ vương triều nào  khi làm chính sách cũng là đảm bảo sự cai trị an toàn của mình. Lý do trực tiếp của chính sách cấm biển tiến hành trong thời kì đầu và giữa nhà Minh là sự quấy rối không ngừng của hải tặc Nhật Bản ở vùng viển đông nam, thứ như chúng ta đã đề cập ở trên, đã bắt đầu từ ngay những năm đầu sau khi thành lập vương triều Minh và không hề chấm dứt cho tới giữa thế kỉ 16. Vấn đề nghiêm trọng của mối đe dọa xâm lược của người Mông Cổ ở phía bắc trong cùng thời gian cũng tạo ra chính sách nói trên. Vào đầu triều Minh, nhà Nguyên vốn rút lui vào sa mạc phía bắc Vạn Lý Trường Thành sau khi bị Chu Nguyên Chương đánh bại vẫn có trong tay một bộ phận quân lính và chưa bao giờ từ bỏ nỗ lực tái kiểm soát toàn bộ quốc gia. Về sau mặc dù Mông Cổ bị chia tách ra làm nhiều phần và nhà Nguyên (Bắc Nguyên) cuối cùng cũng biến mất vào đầu thế kỉ 15, nhưng mối đe dọa xâm lược đến từ người Mông Cổ không hề mất đi cho tới khi một thỏa thuận hòa bình giữa Minh và Tartar Khan dưới triều vua Long Khánh (1567-1572) được xác lập. Bởi vì phải hướng sự tập trung vào sự xâm lược ở phía bắc trong thời kì này, thứ được các nhà sử học cho rằng đây là một trong hai sự xâm lược của nước ngoài trong suốt thời nhà Minh, một cách tự nhiên đã làm cho nhà Minh không có khả năng  thực thi một chính sách chủ động trong việc phòng thủ bờ biển chống lại hải tặc Nhật Bản. Sự cấm biển của nhà Minh vào cuối vương triều là thực tế nhằm thanh toán vấn đề hải tặc Nhật Bản đồng thời cũng là nhằm giải quyết vấn đề xâm lược của người Mông Cổ ở phía bắc.

Lệnh cấm biển của nhà Thanh trong những thập kỉ đầu thống trị của vương triều như một quyền lực quốc gia và việc duy trì hạn chế người dân tự do đi ra nước ngoài và sự hạn chế nghiêm ngặt tiếp xúc giữa người nước ngoài với người dân thường Trung Quốc tại các cảng biển sau khi từ bỏ lệnh cấm là bắt nguồn từ sự quan tâm tới chính trị trong nước, đó là nhằm mục đích loại bỏ mối liên hệ giữa các lực lượng phản Thanh ở lục địa và trên biển. Triều Thanh được lập nên bởi người thiểu số, những người cư trú ở phần đất xa xôi hơn phần lớn những người mà họ cai trị. Người Hán có số lượng lớn gấp vài trăm lần người Mãn Châu. Trước triều Thanh, ngoại trừ triều Nguyên được lập ra bởi người Mông Cổ trong một thời gian ngắn, không có quyền lực chính trị  với tư cách như là một quốc gia thống nhất  nào được tạo ra bởi người thiểu số ở Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử. Như  chúng ta đã biết, triều Mãn Thanh từ ngày đầu được thành lập và kiểm soát toàn bộ quốc gia đã chú tâm lớn tới việc bảo vệ vương triều trước sự kháng cự của người Hán, thứ không hề chấm dứt trong suốt thời gian vương triều Thanh tồn tại. Các vua Thanh biết rằng có hàng trăm ngàn người Hán sống ở Đông Nam Á, cách xa nơi họ có thể vươn quyền lực tới, và  triều đình Thanh luôn coi những người Hán này là lực lượng phản Thanh tiềm tàng. Đó chính là lí do khi hoàng đế Khang Hi nói rằng triều Thanh phải thực thi những biện pháp cấm thương mại biển để ngăn chặn bất kì sự liên kết có thể nào giữa các lực lượng phản Thanh trong và ngoài nước.

  1. Lý do kinh tế

Phân tích từ khía cạnh kinh tế thấy rằng lí do thứ nhất mà trong suốt triều Minh và đầu triều Thanh, toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc vẫn là nền kinh tế  nông nghiệp truyền thống tự cung tự cấp hoặc bán tự cung tự cấp. Thực tế là trong thời gian này, kinh tế thương nghiệp đã tiến triển lớn với sự phát triển độc lập của thủ công nghiệp và thương mại nông nghiệp và mầm mống tư bản chủ nghĩa đã nổi lên kể từ giữa triều Minh nhưng  tất cả những sự thay đổi này chỉ xảy ra ở một vài vùng và ở một vài lĩnh vực của nền kinh tế. Vào thời gian đó,  động lực của việc mở cửa Trung Quốc đối với các mối quan hệ thương mại quốc tế phần lớn đến từ các tỉnh hưng thịnh ở vùng Đông nam nơi do sự phát triển cao về kinh tế thương nghiệp trong nông nghiệp và thủ công nghiệp thực sự cần tới thị trường ngoài nước nhất. Nhưng ở phần lớn hơn của quốc gia, như ở phần lớn các tỉnh trong đất liền bởi vì nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp hay bán tự cung tự cấp vẫn còn chiếm vị trí ưu thế cho nên không có yêu cầu cấp bách nào đối với thị trường ngoài nước. Bởi lý do này, bất cứ khi nào có tranh luận trong triều đình về  việc mở cửa buôn bán với nước ngoài, tiếng nói ủng hộ cấm biển luôn chiếm ưu thế. Những ý kiến trái ngược khi đó phần lớn  đến từ các quan chức quản lý các tỉnh phía Đông nam hoặc những người có quê ở đó. Trước những ý kiến mạnh mẽ đòi cấm biển hay đặt ngoại thương dưới những quy định cứng nhắc, ý kiến của họ khó có thể được chấp nhận trong nhiều trường hợp. Bên cạnh đó, điểm khởi đầu cho luận điểm của họ đối với chính sách mở cửa biển phần lớn là lợi nhuận từ thuế và sinh nhai của người dân ở vùng duyên hải, nhưng hiếm khi  họ thảo luận về  vấn đề từ tầm nhìn coi việc mở biển ở tầm quốc gia như là một chính sách trọng thương ở các quốc gia phương Tây. Điều này không nói lên điều gì ngoài sự yếu kém của kinh thế thương nghiệp của quốc gia tại thời điểm đó.

Thứ hai, chúng ta phải thừa nhận rằng Trung Quốc là một quốc gia lớn với nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ thống kinh tế quốc gia hợp nhất thứ có thể tạo ra phần lớn sản phẩm nó cần… Nó đã có ít sự phụ thuộc vào nền kinh tế của thế giới bên ngoài. Trên thực tế, Trung Quốc trong ngoại thương khi đó chủ yếu đã đóng vai trò là nước xuất khẩu các sản phẩm thủ công và nông nghiệp nội địa chứ không phải là nước nhập khẩu các sản phẩm của nước ngoài. Nó xuất đi chè, tơ, lụa, gốm, vải dệt tay, hợp kim đồng-niken, đường, giấy, dược liệu, … và nhập khẩu chủ yếu các thứ xa xỉ phẩm của nước ngoài ngoại trừ đồng của Nhật Bản, gạo của Xiêm và một số lượng nhỏ các sản phẩm công nghiệp phương Tây. Do lý do này, nó đã có được một cán cân ngoại thương mong muốn và xuất khẩu một số lượng lớn  bạc hàng năm cho tới đầu thế kỉ 19 khi thương nhân người Anh bắt đầu vận chuyển thuốc phiện tới với số lượng lớn. Bất chấp ngoại thương có vai trò quan trọng như thế nào đối với một số vùng và một số ngành kinh tế của quốc gia tại thời điểm đó cũng như đối với những người có liên quan đối với toàn bộ quốc gia, nền kinh tế quốc gia và phần lớn dân số ảnh hưởng của ngoại thương vẫn rất yếu. Mức độ cao của hệ thống kinh tế tự cung tự cấp đã  làm cho các vua triều Minh và các vua đầu triều Thanh nghĩ rằng không cần thiết phải đánh giá cao ngoại thương và luôn coi nó như là một đặc ân ban cho các quốc gia nước ngoài. Đó là những gì mà hoàng đế Càn Long  đã nói trong lá thứ ông ta gửi cho vua Geogre III của nước Anh năm 1793: – khi một đoàn quan chức ngoại giao do huân tước Macartney được phái tới Trung Quốc để hỏi về việc mở rộng mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, “Thiên triều có thể sản xuất mọi thứ và không cần phải nhập thứ gì của nước ngoài. Nhưng do trà, gốm và lụa do Thiên triều sản xuất là cần thiết với các nước ở biển tây cũng như là các ngươi, để chứng tỏ sự hiểu biết, lòng cảm thông và ban tặng lòng nhân từ bao la của Thiên triều tới tất cả thần dân, chúng ta đã lập ra các công ty thương mại (Yang hang) ở Macao để đáp ứng nhu cầu của các ngươi”. Thông qua lời nói nổi tiếng của hoàng đế được dẫn ra ở trên, một mặt chúng ta cảm nhận được sự kiêu ngạo và ngu dốt của ông ta đối với thế giới bên ngoài nhưng mặt khác những gì ông ta nói ở trên không phải hoàn toàn là vô lý. Đó là bởi vì Trung Quốc ít phụ thuộc vào ngoại thương khi nó là một quốc gia khổng lồ với hệ thống kinh tế quốc gia hợp nhất và khi phải lựa chọn giữa đạt được lợi ích thương mại và giữ gìn sự an toàn quốc gia, nhà Minh và các vua đầu nhà Thanh đã luôn dành ưu tiên cho lựa chọn thứ hai.

Hệ quả lịch sử của chính sách ngoại thương bảo thủ trong thời Minh và đầu thời Thanh.

Khi kỉ nguyên của các cuộc phát kiến địa lý và  các cuộc bành trướng thuộc địa của các quốc gia phương Tây bắt đầu vào giữa thế kỉ 15 và 16, Trung Quốc vẫn là một quốc gia mạnh trên thế giới và do lãnh thổ rộng lớn cùng dân số đông đúc, nó rõ ràng là quốc gia mạnh nhất trên thế giới ở thời điếm đó. Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập ở phần đầu bài báo này, đó cũng chính là thời điểm Trung Quốc bắt đầu đi xuống. Chính sách trên biển ngu xuẩn của nhà Minh và các vua đầu nhà Thanh đã làm cho Trung Quốc mất đi cơ hội để cạnh tranh với các quốc gia phương Tây và tiếp tục duy trì vị trí tiên phong trên thế giới.

Khi người phương Tây bắt đầu tiến hành các cuộc phát kiến địa lý, Trung Quốc không phải là quốc gia không có khả năng kĩ thuật để tiến hành các cuộc thám hiểm trên biển. Ngay khi dưới thời nhà Tống (960-1279), Trung Quốc đã phát triển kĩ nghệ đóng tàu tiên tiến có thể đóng được rất nhiều loại thuyền vượt biển thích hợp với nhiều tình huống hàng hải khác nhau và lần đầu tiên trên thế giới nó vận dụng la bàn để đi biển. Vào đầu thời Minh, từ 1405 tới 1433, hạm đội khổng lồ của Trung Quốc do Trịnh Hòa chỉ huy đã đi vòng qua biển Nam Trung Hoa và eo Malacca, vào Ấn Độ Dương và đi tới tận bờ biển châu Phi trong một số cuộc viễn chinh. Chuyến đi của Trịnh Hòa chứng minh rằng Trung Quốc ở vào thời điểm đó có lực lượng thủy quân mạnh với kĩ năng đóng tàu và kĩ thuật đi biển tiên tiến và ở khía cạnh kĩ thuật thì thế giới vẫn không đuổi kịp thậm chí vào cả nửa thế kỉ sau khi những nhà hàng hải châu Âu như Diaz, Columbus và Da Gama bắt đầu các cuộc phát kiến.

Khi người phương Tây bắt đầu các cuộc phát kiến, Trung Quốc cũng không hề thiếu động lực kinh tế đối với việc mở biển buôn bán. Kinh tế thương nghiệp vào giữa triều Minh đã phát triển với tỉ lệ không ngờ. Kể từ giữa những năm 1400, với sự tăng trưởng nông nghiệp hàng hóa và thủ công nghiệp cá thể độc lập, sự phát triển của thương mại đã không chỉ đặt ra yêu cầu đối với thị trường nội địa mà còn đặt ra đối với thị trường ngoài nước. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền đông nam như Triết Giang, Phúc Kiến và Quảng Đông, nơi người dân có truyền thống buôn bán và sống ở nước ngoài, cùng với việc ngày càng có nhiều người đi ra nước ngoài bất chấp lệnh cấm của chính phủ, buôn lậu trên biển bắt đầu trở nên rầm rộ từ cuối những năm 1400. Tại thời điểm đó, dấu vết của người Trung Hoa có thể tìm thấy gần như là ở mọi ngóc ngách của Đông Nam Á.

Vì vậy, sau một thời gian dài kể từ các cuộc phát kiến của người Châu Âu, Trung Quốc đã có tất cả những điều kiện cần thiết để tiến hành viễn chinh trên biển, thứ mà nó cần chỉ là chính sách khuyến khích từ chính quyền. Nếu triều Minh làm như vậy, có thể lịch sử tiếp theo sẽ phải viết lại. Nhưng thực tế rằng dưới chính sách “không hoạt động ở xa” tự ti và bảo thủ của các vua giữa triều Minh được tiến hành sau khi hạm đội của Trịnh Hòa kết thúc chuyến đi cuối cùng tới “biển Tây” vào năm 1433, Trung Quốc không chỉ từ bỏ các cuộc viễn chinh chính thức trên biển mà còn tiến hành chính sách cấm biển nghiêm ngặt đối với những người đi ra nước ngoài. Tiếp theo đó, như là nạn nhân của chính sách ngu xuẩn này, Trung Quốc đã mất đi cơ hội quý giá đi trước người phương Tây trong việc tìm kiếm thị trường ngoài nước trong thế kỉ 15 và một nửa thế kỉ sau khi những người châu Âu bắt đầu các cuộc viễn chinh trên biển, Trung Quốc đã chỉ còn là kẻ đứng nhìn thay vì là đối thủ cạnh tranh như lẽ ra phải thế.

Nửa đầu thế kỉ 16 cũng vẫn là thời gian quý giá đối với Trung Quốc trong việc mở ra các mối quan hệ thương mại trên biển. Trong thời gian này, trong số các quốc gia châu Âu mới chỉ có Bồ Đào Nha tới biển Tây Thái Bình Dương và đóng vai như là đối thủ tiềm năng của Trung Quốc, kẻ đóng vai trò đi đầu trong cấu trúc truyền thống của các mối quan hệ quốc tế ở đó. Người Bồ Đào Nha đi vòng qua mũi Hảo Vọng và tới phương Đông vào cuối thế kỉ 15. Nhưng từ thời điểm này trở đi, trong khoảng 50 năm, phạm vi thiết lập các thuộc địa và tìm kiếm các mối quan hệ thương mại ở phương Đông bị giới hạn tới Ấn Độ Dương và các quần đảo ở nam Thái Bình Dương. Nó đã không thâm nhập ảnh hưởng tới Đông Á cho tới những năm 1540-1550 khi nó thành lập cứ điểm thương mại ở Nhật Bản (Kyushu) và Trung Quốc (Macao). Nhưng Trung Quốc  cũng đã đánh mất cơ hội này. Ngay vào những năm 1510, triều Minh bắt đầu tiếp xúc với người Bồ Đào Nha. Lần đầu tiên là vào năm 1513 khi một thương nhân tên là Jorge Alvares tới Tunmen, tỉnh Quảng Đông và ở đây một thời gian ngắn. Sau đó vào năm 1517, một phái đoàn chính thức do vua D.Manuel cử đã tới nhằm thiết lập quan hệ thương mại giữa hai quốc gia. Nhưng triều đình nhà Minh đã không hoặc không muốn hiểu tín hiệu đến thăm của những người phương Tây ở mức độ tối thiểu. Họ đã coi những người mới đến này như những thương nhân và sứ thần triều cống truyền thống. Do không bằng lòng với cách cư xử của người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc và việc nước họ chiếm đóng Macao trước đó, nhà Minh đã  trục xuất phái đoàn và bắt giữ người chỉ huy là Tome Pires vào năm 1522. Hai năm sau, như chúng ta đã biết, nhà Minh tuyên bố cấm biển nghiêm ngặt và đóng các cảng thương mại dành cho người nước ngoài do sự quấy rối của hải tặc Nhật. Khi nhà Minh tái mở cửa dưới triều vua Long Khánh năm 1567, thế giới bên ngoài xung quanh Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều. Từ giữa những năm 1500 tới đầu thế kỉ 17, không chỉ người Bồ Đào Nha đã mở rộng quan hệ thương mại từ Nam Thái Bình Dương tới phần lớn các phần thuộc Nam Á và Đông Á mà cả người Tây Ban Nha và người Hà Lan theo sau cũng tới phương Đông để tranh giành vị trí của Bồ Đào Nha trong buôn bán với phương Đông. Người Tây Ban Nha đến phương Đông từ phía Tây qua Philippines và thiết lập con đường tơ lụa trên biển giữa Mexico và Manila không lâu sau khi họ chiếm Luzon năm 1565. Họ cố gắng buôn bán với Trung Quốc một cách trực tiếp và gửi một phái đoàn ngoại giao tới Bắc Kinh năm 1580 nhưng phái đoàn bị giữ lại tại Quảng Châu và gửi trả lại Manila. Sau đó người Tây Ban Nha phần lớn buôn bán với người Hoa ở Manila và  vận chuyển hàng hóa Trung Hoa từ đó tới Mexico dọc theo con đường tơ lụa trên Thái Bình Dương. Người Hà Lan tới Châu Á từ đầu thế kỉ 17. Họ cũng cố gắng tiếp xúc với Trung Quốc nhưng bị ngăn cản bởi người Bồ Đào Nha, những người đã chiếm đóng Macao từ năm 1557. Sau khi đuổi khỏi quần đảo Bành Hồ, nơi họ chiếm từ năm 1622, bởi quân Trung Quốc năm 1624, Hà Lan bắt đầu xâm chiếm Đài Loan và chiếm đóng toàn bộ đảo này năm 1642. Bởi vậy khi nhà Minh dỡ bỏ lệnh cấm biển và tái mở cửa, Trung Quốc đã phải đối mặt với một thế giới rất khác so với trước đó. Tại thời điểm này, không chỉ tất cả các con đường thương mại dẫn tới các lục địa khác đã bị các quốc gia phương Tây kiểm soát mà trong khu vực thương mại truyền thống của Trung Quốc ở khu vực Tây Thái Bình Dương, người Trung Quốc đã phải đối mặt với những thách thức mạnh mẽ bởi những người phương Tây, những người đã mở rộng ảnh hưởng của mình và giành lấy lợi nhuận thương mại bằng đại bác và gươm. Nhưng thậm chí ngay cả trong tình huống này, nếu triều Minh sử dụng sức mạnh quốc gia để cạnh tranh với các quốc gia phương Tây vẫn có thể làm được nhiều điều cho lợi ích thương mại của Trung Quốc ít nhất là ở châu Á bởi vì nó vẫn có sức mạnh trong khu vực cả ở quân sự và kinh tế.

Thật không may, nhà Minh không làm điều đó. Nhà Minh vẫn không hiểu tín hiệu thay đổi bên ngoài thế giới và thực thi chính sách thích hợp. Việc bãi bỏ lệnh cấm biển và cho phép mọi người đi ra nước ngoài chỉ là do nó không thể ngăn cản mọi người làm vậy chứ không phải là nó khuyến khích mọi người đi ra ngoài. Trái lại, nó đã đặt tất cả các chướng ngại trên con đường trước khi người dân ra nước ngoài và mở cửa thị trường. Do thiếu sự hậu thuẫn của nhà nước, các thương nhân Trung Hoa đã không thể cạnh tranh với thương nhân phương Tây ở thị trường ngoài nước bằng đôi chân bình đẳng, thứ đã gây trở ngại cho sự phát triển của thương mại Trung Quốc trong thời kì đó. Sản phẩm của Trung Quốc đã có mặt trên thị trường thế giới sau đó nhưng bởi vì tất cả các con đường thương mại dẫn tới thị trường bên ngoài Tây Thái Bình Dương đã bị kiểm soát bởi các quốc gia phương Tây, thương nhân Trung Quốc đã phải giới hạn các hoạt động của họ trong khu vực buôn bán truyền thống, những gì mà họ có được trong tình huống này thực chất không thể sánh được với những gì thương nhân phương Tây có cho dù những gì mà thương nhân phương Tây làm lúc đó cũng chỉ là chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Thậm chí trong khu vực buôn bán truyền thống, người Trung Quốc cũng ở vị trí không mấy dễ chịu, bởi vì những người mà họ buôn bán với giờ đây không phải là các cá nhân riêng lẻ như bản thân họ mà  đằng sau các thương nhân đó còn có sức mạnh quyền lực nhà nước. Các quốc gia phương Tây ở thời điểm đó đã chiếm hết thuộc địa này tới thuộc địa khác trong khu vực buôn bán truyền thống của Trung Quốc ở châu Á và đã kiểm soát gần như tất cả các thị trường chính ở đó, bên cạnh đó, họ tiến hành buôn bán không phải chỉ bằng các phương tiện kinh tế mà bằng lực lượng quân đội và chính trị. Trong tình huống này, rõ ràng rằng những người Trung Quốc đi ra nước ngoài, những người không có gì trong tay ngoại trừ hàng hóa cần thiết cho thị trường trên khắp thế giới, không thể làm gì hơn trong cạnh tranh với các quốc gia phương Tây mặc dù họ mang lại cho quốc gia một số lượng bạc lớn hàng năm – thứ thực sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế thương mại của Trung Quốc trong suốt thời kì cuối nhà Minh.

Trong thời gian đầu thời Thanh, xét toàn cục thì Trung Quốc đã tụt hậu đằng sau các quốc gia phương Tây tiên tiến một cách từ từ. Nhưng bởi nó vẫn là một quốc gia mạnh trên thế giới đi kèm với tầm vóc và sức mạnh quốc gia tổng hợp, vẫn còn có những cơ hội để nó có thể  đuổi kịp phương Tây. Cơ hội quý giá nhất diễn ra vào cuối thể kỉ 17 khi các nước thực dân già như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha suy sụp, Hà Lan cũng đã trải qua thời hoàng kim trên biển và kể từ khi các hoạt động thực dân của nó chủ yếu diễn ra ở Ấn độ và vùng lân cận, nó đã không còn là lực lượng chính trên biển ở Đông Á; trong khi Anh với tư cách là thực dân trẻ chưa đủ trưởng thành và đang lúng túng với các vấn đề trong nước sau cách mạng, thứ đã khiến Anh không thể mở rộng ảnh hưởng bằng tất cả sức mạnh nó có cho tới thế kỉ 18. Trong tình hình quốc tế thuận lợi như thế, nếu triều Thanh có kế hoạch chủ động và tiến hành các hoạt động trên biển và ủng hộ nghiêm túc đối với ngoại thương và tiến hành cải cách hiệu quả hệ thống trong nước để phát triển và đuổi kịp các nước phương Tây đặc biệt trong quân sự và khoa học kĩ thuật, số phận của Trung Quốc có thể sẽ không giống như những gì diễn ra trong lịch sử sau đó.

Nhưng cơ hội này cuối cùng cũng tuột khỏi tay Trung Quốc. Trong những thập kỉ đầu tiên sau khi triều Thanh Mãn Châu thiết lập sức mạnh chính trị quốc gia vào năm 1644, do triều đại mới phải tập trung nỗ lực vào việc thống nhất quốc gia và giải quyết hàng loạt các vấn đề trong nước để tăng cường sự cai trị, nó không chỉ không thể làm gì trên biển mà còn phải ban hành lệnh cấm biển để cắt đứt sợi dây liên hệ giữa các lực lượng phản Thanh trên biển và lục địa. Khi thời kì này chấm dứt với sự thất bại của  lực lượng phản Thanh họ Trịnh ở Đài Loan năm 1683, lẽ ra nó đã là cơ hội quý báu cho nhà Thanh lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động trên biển khi Mãn Châu đã củng cố được vương triều trên toàn bộ đất nước và nền kinh tế trong nước đã phục hồi khỏi những tàn phá của chiến tranh và đang trở thành phát đạt, thịnh vượng từng ngày. Tuy nhiên nhà Thanh đã không có bất cứ sự chú tâm và làm bất cứ thứ gì trong lĩnh vực này ngoại trừ dỡ bỏ lệnh cấm trên biển ngay sau khi tái chiếm Đài Loan. Hoàng đế Khang Hi là một trong những ông vua có tầm nhìn và hoàn hảo nhất trong lịch sử, người đã làm rất nhiều trong việc bảo vệ sự thống nhất chính trị và sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc cũng như góp phần làm cho nền kinh tế phát triển. Ông  đánh bại tất cả các quan điểm chống đối để đưa ra quyết định tiếp tục giữ lấy Đài Loan cho Trung Quốc sau khi tái chiếm nó và đổi chính sách cấm biển của vua cha. Đây là những thứ tốt đẹp ông đã làm. Nhưng ông ta chưa bao giờ thực sự nhìn về biển và nghĩ tới việc lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu một con đường phát triển mới thông qua tham gia chiến tranh thương mại biển với các quốc gia phương Tây. Ông ta thậm chí chưa bao giờ xây dựng lực lượng hải quân thực sự thứ có thể phòng thủ bờ biển Trung Quốc; thứ ông dùng để bảo vệ bờ biển trải dài của Trung Quốc là  các khẩu pháo  tại các cảng biển và  một số lượng nhỏ lục quân tại các pháo đài ở đó. Ông là người có hiểu biết về phương Tây hơn bất cứ ông vua nào trong lịch sử và đã nhận ra rằng mối nguy hiểm tương lai đối với Trung Quốc sẽ đến từ phương Tây nhưng ông đã không thực thi bất cứ một biện pháp tích cực nào để giải quyết tình hình. Thái độ và chính sách của trong việc giải quyết mối nguy hiểm từ thế giới bên ngoài thực sự khác với các ông vua trước, đó là đóng cửa để giữ họ ở bên ngoài. Do  lối tư duy bảo thủ và tiêu cực này, cũng như trạng thái tâm lý cảnh giác sâu sắc đối với những lực lượng nổi dậy người Hán, ông ta đã không chỉ chưa bao giờ có bất cứ sự hỗ trợ nào đối với những người đi ra nước ngoài mà trái lại đã đặt tất cả họ dưới sự giám sát như cấm người dân đóng các con thuyền đi biển lớn, không cho phép họ mang vũ khí thậm chí là vũ khí để họ tự vệ, cấm họ sống ở nước ngoài … và cuối cùng ông ta đã ra lệnh cấm người dân đi tới biển nam trong những năm sau đó – thứ đã gây hại lớn cho sự phát triển ngoại thương của Trung Quốc.

Ngay ở vào thời điểm chính sách thương mại trên biển của nhà Thanh trở nên ngày một bảo thủ, thứ cuối cùng đã dẫn tới sự cô lập hoàn toàn của Trung Quốc dưới triều vua Càn Long, những sự thay đổi mới  đã diễn ra bên ngoài thế giới. Từ thế kỉ 18, nước Anh với tư cách là đế quốc biển mới nổi lên thay thế cho Bồ Đào  Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan trên thế giới. Nước Anh đã hoàn thành công cuộc tích lũy tư bản nguyên thủy trong nửa đầu thế kỉ 18. Sau đó ở nửa sau của thế kỉ với vị trí đứng đầu thế giới nó bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành công trường của thế giới vào đầu thế kỉ 19. Cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi hoàn toàn cán cân sức mạnh giữa Trung Quốc và phương Tây, bỏ Trung Quốc xa ở phía sau các nước phương Tây tiên tiến. Từ đó đuổi kịp phương Tây và tìm kiếm quyền lực tối cao trên biển đối với Trung Quốc đã trở nên ngày càng khó nếu như không muốn nói là không thể.

Nhưng triều đình nhà Thanh thậm chí tại thời điểm đó vẫn tỏ ra ngu dốt và hợm hĩnh trong giấc mơ ngu ngốc rằng “Thiên triều” là số một trên thế giới. Khi phái đoàn ngoại giao do huân tước Macarthney đến Trung Quốc vào năm 1793, phái đoàn vẫn được đối xử giống như các đoàn sứ thần triều cống. Hoàng đế Càn Long thậm chí không có hứng thú nhìn qua món quà mà họ mang tới, thứ thể hiện sức mạnh về khoa học và công nghệ tiên tiến cũng như lực lượng quân đội của nước Anh lúc đó. Hoàng đế Càn Long không biết rằng tình thế mạnh-yếu giữa phương Đông và phương Tây đang thay đổi đột ngột và thời kì hoàng kim của “Thiên triều” đã gần như khép lại. Có một chút khả năng rằng Trung Quốc có thể đuổi kịp phương Tây với tốc độ nhanh hơn nhưng nó đã chọn xu hướng  tự đóng cửa và làm ngơ đối với thế giới bên ngoài. Lịch sử đã không lay chuyển được. Sự hèn mọn của quốc gia trong “chiến tranh thuốc phiện” và  những thảm họa mà người Trung Quốc chịu đựng trong hơn 100 năm chính là kết quả của chính sách ngoại giao bảo thủ mà các vua triều Minh và Thanh, những người ngoảnh mặt trước trào lưu của thế giới thực thi.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Cải cách giáo dục từ dưới lên

January 26, 2015 Leave a comment
Cải cách giáo dục từ dưới lên
Nguyễn Quốc Vương
Nguồn: Tia Sáng

Một giờ học trong thực tiễn giáo dục của
một giáo viên lịch sử Nhật Bản ở Nara
(tháng 2/2009)
Cải cách giáo dục, dưới góc độ lịch sử, có thể được chia làm hai loại: cải cách từ trên xuống và cải cách từ dưới lên. Cải cách giáo dục từ trên xuống được hiểu là cuộc cải cách xuất phát từ phía nhà nước – các cơ quan quản lý giáo dục, đứng đầu là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông qua các chính sách và chỉ đạo có tính chất hành chính, bắt buộc. Trái lại, cải cách giáo dục từ dưới lên được tiến hành bởi các giáo viên ở các trường học và bằng các “thực tiễn giáo dục”.

“Thực tiễn giáo dục” là gì?

Có thể hiểu một cách đơn giản rằng “thực tiễn giáo dục” là tất cả những gì người giáo viên thiết kế, tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn như một vài tiết học khi thực hiện một chủ đề học tập, trong một học kỳ, một năm học hoặc cũng có thể là cả quãng đời dạy học, và thu được ở hiện trường giáo dục. Các thực tiễn giáo dục là kết quả tự chủ và sáng tạo của giáo viên trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu giáo dục, chương trình khung, SGK, tình hình thực tế của nhà trường, học sinh. Thực tiễn giáo dục có thể không hoàn toàn trùng khớp hay chỉ là sự minh họa, diễn giải những gì được trình bày trong SGK, nó là sản phẩm của sự sáng tạo mang đậm dấu ấn của giáo viên, của ngôi trường họ đang dạy học. Chính vì vậy, thực tiễn giáo dục thường được gọi bằng cái tên gắn liền với ngôi trường hoặc người giáo viên sáng tạo ra nó.

Vai trò của “thực tiễn giáo dục”

Có thể coi thực tiễn giáo dục là một con đường đi giữa những chỉ đạo về nội dung và phương pháp giáo dục của cơ quan hành chính giáo dục và tình hình thực tế trường học nhằm đi đến cái đích là “mục tiêu giáo dục”. Đây là nơi thể hiện tài năng nghề nghiệp của giáo viên. Khi thiết kế và thực thi thực tiễn giáo dục, giáo viên phải xử lý một cách khéo léo nhất mối quan hệ giữa chương trình, SGK, mục tiêu giáo dục, yêu cầu thực tế của xã hội, nguyện vọng của phụ huynh, nhu cầu truy tìm chân lý nội tại của học sinh và tình hình thực tế của nhà trường, địa phương.

Bằng việc thiết kế và thực hiện các thực tiễn giáo dục có tính độc lập tương đối và mang tính sáng tạo cao, các giáo viên sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực ở ngay hiện trường giáo dục. Hàng ngàn, hàng vạn thực tiễn giáo dục như vậy khi hợp lại, với hiệu quả cộng hưởng, sẽ làm nên cuộc “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, các cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống cho dù ban đầu có quy mô đến bao nhiêu đi nữa thì về sau nó cũng dần dần nguội lạnh. Vì vậy, các cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên với vô vàn các thực tiễn giáo dục vừa có tác dụng thúc đẩy, duy trì vừa có tác dụng điều chỉnh cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống. Nói cách khác, trong cuộc cải cách giáo dục, người giáo viên sẽ không chỉ đóng vai trò như một người thợ, một người thừa hành thuần túy mà họ, bằng lao động nghề nghiệp giàu tính chủ động, sáng tạo, thấm đẫm tinh thần tự do, sẽ dẫn dắt giáo dục đi đúng hướng và thực hiện mục tiêu giáo dục.

Ở phạm vi hẹp hơn, các thực tiễn giáo dục còn tạo cơ hội cho các giáo viên trong trường học và các đồng nghiệp xa gần trao đổi chuyên môn thực sự. Thực tiễn giáo dục được ghi chép, tổng kết lại cũng sẽ là những tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu.

“Thực tiễn giáo dục” được ghi lại như thế nào?

Tiến hành các thực tiễn giáo dục là công việc thường xuyên của giáo viên. Đó là sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Tuy nhiên, công việc của giáo viên không chỉ dừng lại ở việc thiết kế và tiến hành các thực tiễn giáo dục. Giáo viên cần ghi lại, tổng kết các thực tiễn giáo dục của bản thân và công bố chúng. Thông thường, một thực tiễn giáo dục ở quy mô nhỏ (thường là một chủ đề học tập với dung lượng ba đến bảy tiết học) được ghi lại với cấu trúc sau:

+ Tên “thực tiễn giáo dục”: Có thể trùng với tên của chủ đề học tập hoặc tên riêng thể hiện mục tiêu, phương châm giáo dục của giáo viên.

+ Thời gian-địa điểm: Ghi rõ ràng, chính xác thời gian bắt đầu, kết thúc, địa điểm tiến hành thực tiễn (trường, địa phương, lớp).

+ Đối tượng: Học sinh lớp mấy, số lượng, đặc điểm học sinh.

+ “Giáo tài”: Tài liệu dùng để giảng dạy và “chuyển hóa” nội dung giáo dục thành nội dung học tập của học sinh.

+ Mục tiêu của “thực tiễn” (chủ đề học tập): Về tri thức (hiểu biết), kĩ năng, mối quan tâm, hứng thú, thái độ…

+ Kế hoạch chỉ đạo (giáo án): Bao gồm các chỉ đạo cụ thể của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.

+ Quá trình thực hiện: Ghi lại khách quan, trung thực và đầy đủ tối đa về diễn tiến của thực tiễn trong thực tế, chú trọng các phát ngôn và hành động của giáo viên và học sinh.

+ Hồ sơ giờ học: Tập hợp các cảm tưởng, bài viết, bài kiểm tra, ghi chép của học sinh, sản phẩm của học sinh tạo ra trong thực tiễn…

+ Tổng kết thực tiễn: Giáo viên tự đánh giá về thực tiễn trong tham chiếu với mục tiêu đặt ra và những điểm cần lưu ý rút ra cho bản thân.

+ Phụ lục: Tài liệu sử dụng hoặc liên quan đến thực tiễn.Các thực tiễn giáo dục khi đã được “văn bản hóa” như trên có thể được trao đổi thông qua các buổi thuyết trình, thảo luận chuyên môn hoặc công bố trên các tập san, tạp chí. Gần đây, với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật số, giáo viên có thể ghi lại thực tiễn giáo dục bằng hình ảnh.

Cơ hội tiến hành các thực tiễn giáo dục ở Việt Nam

Ở Việt Nam, do nhiều yếu tố trong đó có sự tồn tại quá lâu của cơ chế “SGK quốc định” (một chương trình – một sách giáo khoa), các thực tiễn giáo dục với ý nghĩa như vừa phân tích ở trên gần như không tồn tại. Sự giống nhau từ nội dung, phương pháp đến tài liệu giảng dạy, ngày giờ tiến hành của các bài học trên cả nước là biểu hiện cụ thể cho hiện thực đó. Nhận thức của giáo viên về thực tiễn giáo dục và vai trò chủ động, sáng tạo khi tiến hành các thực tiễn giáo dục cũng là một vấn đề đang được đặt ra.

Tuy nhiên, bằng việc chấp nhận cơ chế “một chương trình – nhiều sách giáo khoa” trong cuộc cải cách giáo dục đang tiến hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên tiến hành các thực tiễn giáo dục. Đây là “cơ hội vàng” cho các giáo viên ở hiện trường giáo dục thực thi và tổng kết các thực tiễn. Các thực tiễn giáo dục sẽ trở thành chủ đề của các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc được công bố trên các tạp chí có liên quan. Các blog cá nhân của giáo viên hay website của các trường phổ thông cũng có thể là nơi công bố các thực tiễn giáo dục. Sự phong phú của các thực tiễn giáo dục sẽ tạo ra sinh khí cho các trường học và đem đến niềm vui cho cả giáo viên và học sinh. Bằng việc tiến hành hàng ngàn, hàng vạn các thực tiễn giáo dục trên cả nước, cải cách giáo dục từ dưới lên nhất định sẽ thành công, góp phần tạo ra những người công dân mơ ước có tư duy độc lập và tinh thần tự do.

Thực tiễn từ Nhật Bản

Ở Nhật Bản, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhà nước thực hiện chế độ kiểm định SGK thay cho chế độ quốc định đã trở nên lỗi thời, như vậy có nghĩa là có nhiều bộ SGK cho các trường lựa chọn. Giáo viên có thể dạy bám sát nội dung SGK hoặc cấu trúc lại, tự mình thiết kế nên một nội dung riêng phù hợp với mục tiêu, nội dung cơ bản đề ra trong “Bản hướng dẫn giảng dạy”. Đây gọi là quyền tự do thực tiễn giáo dục và quyền này được đảm bảo bằng Hiến pháp (ban hành năm 1947) và các bộ luật giáo dục như Luật Giáo dục cơ bản, Luật Giáo dục trường học, Luật Giáo dục nghĩa vụ…

Để minh họa cho mối quan hệ giữa chương trình – SGK và thực tiễn giáo dục của giáo viên ở Nhật Bản, tôi xin dẫn ra một ví dụ cụ thể mà tôi được chứng kiến một vài công đoạn, do cô Kawasaki ở Trường tiểu học Hiyoshidai (TP Takatsuki, phủ Osaka) tiến hành. Thực tiễn giáo dục này được cô Kawasaki đặt tên là “Hai nông gia chuyên nghiệp: ông Fujita và ông Naito”.

Để thực hiện loạt giờ học về chủ đề nói trên, cô Kawasaki đã đi điều tra thực tế, thu thập thông tin và phỏng vấn một nông gia nổi tiếng trong vùng là ông Naito. Cô phát hiện ra điểm mấu chốt là 10 năm trước, ông dùng thuốc bảo vệ thực vật nhưng rồi sau vụ ngộ độc thuốc trừ sâu, ông suy nghĩ và đi đến quyết định không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất nữa. Cô Kawasaki đã sử dụng bước ngoặt này như điểm nhấn quan trọng trong nội dung giáo dục mà cô thiết kế, gồm hai phần chính:

Phần 1. Thực phẩm và thuốc bảo vệ thực vật

(Trước đó, cô Kawasaki đã hướng dẫn học sinh tiến hành hoạt động ngoại khóa, điều tra thu thập thông tin mua bán thực phẩm, sản xuất nông nghiệp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở xung quanh nơi các em sinh sống). Phần này gồm bốn tiết học, mỗi tiết kéo dài 45 phút với các nội dung cụ thể như sau:

Tiết 1: Bắp cải đẹp và bắp cải bị sâu cắn: Nếu là người mua em sẽ chọn cái nào? Tiết 2: Chúng ta thường mua thực phẩm ở đâu?

Tiết 3: Chúng ta cần chú ý điều gì đối với thực phẩm?

Tiết 4: Nông dược là gì?

Phần 2. Nông gia vùng Tainaka: ông Naito và ông Fujita.

Phần này được tiến hành qua bảy tiết học với nội dung cụ thể như sau:

Tiết 1: Tainaka là vùng nào?

Tiết 2-3-4: Ông Fujita (dùng thuốc bảo vệ thực vật) và ông Naito (không dùng thuốc bảo vệ thực vật): Nếu là người sản xuất em chọn làm theo cách của ông nào?

Tiết 5-6: Nghe ông Naito kể chuyện.

Tiết 7: Suy nghĩ của các em sau câu chuyện kể (cho học sinh viết tiểu luận).

Những thông tin giáo viên thu thập được như: Tình hình sản xuất, khó khăn, niềm hạnh phúc, thu nhập bình quân hằng năm của nông gia… được giáo viên chỉnh lí cho dễ hiểu và in dưới dạng tài liệu phân phát cho học sinh.

Thí dụ nêu trên thể hiện rất rõ vai trò của giáo viên trong việc xử lí mối quan hệ giữa SGK – nội dung chương trình và thực tiễn dạy học của giáo viên.

Nước Nhật từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã giải bài toán giáo dục tương đối thành công bằng cuộc cải cách giáo dục triệt để, toàn diện, có triết lí và lộ trình rõ ràng, trong đó, các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông đóng một vai trò vô cùng to lớn. Họ không đơn thuần là người thực hiện những chỉ dẫn cải cách mang tính hành chính từ Bộ Giáo dục mà bằng thực tiễn giáo dục phong phú, sáng tạo tương ứng với điều kiện cụ thể của từng trường học, lớp học, học sinh, họ đã tạo ra cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên bằng muôn nghìn dòng chảy.

Nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”?

December 29, 2014 Leave a comment

Dùng internet cũng giống như mở thêm một đôi mắt để quan sát thế giới. Một thế giới  không kém thậm chí phong phú hơn thế giới nhìn bằng đôi mắt thường hàng ngày.

Trước một sự kiện, hiện tượng xã hội những thành viên của hai thế giới đều thể hiện sự “nhận thức” và “giải thích” của mình. Công việc này xét ở nghĩa rộng khá giống công việc của nhà sử học.

Nếu phân loại những người “nhận thức” và “giải thích” ở diện rộng có thể chia thành hai loại: “đại chúng” và “nhà chuyên môn”.

Trong nhiều trường hợp “nhận thức” và “giải thích” của giới chuyên môn trùng khớp với “nhận thức” và “giải thích” của đa số công chúng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp phần trùng khớp rất ít thậm chí đối lập hoàn toàn. Trong trường hợp ấy, nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”?

Tình cảnh nước Nhật năm 2011 trong cơn bão những tin đồn thật giả lẫn lộn về sự cố hạt nhân ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima là một ví dụ.
Ở Nhật Bản cũng như những nước phát triển khác, trong các trường hợp đó các phương tiện truyền thông trong khi phản ánh trung thực tình cảnh và tình cảm của dân chúng cũng tiến hành song song việc phỏng vấn các nhà chuyên môn để họ thể hiện “nhận thức” và “giải thích”.Trong tư cách nhà chuyên môn, “sự nhận thức” và “giải thích” của họ sẽ không lung lay hay chiều theo đại chúng.

Ở những nước có dân trí cao thì khoảng cách về “nhận thức” và “giải thích” giữa giới chuyên môn và đại chúng càng hẹp và ngược lại.

Khi nhận thức của đại chúng khác nhà chuyên môn, nhà chuyên môn sẽ không khỏi cảm thấy cô độc. Nhưng đó cũng là hệ quả do chính nhà chuyên môn tạo ra-nhà chuyên môn đã không thành công trong việc đưa tới đại chúng những kết quả nghiên cứu của mình để chuyển hóa  chúng thành tri thức phổ quát.

Muốn quá trình chuyển hóa này diễn ra thuận lợi thông thường sẽ cần hai loại nhà chuyên môn.

Thứ nhất là nhà chuyên môn loại một: nghiên cứu chuyên sâu tìm ra những cái “mới ngay cả với giới chuyên môn”. Sản phẩm của họ là các bài báo khoa học hay sách chuyên ngành dành cho giới chuyên môn.

Thứ hai là nhà chuyên môn loại hai: chuyên tâm cơ cấu lại và chuyển hóa thành tựu của nhà chuyên môn loại một đến công chúng. Sản phẩm của giới này là các cuốn sách có tính chất “khai sáng”, các bài báo “có tính chất phổ thông”, các buổi diễn thuyết, bài giảng “mở” dành cho đại chúng.

Trong nhiều trường hợp, có nhà chuyên môn sẽ làm cả hai công việc trên như một nhà khoa học toàn năng. Những nhà khoa học dạng này thường được công chúng biết đến nhiều và  được yêu mến.

Dông dài để rồi quay lại Việt Nam. Ở Việt Nam, trước rất nhiều sự kiện, hiện tượng, các “nhận thức” và “giải thích” xuất hiện trên sách vở, truyền thông hoàn toàn là của “đại chúng”. Trong nhiều trường hợp khác “nhận thức” và “giải thích” của các “nhà chuyên môn” hoàn toàn bị cuốn theo “đại chúng”.

Tình trạng ấy thể hiện sự thiếu hụt của cả hai loại nhà chuyên môn đã nói ở trên.

Ở Việt Nam cũng có thói quen hay “đổ tại” “dân trí thấp”. Đấy là một thực tế khó phủ nhận.Nhưng rõ ràng sẽ là bất công và hiện thực “dân trí thấp” sẽ không bao giờ thay đổi khi giới chuyên môn không “nhận thức” và “giải thích” rằng hiện tượng đó một phần thuộc về trách nhiệm của chính mình.

Nguyễn Quốc Vương

TRUYỆN CỔ TÍCH HIỆN ĐẠI Ở NƯỚC MĨ

April 13, 2014 Leave a comment

 

Giả sử như bạn nhặt được ví, bạn sẽ làm gì? Chắc chắn sẽ có nhiều người mang nó đến đồn cảnh sát. Trong số những người đó cũng có thể có người sẽ kiểm tra bên trong ví để tìm kiếm địa chỉ của chủ nhân. Trong trường hợp nào cũng vậy, có thể thấy người mất ví khổ sở thế nào.

Ở nước Mĩ  một người đàn ông trả lại chiếc ví nhặt được với một trái tim rất tinh tế đang trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi. Người đàn ông này khi nhặt được chiếc ví của một nam sinh Trung học phổ thông đã bỏ thêm tiền vào đó kèm lời nhắn và gửi tới trường học.

Christhian Reyes chủ nhân chiếc ví

Christhian Reyes chủ nhân chiếc ví

Làm rõ chủ nhân là ai nhờ thẻ học sinh

 Người đàn ông giấu tên đã xem trận bóng chày khai mạc ở Florida (Mĩ) và nhặt được ví ở đó. Nhờ thẻ học sinh bên trong ví mà anh biết được địa chỉ của người mất có tên Cristhian Ryes.

 

20 đô la và lời nhắn

 

Chiếc ví được gửi tới văn phòng cùng lời yêu cầu: “có học sinh đã nhặt được chiếc ví. Làm ơn hãy chuyển chiếc ví tới tận tay chủ nhân”. Trên thực tế trong chiếc ví người đàn ông đã bỏ vào đó thêm 20 đô la cùng lời nhắn dưới đây:
“Anh đã bỏ thêm vào ví 20 đô la để muốn em nghĩ rằng thế giới này thật là tuyệt diệu. Nếu em nghĩ em là người may mắn, anh mong em hãy làm cho người khác cũng nghĩ như em”.

reyes2

Hãy giúp đỡ ai đó

Chắc chắn người học sinh đánh rơi ví đã từng rất thất vọng. Cũng có thể cậu ta đã từng rơi vào tuyệt vọng. Hành động bỏ thêm tiền vào ví của người đàn ông là nhằm đưa người học sinh ra khỏi cảm giác đó và muốn cậu giúp đỡ những người khác có thể đang tuyệt vọng.

 

Trở thành tài sản chung của trường

Sau khi biết rõ sự việc, hiệu trưởng đã chụp ảnh lời nhắn và chia sẻ cho các đồng nghiệp khác trong trường. Cũng có thể có người nghĩ rằng: “may quá mình nhặt được ví!”. Nhưng đó là vật của người khác và chắc chắn người mất nó thì đang khốn khổ. Bởi thế, người đàn ông đã chú ý thật tinh tế tới điều đó và muốn chuyển đi sự tuyệt diệu của thế giới này là một người có trái tim vô cùng giàu có. Nghe nói cậu học sinh Reyes cũng đã thề sẽ hành động theo lời nhắn ấy.

Nguyễn Quốc Vương dịch 

Nguồn: http://rocketnews24.com/2014/04/13/431740/

 

Song for Peace KITARO

January 9, 2014 Leave a comment

Mời các bạn thưởng thức bạn nhạc tuyệt vời này.

Categories: Nhìn ra thế giới

Một vài Topoi trong việc chép sử biên giới thời Minh và sự liên quan mang tính hiện đại của nó (3)

October 7, 2013 Leave a comment

Tác giả: Geoff  Wade

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Một lần nữa chúng ta thấy lãnh thổ không phải là Trung Quốc trở thành một phần của chính thể Trung Hoa thông qua nhà nước nhân từ phù hợp với ước vọng của mọi người. Sự sáp nhập đều đặn này của các chính thể phi Trung Hoa vào bên trong nhà nước Trung Quốc do đó được phản ánh trong các tác phẩm sử học chính thống như là quá trình tự nhiên của việc mở rộng trật tự Trung Hoa, với toàn bộ quá trình có hiệu lực đối với các độc giả tương lai của lịch sử Trung Hoa bằng các topoi được ghi chép khắp tác phẩm. Mỗi lần một vùng được tuyên bố được đặt dưới sự cai trị của Trung Quốc, ở đó tồn tại lý do cho việc “phục hồi” sự cai trị của Trung Quốc đối với vùng đó ở bất cứ thời gian nào trong tương lai.

III. Topoi liên quan tới các hành động của Trung Quốc chống lại những người không phải là người Trung Hoa.

Những Topoi phong phú được đề cập ở trên được sử dụng không chỉ trong việc miêu tả phân biệt người Trung Quốc và những người không phải là người Trung Quốc mà còn tham gia vào việc làm cho những hành động của người Trung Quốc chống lại những người không phải là người Trung Quốc có hiệu lực pháp lý. Họ đã sử dụng chúng để miêu tả những hành động đó như thế nào? Sự sáp nhập lãnh thỗ dưới hệ thốn tusi (tự trị) đã được miêu tả ở trên và những ví dụ tiêu biểu khác sẽ đáp ứng đủ sự minh hóa về việc sử dụng tổng hợp các topoi này.

1. Sự chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh.

Sự xâm lược và chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh diễn ra vào những năm 1830 được giới thiệu trong các cuốn sử của triều đình như là kết quả của việc Minh Thành tổ quan tâm tới hòa bình. Hoàng đế làm cho có hiệu lực sự chiếm giữ những vùng này nói “lãnh thổ của Vân Nam đã là của chúng ta. Nó có thể bị nghĩ rằng nó được lấy bởi quân đội. Không phải vậy. Hoàng tử Liang, người là cháu của hoàng đế Vân Nam Shizu, đã tuyên bố mình như là hậu duệ của triều đình Vân Nam, đã cung cấp nơi ẩn náu cho các tội phạm của chúng ta, tiếp nhận sự chạy trốn của chúng và cám dỗ những binh lính canh giữ biên giới của chúng ta”. Do đó, không có cách nào khác là phái quân đội tới để trừng phạt hắn”.[1]

Như là kết quả của cuộc xâm lược bằng quân đội, phần lớn Vân nam bị cưỡng bức sáp nhập vào nhà nước Trung Quốc. Như nhiều ví dụ khác trong lịch sử Trung Quốc, sự đúng đắn của Hoàng đế ở mức độ nào đó nằm ở việc đoạt được lãnh thổ. Hành động quân sự này được miêu tả trong MSL như là “bình định” Vân Nam và khái niệm này tiếp tục được sử dụng trong các học giả Trung Quốc cho tới tận ngày nay để miêu tả việc nhà Minh chiếm đóng Vân Nam.

2. Sự xâm lược Đại Việt của nhà Minh vào năm 1406.

Trong việc thực thi xâm lược Đại Việt, hoàng đế Trung Hoa Vĩnh Lạc đã viện dẫn những hành động của người Việt là Hồ Quý Ly, phát biểu những điều sau làm lý do để phái  các tướng đem quân MInh đánh Việt Nam: “ông ta đã áp bức mọi người trong đất nước và mọi người căm ghét ông ta tới tận xương tủy. Tinh thần của Trời và Đất không thể tha thứ cho điều này. Ta kính cẩn tiếp nhận sự ủy thác của Trời và đối xử với mọi người khắp chốn như là con cái. Ta thề sẽ chỉnh đốn tình trạng này. Ta đặc phái các ngươi dẫn quân tới an ủi mọi người và trừng phạt những người đã nổi loạn. Những người An Nam tất cả đều là con ta. Giờ đây họ đang ở trong tình trạng vô phương cứu chữa như treo ngược. Các ngươi tới đó là để giải thoát họ khỏi phải chịu đựng và các người phải không được chậm trễ”.[2]

Vì vậy, một nỗ lực của hoàng đế  tiếm quyền Vĩnh Lạc để củng cố vị trí hoàng đế của mình, bằng việc tấn công và sáp nhập chính thể Đại Việt, đã được giới thiệu trong sử Trung Hoa thông qua các topoi thông thường như là hành động nhân từ và quan tâm của hoàng đế trong vai trò là người cha chống lại sự áp bức.

Tiếp theo, khi đọc những gì có được khi người Trung Hoa xâm lược Đại Việt, hoàng đế Vĩnh Lạc đã chê bai sự ngụ ý rằng cuộc viễn chinh mà ông ra lệnh vào Đại Việt  là nhằm đạt được thứ gì đó. Hơn thế, ông giải thích : “Ta là chúa tể của hạ giới. Tại sao ta lại phải tỏ ra hiếu chiến để có được đất đai và thần dân? Mối quan tâm của ta là những kẻ cướp nổi loạn phải bị trừng phạt và sự chịu đựng của mọi người phải được giảm bớt”.[3] Sự chối bỏ những hành động quân sự chống lại những người không phải là người Trung Quốc này được dành cho sự mở rộng của cá nhân hay nhà nước là sự topo được tiếp tục trong các tác phẩm sử học Trung Quốc.

Thậm chí khi người Trung Quốc bị đuổi khỏi Việt Nam vào cuối những năm 1420, hoàng đế Xuande giải thích tình hình như sau: “Trời nuôi dưỡng nhân từ tối thượng và đáp ứng mong ước của mọi người. Hoàng đế thay mặt trời và cai trị thuận theo ước muốn của mọi người”. [4] Do đó Topoi về lòng nhân từ và công bằng cung cấp hiệu lực mang tính đạo đức cho bất cứ hành động nào của nhà nước Trung Quốc. Bất chấp đó là xâm lược hay rút lui, là tiên phong hay buộc phải làm như vậy, nó trình diễn như thể là điều nhân từ và công bằng thay mặt cho tất cả mọi người.

3. Các cuộc hành trình do hoạn quan chỉ huy trong đầu thế kỉ 15.

Các cuộc hành trình nổi tiếng do các viên hoạn quan chỉ huy bao hồng Trịnh Hòa, Hou xian và Zhang Qian tới Đông Nam Á và bờ tây của biển Ấn Độ cũng được miêu tả trong MSL như các cuộc hành trình mang tới Trung Quốc các vị vua và sứ thần nước nogaif để “bày tỏ lòng biết ơn đối với ân huệ của Hoàng đế”[5]. Nhưng, quy mô của lực lượng quân đội được phái đi cùng các chuyến đi này, thực tế rằng những lực lượng này được ban thưởng ở cùng mức độ như các đội quân đã xâm lược Đại Việt và thực tế rằng các vua địa phương “ngoan cố” ở Đông Nam Á và Ấn Độ Dương, như các vua ở Samudra và Sri Lanka đã bị đưa tới Trung Quốc rồi bị xử tử hoặc bị thay thế[6], đã gợi ý một sự thực khác xa những gì được phản ánh bởi các topoi vể “Trật tự Trung Hoa” và hệ thống triều cống. Bằng chứng mà ít nhất một trong những chức năng của các chuyến hành trình này là hăm dọa bằng vũ lực đối với các chính thể nước ngoài có thể được thấy rõ từ sự đe dọa được tạo ra bởi hoàng đế nhà Minh là Vĩnh Lạc đối với vua Naluota của Ava vào năm 1409, hoàng đế tuyên bố nếu như vua Ava không thay đổi ông ta sẽ bị lực lượng Mubang (Hsienwi) tấn công trên đất liền và lực lượng Trung Hoa tấn công trên biển.[7]

4. Sự xâm lược của Trung Quốc và Sự sụp đổ của Luchuan trong những năm 1430 và 1440.

Có lẽ chính thể lớn nhất bị phá hủy bởi nhà Minh Trung Quốc là chính thể Tai Mao được biết đến đối với người Trung Hoa dưới cái tên Luchuan, thứ tồn tại cho đến tận giữa thế kỉ 15, trải rộng phần lớn vùng lãnh thổ ngày nay là phía tây Vân Nam và phía bắc Burma. Nó thông qua ba cuộc viễn chinh quân sự lớn do nhà Minh tiến hành mà sức mạnh của chính thể này đã bị suy sụp và lãnh thổ của nó bị chia thành các thực thể mềm yếu và phụ thuộc hơn. Trong những năm 1440, hoàng đế Zhengtong đã khuyên vua Tai mao là Si Renfa rằng “ tha thứ cho những tội ác của ngươi chắc chắn sẽ làm Trời và Đất nổi giận” và sau đó cảnh báo rằng “Nếu ngươi không tuân theo ý chỉ của ta, không nghe theo lời ta và dám dẫn quân chống lại quân của triều đình, quân đội ta sẽ quyết tiến và lúc đó sẽ không có lối nào cho ngươi tránh khỏi bị đập tan  thành cát bụi”[8]. Do đó, một lần nữa ý chí của hoàng đế Trung Quốc, như là đại diện cho Trời, là nhân tố quan trọng nhất, và bất cứ ai không tuân theo nó sẽ chuốc lấy tai ương. Tiếp  theo sau khi lệnh cho quân đội nhà Minh đánh Si Renfa, lời lẽ của hoàng đế được ghi nhận như sau: “Gần đây, Si Renfa, tên cướp ngoan cố của Luchuan, đã nổi loạn và đi trệch ra ngoài chính nghĩa. Hắn ta đã xâm lược các lãnh thổ láng giềng và lấy đi người cùng vật nuôi. Ban đầu, ta không chịu được việc phái quân tới đánh hắn ta. Tuy nhiên bất chấp việc gửi tới hắn ta những mệnh lệnh được lặp đi lặp lại để bình định và chỉ bảo, hắn ta vẫn khăng khăng ngoan cố. Trái tim tham lam của hắn chưa thỏa mãn và hắn muốn nuốt tất cả các ngươi. Đây là điều đất và trời không thể nào chấp nhận và ta đã ra lệnh cho đô đốc địa phương dẫn quân tới trừ bỏ hắn ta”.[9] Sự phá hủy tiếp theo đối với một chính thể láng giềng do nhà Minh Trung Quốc tiến hành là trái ngược với những gì được giới thiệu trong các bộ sử như là trừng phạt kẻ cướp do hoàng đế tiến hành, do mối quan tâm của trời đất và hoàng đế không có lựa chọn nào khác là phái quân đội tới chống lại kẻ làm điều tàn ác. Tất cả những ví dụ này đều có chung một đặc điểm là trong khi topoi gợi ý hành động đúng đắn hoàng đế hào hiệp, cao thượng được trời trợ giúp, đằng sau nghệ thuật tu từ lại ẩn chứa mục đích chính trị trong việc loại bỏ các kẻ địch tiềm tàng hay sáp nhập lãnh thổ vào nhà nước Trung Hoa. Chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm chứng điều đó ở phần tiếp theo.

IV. Vai trò của Topoi trong viết sử Trung Hoa.

Mỗi một Topoi được đề cập đã có một chức năng tương đối riêng biệt và tất cả có vai trò xác định trong việc tạo nên hiệu lực hay cung cấp một lý do cho các hành động do nhà nước Trung Quốc tiến hành và duy trì tư tưởng nào đó về nhà nước Trung Quốc đối với những tộc người xung quanh nó.

“Hoàng đế là người thay mặt trời” rõ ràng cung cấp cái cớ cho bất cứ hành động nào của hoàng đế Trung Hoa, bởi vì tất cả các hành động đều được mặc nhiên thừa nhận. Như được đề cập ở trên khi vua Shinghalese bị bắt và bị đem trở lại Trung Quốc bởi quân đội của Trịnh Hòa vào năm 1411, nó được ghi trong MSL rằng “Trời đã ghét cay ghét đắng tội ác của hắn ta và giúp bắt sống hắn”.[10]

“Hoàng đế như là người bảo hộ sự sống”, “hoàng đế là con người công bằng” và “hoàng đế như là cha”, như các tác phẩm sử học ghi lại đã ngăn chặn các hoạt động gây hại cho thần dân dù là ở trong hay ngoài biên giới Trung Quốc. Do đó hành động của hoàng đế luôn công bằng chính trực. “Hoàng đế là người duy trì hòa bình” mặt khác lại đưa ra sự quan tâm có tính đạo đức của hoàng đế đối với tất cả mọi người, với hoàng đế Vĩnh Lạc người đã mang điều này tới đỉnh cao và đã có lần tuyên bố “cho dù chỉ là một người mất nơi ở, ta cũng không yên”[11]. Mặt khác, tư tưởng về một hoàng đế có bổn phận hành động như là trung gian và duy trì hòa bình nhiều hơn ngụ ý rằng nhà nước Trung Quốc phải làm như thế. Đỏi lại một quyền như thê cung cấp một lý do cho bất cứ hành động nào thứ được mô tả trong các văn bản Trung Hoa như là thứ nhằm mục đích duy trì hòa bình  hay trừng phạt kẻ ác, bao gồm các hoạt động quân sự chống lại những tộc người xung quanh Trung Quốc. Quyền này được xác nhận thêm bởi sự sở hữu sức mạnh đức hạnh của hoàng đế.

Cái tốt thuộc về bản chất của Văn hóa Trung Quốc đã làm cho có hiệu lực (tất nhiên là chỉ trong các tác phẩm sử học truyền thống) các hành động của những người bên trong nền  văn hóa đó bất chấp sự hung ác hoặc các hành động cần thiết khác để đạt lấy mục đích cuối cùng. Topoi thứ được lợi dụng trong các tác phẩm sử học của nhà Minh để mô tả những người không phải là người Trung Quốc như những gì hoàn toàn không phải là người và chia sẻ một vài hoặc là không có đặc điểm nào đó của người văn minh đã cung cấp cái cớ sâu hơn cho những hành động chống lại họ, những hành động mà trái lại phải được coi là vô đạo đức và phi lý. Chiến thuật này đã được du nhập trong nhiều thời kỳ bởi nhiều xã hội đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh và đôi khi là cả trong thời bình để cho phép các chính thể mở rộng lãnh thổ hoặc đàn áp. Chiếu thuật được dùng để vượt qua sự mâu thuẫn thứ xảy ra khi tôn kính cuộc sống con người, thứ là đặc điểm của hầu hết các hệ thống đạo đức, đã mâu thuẫn với nhu cầu của chế độ muốn phế bỏ quyền lực hay loại bỏ quyền lực bên ngoài (và đôi khi thậm chí là ở bên trong) xã hội.

Sự giới thiệu hệ thống triều cống ở trong các tác phẩm sử học, thông qua việc dùng vô số các Topoi miêu tả một “trật tự tự nhiên” giữa các chính thể, với vị trí của Trung Quốc ở đỉnh chóp, một lần nữa cung cấp bối cảnh hữu hiệu cho bất cứ hành động nào mà nhà nước Trung Quốc lựa chọn để theo đuổi chống lại các chính thể phụ thuộc. Sự thất bại của An Nam trong việc triều cống Trung Quốc trong 20 năm vào đầu thế kỉ 16 đã được sử dụng như là cái cớ để Trung Quốc lập kế hoạch xâm lược bằng quân sự vào quốc gia này.[12]Các hành động quân sự được tiến hành bởi Trịnh Hòa ở Java, Samudra và Sri Lanka cũng được hiệu lực hóa trong MSL thông qua các topoi của hệ thống triều cống. Liên quan đến các chính thể dọc theo biên giới Trung Quốc, các topoi về tính chất trội hơn của người Trung Quốc đã hữu hiệu hóa sự đòi hỏi quá đáng của nền kinh tế Trung Quốc được gọi là chaifayin hay “thuế bạc”, và sau đó là các thứ thuế chính thống hơn đối với các chính thể giữ lại được vua của mình. Do đó trong khi nó thực sự là sức mạnh của quân đội Trung Quốc và sự đe dọa bằng quân sự trả đũa những ai cho phép nhà nước Trung Quốc đưa ra yêu cầu và thu thuế từ các chính thể biên giới, sự mô tả về mối quan hệ trong các tác phẩm sử học Trung Hoa gợi ý rằng có một nghĩa vụ tự nhiên đối với bất cứ chính thể nào mà Trung Quốc quyết định trong sự thực thi pháp lý của mình, thực thi triều cống đối với triều đình. Người ta có thể quan sát  sự tương đương rất gần –hầu hết là sự tiếp nối trực tiếp- giữa nghệ thuật tu từ của nhà Minh Trung Quốc trong khía cạnh này và sự tu từ trong chủ nghĩa xã hội Trung Quốc hiện đại. Nghệ thuật tu từ của nhà Minh do đó hoàng đế tuyên bố là đối xử với tất cả nhân từ và công bằng đóng chứng năng ở hai cấp độ. Thứ nhất nó cung cấp một sự hữu hiệu về mặt lý thuyết đối với sự cai trị nói chung của hoàng đế/bộ máy cai trị Trung Hoa và thứ hai nó ngăn ngừa hữu hiệu bất kì nỗ lực nổi loạn nào chống lại hoặc đẩy lực lượng Trung Hoa ra khỏi vùng nó đã chiếm đóng. Nghệ thuật tu từ của CHDCND Trung Hoa đóng chức năng tương tự ở cả hai cấp độ này. Sẽ là thích hợp khi cuối cùng chúng ta nhìn lướt qua xem topoi truyền thống đã có ảnh hưởng đến việc nghĩ và viết như thế nào ở Trung Quốc hiện đại.

V. Ảnh hưởng của topoi viết sử truyền thống trong Trung Quốc hiện đại.

Trong việc viết sử truyền thống của nhà nước Trung Quốc, hoàng đế, người nắm giữ quyền quyết định cuối cùng, chiếm giữ địa vị chủ yếu được miêu tả như là có lòng nhân từ cao cả trong bất cứ trường hợp nào và là người tuyệt vời. Cùng  với các topoi được ghi lại, điều này có nghĩa rằng, như đã đề cập ở trên,  trong viết sử luôn luôn có lý do đạo đức cho bất cứ hành động nào chống lại những người không phải là người Trung Quốc. Do đó, tất cả các hành động do nhà nước Trung Quốc bảo trợ chống lại những người không phải là người Trung Quốc xuyên suốt lịch sử là có giá trị và đúng.

Thế giới quan và năng lực tri giác thứ mà sự viết lách như vậy tạo ra đã tạo ra và duy trì giữa những người Trung Quốc đã không chết cùng với đế chế Trung Quốc. Chúng đã được thừa hưởng và tiếp tục được tuyên truyền bởi các nhà giáo dục, các chính trị gia và các nhà sử học trong phần lớn cộng đồng xã hội Trung Quốc hôm nay. Sử dụng bốn bằng chứng lịch sử dưới đây được trích dẫn trong bần II chúng tôi có thể cung cấp một vài ví dụ soi rọi việc nghệ thuật tu từ truyền thống đã tiếp tục được sử dụng như thế nào trong việc viết sử của người Trung Quốc hôm nay.

1. Sự chiếm đóng Vân Nam của nhà Minh.

You Zhong, một trong những sử gia truyền thống nổi bật nhất của Vân Nam hiện đại đã mô tả trong một tác phẩm gần đây về việc hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã cố gắng bình định hòa bình cho tới khi ông ta không có lựa chọn nào mà phải “phái quân đội tới để bình định Vân Nam ở biên giới tây nam”[13]. Sự “cần thiết” của “bình định” bằng quân sự đã lặp lại, hầu như không thay đổi, từ ngữ của hoàng đế thái tổ nhà MInh đã được nhắc lại như trên.

2. Nhà Minh xâm lược Đại Việt năm 1406.

Trong một bài báo của Liao Xiaojian, được viết năm 1986, bài báo sử dụng rất nhiều nghệ thuật tu từ truyền thống trong việc bảo vệ sự xâm lược của người Trung Quốc vào Đại Việt Nam 1406, nó tuyên bố rằng cuộc viễn chinh của nhà Minh chống lại An Nam được tiến hành như là hình phạt (thảo phạt) An Nam vì đã phạm vào biên giới, đã lừa dối triều đình nhà Minh và phục kích vua bù nhìn nhà Minh phái sang An Nam. Cách gọi và sự lặp lại lý do cơ bản những gì có trong văn bản nhà Minh và Liao kết luận rằng “lý do triều Minh tấn công An Nam năm 1406 là không thể tách rời khỏi sự khiêu khích trước của An Nam”[14]. Ở đây một lần nữa  một học giả đương đại đã trích dẫn những lời tuyên bố của thế kỉ 15 mà không hề phê phán.

3. Các cuộc hành trình do hoạn quan chỉ huy vào đầu thế kỉ 15.

Trong những ví dụ khác, việc viết sử hiện đại, trong khi không nhắc lại những tên gọi cũ, đã bị tác động bởi các topoi được lợi dụng trong lịch sử truyền thống. Ví dụ như các sử gia Trung Quốc hiện đại đã tán dương các cuộc viễn chinh trên biển do các hoạn quan chỉ huy như là các chuyến đi vì tình bạn, thứ đã “lan truyền uy tín của nhà Minh”[15] và do đó “chính sách của Ming Chenzu nhằm mục đích đảm bảo rằng các quốc gia của Biển Nam và Biển Tây cùng hưởng hòa bình vĩ đại và đã đạt được thành công”.[16] Trong cảm hứng tán dương, Hong Huanchun nói “Vào đầu thời Minh, chính sách đối ngoại  hữu nghị và thân thiện được theo đuổi và trong sự phát triển của mối quan hệ hữu nghị và kinh tế với các nước của châu Á và châu Phi, các thành tựu chủ yếu đã được nhận ra. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Biển tây là một sản phẩm của chính sách đối ngoại thân thiện đầu thời Minh và chúng  là một trong những  sự kiện vĩ đại trong lịch sử hữu nghị Trung Quốc-nước ngoài”[17]. Bản chất hăm dọa của các chuyến đi này được đề cập ở trên đã bị lờ đi, chủ yếu như là kết quả của topoi trong việc viết sử của nhà MInh nhưng cũng một phần là kết quả của những đòi hỏi của chính trị Trung Quốc hiện đại.

4. Sự xâm lược và phá hủy của Trung Quốc đối với Luchuan năm 1430 và 1440.

Sự xâm lược và phá hủy của Trung Quốc đối với chính thể Tai Mao vào các năm 1430 và 1440 được mô tả bởi những người viết lịch sử Trung Quốc hiện đại như là “ba cuộc viễn chính chống lại Luchuan”.  Từ các tài liệu về các cuộc viễn chinh được viết bởi hai tác giả hiện đại, chúng ta lượm lặt  được vài ý tưởng về việc chúng được diễn tả như thế nào trong các tác phẩm sử học của CHDCND Trung Hoa ngày nay. Về vấn đề này Jiang Yingliang, một học giả nổi tiếng của Vân Nam viết “Từ thời Si Kefa nổi dậy, Luchuan liên tục bị hấp thụ lãnh thổ Trung Quốc và tạo ra sự kinh động. Sau đó nó xâm lược các nước láng giềng ở bốn phía, không chỉ mang thảm họa đến cho người của chính nó mà còn mang đến sự nguy hại nghiêm trọng đối với rất nhiều tộc người khác ở trong vùng. Ba cuộc chinh phạt lớn mà các vua nhà Minh tiến hành đánh Luchuan đã dẫn tới thảm họa chiến tranh lan rộng. Trong khi mục đích của chúng là  phô diễn sức mạnh của quân đội đối với các tộc người ở biên giới, thì kết quả khách quan lại đóng vai trò tích cực trong việc giải phóng những người ở biên giới khỏi sự túng quẫn, tăng cường mối liên hệ giữa vùng biên giới và vùng trung tâm, củng cố sự kiểm soát của nhà Minh đối với Vân Nam và thúc đẩy sự giao thiệp văn hóa, kinh tế giữa các vùng biên giới và đồng bằng trung tâm.”[18].

Trong An Outline of the History of China’s Ethnic Relations, những cuộc tấn công vào Luchuan được miêu tả như sau: “Dòng họ Si của Luchuan cố gắng thiết lập một thể chế ly khai và mở rộng ra bốn phương, tấn công các thành phố và chiếm đóng đất đai. Điều này gây hại lớn lao đối với các tộc người ở Vân Nam và nó làm nảy sinh sự đối lập với các đơn vị tự trị bản xứ xung quanh. Cho dù ba cuộc viễn chinh của nhà Minh lãng phí quá nhiều sinh mạng và nguồn lực vật chất, nó đã ổn định được tình hình Vân Nam và bảo vệ được sự thống nhất của đất nước”[19].

Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng những tác giả hiện đại, nếu không chấp nhận một cách không phê phán thì ít nhất cũng nhắc lại sự hiệu lực hóa các cuộc viễn chinh của nhà Minh, nhấn mạnh nỗi khổ của người dân, lờ đi sự chiếm đoạt của nhà Minh đối với lãnh thổ của chính thể Tai Mao vào  cuối thế kỉ 14, và xóa bỏ địa vị như là một chính thể độc lập của Luchuan. Tiếp nối truyền thống tu từ “trừng phạt kẻ cướp” và dưới tấm khẩu hiệu hiện đại “đảm bảo sự thống nhất quốc gia”, những hành động của nhà Minh đã ngay lập tức được hiệu lực hóa mà không hề bị phê phán. Thậm chí ngày nay, trong việc miêu tả rất nhiều các sự kiện trong đối ngoại đương đại, nhà nước Trung Quốc cũng lợi dụng nghệ thuật tu từ. Một ví dụ chúng ta có thể trích dẫn là việc Trung Quốc tấn công Việt Nam năm 1979 được mô tả bởi nhà nước Trung Quốc như là một sự “trừng phạt”.

Sự minh họa sâu hơn về việc các tư tưởng này được tuyên truyền như thế nào được cung cấp vào đầu năm 1996 bởi Xu Xin, một cựu quan chức trong “Quân đội giải phóng nhân dân” và hiện là viện trưởng viên Nghiên cứu chiến lược quốc tế. Trong một bài báo bác bỏ luận điểm cho rằng Trung Quốc là mối đe dọa quân sự tiềm tàng đối với các nước trong khu vực, Tướng Xu viết: “những người có kiến thức về lịch sử Trung Quốc đặc biệt là lịch sử Trung Quốc hiện đại sẽ hiểu rằng dân tộc Trung Hoa là dân tộc yêu hòa bình và nước Trung Quốc là nước yêu hòa bình. Truyền thống ủng hộ hòa bình của dân tộc Trung Hoa đã có nguồn gốc lâu đời. Hơn hai nghìn năm trước, Khổng tử đã đưa ra tư tưởng rằng “duy trì mối quan hệ hòa thuận là đáng quý”. Sau triều Hán, những tư tưởng và lời dạy của Khổng tử trở thành triết học của tầng lớp trí thức Trung Quốc và chúng  đã chiếm vị trí dẫn đầu trong truyền thống văn hóa của dân tộc. Kể từ đó, hòa thuận với mọi người luôn luôn là quy tắc đạo đức đối với hậu duệ của Hoàng Đế, và duy trì mối quan hệ tốt với láng giềng là một phong tục đã ăn sâu vào tâm lý xã hội của người Trung Quốc”[20]

Tư tưởng  cho rằng Trung Quốc có thể đã thể hiện như là mối đe dọa hoặc có liên quan đến sự hiếu chiến chống lại các nhà nước khác  đã hầu như xúc phạm văn hóa Trung Quốc hầu như vẫn còn ở ngày hôm nay. Về mặt ngôn ngữ nó không cho phép Trung Quốc “xâm lược” hay “có hành động hiếu chiến” với nước khác. Trước  các cuộc tập trận được tiến hành ở eo biển Đài Loan bởi lực lượng vũ trang Trung Quốc đại lục đầu năm 1996, những người biểu tình ở Đài Loan đã giơ cao áp phích “Trung Quốc đang xâm lược Đài Loan”. Lời lẽ của những tấm áp phích như thế nhằm mục đích không chỉ nhắm vào những người cho rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc mà còn nhằm vào những người lớn lên và tin rằng  không thể có chuyện Trung Quốc có hành động hiếu chiến hay xâm lược nước khác. Trong khi nhà nước Trung Quốc luôn sẵn sàng cho việc chỉ trích người Nhật Bản vì họ đã mô tả trong các cuốn sách giáo khoa sự xâm lược của Nhật Bản đối với Trung Quốc đơn giản như là sự “tiến vào”, vẫn còn duy trì sự điều tra chút ít mang tính phê phán bên trong văn hóa Trung Quốc về chức năng đối lập của ngôn ngữ tương tự  bên trong lối viết đặc biệt là viết sử Trung Quốc. Cách xử sự ở đó Trung Quốc có được sự kiểm soát đối với các chính thể và cách chúng bị sáp nhập vào Trung Quốc thường được xếp vào   trong việc viết sử Trung Quốc hiện đại  dưới cụm từ “phát triển” hay “khai phá”. Có thể nói trong các tác phẩm như thế được biên soạn bởi Ma Ruheng và Ma Dazheng[21] và Lu Yiran[22],  đế chế Trung Quốc kế tiếp đã được miêu tả như là đã “khai phá”  các vùng biên giới  như Đài Loan, Tây Tạng, Xinjiang và Hải Nam với sự ngụ ý không chỉ những vùng này luôn là phần không thể tách rời của chính thể Trung Hoa mà các hành động đó luôn hợp pháp và hợp với sự phát triển tự nhiên của Trung Quốc. Có một sự thất bại hoàn toàn để định ra cơ cấu của sự bành trướng của Trung Quốc và sự hợp pháp hay trái lại của các lời tuyên bố của Trung Quốc đối với những lãnh thổ như thế. Một lần nữa đây là một phần của kết quả tu từ được thừa hưởng từ đế chế trong quá khứ. Trong mắt của các học giả đương đại, trong khi nhà nước Trung Quốc đã chắc chắn “bình định” được những vùng này , các chính thể “được ve vuốt”, các ông vua không phải người Trung Quốc “ngoan cố”, và những kẻ cướp bị “trừng phạt”, tất cả những hành động này được làm cho có hiệu lực bởi sự đúng đắn của nhà nước Trung Quốc hoặc mục đích tàn ác của những người không phải là người Trung Quốc.

Tuy nhiên, nếu người ta lờ đi những topoi hay chính xác hơn là coi chúng như những bằng chứng hiệu lực hóa nghệ thuật tu từ, hành động của các nhà nước Trung Quốc kế tiếp nhau đối với những tộc người không phải là người Trung Quốc là kém nhân từ , kém lý trí, khó chấp nhận và mang tính hiếu chiến, bành trướng. Nhưng sự tự phản ánh mang tính phê phán cần thiết đối với những câu hỏi sắc nhọn như thế không phải là phần chủ yếu của sử học Trung Quốc. Lu Xun sẽ nói rằng vẫn còn không thiếu những “người điên”. Sự thiếu vắng này một phần là kết quả của việc phê phán sử học truyền thống nhưng bắt nguồn từ nhu cầu cấp bách về chính trị của nhà nước Trung Quốc hiện đại.

VI. Kết luận

Chỉ bằng việc bắt đầu nhận ra các topoi và hình ảnh thứ được lợi dụng liên tục trong sử học Trung Quốc và thông qua sự công nhận như thế, với sự phân tích mang tính phê phán hơn các văn bản Trung Quốc thứ được dùng để tái tạo lịch sử Châu Á sẽ được dùng để tạo ra kịch bản lịch sử có giá trị hơn. Đặc biệt các quá trình ở đó đế chế Trung Quốc lớn mạnh từ  một vài nhà nước ở trung tâm sông Hoàng Hà trở thành chính thể chiếm một nửa châu Á cần được thẩm tra kĩ càng hơn. Quá trình sự lớn mạnh này đã bị che khuất đằng sau các topoi của sử học Trung Quốc. Các ví dụ tôi đã dẫn ra ở trên, phần lớn bắt nguồn từ một vương triều, chỉ liên quan đến vùng biên giới phía nam và được lấy ra hoàn toàn từ truyền thống viết sử chính thống. Những nghiên cứu sâu rộng hơn về các topoi như thế này khắp các vương triều, liên quan tới các vùng biên giới khác và lấy từ các phạm vi khác của sử học Trung Quốc sẽ cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về hình ảnh và nghệ thuật tu từ trong sử học Trung Quốc và sẽ ủng hộ trong việc giải thích tại sao các khái niệm ẩn trong topoi đã tồn tại từ lâu và tiếp tục tồn tại, như là ảnh hưởng đầy quyền lực  đối với sự nhận thức của người Trung Hoa về chính bản thân họ và các nước láng giềng.


[1] MSL, Taizu, j. 244, 2b-4a.

[2] MSL, Taizong, j. 56, 1b-3a.

[3] MSL, Taizong, j. 80, 3b-4a.

[4] MSL, Xuanzong, j. 33, 1a-b.

[5] MSL, Taizong, j. 108, 2b.

[6] Xem các tư liệu liên quân trong MSL, Taizong, j. 71, 1a, và J. 130, 1b-2a.

[7] MSL, Taizong, j. 94, 5a-b.

[8] MSL, Yingzong, j. 72, 6b-7a.

[9] MSL, Yingzong, j. 76, 7b-8a.

[10] MSL, Taizong, j. 130, 1b-2a.

[11] MSL, Taizong, j. 44, 5b-6b.

[12] MSL, Shizong, j. 193, 6b-7a.

[13] You Zhong, Yunnan Minzu shi (Kunming: Yunnan daxue chubanshe, 1994), p. 337.

[14] Liao Xiaojijan, “Lun 1406 nian Mingchao yu Annan Zanzheng de yuanyin”, Yinduzhina 1/1988, pp.11-15.

[15] Chen Jiarong, Zhongwai Jiaotong shi (Hong Kong: Xuejin Shudian, 1987), P.462.

[16] Cai Meibiao et al., Zhongguo tongshi, 10 vols. (Hong Kong: Sanlian Shudian, 1995), VIII, p. 87.

[17] Hong Huanchun, “Mingchu duiwai youhao guanxi yu Zheng He xia Xiyang”, trong Jinian weida hanghaijia Zheng He xia Xiyang 580 zhounian choubei weiyuahui (ed) Zheng He xia Xiyang lunwenji (Nanjing daxue chubanshe, 1985), II, p.148.

[18] Jiang Yingliang, Zhongguo minzu shi, 3 vols. (Beijing: Mizu chubanshe, 1990). III, p. 150.

[19] Weng Dujian (ed), Zhongguo minzu guanxi shi (Beijing: Zhongguo Shehui Kexue chubanshe, 1990) p. 649.

[20] Fang Zhi, “Daodi shui Weixie shui”, Liaowang 8-9 (19 February 1996), p. 48-49.

[21] Ma Ruheng and Ma Dazheng (eds). Qingdai bianjiang kaifa yanjiu (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1990).

[22] Lu Yiran et al. (eds), Zhongguo bianjiang shidi lunji (Harbin: Heilongjiang chubanshe, 1991).

%d bloggers like this: