Archive

Archive for the ‘Tác phẩm của Mai Phương’ Category

NGỌN LỬA TRUNG DU

February 23, 2013 2 comments

Chiều mùa thu trong như miếng đá thạch anh. Đứng bên cái sân giếng cũ xưa rêu mọc tầng tầng lớp lớp mà thấy lòng dạ nôn nao kỳ lạ. Đâu đây vẫn là hình bóng ông bà nội và căn nhà gỗ núp trong khu vườn đầy hoa trái. Đâu đây tiếng cười thời thơ bé của chính mình. Dường như mùa thu đã đi suốt độ dài của mấy  chiều không gian thì phải. Khu vườn lá rụng, gió đùa. Vẫn còn đấy nhiều thanh âm cũ. Mùi ổi chín sực nức, đám na mở mắt căng mọng. Sát ngay bên bờ giếng là trái mít xanh cuối mùa  ngơ ngác. Các cụ vẫn bảo, thị chín rộ thì mít sẽ sượng không ngon nữa.  Nói thế chứ vào ngày mưa lăm tăm lạnh mà ăn múi mít ngọt cuối cùng xem, ngon không thể quên. Chẳng biết tự khi nào, nếu bỗng gặp chùm quả mít treo lơ lửng trong một khu vườn xa ngái nào đó lại nhớ về miền trung du đất đỏ quê mình. Và không thể không nhớ giếng nước, mảnh vườn. Cuối sườn đồi, hoa bạch đàn bung nở thơm ngào ngạt đầy quyến rũ. Tiếng vó ngựa xa dần trên những con đường vòng vèo lên cao theo hình xoáy ốc. Buổi chiều như cao hơn bởi đồng xanh, bởi nắng vàng và nhịp sống trung du yên ả, thanh bình. Con diều sáo lẻ loi chao liệng trên kia như đang đợi lũ trẻ tan trường những ngày đầu năm học. Mắt vẫn cứ dừng lại bên trái mít, mấy cái lá bên cuống bé xíu nhô lên. Có gì đó hoang hoải lắm, phồn thực lắm.  Vẻ gì đấy ở khu vườn này vừa hiu hiu buồn, vừa thanh tịnh, vừa xốn xang không thể tả. Hoa mẫu đơn nở đỏ chót cuối vườn ngay đám thừu lựu lắc lư đầy quả làm ta bỗng thèm nhớ những yêu thương.
Có một ngày trên huyện đảo Cát Bà của Hải Phòng, khi chen chúc trong chợ cá tôi bỗng giật mình khi một người bạn là nhà biên kịch đi tìm mua trái mít chín để mang về. Anh bảo rằng, mua trái mít từ quê mẹ mang về để nhớ lại tuổi thơ, ôn lại những kỷ niệm ngày còn mẹ trên đời. Thì ra vậy, đâu phải riêng tôi, mà chắc chắn với bất kỳ ai lớn lên từ làng quê đều có những gắn bó với mùa mít chín. Thảo nào, mỗi lúc thoáng thấy chùm mít xum xuê đâu đó tôi lại nhớ nhà đến khó tả. Ngồi trên tàu cao tốc về thành phố Hải Phòng, tôi ngồi cầm hộ anh quả mít và nghe anh kể về mẹ, về một thời thơ ấu. Chao ôi, thế mới hay, dù đi khắp thế gian, nếm trải đủ mùi ngọt ngào cay đắng thì người ta vẫn nhớ nhất là mẹ mình và thời thơ ấu.
Nếu một ngày nào đấy ở một miền quê khác khi bắt gặp khói bếp cuối chiều tôi cũng nhớ mẹ vô cùng. Nhớ một heo may se se lạnh, mẹ hun đám cỏ khô ven ruộng thành đống rồi đốt.  Lửa đống nhấm cháy âm ỉ suốt dêm. Khói đốt đồng đã ám vào trí nhớ trẻ làng. Và còn nhớ cái ngọn lửa xanh lét  nhóm bằng củi mục, thứ củi vớt trên sông mùa lũ trong bếp của mẹ. Ngọn lửa gợi nhớ những câu chuyện ma của bà nội. Bà kể liên miên ngày này qua ngày khác. Vẫn chuyện ấy, giọng nói ấy mà sao không đứa cháu nào chán, chỉ sợ thôi, sợ lấm lét. Sợ suốt từ còn bé đến bây giờ. Kỳ lạ thật. Và mỗi lúc bà vun lá khô cuối vườn đốt lửa, tàn lá bay lên cao xoay vòng khiến lũ trẻ con rất thích thú thì bà lặng lẽ ngồi nhìn lơ đãng. Cái cằm nhỏ và dài của bà bỏm bẻm nhai trầu  một cách bình thản. Bà buông một câu ngắn: “lá rụng về cội”, cả lũ cháu chẳng đứa nào hiểu gì.
Chiều nay, một chiều thật xa ngày ấy, khi đã hiểu được câu nói của bà thì khu vườn đã vắng người xưa.  Nhưng còn đấy, dường như ngọn lửa của bà, của mẹ còn cháy. Ngọn lửa của tình gia đình ấm áp còn mãi sưởi ấm những đứa con. Mỗi thu về, nhìn lá rụng là lại thấy lửa bùng lên trong lòng mình. Khi xa quê, mặt mình chạm gió biển hay gió vùng sình lầy mênh mông cũng lại thấy nhớ đến thế ngọn gió trung du hoang hoải và mãnh liệt của quê mình. Hình như mạch nguồn tình yêu cũng bắt đầu từ  những điều dung dị ấy. Dù có sống ở đâu đi nữa thì vẫn thấy mình thuộc về một nơi thật riêng, trong mình luôn cháy sẵn một ngọn lửa riêng. Ngọn lửa trung du.
Mai Phương

Advertisements

Đêm xuân vô tận (truyện ngắn của Mai Phương)

September 27, 2012 Leave a comment

Nghe tiếng chó cắn ma ủng oẳng mãi phía đồi Rơm Cháy, thím Hân một tay nhét cây củi vào bếp, một tay quờ về phía sau bảo:

– Con Hoan nhớn thế mà chẳng chịu lấy chồng, chị em mày bảo nhau cho thím đấy.

Cái que cời của thím vẽ loằng ngoằng trên nền bếp. Thằng Chung đã chừng bốn, năm tuổi vẫn còn nhèo nhẽo trong bọc đòi sờ ti mẹ. Thím Hân vạch áo quặt vú mình ra sau cho nó ngậm. Đúng là chỉ có thím mới có kiểu cho con bú qua nách như thế. Củi nỏ cháy nổ lép rép trong bếp, than củi bay lên như pháo hoa. Nồi bánh chưng sôi sùng sục, hơi nước toả ra những hình thù kỳ dị. Chân tôi ngứa ran lên bởi rát lửa. Tôi lại nhớ bà nội thế. Cũng đêm 29 Tết như thế này bà vừa trông bánh chưng vừa kể chuyện ly kỳ lắm. Hay nhất là chuyện ma. Chuyện về sự tích người đàn ông có thân hình sáng rực như đống lửa thường thức dậy vào đêm giao thừa trên đồi Rơm Cháy. Cả khu đồi ấy trở thành mảnh đất thiêng trong trí tưởng tượng của bọn tôi. Thím Hân thì lại tránh hoàn toàn chuyện về ngọn đồi ấy. Bởi lẽ nơi đó, chồng thím đã ngủ sâu dưới ba tầng sỏi đất. Chú tôi là liệt sĩ, đã được an táng tại nghĩa trang của xã, nhưng thím nhất định mang chú về đồi Rơm Cháy, để tiện chăm nom hương khói. Nghe mọi người bảo, xưa kia chú tôi thường thổi sáo, tán tỉnh thím ở đó, còn thím tước lá mía bó về và hay bẻ trộm mía cho chú tôi ăn.

Gần đây, người làng còn bàn tán chuyện thím sắp lấy chồng, vẫn mê người của vùng Rơm Cháy ấy. Người thím mê là ông Lân cá. Gọi thế vì ông có hồ cá rộng dưới chân đồi. Ông là thương binh chỉ còn một chân nhưng tài lắm, việc gì cũng biết làm. Ông ăn ngủ quanh năm lọ mọ trong cái lều trông cá ở chân đồi, dưới búi tre đằng ngà um tùm. Ông không có vợ con. Từ ngày ông trở về làng người ta thấy hầu như ông không có quan hệ thân thiết với người phụ nữ nào ngoại trừ thím Hân. Từ cuối đông năm 1979, khi chú tôi mất, Hoan mới chừng ba tuổi. Tôi phải cõng nó khắp những bờ ruộng sắn men theo chân đồi Rơm Cháy để về nhà sau mỗi ngày tan lớp. Thím Hân ở cùng bà nội. Ngày nào tôi cũng thấy thím dậy sớm quét sân, quét cổng. Đống lá khô cuối vườn mỗi ngày lại hun đốt một lần. Bà nội khuyên thím đi lấy chồng để Hoan lại bà nuôi hoặc sang ở với nhà tôi. Nhà tôi tuy nghèo nhưng bố mẹ hiền hậu, lại có mỗi hai chị em. Thím khóc rất ghê rồi quyết định ở vậy nuôi con. Mấy năm trước, khi bà tôi mất được vài năm, thím mang bầu. Kẻ cười, người thông cảm, người thì miệng năm miệng mười ngồi đầu làng cuối xóm chê bai. Thím thì im lặng. Hoan gặp tôi nhấm nhẳng: “Em gần hai mươi tuổi rồi mà mẹ còn đẻ em, chán thật cơ!”. “Nhưng không có em mẹ lại buồn, nếu sau này Hoan lấy chồng mẹ biết ở với ai” – tôi xuê xoa. Thằng Chung lớn lên cùng bao nhiêu chuyện thêu dệt kỳ bí, huyền hoặc. Mà lạ thật, thím Hân vẫn vui đùa với nó chẳng hề bận tâm xem thiên hạ thế nào. Tôi rình mò xem bố mẹ mình có nói chuyện gì không, chỉ thấy ông bà xuýt xoa thương ông Lân cá đơn độc, thằng Chung giống bố khuôn mặt… Tôi lờ mờ đoán ra, thảo nào…

– Thư này, mẹ gói mấy đấu gạo bánh? – Mày ngủ gật đấy à? – Thím Hân gõ que cời vào đầu gối tôi. Tôi choàng tỉnh khỏi những suy nghĩ miên man.

– Không ạ, mẹ cháu gói nhiều lắm, hình như cho cả cô Đào.

– Cô Đào có về ăn tết không? Lấy chồng xa khổ nhỉ, năm nào cũng vội vội vàng vàng.

Cô Đào là con út của bà nội tôi. Cô lấy chồng mãi Hà Đông, nhà lại khó khăn nên ai cũng thương. Thím Hân năm nào cũng để phần giò tết cho cô ấy.

– Thế thím muốn Hoan lấy chồng à?

– Thì sắp ba mươi rồi còn gì, có công ăn việc làm rồi xem có ai tao cưới cho.

– Thế nó bảo gì thím chưa? Cháu thấy nó yêu anh bác sĩ hay sao ấy, hay tiêu chuẩn của thím thế nào?

– Quan trọng là nó yêu nhau, chứ tao thì chẳng có tiêu chuẩn nào cụ thể.

– Nhỡ nó lấy một anh thương binh thì sao ạ?

Thím Hân chợt lúng túng, đứng dậy thay nước thứ hai cho nồi bánh rồi nói:

– Mày định nói chuyện của thím phải không? Đúng là đàn bà có nhiều điều khó nói, mày lớn rồi lại thông cảm với thím thì thím cũng chẳng giấu, có lẽ rồi thím cũng phải lấy chồng cho em Chung có bố, nhà khỏi cô quạnh. Tôi thấy mình thật hỗn. Tôi lí nhí:

– Cả nhà mình ai cũng đồng ý thím lấy ông Lân đấy.

– Ừ, ông ấy cũng tội lắm, không vợ con, sống lủi thủi, nhưng… con bé Hoan…

Hoan nãy giờ mải đan những cái nơ bằng len hồng để chiều mai buộc vào cây cối xung quanh nhà đón Tết, giờ mới ngẩng lên:

– Mẹ đúng là… Thì mẹ lấy bố Lân đi, con có phản đối đâu, bao nhiêu năm nay con đi học bố Lân chẳng lo cho nhiều đấy thôi, ít nữa con lấy chồng rồi mẹ lại đòi con về chăm à?

– Cha bố cô! Cô giáo gì mà cãi mẹ đôm đốp, thì mẹ cũng đang nói với chị Thư mày đấy.
Tôi vẫn coi thím hệt như mẹ nuôi của mình, nhưng chưa bao giờ thím Hân gần gũi thế này. Tôi kéo cu Chung vào lòng, thơm lên đôi má đỏ lựng toàn mùi lửa của nó. Tôi đã nói với thím Hân ý nghĩ của một cô gái già trước tuổi:

– Chẳng lẽ thím để ông Lân ăn Tết một mình? Thím xem thế nào, để sang năm Hoan cưới có cả bố cả mẹ đỡ tủi thân.

Mặt thím Hân đỏ bừng, thím cời than ra bên cạnh vùi vào đấy mấy con củ lang rồi rỉ rả:

– Ừ, mẹ mày cũng khuyên thím thế, để ăn Tết xong thím làm mâm cơm khấn ông bà, thông báo với chú mày và họ hàng là mình tái giá. Thằng Chung cũng đến tuổi đi học rồi.
– Thế thím chưa khai sinh cho nó à?

– Rồi chứ, ông Lân làm hộ…

Thì ra vậy, lâu nay tôi không dám nói gì đến chuyện thím sinh cu Chung, đâu ngờ thím cũng rất thẳng thắn nói về chuyện này. Mà đúng thôi, đã bao nhiêu năm rồi chú tôi nằm xuống, thím có yêu thương đến mấy rồi cũng phải lo cho hạnh phúc của mình chứ. Bà nội tôi thuộc lớp người cổ xưa mà còn rất quan tâm đến chuyện này. Mấy thím cháu đang thì thầm to nhỏ thì có tiếng ai gọi cổng:

– Ơi Hoan! Có nhà không, ra mở cổng!

Tiếng đàn ông trầm đục. Hoan chạy ra bật điện sân, chó sủa vài tiếng rồi thôi. Thím bảo:
– Ông ấy đấy, chắc lại mang cho cái gì, người cứ lẩn mẩn thế.

Tôi nhìn thấy vẻ vui mừng hiện lên trên mặt thím. Cu Chung đang bóc khoai ăn nhọ đầy bên mép cũng đứng dậy. Dường như nó đã quen với tiếng nói ngoài kia. Đúng ông Lân thật, ông chống nạng xách theo một bọc to tướng. Hôm nay ông mặc diện thế, đầu đội mũ lông, mặc áo lông bộ đội còn mới, đi giày hẳn hoi.

– Nhà có khách à Hân?

– Không, có con cháu con bác cả, ông vào nhà đi.

– Thế à, tôi mang cho mẹ con bà mấy con cá chép to muối lên mà ăn Tết, cá nướng là ngon nhất. Cu Chung đâu ra thử quần áo mới xem nào!

Cu Chung chạy tót vào lòng ông ngồi. Thím Hân có vẻ thẹn đi tìm ấm nước. Tôi lủi lên nhà trên với Hoan. Mùi bánh chưng đã sực nức khoảng sân trước mặt. Cây bưởi đầu nhà buông ra làn hương quyến rũ kỳ lạ. Qua ánh lửa bập bùng, tôi thấy ông Lân đang quàng khăn cho thím Hân. Dường như thím ấy khóc. Tôi hiểu cảm giác mà thím đang trải qua, bởi chính lúc này tôi cũng đang nhớ người yêu.

“Mai chị sang nhà em ăn tất niên, mẹ em mời cả bố Lân đấy, bác cả và các cậu em cũng đến” – Hoan nói thế mà như gió thoảng, tôi không để ý nữa. Lòng tôi vui mừng như chính mình là thím Hân kia.

Tôi ngồi trên bậc tam cấp nhà thím, ngó ra phía đồi Rơm Cháy. Phía ấy rực lên những ánh lửa đốt đồng. Tôi có cảm giác, hơi ấm đang nảy nở trong từng cơn gió trên cánh đồng mía xạc xào. Ngoài kia xa hơn chút nữa là đêm xuân vô tận…

Mai Phương

“NGƯỜI ĐOÁN GIẤC MƠ”-ĐA DẠNG CÁCH DỰNG TRUYỆN

September 24, 2012 Leave a comment
“NGƯỜI ĐOÁN GIẤC MƠ”- ĐA DẠNG CÁCH DỰNG TRUYỆN
     CAO NĂM
        Thỉnh thỏang tôi cũng đọc truyện ngắn của nữ nhà văn vùng sông Thương Mai Phương, nhưng đọc cả tập thì lần này là đầu tiên. Thế nên không như cách đọc thông thường, chỉ một lần là nắm bắt được mạch truyện, mà nhiều truyện tôi phải đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm mãi. Bởi 14 truyện ngắn của Mai Phương trong tập “Người đoán giấc mơ” (Nhà xuất bản Hội nhà văn- 2012) hầu như mỗi truyện lại có cách dựng truyện, dẫn truyện hoàn toàn khác, không truyện nào giống truyện nào.
Truyện ngắn đầu tiên được lấy đặt tên cho cả tập gần như hoàn toàn hư ảo, không chỉ ở cách kể lại hai giấc mơ của nàng nhập vào tôi (tác giả), mà còn ở cách dựng truyện có tầng lớp, hầu như cùng lúc xuất hiện đan xen một, hai, thậm chí ba nhân vật trong một nhân vật chính (tôi) trong giấc mơ. Còn “Chuyện tình búp bê” lại viết theo lối đặc tả tâm trạng nhân vật nặng suy tư, day dứt, với những độc thọai nội tâm có sức níu kéo người đọc. Đây là độc thoại của Tuyết sau khi nghe Thương kể về gia cảnh của mình, hiện có cô em là Thi, bác sĩ chuyên khoa nội tiết, người mà Tuyết đang ghen bóng ghen gió vì đôi lần thấy Thi đi cùng Trung, người Tuyết yêu say đắm: “Cảm ơn Thương đã cho cô biết đâu là giá trị đích thực của cuộc sống này…Tuyết thấy mình thật ích kỷ, đã vô tâm thờ ơ với những gì đáng yêu nhất”. Còn “Dòng sông cuối chân trời” lại được viết theo lối tự sự, nhưng không chỉ ở ngôi thứ nhất (tôi), mà sau nhân vật tôi lại là một tôi nữa, có lúc chồng lên tôi lại là một tôi nữa, qua lời kể của tôi thứ hai. Truyện ngắn viết lớp lang chồng chéo mà đọc vẫn thấy dễ nắm bắt chứ không rối mạch, lẫn chuyện chỗ nào. Khác với những truyện vừa nhắc, trong truyện ngắn “Những mong manh” Mai Phương lại dụng công bổ những lát cắt trong cuộc đời dài dằng dặc và chồng chất âu lo của những người đàn bà ở làng quê nghèo vật chất nhưng giàu có nghĩa tình, thật khác xa với lối sống ty tiện và thực dụng của những người đàn bà tự cho mình là sang giàu ở thành thị mà chị chỉ đôi dòng đặc tả ở đầu truyện nhưng lại đầy ám ảnh. Truyện dựng  hoạt và cứ tự nhiên trôi đi như thể cuộc sống thường nhật vẫn trôi đi như thế, với cách mở chuyện mang đầy dụng ý nghệ thuật. Lối viết này thoáng đọc chỉ thấy những mảng đời lắp ghét, những số phận, tính cách nhân vật tưởng rất vụn vặt, nhưng đọc kỹ lại thấy tất cả đều kết dính vào nhau đến mức bỏ chỗ nào đi, dù là tình tiết nhỏ, cũng dễ gây hỏng truyện. Ở lối viết này người đọc có chỗ suy đoán, phán xét, thậm chí tham gia vào một vài chi tiết hay số phận nhân vật cho ý tưởng thêm phong phú theo ý mình đều không hại gì đến tác phẩm.
 Bên những truyện thật ảo đan xen như vừa nhắc, người đọc còn được thưởng thức lối viết truyện ngắn truyền thống với mạch chuyện có đầu có đuôi, nhưng lại không hẳn dừng lại ở thì hiện tại, mà nhiều khi hiện tại và quá khứ đan cài như truyện ngắn “Người vẽ tranh thủy mặc”. Họa sĩ Quân là con út cụ đồ Nha, tốt nghiệp đại học mỹ thuật nhưng không đi làm, không ở phố mà về ở làng, đi vẽ. Một lần tôi (tác giả) về quê, được Quân rủ đi xóm bãi Dâu vẽ cho bà cụ dưới đó bức tranh thủy mặc theo lời hẹn. Té ra bà cụ cũng là người học chữ Nho từ nhỏ, hồi trẻ từng yêu một ông đồ hay ngồi vẽ tranh, cho chữ ở chợ. Khi Quân lấy cái khăn lụa ra lau bút, mặt bà cụ bỗng biến sắc. Thì ra đấy là cái khăn bà cụ tặng bố Quân, ông đồ Nha, hồi hai người còn trẻ, còn ông đồ cũng vẽ tặng bà cụ bức chân dung, nhưng chưa xong. Từ đấy bà cụ luôn ám ảnh về bức tranh thủy mặc như một lưu giữ mối tình đẹp không thành; mãi bây giờ, họa sĩ Quân, con ông đồ mới làm ước mơ bức tranh thủy mặc của bà cụ được toại nguyện. Truyện từ thì hiện tại quay lại quá khứ, rồi lại trở về hiện tại, với một lối kể chuyện thiên về tâm tư, nỗi niềm đọc khá xúc động. Dường như những truyện ngắn viết theo lối kể chuyện của Mai Phương đều khắc họa được tính cách, số phận nhân vật khá đậm và dễ gây sự xúc động trong người đọc.
Đa dạng trong cách viết, cách kể chuyện, nhà văn Mai Phương cũng khá đa dạng trong xây dựng nhân vật. Không như nhiều tác giả trẻ, phần đông nhân vật trong truyện của họ là những nam nữ thanh niên trong công sở, học đường, doanh nghiệp, nhân vật của Mai Phương khá đa dạng. Trẻ trung và trí thưc như nàng (tôi) trong truyện “Người đoán giấc mơ”, Tuyết trong “Chuyện tình búp bê”, Trang trong “Những mong manh”…Nhân vật ở tuổi trung niên thì người ở thành thị như Len trong “Những mong manh”, Ngọc trong “Bông thừu lựu đỏ”; người ở nông thôn như cô Câm trong “Mùa tre trút lá”. Rồi những nhân vật đã ở tuổi xế chiều như bà Muối trong truyện “Bà Muối”, bà Nhiều trong “Xóm ngụ cư”…Trong cộng đồng nhân vật truyện ngắn Mai Phương thấy phát lộ đối tượng nhân vật có lẽ được chị quan tâm nhiều nhất, cũng là thế mạnh của những cây bút nữ như chị, đấy là nhân vật nữ, gần như chiếm tuyệt đối về số nhân vật chính trong truyện ngắn của chị. Ở đối tượng nhân vật này, dường như chị phát huy tối đa sự hiểu biết về giới, từ tính tình, sở thích, lối sống đến suy nghĩ, cách đối xử ở trong nhà và ngoài xã hội, vì thế trong nhiều trường hợp Mai Phương thành công trong khắc họa tính cách, đào sâu số phận nhân vật, từ đó tạo được ý tưởng nghệ thuật trong người đọc. Hiểu giới nữ, chị có những trang viết, những đoạn văn miêu tả đầy nữ tính, chẳng hạn trong “Người đoán giấc mơ”: “Cả một đêm dài bà nội ngồi thở sườn sượt, vuốt ve mái tóc của nàng. Bà nhìn thấy rõ những nõn nà của tuổi dậy thì trong dáng dấp cháu mình và cả những hỏang hốt đầu đời chưa kịp nguội tắt trên khuôn mặt”. Văn của Mai Phương khá trau chuốt, khúc triết và giàu sức gợi cảm, chẳng hạn đoạn văn này trong truyện “Dòng sông cuối chân trời”: “Tôi đã đứng đó ngóng về nơi những ngọn sóng giận dỗi đang tung mình vào phía bờ bên lở. Con sóng xòe ra đám bọt trắng tinh rồi tan biến vào mặt nước lắm u ẩn. Mấy cái vẩy lân tinh lấp loáng. Có bóng thuyền nào đó đi ra từ nơi tịch mịch như trong sương khói. Không một tiếng động, nước chỉ khẽ kéo thành một vệt dài trong trong ánh trăng”. Trong khi không ít tác giả trẻ chỉ chú tâm vào cái gọi là “cách tân”, viết lấy được, lấy lạ, thì một lối viết cẩn trọng, để nhiều công sức vào tu luyện, trau chuốt làm đẹp trang văn như Mai Phương trong tập truyện ngắn này là rất đáng khuyến khích.
Dĩ nhiên ở một tập truyện ngắn khó có thể tránh khỏi chỗ này chỗ kia vẫn sạn, nhưng cái đáng trân trọng, khích lệ vẫn là điều cốt yếu sau khi gấp lại tập truyện này./.
  Cao năm
 Nguồn bài viết ở đây.

NHỮNG MONG MANH (truyện ngắn của Mai Phương)

September 23, 2012 Leave a comment

 

                                                                            

Phía bên kia đường, những hàng quán đã dọn vãn. Từ ngày thị xã lên thành phố, người dân bám mặt đường kiếm sống ngày một đông. Những quán cóc, hàng xổ số, quầy báo, sửa chữa điện thoại, giày dép thi nhau tiến sát mặt đường. Nhìn cái nắng lúc giữa trưa liếm lên vỉa hè mà Trang thấy ngại. Trang sợ nhất khoảng thời gian khi hết giờ làm việc, mọi người ai về nhà nấy cơm nước nghỉ ngơi cùng chồng con, còn Trang ở lại trong căn phòng làm việc một mình vắng vẻ. Cô thấy mình như bị bỏ rơi ngoài cuộc sống đời thường đang trôi đi không dừng lại. Một mình đi bộ lóc cóc ra quán cơm bụi, Trang thấy mình sao lạc lõng giữa những ồn ào ngoài kia. Tiếng ve sôi lên càng như giục giã người ta đi vội vã. Nấu ăn một mình cũng chán mà mua rau mua thịt ở đây cũng sợ ngộ độc, thà đi ăn suất cơm mấy nghìn rồi về ngủ một giấc là gọn nhẹ nhất, bát không phải rửa đỡ lích kích, chiều về nhà ăn bù với chồng con vậy.

Trang đã quen ăn ở quán cơm chị Tần, thấy Trang là chị biết cô thích ăn món gì, ăn suất bao nhiêu tiền. Khách đến quán chị Tần đa phần là người buôn thúng bán mẹt, công nhân, xe ôm, và những người lao động thủ công khác. Nhìn cách ăn mặc của họ mà người đi đường đánh giá “tầm cỡ”quán cơm này. Cũng có vài người ăn mặc sáng sủa, có vẻ là “người nhà nước”cũng ăn ở đây. Họ thường ít nói, ăn cho xong rồi đi. Trang cũng được liệt vào nhóm người nhàn nhã, vì cô làm trong một cơ quan hành chính. Nhìn bộ dạng mình ăn mặc kiểu công sở, đi giày cao gót mà lệch thệch ngày nào cũng đi bộ một mình ăn cơm bụi mà Trang thèm được về nhà nấu cho lũ con và chồng một bữa cơm xì xụp. Thấy thương những người cơ nhỡ ngồi vạ vật góc phố, vỉa hè ngủ gà gật. Không khí ở quán cơm lúc nào cũng ồn ã, những người thành phố có cái nhìn những người vẻ lam lũ nhà quê bằng con mắt ghẻ lạnh, dò xét. Trang thấy bà bán nước cạnh đấy rót nước cho khách bằng vẻ trịch thượng ấy. Ai mà chả từ quê sinh ra chứ. Có kẻ nào mà cha ông không là nông dân? Trang cũng là con bé nhà quê xứ Bắc lớn lên từ cọng lúa, con tôm của mẹ. Vì thế mà hay đọc được trong mắt mọi người những cách nhìn nhận về người nhà quê. Chị Tần xới cơm, giục đứa con gái bé xíu của mình bê thức ăn cho khách rồi xoay qua xoay lại với biết bao thao tác đơm, múc. Nhìn người đàn bà nhỏ bé bán cơm cùng hai cô con gái và người chồng cục tính nhưng chịu khó làm Trang nghĩ về những người đàn bà trên đời này. Trang mang tiếng được học hành hẳn hoi, có việc làm ổn định, một gia đình yên ổn mà đâu có nhẫn nhịn và chăm sóc chồng con được như chị Tần. Chị Tần trút thức ăn thừa vào cái bát nhựa rồi giục con gái út mang về cho mèo. Trang nhớ cảnh mình bắt gặp hôm nọ ở một nhà hàng sang trọng. Bên mâm cơm thịnh soạn là mấy bà cô mắt xanh môi đỏ ngồi tỉa tót. Người đàn bà ăn mặc đẹp nhất trong nhóm đã làm Trang kinh hãi. Bà ta chộp lấy con mèo đang ăn vụng mang ra ban công ném vù xuống lòng đường vẻ tức tối. Con mèo “ngoao”lên một tiếng lớn rồi thoi thóp thở đưới đường bê tông nắng như đổ lửa. Trang thấy một nhúm lông của con mèo còn bám trên cổ tay người đàn bà nọ. Chắc nó sẽ chết mất. Chợt Trang lại nghĩ, nếu mình bị ai ném như con mèo kia nhỉ. Khiếp quá! Trang rùng mình. Phía mâm các bà ấy tiếng cười lại ré lên. “Đấy, con mụ Tú đấy”, chị Trà ngồi bên thì thầm, “Bà ta ở gần nhà mẹ chồng chị, ghê lắm, chồng làm gì trong quân đội chức to lắm, ít về, mụ suốt ngày ăn chơi, chiều nào cũng đi gội đầu, sơn sửa móng tay, ăn cơm hàng, quần áo rõ đẹp nhưng ủng hộ người nghèo bao giờ cũng chỉ đóng hai nghìn thôi. Bọn choai choai trong ngõ còn bảo có lần bà ta đút vào hòm công đức tờ mười nghìn giả nữa chứ…”. Trời ơi, những người đàn bà giàu có. Trang mông lung lẩn thẩn suy xét. Chị Trà vỗ bộp một cái vào má cô bảo, mày như bà già ấy, chuyện thiên hạ để ý làm gì nhỉ cho già người, rồi số mày khổ thôi em ạ. Có khi thế thật vì Trang thấy mình già trước tuồi nhiều lắm. Ngoài 30 tuổi như Trang không thấy mình vồ vập điều gì nữa. Trang đã to tiếng với chồng về chuyện mở đĩa hát. Những lời ca “Tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề nuối tiếc”vang lên là Trang thấy sao nó nhạt nhẽo vô vị đến thế. Có lần chồng cô nói như quát: “Em có làm sao không đấy, anh nghe nhạc em cũng càu nhàu, ai cũng như em thì sống ra cái kiểu gì?”.  Anh bảo, không quan tâm đến lời ca, mà quan trọng là nghe ca cĩ mình thích hát lên. Ừ, tình yêu, sao cứ phải nghĩ nhiều về sự yêu ghét trên đời này làm gì khi mà khối người sống như lời bái hát rẻ tiền kia.

Điện thoại rung lên trong túi, con gái ở đầu dây bên kia thì thầm: “Mẹ ơi, chiều mẹ về sớm cho con năm nghìn để đi viếng”. “Viếng ai cơ hả con?”.”Mẹ bạn Tình lớp con chết rồi mẹ ạ”. “Sao lại chết vậy con?”. “Tự tử mẹ ạ, thôi mẹ nhé!”. Trang đờ người ra, lưỡi cứng lại, mắt bắt đầu thấy rần rần cay. “Ừ, chiều mẹ về”. Trang nhớ đến khuôn mặt người phụ nữ nông thôn xinh xắn, hiền hậu đi họp phụ huynh cùng mình tuần trước. Chị Len là người nơi khác về làm dâu trong xóm của Trang. Chị sinh được ba cô con gái, chồng chị là anh Đậu công tác tỉnh xa rất ít khi về. Quanh năm suốt tháng người ta thấy chị Len ở nhà một mình nuôi con, làm ruộng. Vài tháng chồng lại về mang lương cho vợ chi tiêu. Nhiều phụ nữ trong xóm nhìn chị Len mà ao ước. Ai cũng bảo chị sướng. Nhưng chị Len lại bảo: “Ôi, có chồng có vợ ăn cơm rau còn hơn”.

Chiều về, Trang đứng mua ít thức ăn ở chợ cóc đầu xóm mà nghe người ta bàn tán về chị. “Ai bảo được sướng mà không biết đường, lại đi làm thế dại thì chết chứ sao, khổ thân mấy đứa con bơ vơ”. Trang nghe và chắt lọc rồi cũng hình dung ra cái chết của chị Len. Chị Len thắt cổ bằng dây thừng chết trong căn nhà đang ở của mình. Khi bố mẹ chồng phát hiện ra thì không thể cứu được nữa. Sáng ấy, chị Len dọn dẹp nhà cửa thật sạch sẽ, dặn bà mẹ chồng nấu cơm cho các con chị, chị đi có việc. Ai ngờ đâu chị lại dự vào cuộc ra đi đau xót thế. Người trong xóm bàn tán xôn xao. Có người trách móc, người thì thương xót, tội gì mà chết, chẳng ở được với nhau nữa thì li hôn mà nuôi con chứ sao. Trang chắp nối đầu đuôi câu chuyện rồi cũng ngẫm ra. Người ta bảo chồng đi vắng quanh năm, chị Len đã lòng thòng với một người đàn ông xóm bên được một thời gian, chẳng biết thế nào mà một đêm khuya vắng, chồng và anh em nhà chồng chị bắt được người đàn ông lạ mặc quần áo lót trong nhà chị đi ra…

Chị đã phải ngồi đối mặt với chồng cùng sự có mặt của hai bên gia đình nội, ngoại  khai ra cái tội tày trời và thú nhận, van xin để được tha thứ. Chồng chị đã lạnh lùng bảo: Em như vậy thì từ nay anh có làm gì đi nữa em cũng không có quyền đòi hỏi gì ở anh. Chị đã sống trong xa cách biền biệt và ghẻ lạnh.

Trang tưởng tượng ra tình cảnh của chị Len mà thấy rõ sự khốn khổ, bẽ bàng của chị. Tại sao một phụ nữ nông dân hiền lành như chị lại có cái gan táo tợn, liều lĩnh thắt cổ mình chết trong đau đớn tột cùng như vậy? Sao anh của chị không chọn cách giải quyết nào khác mà cứ phải phơi bày bằng được. Ai chẳng cho rằng chị sống đủ đầy, có chồng có con, được an nhàn mà không biết phận. Người đời vẫn bảo đàn ông chơi hoa bẻ nguyệt ở ngoài cũng là lẽ thường tình, vợ phải chịu đựng hết. Còn người đàn bà nào dám tơ tưởng ai, dám sống cho mình sẽ là loại chẳng ra gì. Không biết chị Len có yêu người đàn ông nọ hay không, hay chỉ là bột phát thứ tình cảm khi đang phải cô đơn đằng đẵng. Trang đã từng ôm con ngủ trong những đêm đông dài bất tận khi chồng đi vắng mà thấu hiểu sự cồn cào trong lòng dạ đàn bà.

Trang nhớ cái dáng vẻ của chị Len ngồi bên cửa ơi hời ru đứa con gái út. Chị so vai ngồi buồn, ánh nhìn không có đáy. Sao lại rưng rưng đến thế, lời ru dần buông ra từng tiếng sầu thắt tim gan. Có lẽ lòng mẹ nào cũng chất chứa những nỗi buồn. Trang cảm thấy nỗi buồn như sương khói che lên gương mặt những người đàn bà bận mọn. Những thứ gánh nặng vô hình vẫn luôn đè nặng lên vai người phụ nữ. Trong lòng họ là âm thầm những khổ đau và nhẫn nhịn. Liệu có người đàn bà nào trên đời dám tuyên bố tôi suốt đời hạnh phúc? Phải nói đâu xa, ngay những lúc Trang mệt mỏi nhất cần nghe từ chồng lời âu yếm động viên thì chồng cô thản nhiên treo bộ quần áo bẩn lên móc tắm qua loa, ăn vội vàng rồi lăn ra ngủ cùng lũ con. Thôi đành buồn một mình. Ngày này qua ngày khác cũng quen chẳng buồn để ý xem chồng mình có biết điều ấy hay không nữa. Xem một bộ phim hay, cảm động Trang khóc thì chồng bảo: “Người đâu mà hấp thế, họ diễn thế thôi chứ làm gì có ngoài đời, khóc cho nó mệt xác ra”. Đành im lặng vậy. Mấy chị hàng xóm chỉ suốt ngày bàn tán giá gạo giá thịt tăng cao, hay là bán hàng ế ẩm, con xin tiền nhiều… Đâu có ai quan tâm xem thời cuộc ra làm sao, hay cũng chẳng để ý xem đời sống riêng tư của người khác như thế nào.

Trang thấy ân hận quá, sao mình không nói chuyện hỏi han xem sao chị Len buồn thế. Lời ru con của chị cứ bám riết đầu óc Trang. Hay chồng chị chê vợ sinh toàn con gái, thời đại này rồi mà còn nặng nề thế sao? Chị Len sao dại vậy, con mình còn sống trên đời này không có mẹ sẽ khổ biết bao. Nhưng liệu chị Len có đủ nghị lực để vượt qua trăm ngàn con mắt dị nghị của bà con lối xóm? Vừa mới đây mà đã tan vào hư không rồi. Trang thấy kiếp người sao mà mong manh, bèo bọt thế. Sao lại cứ phải chết vì những thứ không cầm nắm được. Nhiều người còn giam cầm cả đời vì thứ hạnh phúc giả tạo trong cái gọi là gia đình chỉ vì sợ. Sợ chính những thứ giết ta dễ dàng nhất. Những thứ ấy không rõ mặt, rành tên, nhưng huỷ hoại đời người chóng vánh. Lòng Trang thắt lại, nước mắt lăn ra trên má. Trang hối hận mình đã vì công việc bận rộn, vì con nhỏ mà cũng chẳng quan tâm xem chị Len sống thế nào. Giá mà buổi họp phụ huynh ấy Trang nhận lời vào nhà chị chơi, biết đâu đã làm được điều gì. Không kịp tiễn chị Len ra đi nữa rồi. Trang ngồi im trong góc nhà nghe bà con bàn tán về đám tang. “Rồi chồng nó sẽ lấy vợ mới thôi”. “Chồng khồng thấy khóc vợ hay sao ấy”… Trời ơi, phận chị Len thật mỏng. Không biết người đàn ông ăn nằm với chị có khóc không. Người ấy có biết thương người đàn bà tội nghiệp ấy không hay cũng coi chị là thứ đồ chơi thoả mãn thói tham lam ích kỷ?

Từ trước đến nay, chị Len sống nhã nhặn, hiền lành, không hề có điều tiếng gì, chị còn chịu thương chịu khó hiếm ai bằng. Chính vì thế mà cái chết của chị gây sửng sốt cho quá nhiều người… Trang thấy hẫng hụt như mất đi thứ gì quý giá. Đấy, người mẹ của bốn đứa con giờ thành bụi, da thịt mình còn lại trên đời này ai chăm bằng mẹ? Ngồi ngắm nghía đứa con gái nhỏ của mình vừa ngủ vừa chẹp chẹp mồm mà Trang thương cho mấy đứa bé nhà chị Len. Ngày mai thức dậy, chúng đã không còn thấy người phụ nữ thân yêu sinh ra mình nữa. Chỉ nghĩ thế thôi là Trang đã nghẹn ngào. Rồi lại thương những người phụ nữ còn lại trên đời này lâu lâu lại sống trong những nỗi cô đơn khó giãi bày.

Trang nghĩ đến cô Thao bán đậu gần nhà mẹ. Người cô đen và nhỏ bé, vậy mà ngày nào cũng thức từ 3 giờ sáng làm đậu, đi chợ, rồi bao công việc trong nhà tận khuya mới đi nằm. Đàn con lít nhít ngày nào cũng khiến cô phải xoay sở với đống quần áo lem nhem, lũ bát cáu bẩn và mấy tấm thân lem luốc của chúng. Ông chồng ốm quanh năm rên hừ hừ trong góc nhà, lúc lúc muốn đi tè chẳng hạn, cô Thao (hay đám con) chưa kịp chạy vào ông đã chửi bậy um lên rồi. Vậy mà chưa ai thấy cô Thao kêu ca phàn nàn gì, quanh năm cung cúc đi về đầu tắt mặt tối. Hôm vừa rồi Trang về mẹ đưa con sang chơi, đã sững người khi nhìn thấy cảnh cô Thao mặt rịn đầy mồ hôi đang bón cháo cho chồng. “Mình ơi có thương con và em thì ăn đi”. Cô Thao thì thầm, dỗ dành. Nhìn những cử chỉ ân cần của cô Thao lòng Trang ấm lại. Ngồi nhìn cô Thao hớt đậu mà khuôn mặt  cô buồn vô kể, vẻ buồn thanh tịnh không dễ gì thấu hết, Trang mới hiểu phần nào lời mẹ nói. “Cuộc đời phụ nữ buồn nhiều hơn vui con ạ, nhưng nhiều lúc đấy cũng là hạnh phúc”. Trang đã lý giải hạnh phúc của cô Thao theo cách hiểu của mình. Nhưng chiều nay, vẻ mặt buồn của chị Len đã trôi về nơi nào, nơi ấy chị chẳng biết có hạnh phúc không. Trang không muốn nghĩ nữa, lòng Trang cũng thấy rối bời. Chẳng hiểu sao hình ảnh con mèo bị vứt đi lại hiện ra, mắt nó biến thành đôi mắt chị Len.

Trang không bàn về lỗi lầm của chị Len vì Trang nghĩ chắc chị khổ. Nhưng ai hiểu nỗi khổ ấy của chị nhỉ? Giờ thì người ta còn bàn tán nhiều. Những đứa con chị liệu có biết thương mẹ mình không? Trang đi theo vệt nắng đã sắp tắt cuối chiều oi ả trên chiếc xe máy cũ đến nhà chị Len hỏi thăm. Dòng người trên đường nhoè đi. Mà sao lá trút nhiều thế nhỉ? Tiếng ve oi bức và run rẩy như biết mình vừa chứng kiến sự ra đi của một con người. Sao người ta lại cứ phải chết đau đớn thế? Sao người hiền lành như chị Len lại có kết cục như vậy?  Cô bạn cùng ăn cơm bụi nhắn rằng mai tìm chỗ khác mà ăn cơm, chị Tần bị tai nạn giao thông không biết có qua khỏi. Lại thế nữa ư? Hoá ra, con người ta chẳng là gì trong thế giới mênh mông. Cuộc sống của Trang cũng thành ra liên quan đến nhiều người khác. Tìm chỗ ăn cơm không quan trọng, mà tìm đâu ra chỗ để ăn cơm mà nhìn lại đựoc mình.

Nắng, gió dường như thấu hiểu mọi lẽ. Nhưng nó cũng chỉ lặng im thôi. Trang cũng thế. Im lặng mà thương những mong manh.

 

Đâu chỉ là giấc mơ (Đọc Người đoán giấc mơ-tập truyện ngắn của Mai Phương)

May 16, 2012 Leave a comment

Người đoán giấc mơ (NXB Hội Nhà văn – 2012) là tập sách thứ tư của nữ tác giả trẻ Mai Phương (Hội VHNT Bắc Giang) gồm 14 truyện ngắn viết rải rác mấy năm gần đây. Điều dễ dàng nhận ra trong cuốn sách này là một Mai Phương đổi thay trong tư duy và lối viết. Một xu hướng truyện ngắn hiện nay của giới trẻ sinh sau 1975 là truyện không có cốt hoặc kết cấu lỏng, nghĩa là không kể một câu chuyện xảy ra từ đầu tới cuối với lớp lang đan cài, cũ mới đồng hiện mà chỉ trọng ý tưởng, ngôn từ trong một lát cắt hiện thực đời sống; nặng cảm xúc, kỷ niệm. Truyện ngắn của Mai Phương cũng nằm trong số đó.

14 truyện ngắn là 14 thân phận của những con người bé nhỏ, yếu ớt. Đó là bà Nhiều, bà Hinh, cô Huê ở xóm ngụ cư tù túng. Mỗi người một tính, một nỗi niềm nhưng đã sống gần gũi hơn, quan tâm nhau hơn sau cái chết của người đàn ông hiền lành, tử tế. Đó là cô Len, cô Thao kiếm tìm hạnh phúc, là ông thương binh Thản trước tiêu cực ở làng. Đó là niềm tin của người đàn bà mắc bệnh nặng, là mối tình của người vẽ tranh thuỷ mặc… Những nhân vật trong truyện hầu hết là phụ nữ, là những người bình thường mà chúng ta bắt gặp ở làng. Họ khát khao hạnh phúc. Hạnh phúc có thể là tình yêu chờ đợi, được yêu người mình yêu, là có một gia đình êm ấm, là được chăm chút yêu thương tới những người thương yêu nhất. Tuy vậy khát khao đó đâu dễ có được, nhiều khi rất mong manh, đổ vỡ. Viết về nỗi chua xót, đắng đót của những phụ nữ bất hạnh, Mai Phương có sự đồng cảm chân tình, một cái nhìn nhân hậu. Điều đó rất rõ trong các truyện Những mong manh, Bà Muối, Xóm ngụ cư…

Bên cạnh những truyện thực, tức là không gian thực ở làng ở phố, Mai Phương đã có số truyện ảo, thực – ảo hoặc giữa hai bờ hư thực. Tiêu biểu cho cách viết này là Người đoán giấc mơ. Ở truyện này, quá khứ, hiện tại đan xen nhau, ảo thực trộn lẫn. Những nhân vật tưởng như trong mộng mà lại là hiện tại, tưởng như không tồn tại lại tồn tại. Điều mà tác giả muốn nói tới ẩn ý qua những con người trong giấc mơ chính lại là giấc mơ có thật. Không phải dễ đọc ở truyện ngắn này khi chủ ý tác giả ẩn sau trong thế giới mộng mị mông lung. Hình ảnh bạch tuộc Paul nổi danh cùng cô gái ám ảnh người đọc. Lời tác giả ở đoạn kết thật ý nghĩa: “Mỗi đêm, khi là chính mình, nhắm đôi mắt khô không khốc không ngủ được tôi cay đắng nhận ra rằng, con người ta đau đớn và vô vị nhất là không có giấc mơ. Tôi bàng hoàng hoảng sợ nếu bạch tuộc Paul không sống trong lòng mình. Khi không có giấc mơ thì người đoán giấc mơ biết làm gì?”

Văn Mai Phương mềm mại, bồng bềnh, chau chuốt, giàu nhạc điệu. Và hình như đây là thế mạnh của nữ tác giả này, người khá thành công trong tản văn – rõ nhất trong tập Về miền ký ức. Lối viết ảo trong Người đoán giấc mơ là cách làm mới dù cách thức ấy đã hiện diện quá lâu trong các tác phẩm cổ kim, nhưng hình như phù hợp với sở trường của Mai Phương, đồng thời làm phong phú, đa dạng cho truyện ngắn Bắc Giang hôm nay, cho phong cách mỗi tác giả.

Từ những thành công bước đầu, Mai Phương với lao động cực nhọc và hạnh phúc có thể thực hiện khát vọng và giấc mơ có thật của mình là sáng tác những tác phẩm mà bất kỳ nhà văn đích thực nào cũng ao ước, những tác phẩm mà bạn đọc không thể lãng quên, những tác phẩm “có thể lay động đồng loại, thay đổi tâm tư hoặc số phận con người” như tác giả tự bạch trong cuốn sách mới đây.

Đỗ Nhật Minh

Mùa Thu Cho Anh

April 30, 2012 Leave a comment

Mùa Thu Cho Anh

Mai Phương

Em lại ngồi với chiều thu và viết
Bông cỏ may theo gió đã đi rồi
Trời lạnh thế, triền đê loang nắng vội
Thu đến nửa vời, xa cách mãi thôi…

Anh nhóm bếp một mình nơi ấy
Đêm có vơi đi cái lạnh hao gầy
Nhìn trăng  khuyết chắc là anh nhớ
Tóc em buồn chải suốt heo may

Tuổi thơ ùa về thắc thỏm trên tay
Kỷ niệm về nhau rắc đầy lối cũ
Hoa cúc mỏng manh giấu lời nhắn nhủ
Trang viết phập phồng thức ngủ cùng đêm

Lá gọi mùa về, nỗi nhớ dày thêm
Buốt nhức cỏ may những ngày dông gió
Vườn của ta xưa đong đầy trăng tỏ
Anh đừng buồn, em vẫn đợi thu qua.

Bà Muối (truyện ngắn của Mai Phương)

April 13, 2012 Leave a comment

Cái nhà cũ kêu rọt rẹt trước mỗi trận gió bấc cuồng nộ. Mấy ngày nay, trời bỗng gió rét khác thường. Đồi núi, rừng cây và cả những cánh đồng khô nứt nẻ chừng như lặng câm mặc gió hoành hành. Cái lạnh tê tái hơn những mùa đông khác. Bà Muối ngồi trong căn bếp hẹp lộn xộn, đồ đạc đen kít bồ hóng vừa sưởi vừa cời than nướng mấy con ốc nhồi.

Con cú mèo thằng Máy bắt được trong Khe Táy đem về nuôi đã quen với cảnh sinh hoạt của con người. Nó đậu trên búi cỏ khô xó bếp mắt thao láo nhìn bà lão. Thi thoảng nó lại “chẹp chẹp”, “ríc ríc” một hồi. Chắc nó làm thế cho bà Muối đỡ cô đơn. Ngày nào bà chẳng ngồi trong  căn bếp này từ sáng đến trưa, từ chiều đến tối. Con cháu bà người thì đi làm ruộng, đứa thì đi học xa hết cả, làm gì có ai trò chuyện với bà cho được. Mà bà cũng không thích nói chuyện với đám cháu chắt của mình. Chúng suốt ngày bàn đến mua điện thoại đời mới, quần áo mốt này mốt khác, nên làm tóc xoăn hay tóc thẳng. Làm gì có đứa nào biết được bà đang rất buồn, rất nhớ cái làng Cống xa xưa của mình với những nóc nhà yên ấm. Bà nhớ người bạn đi cấy rất thân của mình tên Nụ hát hay, răng đen nhưng nhức mà đời thì bạc bẽo. Bây giờ, bà ngồi ăn cùng con cháu bên mâm cỗ đầy trong căn nhà sang trọng bỗng lại thấy xa lạ và tủi tủi thế nào ấy.

Làng Cống từ ngày có con đường nhựa liên huyện chạy qua đã hoàn toàn đổi khác. Đất ruộng vườn làm đường được đền bù khá nhiều tiền. Người làng chen nhau ra ở sát mép đường, đua nhau đập mấy gian nhà ngói cũ kỹ của cha ông đi để xây nhà ống cho hiện đại. Tiếng là nhà có bếp nhưng không ấm vì đun bằng thứ lửa xanh lét. Bà sợ mùi ga. Ông Đình con trai cả của bà cũng xây một cái nhà to uỵch như thế. Con cháu bà định phá bếp cũ đi xây cái nhà tắm nóng lạnh nhưng bà không đồng ý. Bà bảo, nếu muốn bà sống hãy để lại căn bếp ấy. Và đó là lý do tại sao mà còn cái bếp đầy bồ hóng dưới gốc mít bên ngôi nhà láng coóng mới xây. Xó bếp lỉnh kỉnh đủ thứ, nào khoai lang, bí đỏ, cà chua, hành tỏi, nào là chum đựng đậu đỗ, bu nhốt gà, bao đựng trấu xay…Có cả cái chạn bát bằng tre bóng lên màu cánh gián đêm đêm rúc rích chuột. Bà Muối chít khăn nhung đen, mặc quần lụa ta, áo bông, đi đôi tông cổ lỗ ngồi bó gối trong không gian ấy thật hợp lý.

– Bà ơi, mẹ cháu đâu ạ? – Tiếng cái Lý, cháu nội của bà gọi vống lên.
– Bà không biết. Có việc gì? Bà Muối bình thản quay mặt nhìn ra.
– Chú Cầu bị tai nạn rồi, cháu tìm mẹ lấy tiền mang ra thị trấn.
Bà Muối giật mình hoảng hốt làm rơi cả con ốc đang xèo xèo nước trên tay:
– Tai nạn gì? Nó mới đi làm ba hôm nay chứ mấy?
– Ôi giời, tai nạn  thì mấy, bà thật lẩm cẩm, chú ấy bị ngã giàn giáo gãy chân rồi.
– Trời đất ơi, con ơi là con- Bà khẽ rên lên rồi nói:
– Đây, tiền đây, cầm tạm đi, mẹ mày lên xã nộp sổ đỏ vay mượn gì đó rồi.

Bà Muối lần trong thắt lưng, dễ chừng cũng đến cả xấp tiền, rất nhiều giấy 10 ngàn đồng, chắc là tiền mừng tuổi của con cháu nhân dịp Tết. Cái Lý cầm vội nắm tiền rồi lên xe vù đi, quên cả chào bà. Lòng bà Muối như có ai kéo rào đi qua.

Bà góa chồng từ khi 30 tuổi, mấy chục năm nay nuôi 5 đứa con Đình, Cầu, Tự, May, Mắn. Cái làng Cống xưa kia rừng rậm rạp nay chỉ còn leo pheo ít bụi hóp sát bờ sông. Khu đất hoang rìa làng ngày trước chỉ để cho trẻ con buộc trâu bò và chơi trò đánh khăng đánh đáo nay biến thành san sát nhà tầng. Làng thay đổi nhanh chưa từng thấy trong cơn lốc kinh tế thị trường. Bà còn nhớ những năm bao cấp, tháng ba ngày tám phải đào củ chuối về nấu ăn thay cơm, chẳng bù cho lũ cháu chắt bà bây giờ không thèm ăn cơm trắng, chúng đòi ăn những thứ gỉ, thứ gì đó cơ. Bà quanh quẩn trong mấy gian bếp chẳng muốn đi đâu. Những ngôi nhà lát gạch men phải bỏ dép ở ngoài bà thấy khó chịu.  Cái bồn rửa mặt bé tẹo sao bằng múc nước dưới giếng lên rồi ào ào vỗ vào mặt cơ chứ.  Bà lẩn mẩn nghĩ đến chuyện sao con trai bà bị tai nạn được. “Thằng Cầu số lận đận”- bà lẩm bẩm thế. Chú Cầu quanh năm đi phu hồ theo đám thợ xây trong làng. Ruộng ngày càng hẹp, còn độ một sào rau thì vợ chú quanh quẩn làm. Chú Cầu và bao nhiêu trai tráng thành người nhàn rỗi, đành kéo nhau đi làm ăn xa. Nghe nói, giờ chú đi nấu ăn cho thợ, không biết trèo lên giàn giáo làm gì mà ngã. Thằng Quán con trai chú mới mười lăm, mười sáu đã phải đi làm thuê kiếm tiền cho cái Giang đi học. Năm ngoái nó về mang theo cái ngón tay băng lù lù. Thì ra nó bị máy xén gỗ nghiến mất một ngón tay khi đang làm công. Sự kiếm tiền trở thành quá ư mệt nhọc và lam lũ, không phải như người làng Cống xưa chỉ việc trồng rau cấy lúa mang bán là xong. Chú Tự là người được học hành trong nhà nên đi  thoát ly làm công nhân ở mãi Hải Phòng thi thoảng mới về. Chú cũng bật cười khăng khắc trước ngôi bếp của bà Muối. Thằng Máy con trai chú Đình vừa lấy vợ và mở cái quán bé xíu rìa làng bán mấy thứ cà muối, tương, mắm, lòng lợn, măng chua… Chiều nào cũng khối người mua mấy thứ đó. Xem ra, hàng rẻ tiền muôn đời  được người ta chuộng. Chú Mắn đang nuôi giấc mơ làm giàu ở xứ người. Cả nhà đang dồn tiền và vay mượn lấy vài trăm triệu cho chú đi Hàn Quốc. Bà Muối phấp phỏng không ngủ được khi thấy các con cháu tối tối rì rầm bàn tính. Nhưng bà biết gì mà tham gia. “Bà già rồi cứ ngồi im đấy cho con nhờ”- chú Cầu lại gắt lên như thế. Bà ỉu xìu quay về căn bếp riêng tư nướng ốc ăn cho qua ngày. Hóa ra, bà thành người thừa thãi trong cuộc sống của con cháu mất rồi. Nhiều người cho rằng bà dở người, nhà cao cửa rộng chẳng ở lại cứ thích ngồi suốt ngày ở xó bếp cũ kỹ. Nhưng với bà thì khác.

Ở đó là một thế giới riêng tư thuộc về bà, nơi để mấy cái nơm kia đã từng là nơi bà lót ổ rơm cho chồng bà ngủ. Ngày ấy làm gì có điện, chỉ biết đến ánh trăng. Bà và bà Nụ hay đi xem hát chèo bên kia cánh đồng làng. Nụ trốn mẹ để đóng vai Thị Màu lẳng lơ trong vở chèo làng bên về bị mẹ đánh cho một trận nhớ đời. Rồi Nụ đâm ra yêu thầm con trai ông chủ gánh chèo.  Nụ đã trốn làng ra đi vào một đêm mờ mờ trăng suông. Bà Muối can ngăn không được bèn lẻn đi giấu giếm cho Nụ mấy đồng hào lẻ và quay về. Trên đường về, bà đã gặp chồng bà sau này- người đàn ông vâm váp chuyên đi cày thuê cho cả làng. Bà lấy chồng sau một đêm ngủ quên trong ổ rơm nơi góc bếp bên hơi ấm người đàn  ông lạ lẫm khi bố mẹ vắng nhà. Sau đận ấy, bố mẹ bà hầu như không lấy gì của chồng bà ngoài cái nhìn đe nẹt: “Chúng mày liệu mà sống”…

Bà còn nhớ ngày lúa làm đòng phơi phới tháng ba, cả làng hong hóng đợi đêm hát chèo diễn ở sân đình. Bà mong thầm, nhỡ đâu may ra gặp Nụ. Mà gặp thật, Nụ không xuất hiện trong gánh hát mà tất tả tay nải bên vai cùng cái bụng kềnh càng lội tắt qua đầm lầy về phía nhà bà Muối. Không kịp nói gì, Nụ đổ gục bên đống rơm và khóc nức nở. Thì ra, cuộc sống không ngọt ngào như tiếng hát đêm đêm trên sân khấu. Chàng trai con ông chủ gánh chèo đã chán Nụ rồi, khi mà cô thôn nữ mang thai lếch thếch theo đoàn chỉ để nấu cơm. Nụ bất chấp mọi tủi hổ trở về. Bà Muối còn nhớ trận đòn kinh thiên động địa cha Nụ đã dành cho Nụ. Rồi bao nhiêu lời đàm tiếu xì xèo của người  làng. Nụ sinh con và sống trong căn nhà vốn là cái chuồng lợn cũ. Hầu như gã đàn ông rỗi hơi nào đi qua nhà cũng buông lời chọc ghẹo Nụ. Thằng Được lớn lên buồn thiu cùng những lời đồn thổi về mẹ. Trưa ấy nắng lắm. Nụ tóc tai rũ rượi ngồi ở sân điếm, nửa khóc nửa cười như người lên cơn dại. Xung quanh, người làng xúm đen xúm đỏ. “Trả con cho tôi!”…Tiếng Nụ gào khóc xé lòng. Thì ra thằng Được ở nhà đun cám lợn bị một người đàn ông đến xưng là bố đón đi. Ai đến gần đều bị Nụ cầm nắm rạ ném vào mặt. Bà Muối ngồi lặng lẽ nhìn căn nhà Nụ xiêu vẹo mà xót xa như chính mình bị người ta lừa gạt vậy. Đến đêm thì người ta không thấy Nụ đâu nữa. Bà Muối thức giấc và hình như thấy có bóng người vụt qua cái cổng làng, xiêu vẹo đi trong ánh trăng. Ai như là Nụ? Bóng người đàn bà mờ ảo như ánh trăng tan ra trên đê rồi mất hút phía sau con sông già nua. Nụ biệt tăm tích từ ngày ấy…

Bà Muối thở hổn hển khi kéo cái nồi đồng cũ trong xó bếp ra, bà định bán cho con bé đồng nát. Từ ngày làng đổi mới, phố xóm chẳng có mấy ngày không có tiếng rao “ai đồng, nhôm sắt vụn bán đê…”. Mấy thằng choai choai không có việc làm tụ tập ở quán nước đầu làng tán gẫu, đánh đề và làm đủ trò chướng mắt. Tự dưng mọc lên cái quán Karaoke thư giãn ngay lối vào làng làm cho không khí trong làng lúc nào cũng ì xèo. Cãi vã, chửi bới có cả, đánh ghen, tranh giành khách có cả. Bà Muối sợ đám thanh niên ấy trộm mất cái nồi đồng nên mang ra để bán. Bà đưa tay sờ vòng quanh miệng nồi vẻ tiếc rẻ, xa xót lắm. “Bây giờ làm gì có ai dùng đến cái nồi ấy mà bà giữ làm gì?”. Đứa cháu dâu ngay bên hàng xóm nói vậy. Bà Muối giật mình. Bà cũng đâm ra nghi ngại chính mình, chẳng lẽ người ta đúng, cái gì xưa cũ đều lạc hậu, cái mới đều tốt cả? Bà không nghĩ thế, chính đám con cháu luôn cho bà là lỗi thời, là không nhìn ra thời cuộc mới là đám người nông nổi. Có ông cán bộ xã vào đưa cho mẫu tờ khai đi xuất khẩu lao động. Bà Muối cầm giấu tiệt đi. Mẹ con Lý từ bệnh viện trở về thì bà Muối cũng sửa soạn xong đồ đạc, tư trang. Bà gọi con dâu vào dặn: “Đi gọi thằng Mắn về cho u, không đi nước ngoài nữa, đưa tao lên thăm thằng Cầu”. Cả nhà không ai đồng ý, nhưng bà Muối găng lên, cái Lý đành đèo bà đi. Mấy hôm nay bà Muối có điều gì băn khoăn, nhấp nhổm, không bình thường. Sau khi từ bệnh viện trở về, bà Muối dặn con dâu không được bán mấy cái ruộng phần trăm cuối làng cho người khác, nếu bán, bà sẽ chết, để đấy rồi có việc. Ăn cơm xong bà gọi vợ chồng chú Đình lại rồi khép cửa, dáng điệu khác lạ. Bà lôi ra từ xó bếp một cái lọ thuỷ tinh cũ, đổ ra cả một nắm vàng ta. Chao ôi, cả vợ chồng chú Đình sững người. Bà Muối vuốt thẳng mảnh giấy nhàu nát trong lọ đưa cho ông Đình cùng một số vàng và dặn: “Ba ngày nữa không thấy ta về thì bố con Lý xuống tìm theo địa chỉ này. Thằng Được bao nhiêu năm không biết đến tình mẹ con, thấy bảo nó đã tìm được mẹ”. Chú Đình ớ người, thì ra, mọi đêm bà tỉ mẩn nghe đài, bắt con Lý ghi ghi chép chép khi chương trình “tìm người thân” phát đi. Bà Muối đã nghĩ quá nhiều trong những năm tháng làng đổi thay thành phố. Bà lo lắng cho tương lai đám cháu bà. Lo mất đi cái làng Cống cổ xưa. Và trên hết là tình thương với Nụ, với thằng Được côi cút nơi nào. Cuộc họp gia đình diễn ra chóng vánh, chú Đình vội vã nghe theo…

Bấy nhiêu mùa đông trong căn bếp cũ, bà Muối vẫn định đi tìm cậu con trai thơ bé của bà Nụ, tìm người bạn thời con gái dại dột thuở nào. Lần này, bà Muối quyết định ra đi, bởi bà biết chắc chắn, nơi bà đến, mọi đau khổ đã qua. Rõ ràng là đã muộn để rời bỏ những kìm kẹp cổ lỗ để đi tìm thằng Được. Nhưng muộn vẫn hơn không, bởi bà rất tin vào thuyết nhân duyên của Phật. Nếu có cơ duyên, bà sẽ mang được nó về lại ngôi làng của mẹ nó xưa kia. Nhưng mang nó về để rồi nó sẽ làm gì trong cái làng Cống ngày càng thay đổi thì bà không nghĩ được. Nhưng ít nhất bà Nụ có thể sống cùng bà, làm lụng trên đám ruộng cha ông, và sẽ được chết nơi đã sinh ra. Bà quyết định rời bỏ cái bếp cũ để đi.

 Và mới tơ mơ sáng một ngày đầu tháng trong sương lạnh, đã có người nhìn thấy bà tay nải gió đưa… Lạ một điều, ngay hôm sau bà đi vắng, đám con cháu bà đã họp lại kiểm điểm nhau, xem chừng đã ngẫm nghĩ những lời bà nói.

Mai Phương

%d bloggers like this: