Archive

Archive for the ‘Tản văn-ghi chép’ Category

Bồ công anh và những loài cây khác

April 11, 2016 Leave a comment

 

Ở Nhật tên các lớp trong trường mầm non rất đáng yêu. Thường thì đó là tên của các loài hoa hay các loài động vật.

Lớp của con trai tôi là “Tanpopo”. Tôi biết đấy là tên của một loài hoa nhưng không để ý xem nó là hoa gì và trong tiếng Việt gọi là gì. Cho đến một ngày có người hỏi và tôi lôi từ điển ra tra.

Hóa ra “Tanpopo” là “Bồ công anh”. Tên hoa trong tiếng Nhật viết bằng ba chữ Hán đúng như thế. Ở quê nhà, dọc triền đê và những bãi cỏ vào mùa xuân cũng ngợp hoa bồ công anh. Nhưng lúc nhỏ tôi không rõ đấy là hoa gì. Lúc chăn trâu hay tha thẩn chơi ngoài đồng, thi thoảng tôi lại vặt mấy nhánh hoa trắng này lên nghịch rồi thổi. Hoa có mùi thơm hăng hắc.

Ở Nhật có cả những loài hoa giống ở Việt Nam và cả những loài ở Việt Nam tôi chưa từng thấy. Cũng có cả những loài cây có hoa và không hoa ở quanh nhà tôi hồi tôi còn bé mà ở nước Nhật chưa thấy bao giờ.

Nào là cây mặt quỷ, cây trâm, cây bục, cây hò, cây rỉu, cây mủ điển, cây mủ đất, cây hò, cây đầu đũa, cây găng…

Bây giờ người đông, nhà cửa san sát làng như hẹp lại, bóng dáng những loài cây trên mất dần nhưng hồi tôi học tiểu học, quanh nhà và khắp làng chỗ nào cũng có.

Mỗi loài cây trên chỉ cần nhắc tên đã gọi về bao kỉ niệm.

Cây mặt quỷ có lá xanh thẫm quả sần sùi, xấu xí mọc lẫn trong những rặng xương rồng bao quanh vườn nhà. Quả lúc chín có màu vàng rồi chuyển sang màu đỏ. Thịt quả mềm nhưng không ăn được vì có vị đắng. Quả này bọn trẻ chúng tôi chỉ vặt xuống chơi chung đồ hàng hoặc ném nhau chơi trò trận giả.

Cây trâm là loài thân gỗ. Có cây cao đến 10-15 mét tỏa bóng um tùm. Ngay ở giữa quãng đường từ nhà tôi ra đầu làng ở ven rừng nhà ông Khanh có một cây như thế. Không hiểu sao loài ong bắp cày rất thích làm tổ trên cây trâm. Năm nào tôi và lũ trẻ con trong làng cũng phá một hai cái tổ ong bắp cày xây trên đó. Ong bắp cày vừa to vừa dữ. Chỉ cần nhìn thân hình đen bóng với những vết vằn đen, đỏ ánh lên dưới nắng là đủ biết. Thằng nào đen đủi bị ong đốt một phát có khi lăn ra ốm cả tuần. Chỗ bị đốt sưng lên rồi tím lại như bị thối. Đau thế, chứ đau nữa bọn trẻ nhà quê vẫn phá tổ ong. Vừa phá vừa đọc “Con ong vang đốt vàng con mắt/ong bù lỗ đốt cổ đau tay/ong bắp cày đốt nay mai chết”. Hoa cây trâm nở trắng rất thơm. Mỗi lần hoa nở đi qua hương thơm ngào ngạt và ong thì lượn vù vù. Quả trâm lúc chín màu đen ăn có vị vừa ngọt vừa cay. Ăn nhiều mồm miệng thâm đen hết cả.

Ở gần cây trâm và dọc ven rừng là vô số cây bục. Quả bục lớn cỡ đầu ngón tay, mọc thành từng chùm. Lúc chín chúng chuyển sang màu vàng, bên trong có hạt cứng. Quả bục ăn rất thơm và có vị gì đó đầy hoang dại. Nhưng lũ trẻ không dám ăn nhiều vì sợ…say. Chim chào mào có vẻ thích loại quả này. Mỗi buổi sáng quét sân, tôi lại quét được một xẻng nặng hạt quả xoan và quả bục ngay dưới tán gốc cây mít của nhà. Lũ chim chào mào đã tha quả về và ăn rả rích suốt đêm.

Ở dưới thấp ven rừng là những cây hò. Mặt sau lá cây hò có lớp lông mịn. Lũ trẻ nhà quê mặt mày nhôm nhếch đầy đất cát hay chơi trò chung đồ hàng. Món bánh và cháo thường được làm từ “bột” được chế bằng những chiếc lá cây hò đó. Bọn trẻ lấy đất, sỏi trên mặt đường làng lấp kín lên mặt sau chiếc lá hò sau đó rút chiếc lá ra. Một lớp bụi nhỏ li tin, mịn màng sẽ bám lại trên lớp lông của lá. Uốn cong chiếc lá hò lại thành phễu rồi búng bụi sẽ rớt xuống thành bột làm cháo.

Nhưng tôi không mấy khi chơi trò đó. Nó có vẻ là trò chơi của con gái.

Tôi thích chơi bắn súng với khẩu súng làm từ cây hóp chặt ở vườn nhà. Lớn lên tôi mới biết ở vùng quê khác gọi trò này là bắn “ống phốc”. Ở làng tôi cả trẻ con và người lớn đều gọi trò đó là chơi bắn “ống phóp” hay “ống hóp”. Đạn của súng thường là giấy nhai nát bằng nước bọt hoặc dấp ướt. Nhưng thích nhất là được bắn đạn làm bằng quả cây găng.

Cây găng có hai loại. Một loại có quả lớn tầm ngón tay cái lúc chín chuyển màu vàng. Cây găng loại này ít gai nhiều quả. Quả lúc chín căng mọng nhưng vô dụng vì không ăn được. Đến cả chim cũng chê không ăn. Quả xanh cũng không dùng làm đạn được vì quá lớn và dễ nát. Nhưng quả của loại cây găng còn lại thì tuyệt vời. Quả lúc xanh vỏ vừa dai vừa đàn hồi tốt lại có kích thước vừa với nòng súng. Bắn bằng loại đạn này rất thích. Tiếng nổ vang và nòng súng nhả “khói” như thể thứ vừa bắn ra là viên đạn thật.

Ở ngay trước cổng nhà tôi có một bụi cây găng ấy. Bụi găng nằm sát ngay cây nhặm cao vút thân mốc thếch. Xuống thấp dưới nữa là một dãy cây sau sau có lá hình ngôi sao.

Tôi thích cây nhặm vì đến mùa, hoa nhặm nở vàng thật thơm. Cánh hoa nhặm vừa giống hoa đại vừa giống hoa hồng. Mỗi lần ngóng mẹ về chợ về tôi vẫn thường trèo lên cây và ngồi trên đó.

Có lần về làng, tôi lẩn thẩn đi dọc con đường từ nhà đến đầu làng để tìm lại những loài cây xưa. Cả cây trâm, cây nhặm và hàng sau sau không còn. Những cây bục và cây mặt quỷ cũng biến mất. Cây hò chỉ còn lác đác. Lũ trẻ đi học về tò mỏ hỏi “chú tìm gì?”. Tôi đùa “tìm chú ngày xưa”. Lũ trẻ cười nhe hàm răng sún. Nhìn chúng đuổi nhau chạy trên con đường làng, tự nhiên không tránh khỏi ý nghĩ tuổi thơ giống như đường một chiều-chỉ có thể đi qua mà không thể quay đầu trở lại.

 

Nguyễn Quốc Vương 

Nhật Bản, 11/4/2016

Advertisements

Những người bạn thời thơ ấu

October 4, 2015 Leave a comment

Học hết học kì đầu tiên của lớp một thì tôi đọc thạo chữ. Tôi có thể cầm sách đọc to hoặc đọc thầm bằng mắt. Đọc bằng mắt khó hơn nên ở lớp tôi lúc ấy hình như chỉ có tôi làm được. Sau hai lần kiểm tra bằng cách cho tôi đọc thử truyện tranh, bố tôi khen “Được!”. Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao bố tôi là thầy giáo nhưng không hề dạy mấy chị em tôi học chữ hay học số trước khi vào lớp một. Có lẽ ông nghĩ là không cần thiết.
Nhưng vào lớp một rồi thì ngày nào bố cũng lật từng trang vở để xem tôi học gì và hỏi tôi học thế nào. Có bố học cùng vừa thích vừa sợ. Thích vì hỏi gì bố cũng biết còn sợ vì tôi viết chữ xấu, hay tẩy xóa bê bết và thi thoảng lại xé một hai trang giấy ở giữa vở đem gấp máy bay. Chỗ tờ giấy đôi bị giật đi thường để lại vài mảnh giấy dính vào hai cái ghim sắt ở giữa rất dễ bị phát hiện.

Lúc bố cáu gân cổ bạnh trông đến khiếp. Đến cả bà nội còn phải sợ!
Vẫn nhớ có một thời gian phải đến vài tuần tôi bị bố kèm sát và có lúc bị bố cáu đập tay xuống bàn sợ đến đái ra quần. Tất cả chỉ tại con số 3 chết tiệt. Không hiểu sao tôi không viết được số 3. Cứ viết, bố bảo sai, tôi xóa rồi lại viết. Cả một quyển vở ô ly dày đặc những số 3 xiên xẹo. Giá như là bây giờ thì tôi chỉ cần bảo với bố rằng “Con biết số đó là số 3 của bố và cô giáo nhưng số 3 của con nó khác”. Nhưng lúc đó thì tôi vừa khóc vừa viết mà không biết phải nói thế nào. Số ba nào tôi cũng viết úp ngược xuống dòng kẻ. Viết số 3 dựng đứng lên như mọi người rất dễ. Bố ngồi bên soi một lúc là tôi viết được ngay. Rất ngay ngắn nhưng bố chỉ lơ đi một cái là tôi lại viết số 3 nằm xuống. Bố cáu!

Đọc được chữ rồi tôi đâm mê đọc sách. Hết quyển này đến quyển khác. Lúc ấy muốn mua sách bố phải đạp xe đi xuống tận thị xã. Cuối mỗi học kì bố thường thưởng cho tôi một vài quyển sách. Lên lớp 2, mỗi tháng bố lại mua cho tôi một, hai tập truyện Tây Du ký. Truyện có cả phần chữ và phần tranh vẽ rất sống động. Hết lớp hai tôi có trong tay đủ bộ 28 tập Tây Du Ký và các tập 28a, 28b…kể tiếp chuyện thầy trò Đường Tăng sau khi thành Phật. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần đến thuộc lòng. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ được câu đầu tiên mở đầu tập một “Tương truyền ở Đông Thắng thần châu…”. Bố không cho mang sách của nhà đến lớp nên thi thoảng tôi lại dẫn mấy thằng bạn học cùng làng đến nhà đọc sách. Rất ít thằng thích đọc. Chúng chỉ thích xem tranh. Đến khi nhà ông Lành ở làng Bến có Tivi chiếu phim Tây Du ký chúng đi xem rồi bảo tôi “Tôn Ngộ Không trong truyện của mày chả giống tí nào”. Kể từ đó không đứa nào thèm đến nhà tôi đọc truyện nữa. Tôi không biết cãi lại thế nào dù trong lòng ấm ức. Chúng không đến nữa nên tôi đọc sách một mình.

Chỗ đọc sách yêu thích của tôi là khung cửa sổ nhà ngang ngay trước mặt bàn học của tôi. Khoảng không gian được tạo ra bởi bàn học và khung cửa sổ vừa đủ chỗ cho tôi nửa nằm nửa ngồi. Ở đó tôi đã đọc Truyện cổ tích Grim, truyện của Andersen, Robinson ngoài đảo hoang, Đảo giấu vàng, Tarzan con của rừng xanh, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Tuổi thơ dữ dội, Những vì sao đất nước…

Thấy tôi thích đọc sách bố mừng lắm. Thi thoảng vào lúc đan rổ rá hay chẻ lạt ở thềm bố lại gọi tôi đang chơi loanh quanh ở đấy lại kể cho bố nghe xem tôi đang đọc gì.

Sách hồi đó có vẻ hiếm. Ở lớp tôi học chẳng đứa nào có sách gì ngoài mấy cuốn sách giáo khoa bìa nhàu nát và lem nhem mực. Có lần vào chơi nhà cô giáo tôi cũng đưa mắt cố tìm nhưng không tìm thấy giá sách. Nhưng không hiểu sao nhà tôi lúc ấy lại có hai giá sách dài chật ních. Giá sách bố tự làm từ hai tấm ván được đặt trên những cái cọc được cắm vào tường. Giá ở phía trong gần phía bàn học của hai chị xếp những cuốn sách dày dành cho người lớn. Giá ở ngay trên đầu chỗ bàn học của tôi là sách dành cho trẻ em. Bố dặn thế. Nhưng tôi thì…đọc tuốt. Ban đầu thì đọc sách ở giá thấp gần bàn mình sau rồi lừa lúc hai chị không có trong nhà thì đặt ghế đẩu lên bàn lục lọi giá sách của hai chị. Sau vài lần thì bị chị cả phát hiện. Chị mách bố. Bố có mắng nhưng cũng qua loa. Nhưng chị thì thì cứ đay nghiến mãi. Suốt một thời gian dài tôi mang một câu hỏi không dám hỏi ai ở trong lòng “tại sao tôi chỉ đọc sách trên giá ở bàn chị mà chị lại tức giận đến thế?”. Mãi sau này khi đã biết để ý và thích một cô nàng tóc dài, học giỏi cùng lớp tôi mới hiểu. Chị cáu tôi không phải vì tôi dám cả gan đọc sách dành cho người lớn mà vì chị sợ lộ những lá thư tỏ tình của bọn con trai gửi tới được chị đọc và giấu trong các cuốn sách.

Chị cáu thì sợ nhưng tôi chỉ sợ lúc ấy mà thôi. Đơn giản vì chị không thể ở đó mà canh giữ tôi suốt cả ngày. Cứ vắng hai chị là tôi lại trèo lên lấy sách đọc. Có lẽ hết tiểu học tôi đã đọc hàng loạt những cuốn dành cho người lớn: Người mẹ, Bất Khuất, Hòn Đất, Trò chuyện về sinh thái học, Tuyển tập Tô Hoài, Thép đã tôi thế đấy, Mục đích cuộc sống, Đi về nơi hoang dã, Một nửa đàn ông là đàn bà… Và không chỉ đọc một lần. Có những quyển đọc không thấy hay như “Mục đích cuộc sống”, “Mạnh hơn nguyên tử”, “Trò chuyện về sinh thái học”.. nhưng vẫn đọc đi đọc lại trong lúc chờ bố mua cho sách mới.
Có một lần bố đi họp dưới thị xã lúc về không mua được sách nhưng mang về cho tôi một tờ họa báo Liên Xô. Bố bảo tờ báo này họ cho không. Tờ báo làm bằng giấy bóng in màu dày và rất nặng. Ở bìa là ảnh chụp hai ông Tây mũi lõ bắt tay nhau. Bố tôi cười bảo “Đấy là Goóc-ba-chốp và Ri-gân”. Tôi không ấn tượng với tờ bìa nhưng đến giờ vẫn nhớ một vài thứ được viết, vẽ ở trong. Một bức ảnh chụp một thằng bé con Liên Xô tóc hung uống nước úp cả cái cốc vào mặt. Một truyện ngắn kể về một lão trưởng ga ti tiện, quan liêu bị ong của nông trại đốt cho sưng mặt, một bài viết về tàu cánh ngầm của Liên Xô. Thích nhất là mẩu truyện tranh có cái tên rất kì quặc-“Củ mà cũng biết nói” kể về chuyện một bác nông dân ngốc nghếch ra đồng đào khoai thế nào vớ phải con khoai (củ) biết nói. Bác chạy bán sống bán chết đi kể với mọi người nhưng ai cũng cười bảo bác là ngớ ngẩn.

Đọc ở nhà chưa đủ, những lúc chăn trâu tôi nhét sách vào bụng mang ra đồng. Nằm trên bờ cỏ đọc sách thật là thích. Thi thoảng gấp sách đặt lên bụng mà nhìn trời để mặc ý nghĩ lang thang trong thế giới tưởng tượng thật tuyệt diệu. Nấu cơm, tôi cũng mang sách vào bếp đọc. Một tay đẩy lá bạch đàn, lá tre vào bếp, một tay lật sách. Sách bị nhọ lem nhem hết cả. Cơm thì chỗ sống chỗ chín. Lần nào cơm sống mẹ cũng kêu khổ rồi mắng thế này thế nọ. Nhưng tôi chỉ vâng dạ được vài hôm rồi lại đâu vào đó. Kì lạ là bố chỉ cười cười không nói gì.

Ở lớp không có bạn nào đọc sách nên tôi chẳng biết kể những gì mình đã đọc với ai. Thật may lúc ở nhà tôi có thể huyên thuyên với bố. Dường như trong chuyện đọc sách bố có vẻ chiều tôi. Có lần bố có khách, tôi phải xuống bếp đun cho bố siêu nước. Tôi vừa đun vừa đọc sách. Lá bạnh đàn cháy to quá làm sôi siêu nước. Nước sôi đẩy bật nắp siêu rớt xuống làm bắn đầy tro vào nước. Bố xuống thấy thế liền đổ sạch đi thay bằng nước mới. Tôi sợ rúm người chỉ sợ bố mắng hay cho ăn vài con lươn thì chẳng ngờ bố chỉ bảo “Ờ cái thằng!”. Lúc ấy tôi thấy sao mà bố hiền hơn cả mẹ.
3/10/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Những chuyện không muốn kể

October 2, 2015 Leave a comment

Hồi còn nhỏ có một hôm nhằm lúc hai chị đi vắng tôi mò vào bàn học của chị để tìm sách. Lục lọi một hồi tôi tìm được một cuốn khá dày. Chẳng nhớ tên cuốn sách là gì chỉ nhớ giấy úa vàng. Tôi trèo lên bệ cửa sổ và ngấu nghiến đọc. Cuốn sách gồm nhiều truyện ngắn. Có một truyện đọc xong ám ảnh mãi là truyện “Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập”. Lúc đó không để ý tác giả là ai mãi sau này mới biết đấy là nhà văn toàn viết về những chuyện khốn cùng, khốn khổ-Ngô Tất Tố.

Nhiều người bây giờ đọc truyện này có lẽ sẽ nghĩ những món ăn như bánh đa bằng đất, đất sét kho cá, cám trộn mùn cưa, xơ mít..hoàn toàn là chuyện bịa. Nhưng khi đó tôi đọc, tôi cứ nghĩ là thật. Đơn giản vì nó cũng rất gần với những trải nghiệm của tôi hồi ấy.

Khi tôi bắt đầu đủ khôn để ý thức được thế giới xung quanh thì tôi hiểu cả làng đang lâm vào cảnh đói… Lớn lên thì hiểu, đấy là những năm tháng hàng chục triệu người lao đao trong cảnh túng đói triền miên.

Khi ấy, bố tôi đã chuyển về dạy học ở gần nhà để làm ruộng với mẹ nuôi đàn con lít nhít. Thứ bảy, chủ nhật bố thường đi xe đạp lên ngọn đồi hoang ở gần nhà ông ngoại vỡ đất trồng sắn. Có lần tôi theo bố lên nhà ông ngoại rồi ra đó với bố. Ngọn đồi trọc không một bóng cây lổn nhổn toàn đá óc chó. Những cây sắn bố trồng mới nhú cao tầm bằng gang tay. Mẹ cũng trồng sắn ở mãi ngọn đồi cuối làng. Khi cây sắn lớn tầm ngang ngực vào lúc xâm xẩm tối tôi thường phải vào đó để trông. Có những người làng thường đi ăn trộm lá sắn mang về cho lợn hoặc đào trộm củ. Tôi không sợ ma nhưng ngồi trong ruộng sắn rất hãi vì muỗi nhiều như vãi trấu. Rình mãi cuối cùng tôi cũng bắt được trộm. Một chị có họ ở trong làng đang vặt lá sắn thì bị tôi gào lên “Này! Này! Sao lại vặt lá sắn nhà người ta”. Thấy tôi lù lù hiện ra ngay trước mặt, chị hoảng hốt đánh rơi cả ôm lá lắp bắp “Chị trả này! Về đừng nói với mẹ nhé!”. Trên đường về tôi lén thả ôm lá sắn chị bỏ lại xuống chuôm và về nhà không hé răng một lời với mẹ.

Sắn lấy về nhà được rửa sạch, gọt vỏ rồi thái phơi khô. Bữa nào cũng cơm trộn sắn. Cơm trộn sắn chỗ nhão chỗ khê.Thật chán. Tôi vừa ăn cơm vừa lấy đũa gảy hoặc nhè sắn xuống mâm. Bố mẹ chắc thương con nên không nói gì. Mẹ vừa xới cơm vừa nhặt ăn những miếng sắn tôi vừa gảy xuống.
Bữa sáng cũng thường là sắn bung. Sắn miếng được rửa sạch rồi cho vào nồi đổ nước ngập lên đem luộc sôi kĩ, đổ ra rổ. Sắn bung cũng phải chia thành bát. Mỗi người một bát. Cũng có hôm nhà có mỡ thì mẹ cho sắn bung vào chảo rán. Ăn thế có vị ngon của mỡ đỡ chán hẳn. Đi học đến lúc ra chơi đùa nhau mùi sắn ợ lên phát khiếp.

Để khỏi ngán mẹ nghiền sắn thành bột rồi nhào thành bánh. Có mỡ thì đem rán còn hết mỡ thì đem gá vào thành nồi cơm. Lúc xới cơm lấy bánh ra tôi chỉ thích ăn phần bánh dính vào nồi cháy vàng. Thích nhất hôm nào trời mưa mà nhà có đường phên mẹ sẽ làm bánh rán sắn. Bánh sắn có nhân đường ăn thật tuyệt. Thích nữa là lúc nồi bánh sôi tôi được mẹ cho thò đũa vào chọc lấy cái nào mình thích. Những cái chín sẽ phồng lên và nổi lên trên mặt nước. Bánh đó phải để nguội. Thằng nào tham ăn chén ngay sẽ bị bỏng như nuốt phải hòn than. Bánh trôi vào tới đâu biết tới đó.

Tháng ba. Mưa dầm, gạo hết. Mẹ phải đi chợ đong gạo. Thứ gạo mẹ mua về là “gạo kho”. Gạo này nấu lên từng hạt nở phồng ra không hạt nào dính với hạt nào. Mỗi lúc chan canh vào bát cơm nhìn rõ từng hạt. Ăn không có mùi vị gì ngoài mùi…phân gián. Cũng có khi mẹ đổi bằng thứ gạo trắng như bông. Nghe bảo gạo đó đem từ miền Nam ra. Gạo rất đẹp. Từng hạt dài trắng bóng. Cơm nấu lên trắng như bông. Nhưng kì lạ là ăn vào nhạt thếch không có mùi vị gì và rất nhanh đói. Cơm đấy mà ăn với cá mắm rán thì chỉ cần cưỡi trâu đi vài vòng ngoài đê là bụng tôi sôi sùng sục.

Cả tháng được một hai lần ăn thịt. Mẹ hay mua lòng trâu có lẽ vì nó rẻ. Ăn dai ngoách. Thi thoảng cũng được ăn thịt gà của nhà. Nhưng nếu không phải là ngày Tết như mùng ba tháng ba, mùng năm tháng năm hay ngày gì đặc biệt thì thường đấy là gà bị chết vì bệnh hoặc chết rét. Những con gà lành lặn phải đem bán để lấy tiền đóng học. Nhưng bố tôi không cho con cái ăn thịt chó hay mèo chết vì bệnh dại hay dính bả chuột. Người làng khi ấy đều ăn cả. Chó, mèo chết cứ vứt lòng đi là đem xả thịt chia nhau. Có lần con chó nhà tôi bị dính bả nôn mửa, chạy đâm đầu vào tường chết. Bố tôi phải lén mang đi chôn dưới bãi. Bố dặn tôi “Không được nói cho ai biết chó nhà mình chết và chôn ở đây”. Tôi vâng dạ nhưng rồi vào nhà chú lỡ mồm kể. Chú tôi hỏi đi hỏi lại xem bố tôi chôn nó ở đâu. Có lẽ chú tôi tiếc của.

Sợ tôi bị còi xương, bố đi khắp vườn bắt cóc, làm thịt cóc cho tôi ăn. Thịt cóc được làm thành ruốc thơm điếc mũi. Bố cho con Vàng ăn thử rồi đến lượt bố ăn. Đến tối thì bố cho tôi ăn. Đi học tôi lỡ miệng khoe ăn thịt cóc làm lũ bạn tha hồ chế giễu.

Chớp mắt cái đã bao nhiêu năm. Sắn và cóc bây giờ thành đặc sản cả. Có lần vui chuyện tôi kể những trải nghiệm này cho một bạn người Nhật nghe. Nàng cứ cười ngặt nghẽo bảo “Cậu sáng tác chuyện rất hay. Lẽ ra phải đi làm nghề kể chuyện tiếu lâm mới phải”. Rất bực. Muốn giải thích cho nàng hiểu nhưng đành chịu vì nàng chưa từng đi ra nước ngoài và lúc nàng sinh ra nước Nhật đã ngập tràn vật chất.
2/10/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Tết của ngày xưa

September 29, 2015 Leave a comment

Mỗi năm có một cái Tết. Tết ta thường nghỉ dài. Từ chiều ngày 30 tháng chạp đường phố Hà Nội vắng đến lặng người. Những người có gốc gác ở quê đã về ăn Tết cả. Có lần lúc còn là sinh viên ở trường sư phạm tôi cố nán lại đến chiều 30 xem Hà Nội đón Tết thế nào nhưng mới sáng 30 nhìn dòng người hối hả ra bến xe tôi không chịu nổi lại nhảy lên chiếc xe khách nhét chặt người đang ì ạch bò ra ngoài thành phố. Những năm ở Nhật cũng thế. Thường Tết đến thì tuyết rơi. Ngồi trong phòng ở ký túc xá trong đêm giao thừa mà nhìn tuyết rơi mù trời thấy nhớ nhà và cô đơn khủng khiếp. Nhưng nếu đón hai ba cái Tết liền ở quê thì lại có cảm giác buồn buồn. Chẳng biết Tết đang nhạt dần hay khi đã trưởng thành Tết không còn bao nhiêu ý nghĩa nữa.

Hồi nhỏ từ quãng tháng mười trở đi khi trời se lạnh là lại mong đến Tết. Lâu lâu tôi lại nhìn lịch rồi tính nhẩm xem còn mấy tháng nữa. Lúc bưởi nhà tôi chín vàng thì cũng vừa vặn là tháng chạp. Vào dịp ấy mẹ thường hay cho tôi đi chợ cùng để bán bưởi. Bán hết bưởi mẹ cho tôi ra hàng xén hay hàng pháo chơi thỏa thích. Tha hồ sờ nắn hay ngó nghiêng. Nhưng tôi chỉ xem thôi chứ không có tiền mua. Quần áo mới đã có mẹ mua. Mỗi năm mẹ mua cho một bộ. Chẳng hiểu sao lần nào mua mẹ cũng dẫn tôi ra cửa hàng đo cẩn thận mà khi mặc ống quần dẫn dài quét đất. Đi học phải xắn lên mấy nấc. Mẹ bảo “may dài ra một tí để lớn lên mặc thì vừa”. Nhưng phần lớn tôi chưa kịp lớn lên để mặc vừa thì cái quần ấy đã rách ở hai đầu gối và mông.
Mỗi phiên chợ vừa bán bưởi, bán hành mẹ lại mua dần đồ Tết: lá dong, miếng, măng, mộc nhĩ, bánh đa nem, mứt…những thứ có lẽ cả năm nhà tôi chỉ được ăn một lần. Vẫn nhớ năm nào mẹ mua 2 gói mứt là tôi mừng lắm, thích đến mất ngủ.

Chiều 28 Tết bố nhóm lò than để luộc lá dong gói bánh. Luộc xong mẹ rửa lá và lau ở ngay bờ giếng trong khi người làng mang ra sông. Giếng nhà bố tôi tự đào rất lớn và nhiều nước. Những ngày gần Tết hàng xóm thường gánh đôi thùng sang nhà tôi xin nước về luộc bánh hoặc để ăn. Họ xin và trữ nước trước ngày mùng một vì sau đó phải kiêng việc xin xỏ trong những ngày đầu năm mới.

Đêm 28 nhà tôi thịt lợn. Mỗi năm nhà tôi nuôi một con lợn để thịt ăn Tết. Có năm ăn với nhà các chú, các cậu. Có năm lợn nuôi không lớn bé quá thì nhà tôi ăn mình. Xem thịt lợn kinh nhất màn chọc tiết nhưng vẫn thích dậy sớm để xem bố và các chú bắt lợn. Đêm ấy hầu như anh em tôi không ngủ hoặc có ngủ cũng cứ thấp thỏm. Trước khi ngủ lại mặc cả với bố “Bố dậy nhớ gọi con”. Có năm thằng Đích con nhà cô út ra chơi ngủ lại để chờ xem thịt lợn. Lúc bố tôi gọi dậy mấy anh em thích chí nhảy choàng lên làm gãy luôn cả giường.

Mỗi lần mổ lợn xong bố lại lấy bơm xe đạp bơm căng bong bóng lợn cho mấy thằng chơi. Trong lúc người lớn tất bật làm cỗ và giã giò thì mấy anh em chơi đá bóng ở sân la hét nhảy nhót như phát rồ.

Sáng 29 nhà tôi gói bánh chưng. Lớn lên đi học đại học tôi mới biết hóa ra có nơi người ta chỉ gói mỗi bánh chưng vuông. Ở quê tôi nhà nào cũng gói cả bánh chưng vuông và bánh chưng dài. Bánh chưng vuông thường chỉ để dùng làm đồ lễ Tết hoặc đem thờ hiếm khi cắt ra ăn trong mấy ngày tết. Bánh chưng dài vừa dễ cắt ăn lại ngon hơn. Tôi thích ăn bánh chưng. Có lần đói bụng tôi đã thử và ăn hết nguyên một cái bánh chưng dài cắt được đầy một đĩa lớn. Nhìn tôi ăn mẹ mắng “Cái thằng ăn như chết đói. Ăn khỏe thế ai nuôi được”. Tầm 9-10 giờ đêm thì bánh chín. Tôi thường thức canh nồi bánh chưng với mẹ. Thi thoảng lại được mẹ sai kéo nước dưới giếng lên cho mẹ đổ vào nồi bánh. Bao giờ bánh chín mẹ cũng lấy hai cái mang lên nhà thắp hương để sáng mai cắt ra cho cả nhà ăn sáng.

Chiều ba mươi Tết tôi tự đi xe đạp mang bánh lên nhà ông ngoại và nhà cụ sinh ra bà nội tôi ở làng trên. Chiều tối cả nhà ăn cỗ rồi chờ đón giao thừa. Ngày đó chưa cấm pháo. Anh em tôi háo hức chờ giao thừa để xem xung quanh đốt pháo. Thức đến 9 giờ không cưỡng được cơn buồn ngủ hai thằng vừa chui vào chăn vừa ngáp. Gần đến giao thừa thì bố gọi dậy. Trời tối mò. Nhưng ở xung quanh chân trời chốc chốc lại sáng rực như ánh chớp. Khắp nơi người ta đang đốt pháo. Giao thừa đến pháo bốn bên nổ loạn xạ. Đốt nhiều nhất có lẽ là ở bên kia sông. Tiếng nổ vang rền và kéo dài mãi. Nhà tôi cũng đốt nhưng mỗi năm chỉ một bánh. Bố treo bánh pháo lên dây thép rồi châm ngòi bằng que đóm. Pháo nổ ! Hai thằng vừa túm tay bố vừa dòm. Pháo nổ xong hai thằng xô nhau vào sờ tìm pháo xịt. Chiều con bố thắp ngọn đèn treo soi khắp sân cho hai thằng nhặt. Những quả pháo ấy được đem đi giấu kĩ vì sợ thằng kia ..lấy trộm.

Mùng một tôi cũng phải dậy sớm vì nhà chú hoặc nhà hàng xóm dặn trước sang xông nhà. Trước lúc tôi đi mẹ cẩn thận dặn phải chúc Tết thế nào rồi chào hỏi ra sao. Dậy sớm rất lạnh, mắt mũi cay xè nhưng bù lại đi xông nhà được mừng tuổi. Mỗi năm tiền mừng tuổi cũng được 3-5 nghìn. Tiền ấy tôi để dành mua lưỡi hoặc chỉ câu.

Đi xông nhà họ hàng nội ngoại xong, tôi được bố mẹ cho đi chơi thỏa thích. Thích Tết một phần là vì thế, được chơi, được tiền mừng tuổi, tối không phải học bài và ngày không phải đi chăn trâu. Chẳng thế mà có lần cô giáo ra đề viết văn về ước mơ, tôi thật thà viết rằng “Ước mơ của em là một năm có hai lần Tết”. Cô giáo đọc bài tôi làm lũ bạn cười nhăn nhở. Tôi thì thản nhiên vì nghĩ bài văn ấy chẳng đáng là gì. Chị tôi còn viết văn tả con gà trống chuồng nhà tôi có 4 chân, lúc gáy hai chân nó bám vào cành chanh còn hai chân sau thì đạp xuống đất nữa kia. Mà bố tôi cũng thế. Bố kể hồi học tiểu học bố đã từng tả cảnh trăng tròn trong đêm 30 Tết. Thầy Quỳnh dạy văn cho bố 9 điểm kèm lời phê “Ơ hay! Đêm ba mươi Tết lại có trăng”.

29/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Ăn cỗ cưới ở quê

September 27, 2015 Leave a comment

 

 

Hồi nhỏ nếu là trẻ con ở quê có lẽ ai cũng thích được đi ăn cỗ cưới. Tôi cũng thế. Thích lắm. Mỗi lần có ai đó vào mời ăn cỗ cưới tôi lại thường mon men chơi vơ vẩn ở gần bàn uống nước để nghe trộm. Khi người khách về bao giờ bố hoặc mẹ cũng thông báo cho cả nhà biết là ai cưới và bao giờ có cỗ. Bố mẹ cũng không quên nói luôn những ai được đi ăn cỗ và vào ngày nào. Nhưng bố chẳng cần nói thì tôi cũng biết mình có được đi hay không. Nếu là họ hàng gần thì đương nhiên là tôi được đi còn nếu là họ hàng xa thì bố và mẹ sẽ đi. Nếu người đến mời chỉ là người làng thì chỉ có bố hoặc mẹ đi ăn cỗ mà thôi.

Cả làng tôi chỉ có ba họ chính: Nguyễn, Giáp và Quách. Họ Nguyễn là họ nhà tôi chiếm tỷ lệ lớn nhất sau đó đến họ Giáp và cuối cùng là họ Quách. Họ Nguyễn và họ Giáp có quan hệ thông gia khá mật thiết. Họ Quách thì từ xa đến không có quan hệ họ hàng gì với gia đình nhà tôi. Bố mẹ tôi cũng thường nói cho mấy chị em biết những nhà trong làng có quan hệ họ hàng thế nào để khi gặp biết đường chào hỏi nên nhà ai họ hàng thế nào tôi gần như rõ cả. Có đám tôi được bố hoặc mẹ đưa đi có đám tự đi một mình.

Hồi ấy đám cưới người ta chưa mừng bằng tiền để trong phong bì mà mang theo thóc, gạo, gà hoặc…pháo. Không chỉ cưới mà đám giỗ, đám tang hay dựng nhà đều thế cả. Cho đến lúc tôi cưới vợ vẫn có những người trong họ hàng mang gạo đến nhà tôi vì ngày xưa con họ cưới bố mẹ tôi mừng bằng gạo.
Đi ăn cỗ đám cưới rất vui vì được chơi thỏa thích. Bọn trẻ con nhảy nhót chơi đủ trò trong tiếng nhạc xập xình đến điếc cả tai. Những thằng học cùng lớp với tôi ở trong làng cũng có mặt ở đấy. Chúng nó được chơi đến khuya thậm chí có thằng ngủ luôn ở đấy nhưng tôi chỉ được chơi đến 7 giờ tối là bố bắt về vì phải học bài.

Hồi đó, pháo chưa bị cấm. Đi ăn cỗ cưới tha hồ xem đốt pháo. Khoảng tầm 10 giờ trưa trở đi là pháo nổ liên hồi vì đấy là lúc khách ở xa và thanh niên đến ăn cỗ. Cứ một toán thanh niên vào là lại có anh mang theo bánh pháo. Anh đi đầu xòe xiêm châm lửa vào bánh pháo xách trên tay. Pháo nổ đinh tai xòe khói mù mịt. Đến lúc bánh pháo chỉ còn một đoạn ngắn thì anh ta hoặc ném vọt lên trời cao hoặc ném bừa vào vườn hoặc bụi cây nào đấy. Lũ trẻ đang bịt tai xô đẩy nhau ở đằng sau nhặt pháo xịt khi ấy nhào tới để cướp pháo. Có thằng táo tợn còn dám thò chân dậm vào bánh pháo để dập cho nó tắt. Thường thì mỗi bánh pháo sẽ có một vài quả pháo cối to gấp vài lần quả pháo tép. Tiếng nổ của nó rất khiếp. Thằng nào mà nhặt được quả pháo cối thì sung sướng trong ánh mắt thèm thuồng của những thằng còn lại. Cũng có lúc xảy ra vài tai nạn. Có thằng ham quá thò tay nhặt quả pháo rơi xuống đất mà ngòi vẫn cháy. Pháo nổ ngay trên tay. Có thằng tay tóe máu.

Những quả pháo chưa kịp nổ được bọn trẻ cất đi thi thoảng đốt vài quả để chơi. Có lúc bọn tôi rủ nhau ra bến ngòi hoặc một cái ao nào đó rồi móc nắm đất nhét quả pháo vào đó. Thằng gan lỳ nhất trong bọn sẽ tự tay châm ngòi quả pháo quả pháo đó rồi ném xuống nước. Ục! quả pháo nổ dưới nước phát ra âm thanh trầm đục. Bọn trẻ con khoái chí nhảy nhót reo ầm ĩ. Cũng có lần bọn trẻ nghịch dại cắm pháo vào bãi cứt trâu để đốt. Pháo nổ  cứt trâu văng tung tóe. Những thằng đứng gần bị cứt trâu phủ từ đầu đến chân.

Chơi với pháo là trò chơi nguy hiểm. Rất may suốt thời gian ấy làng tôi không có vụ tai nạn pháo nào đáng kể. Sau này nghĩ lại thấy rùng mình nhưng không hiểu sao lúc ấy chơi với pháo chỉ thấy …thích.
Chơi mãi rồi cũng đến giờ ăn cỗ. Người lớn ngồi ăn trong nhà trên chiếu hoặc ở bàn ngoài sân còn bọn trẻ con hoặc là ngồi xổm hoặc là ngồi bệt ngay trên nền sân vì không có chiếu. Người lớn vừa đặt mâm và bê lại rá cơm lũ trẻ đã bu lại như đàn ruồi. Người lớn phải dàn xếp để bọn trẻ ngồi ăn trong trật tự. Hồi đó cả làng nghèo. Gọi là cỗ cũng nhưng ở mỗi mâm chỉ có mấy món do họ hàng tự nấu: một bát canh xương nấu với khoai tây hoặc củ mỡ, một đĩa thịt mỡ luộc, một bát thịt xáo, một bát rau bắp cải xào hoặc đỗ xào. Nhà nào giàu có hơn một tí thì có thêm đĩa xôi. Với tôi, đi ăn cỗ cưới tôi chỉ thích ăn độc một món canh xương nấu với khoai tây hoặc củ mỡ. Thường thì lũ trẻ không ăn đĩa xôi và đĩa thịt mỡ luộc mà để dành để ăn xong chia phần mang về. Người lớn chia phần cho từng đứa. Lúc về mỗi thằng một gói.

Trẻ con hồi đó thích đi ăn cỗ cũng một phần là được ăn ngon. Ở làng ngày đó nhà nào cũng khổ. Ở nhà tôi có âu mỡ mỗi lần mẹ đi đồng toàn phải dọa con ở nhà không được trèo lên ăn vụng. Nhưng lần nào cũng thế mẹ cứ đi vắng là anh em nhà tôi lại bắc ghế lên khoét mỡ ăn với cơm nguội.

Có lẽ những ai lớn lên không có trải nghiệm đói nghèo sẽ rất khó hình dung và cảm thông với sự thực trần trụi ấy.

Bây giờ tôi vẫn đi ăn cỗ cưới ở quê. Vừa ngồi vào mâm vừa gãi đầu gãi tai vì sợ…rượu. Ở quê họ hàng thì đông. Người quê lại mời rượu khéo mà tôi thì không uống được rượu. Trong đám cưới ở làng tôi, rượu được uống nhiều hơn nước. Rất hãi.

Cũng có những khi vừa ngồi ăn cỗ tôi vừa nhìn đám trẻ con. Trẻ con vẫn theo bố mẹ tới ăn cỗ nhưng dường như giờ chúng dửng dưng với cỗ. Cuối bữa cũng chẳng còn có chia phần. Pháo cũng không còn chỉ có tiếng nhạc inh tai và mùi khói bếp là vẫn thế.

27/9/2015

 

Categories: Tản văn-ghi chép

Ánh sáng từ những ngọn đèn dầu

September 26, 2015 Leave a comment

Năm 1996 nhà tôi bắt đầu dùng điện. Khi ấy bố tôi vừa dựng xong ngôi nhà trên bằng số gỗ ông trồng suốt hơn 20 năm nên tôi nhớ. Cũng chẳng nhớ cảm giác sung sướng khi lần đầu tiên thấy ánh điện sáng trong nhà mình thế nào nữa chỉ nhớ từ bữa đó mấy chị em không phải tranh nhau đèn dầu nữa.

Trước khi có điện, mọi sinh hoạt của gia đình tôi đều diễn ra dưới quầng sáng nhỏ nhoi của ngọn đèn dầu. Mỗi ngày vào khi chập choạng tối, thường thường mẹ sẽ quát tôi đi châm đèn cho mẹ. Hai chiếc đèn dầu được đặt trên bệ cửa sổ ở nhà trên, tôi cầm bật lửa và đóm lật lượt châm từng cái một. Cái nào hết dầu thì lấy chai dầu đặt dưới chân giường rót thêm vào. Bóng đèn nào bị muội ám đen thì dùng giẻ lau thấm nước lau sạch. Mẹ tôi gọi bóng đèn dầu là “bóng tam phong”. Cũng không hiểu tại sao mẹ gọi thế. Có những phiên chợ mẹ đi mua về cả một, hai xâu “bóng tam phong”. Mẹ mua để dự trữ vì có những hôm gió to ngọn đèn đặt trên bàn uống nước bị đổ làm vỡ bóng tam phong hoặc chính tay tôi làm vỡ. Mỗi lần tôi làm vỡ bóng đèn mẹ chạy lại vừa nhặt những mảnh thủy tinh vỡ ở xung quanh vừa cốc vào đầu tôi bảo “Đoảng!”. Mẹ chỉ cốc lấy lệ chứ không đau nhưng tôi sợ mẹ nhắc đi nhắc lại vì mẹ nhớ rất dai. Có khi mẹ nhắc lại cả những lần tôi đánh vỡ thứ gì đó từ hai, ba tháng trước.

Nhà có 4, 5 chiếc đèn nhưng mỗi tối tôi chỉ châm 2 chiếc để tiết kiệm dầu. Một chiếc đặt trên bàn uống nước ở nhà trên. Một chiếc mang xuống dưới bếp đặt trên chiếc ghế ngồi ăn cơm bố tự đóng bằng gỗ bạch đàn. Có đèn sáng bố tranh thủ băm rau lợn còn mẹ nấu cơm. Tôi thì hoặc chạy lăng xăng chơi ngoài sân hoặc ngồi trên hàng gạch ngăn cửa bếp hóng chuyện. Ăn cơm cũng chỉ có một ngọn đèn dầu đặt trên chiếc ghế đặt cạnh mâm. Cũng có buổi tối vào dịp đặc biệt nào đó như ngày tết mùng năm tháng năm hay rằm tháng bảy thì tự tay bố thắp ngọn đèn treo có tán lớn để ăn cơm. Trên bình đựng dầu của chiếc đèn ấy có dán nhãn hình đầu con trâu có cặp sừng giương lên ngạo nghễ. Chỉ có việc gì đó trong gia đình chiếc đèn ấy mới được thắp lên còn bình thường nó chỉ được dùng khi bố đi soi cá, cua hoặc nhái về cho lợn. Không ít lần tôi xách giỏ đi sau bố khắp các cánh đồng để soi nhái. Có lẽ vì thế mà từ nhỏ tôi đã không sợ ma và sau này không thích xem phim kinh dị. Vào tối 28 Tết tôi thường thức dậy cùng bố lúc 4 giờ sáng để vào nhà bà nội thịt lợn. Bố châm đèn treo và đưa cho tôi. Tôi xăng xái đi trước xách ngọn đèn đi trước còn bố lững thững theo sau.

Ăn tối xong cả nhà tôi thường ngồi trên chiếc chõng tre uống nước. Bố mang thêm hai, ba ngọn đèn tới. Bố tự tay lau từng chiếc bóng đèn, gạt sạch bụi và tàn tro bám trên từng chiếc bấc rồi châm đèn. Đèn châm xong là đến giờ ngồi vào bàn học. Mỗi chị em một cái. Lần nào mấy chị em cũng cố tranh lấy cái đèn sáng nhất. Cả mấy chị em tôi ngồi học dưới nhà ngang có cửa sổ mở ra cánh đồng. Bệ chiếc cửa sổ ấy là nơi tôi thường chui vào ngồi đọc sách. Đọc sách ở đó vừa gần giá sách lại vừa đỡ mỏi lưng. Bốn chị em ngồi trên ghế đẩu và chung một chiếc bàn dài. Chị cả ngồi trong cùng, ngoài cùng là tôi và sau này là thằng em út. Tôi nhỏ nên chỉ phải học chừng một tiếng còn hai chị học hai tiếng. 9 giờ tối tôi tắt đèn đi ngủ riêng hai chị phải học đến 10 giờ. Lúc học tôi hay cúi sát ngọn đèn nên bị cháy tóc. Có lần để ý thấy cả tiếng tóc cháy xèo xèo đưa tay lên sờ rồi ngửi thấy mùi khét lẹt. Đến lớp lũ bạn hay chế giễu tôi ngủ gật khi học bài. Kỳ thật tôi bị oan. Ngủ gật khi học thường là chị cả nhà tôi. Có lần chị ngủ gật gục xuống bàn tôi và chị thứ hai tắt đèn của chị đi mà chị không hề hay biết. Bố nhìn thấy chị ngủ gật lúc học thì thường cáu giận nên chị em tôi sợ. Mỗi lần học mà thấy chị cả ngáp lại phải vừa nhắc chị vừa trông chừng bố.

Cũng có những buổi tối trời lặng gió học xong cả ba chị em mang thau nước và ngọn đèn dầu xuống bãi rau của nhà gần cầu Chẹm. Chị cả để thau nước xuống giữa vườn rồi thả vào hai viên gạch sau đó đặt ngọn đèn dầu lên trên. Lũ thiêu thân, bớm và muỗi thấy sáng lao đến bay loạn xạ quanh ngọn đèn dầu rồi ngã vào thau nước. Tôi và chị thứ hai vớt lấy chúng gói vào tờ giấy để mang tới lớp nộp. Lúc đó nhà trường thường phát động những phong trào “kế hoạch nhỏ” như thế.

Đêm ở quê thường đen đặc đến nhức mắt nhưng tôi đã quen với ánh sáng của những ngọn đèn dầu. Suốt từ tiểu học cho đến hết cấp hai tôi học dưới quầng sáng nhỏ nhoi ấy. Tôi không thấy tối cũng chẳng thấy buồn. Nhưng không hiểu sao sau này khi có điện thì chỉ vài phút mất điện thôi cũng làm tôi khó chịu. Những lúc ấy đèn dầu lại được thắp lên nhưng đôi mắt dường như bất lực trước bóng tối phủ kín ở xung quanh. Lạ nữa là từ khi vào học cấp ba mỗi lần ngồi dưới mái hiên ngắm nhìn bầu trời lặng im đầy sao nhấp nháy hay ngồi bên cửa sổ nhìn ra cánh đồng trước mặt lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy vừa dịu nhẹ vừa thấm rất sâu. Mãi sau này khi đã đi làm ở thành phố mỗi lần về quê ngồi dưới mái hiên tôi vẫn còn nguyên nỗi buồn ấy. Đấy là nỗi buồn thật khó gọi tên và lý giải tại sao.
25/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép

Hai thế giới dưới ánh trăng xanh

September 24, 2015 Leave a comment

 

Khi tôi viết trên Facebook kể về những kỉ niệm thời thơ ấu ở làng có bạn đọc rồi tò mò hỏi “Trung thu ở làng anh thế nào? Anh kể chuyện trung thu đi anh”. Một câu hỏi rất khó trả lời. Đơn giản vì ký ức về tết trung thu trong tuổi thơ tôi hầu như không có. Nói đúng hơn trong suốt tuổi thơ tôi, vui tết trung thu giống như một chuyện xa vời.

Không chỉ có trung thu, những ngày lễ khác như Ngày lễ tình nhân, Quốc tế phụ nữ, Phụ nữ Việt Nam… cũng đều xa lạ với cuộc sống ở làng trong suốt quãng thời gian từ khi tôi vào tiểu học cho đến lúc rời trung học phổ thông.
Ở đấy sau lũy tre làng khi đêm xuống chỉ còn những ngọn đèn dầu leo lét sáng bên khung cửa sổ những nhà có con đi học hoặc sau này là quầng sáng nhỏ nhoi của những ngọn đèn điện mắc dưới hiên. Sau một ngày đồng áng và làm thuê mệt nhọc, 9-10 giờ đêm cả làng hầu như đã chìm trong giấc ngủ. Sau lũy tre làng tối đen điểm những vệt sáng lân tinh của bầy đom đóm vẫn có những cuộc hẹn hò trong bí mật của thanh niên, vẫn có những cặp đôi vừa nói chuyện rì rầm vừa rút rơm đun nồi cám lợn nơi góc bếp. Nhưng tôi dám chắc vào thời đó hầu như không có cô thôn nữ nào ở làng tôi nhận được hoa hồng hay sô-cô-la vào Ngày lễ tình nhân hay ngày Quốc tế phụ nữ… Những chuyện tặng hoa, tặng quà đầy màu sắc lãng mạn trong những ngày lễ ngày ấy chỉ là những chuyện trong tiểu thuyết. Mà ở làng tôi cũng chẳng có ai đọc sách hay tiểu thuyết vào thời ấy.

Cuộc sống ở thôn quê cũng không có chỗ cho ngày sinh nhật. Bố mẹ thậm chí cũng chẳng nhớ được chính xác ngày sinh của con. Mối bận tâm của họ dành cho cái ăn cái mặc. Nếu hỏi những người vừa qua tuổi ba mươi ở làng tôi bây giờ rằng vào thời ấu thơ đã từng bao giờ được bố mẹ tặng quà sinh nhật hay tổ chức tiệc mừng hay chưa thì tôi đoán chắc người được hỏi hoặc sẽ há mồm ngạc nhiên hoặc là cười ngượng ngập.

Trong suốt tuổi ấu thơ cho đến khi 18 tuổi tôi cũng chưa từng một lần được nhận quà hay thổi nến sinh nhật. Lần đầu tiên tôi được tặng quà sinh nhật là khi bước chân vào đại học.

Cuộc sống ở thôn quê trong rất nhiều trường hợp khác rất xa những gì trên màn ảnh hoặc những gì trong trí tưởng tượng của những người không sống ở nông thôn. Lớn lên, rời làng sống nơi thành phố và nếm trải cuộc sống muôn màu ở đây, mỗi khi trở về ngôi nhà của mẹ và ngồi dưới hiên ngắm nhìn bóng đêm ở ngoài phía lũy tre không hiểu sao trong lòng tôi buồn khó tả. Nỗi buồn ấy vừa sâu thăm thẳm vừa rất khó gọi tên. Nó giống như cảm giác cô đơn của một người bơ vơ giữa hai thế giới. Trung thu sắp đến, chỗ này chỗ kia bàn chuyện trung thu làm tôi tự nhiên cứ vẩn vơ nghĩ mãi về cảm giác ấy. Trăng trung thu sáng lắm. Bây giờ cả người lớn cũng vui đón trung thu với vô số trò vui. Nhưng tôi không chắc trong thế giới dưới ánh trăng xanh vào đêm rằm tháng tám có bao nhiêu người được phá cỗ ngắm trăng.

23/9/2015

Categories: Tản văn-ghi chép
%d bloggers like this: