Archive

Archive for the ‘Tác phẩm của Xuân Chiều’ Category

Đôi chuột bạch (truyện ngắn của Xuân Chiều)

March 18, 2014 Leave a comment

Xuân Chiều

 

 

ĐÔI CHUỘT BẠCH

 

Truyện ngắn

 

           Đã hàng chục năm nay dân của làng Đồng Trung thường thấy hai ông hội viên Hội người cao tuổi của làng hay đi bộ dạo chơi  khắp hang cùng ngõ hẻm trong thôn.  Lê Phan năm nay 71 tuổi cứ tám, chín giờ sáng hoặc bốn năm giờ chiều mỗi ngày một lượt  trong bộ trang phục sọc dưa ngày ấm nóng hoặc trong bộ đồ ấm màu ghi, mũ mã tề chỉnh, mùa rét với giày, dép gọn gàng, đầu bạc như đụn bông, đi dạo quanh làng. Cứ mỗi ột khúc cua của đường ông dừng lại ngắm nghía, quan sát, suy tính, ngẫm nghĩ điều gì một lúc rồi ông đi tiếp. Khi gần kết thúc cuộc tuần hành ông tạt vào một nhà bà con hoặc anh em con cháu truyện trò nước nôi đôi chút – nếu như chủ nhân đon đả, xởi lởi mời chào. Khi tâm sự, chủ nhân hỏi “ ông đi đâu”, ông cười hề hề dễ dãi trả lời: “ Đi rong chơi một lát chứ có việc quái gì đâu”.

Một người thứ hai mà dân làng cũng thường gặp rong chơi đó là Trần Dật. Ông ta cũng bảy mươi mốt tuổi đồng niên với Lê Phan. Ông thường đi dạo trong bộ mã xuyềnh xoàng: quần áo gụ âm lịch, hoặc áo xanh quần gụ, chân đất và hầu hết quần ống thấp ống cao, đầu trần. Nhiều lần thấy ông mặc quần thủng gối hay thủng đít. Đây là do cố ý chứ không phải ông thiếu quần áo. Khác với Lê Phan, Trần Dật không tỏ vẻ thư thái đàng hoàng, không đi một mạch ở đường to, đường chính mà ông thể hiện làm sao cho thành một người thông cảm sâu sắc hoàn cảnh từng người dân lam lũ trong thôn. Ông đi tận đường ngang, ngõ tắt, nghiêng ngó vào tận từng nhà để nghe được hết mọi chuyện dở hay, to nhỏ. Tóm lại, những thông tin sự kiện trong làng, ngoài xã ông cập nhật như đinh đóng cột. Khi thời gian gần hết cho việc tuần tiễu này thì ông nghe ngóng trong anh em làng xóm chỗ nào có sự kiện gì là ông có mặt. Thời cơ cho phép là ông nhập cuộc ngay. Cũng có nhiều khi người làng hỏi Trần Dật:

– Thế ông đi đâu mà tích cực đi thế? Trần Dật gãi gãi đầu tặc lưỡi:

– Đi sục nhắm…

Gia cảnh của Lê Phan và Trần Dật hiện tại khá giả so với mặt bằng cộng đồng trong làng. Những động thái trên của hai nhân vật đã thành quy luật. Qua để ý đến quy luật ấy, trên chín mươi phần trăm dân làng nhận xét:

– Hai ông này khoẻ không bệnh tật  gì nên cứ phải đi chứ ngồi không chịu được.

Mỗi khi ai đó ngẫu nhiên gặp Lê Phan ở một đoạn đường công du thì Lê Phan tỏ vẻ suy tư rồi nói:

– Cái chỗ này hồi tôi làm Chủ nhiệm đường to ra tận đây, đống tre nhà ông N ở mãi dưới kia. Hoặc:

– Ngày tôi làm Bí thư chi bộ đã có dự định cải tổ cái sân Hợp tác xã và cái kho thành Nhà văn hoá thôn và nhiều nữa… Thực tế thì Lê Phan lấn chiếm cả kho của Hợp tác xã ( HTX) làm chuồng trâu, sân HTX làm đường đi, bờ ao nhà người khác thành dãy tre xanh tốt của ông.

Phía Trần Dật lại khác: ông rất thạo những công việc ma chay, cưới xin, đình đám, tế lễ, đổi chác, mua sắm. Vậy nên gia đình nào gặp biến cố nhiêu khê gì là ông nhiệt tình hiến kế ngay. Nếu gia đình đồng ý thì lập tức sau đó ông thành thượng khách trong mâm cỗ đầy…Và khi ông đi công việc chi phí chỉ độ vài chục ngàn nhưng ông sẽ phán cho gia chủ độ vài ba trăm ngàn, việc vài trăm ngàn thì ông phán “ có lẽ phải tiền triệu”. Có việc dễ ợt, chỉ cần sang ngay hàng xóm là có, nhưng ông tỏ vẻ nhăn nhó, nghĩ ngợi “ việc này khá phức tạp đây”. Chủ nhân cấp thiết khẩn khoản:

– Ông cố gắng giúp em kẻo nguy kịch đến tính mạng…và đây, ông hãy cầm tạm giúp em bằng này, sau em lo liệu tiếp. Khi tiền đã vào tay, phương tiện đã đầy đủ , trước lúc ra đi làm việc “đại nghĩa”, Trần Dật không quên ân cần, chu đáo với chủ nhân:

– Ở nhà các vị không tuỳ tiện làm theo cách khác nhá, cứ bình tĩnh việc đâu khắc vào đấy…

Có một điều lạ là việc gì Trần Dật làm cũng xong, riêng có điều là ông không bao giờ quyết toán. Thậm chí có vụ việc cho là cả lộ phí, ăn uống, quà cáp, hỏng hóc dọc đường chỉ hết dăm ba chục vậy mà Trần Dật cuốn hàng triệu của chủ nhân mà về cứ im như trê đẻ. Nhiều gia đình khổ sở, chết cha chết mẹ vì tiền, gạo nhưng không dám đòi, lửa thiêu trong ruột nhưng mẽ ngoài vẫn phải coi Trần Dật là ân nhân, lâu lâu lại cơm gà cá gỡ. Đòi! Ai mà đòi nổi!… Có người bảo:

– Đòi, đối với lão Dật, có tiên sư mười đầu, hai mươi con mắt cũng vái lão ấy cả chõ…

Việc cho lão Dật ăn phải bữa sau to hơn bữa trước. Nếu không ấy à, lão chén chín bữa to, một bữa tồi thì cái tin chủ nhân “ kiết xỉ”, “ bẩn bụng” bay khắp thiên hạ. Bên cạnh những chuyến “ vi hành”, nếu phát hiện ra nhà ai có gì mà Trần Dật chưa có thì sau đó bằng mọi cách kể cả mánh bỉ ổi, ông ta phải có. Hiện tại dân làng lắc đầu le lưỡi, cạch Trần Dật như đỉa sợ vôi.

Vào những năm 1974 đến đầu 1977, HTX Nông nghiệp Đồng Trung là một trong những HTX làm ăn được của huyện, bởi lẽ, huyện lấy Đồng Trung làm điểm, bao nhiêu vốn liếng, tiền của, khoa học kỹ thuật huyện rót cho Đồng Trung vô giá dẫn đến vụ chiêm xuân 1975, Đồng Trung lần đầu đạt sản lượng 5 tấn trên một héc ta. Một cái đích có một không hai so với 7 HTX còn lại trong xã. Đồng thời, trại chăn nuôi của Đồng Trung có hơn hai trăm đầu lợn, vài ba trăm gà… Đây là thời hoàng kim của Chủ nhiệm Lê Phan và Phó Chủ nhiệm chăn nuôi Trần Dật. Đôi chánh phó này trở nên nổi tiếng. Cán bộ  huyện đủ các dạng không mấy ngày là không có vị đánh chén tại nhà Lê Phan, Trần Dật. Cũng thời gian này, hàng đêm cứ khoảng từ chín giờ, mười giờ là Lê Phan, Trần Dật cùng kế toán chụm đầu hội ý tại trại chăn nuôi. Đương nhiên mỗi cuộc hội ý này thì một vài nhân viên trại được lệnh thả phanh tay dao tay thớt, thả phanh thi thố tài nấu nướng và lẽ tất nhiên có vài ba mái gà “đẻ hỏng” hoặc vài chú “ thiến sót” phải hiến thân cho chủ nhân của nó. Hoặc hôm nào giản đơn cũng phải có dăm chục trứng ốp nếp, vài ba đấu lạc loại một từ kho lên … chảo để phục vụ các lãnh đạo đàm đạo công việc, tìm kế sinh nhai cho dân làng Đồng Trung. Một hôm bàn tiệc đang sôi động thì lão Hót – một lão nông tri điền có tính hay thóc mách xuất hiện. Sau một tiếng đằng hắng thật to lão Hót lên tiếng:

– Xin chào cả nhà, chào Chánh, Phó Chủ nhiệm!

Chủ nhiệm Lê Phan hơi bưng bức trong người nhưng trấn tĩnh ngay, anh ta cười hề hề vẻ dễ dãi:

– Ấy, may quá! Xin kính mới bác lại đây vui với chúng tôi một chén ạ.

– Sao, bận rộn thế nào mà các anh cơm muộn thế? Lão Hót hỏi. Trần Dật nhanh nhảu trả lời:

– Hôm nay mấy anh em chúng cháu không may mà lại hoá may. Không may ở chỗ họp huyện tận tối về ngang đường lại hỏng xe. May là về đến đây tại trưởng trại bảo có mấy con gà bị rắn phun thế là mấy anh em làm cơm đánh nhắm. Và Trần Dật mời lão Hót:

– Cháu xin trân trọng mời bác lại đây chia may cùng chúng cháu.

Chưa kịp về nhà, ông lão không khách khí nhập cuộc ngồi vào mâm và chan chan, xởi lởi:

– Đấy, đứng mũi chịu sào lo cho dân đi sớm về khuya là vất vả lắm, không có mấy ai hiểu đâu. HTX được như hôm nay công đầu là thuộc về các anh, thuộc về Ban chủ nhiệm.

Lê Phan nâng chén rượu với vẻ mặt tự mãn dương dương:

– Nào xin mời tất cả đồng tâm hiệp lực.

Tiếng cụng chén lách cách chạy ngược kim đồng hồ quanh mâm. Sau đồng loạt một tiếng à, Lê Phan lên tiếng:

– HTX như hôm nay đó là công lao tất cả của xã viên chứ đâu phải mấy ông quản trị. Lão Hót cười đầy mãn nguyện pha chút nịnh bợ, mỉa mai và châm chọc:

– Đành rằng như vậy nhưng xin hỏi các bác? Một đoàn tàu vớ phải chiếc đầu máy kém sẽ chuyển động ra sao? Trần Dật vỗ tay reo:

– Một ý kiến hay, rất hay, không còn đường chối cãi. Nhưng cái đó hãy biết vậy, ta đánh thêm hiệp nữa. Và rồi Trần Dật túm cổ chai rót một loạt các chén vại đầy tràn, hạ lệnh tiếp:

– Nào, xin mời tất cả tiếp tục, mời ông Hót, trăm phần trăm.

Lão Hót thực chất không hay rượu, tửu lượng lại rất xoàng, nhưng lão làm ra vẻ xăng xái. Lão cười cái cười xoe xoé của kẻ choáng hơi men rồi nâng chén ngửa cổ làm một ngụm nuốt ực và giơ chén úp xuống mâm trước mặt mọi người. Lão đảo mắt khắp mâm… Tất cả im lặng đưa mắt cho nhau rồi đều cạn. Đồng loạt sau đó là tiếng dằn chén chan chát xuống mâm. Một tràng cười bốc lên. Hơi men toả ra nồng nặc. Lê Phan cười kéo dài giọng tửu:

– Tuyệt đẹp, tiếp tục, tiếp tục!

Lão Hót đưa tay đỡ chai trên tay Lê Phan:

– Hãy cứ từ từ, mưa dầm thấm sâu. Lão hạ giọng vẻ nhỏ nhẹ dễ nghe:

– Theo tôi con người có số thật.

Lê Phan chất vấn lão Hót:

– Sao? Ông bảo sao?

Lão Hót từ tốn:

– Tôi không nịnh các bác đâu. Hai bác ở cái tuổi Bính Tý, tuổi giàu sang phú quý, làm chơi ăn thật, con của đề huề. Lê Phan phản đối:

– Đâu có. Theo các cụ nói “ bính biến vi tù”, Bính Tý tức là chuột trong cũi không ra gì. Lão Hót phân bua:

– Theo tôi hiểu, chữ “ tù” ở đây khong đơn thuần như các bác hiểu mà “tù” đã biến tấu thành “tuỳ”. Tức là tuỳ vợ, tuỳ con, tuỳ anh em làng xóm…Tóm lại tuổi các bác là hay thương người, vì người, dám hy sinh vì tập thể. Còn xưa nay ai nhốt chuột trong cũi đâu. Vậy ác bác là đứng tuổi con chuột bạch, một loại chuột cảnh được nuôi dưỡng chu đáo, có ích và làm đẹp cho đời… ( trong bụng lão Hót lại nghĩ hai con chuột cống – chuột cống kếch sù hàng ngày đang đục khoét mồ hôi, công sức của dân).

Lê Phan, Trần Dật ngồi nghe lão Hót phân tích, lý giải bỗng tự nhiên hai khuôn mặt ngây thuỗn, lệch đi như chiếc diệp cày và gật lia lịa. Cả hai đều lên tiếng:

– Ừ, kể nghe ông Hót nói cũng có lý. Lê Phan ra lệnh cho Trần Dật:

– Phó Chủ nhiệm tiếp tục đi! Rót tiếp.

Lão Hót làm ra vẻ sửng sốt và đứng dậy rất nhanh. Lão móc trong túi áo ra một gói vuông vức bằng giấy báo và cáo từ:

– Thôi tôi xin phép các bác. Thực ra tôi có thằng cháu bị ho, đi xuống ông bạ Tạo lấy cho nó ấm thuốc, may bước chân được chia vui, trò chuyện cùng các bác. Bây giờ tôi phải về sắc thuốc cho cháu kẻo bố nó ấu nói lắm, nó lại mắng cho đấy. Lão đi như ma đuổi, không đèn không đuốc mất hút vào bóng đêm.

Trên mâm ăn còn Chánh phó Chủ nhiệm, một trưởng trại, một nhân viên. Tất cả im ắng. Lũ côn trùng đã rả rích trong đêm. Một hồi sau, Lê Phan ra vẻ suy nghĩ, nhìn về hướng lão Hót đi nói như nói với chính mình:

– Thằng cha này!

Trần Dật gạt phắt:

– Kệ hắn, cứ tiếp tục…

Không hiểu bữa tiệc này được kết thúc sau đó bao lâu. Sau đó và nhiều năm về sau Lê Phan và Trần Dật thường đàm đạo với nhau khi hai người bên bàn trà hay mâm tửu. Cả hai đều thừa nhận: lão Hót có khía cạnh mỉa mai, kê kích, châm biếm, mỉa mai mình, nhưng phải thừa nhận lão phân tích, nhận xét đúng.

Lê Phan đi bộ đội nghĩa vụ năm 1959. Sau hai tháng đóng kịch cáo ốm tinh vi được giải ngũ về địa phương rồi được làm cán bộ Đoàn, kế toán HTX Nông nghiệp, thành Bí thư đảng uỷ xã,thành cán bộ tổ chức huyện uỷ. Hiện tại được hưởng lương hưu địa phương cộng lương tuất con liệt sĩ chống Tàu, tổng thu cũng vài triệu một tháng. Khi thôn xã họp hành lại thuộc đảng viên lão thành, đại biểu ngồi ghế hàng trên.

Trần Dật: năm 1953 có lệnh nhập ngũ. Khi ra đi cả làng xôn xao “ làng Đồng Trung thêm một vệ quốc đoàn’. Ngờ đâu chiều tối hôm sau đã thấy Trần về làng với dáng đi mệt mỏi trong bộ trang phục: quần nâu, áo nâu, túi dết nâu, mũ lá. Sau đó biết rõ anh ta đã trốn lính. Rồi Trần Dật làm du kích, công tác Đoàn của thôn, Phó Chủ nhiệm HTX nhiều năm, suýt nữa cũng là đảng viên cộng sản nếu như việc xài vợ liệt sĩ không bị lộ. Trần Dật còn được Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Cuối năm 1976 Trần Dật tham ô bốn tạ đạm của HTX. Viện kiểm sát nhân dân huyện gọi lên. Sau hai mươi giờ bị tạm giam, Trần Dật được Viện phó Viện kiểm sát huyện hỏi cung. Bấy lâu nay vẫn quen tác phong làm việc khoáng đạt bậc xóm với kẻ mù chữ, hôm nay ngồi trước ông viện phó mặt lạnh như tiền, phía trên cặp kính cận hơi trễ xuống là đôi ông mày luôn nhíu nhíu. Phía dưới là chiếc cằm vuông được phủ đặc một lớp râu quai nón. Mặc dù ông điềm tĩnh, ôn hoà  nhưng Trần Dật hồn vía lên mây, mặt cắt không còn giọt máu. Sau ba cú té đái ra quần, Trần Dật vẫn líu lưỡi không nói được điều gì ra câu ra kệ. Trước tình hình đó, cậu em họ của vợ Trần Dật là Phó Chánh án toà án huyện ở liền kề, sinh hoạt chi bộ cùng Viện kiểm sát đã đặt vấn đề:

– Thưa bác,Trần Dật là anh rể tôi. Việc tham ô của anh ta đã rõ. Không những thế, anh ta còn nhiều tội khác nữa… Nhưng theo tôi cái đó có nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ sự dốt nát, vô kỷ luật… Hiện tại, anh ta hai vợ chồng có tám đứa con nheo nhóc, lại thêm một mẹ già kém mắt. Vậy bác xem anh ta có thể bắt anh ta bồi hoàn khối tài sản trên và xử phạt hành chính, miễn tố cho hắn và thực hiện lòng nhân đạo của pháp luật với lũ trẻ…

Bởi vậy Trần Dật không phải tù. Cũng từ cú ấy, Trần Dật về yên lòng làm dân đen. Tuy nhiên, tật xấu khó sửa.  Chẳng vi phạm gì lớn nhưng Trần Dật hay càm cắp lấn chiếm, bê tha, say sưa rượu chè, không có lòng tự trọng nên cộng đồng làng xã khinh lão như mẻ và gọi lão bằng cái tên lão Quẵm. Ấy thế mà không biết khai báo ra sao lão vẫn được cấp Huân chương chống Mỹ hạng Nhì, được trả hàng tháng bốn hay năm chục gì đó. Vậy là lão Quẵm hả hê tẹt ga ngày ba lần nâng cổ chai. Đùng một cái năm 2000 Nhà nước thanh toán cho xong một lượt. Quẵm như mèo bị cắt tai hẫng hụt, mặt khác Quẵm đã trao hết quyền cho con. Cơn nghiện nhiều khi thúc lão mở hòm trộm thóc đổi chất cay. Thấy vậy, con dâu Quẵm khoá hòm, chốt chặt cửa buồng khi đi vắng. Nhiều lúc nhìn lão Quẵm thảm hại, bi ai. Lão đã ngự ngai vàng đê tiện, bởi thế mà lão lang thang như đầu truyện đã nói.

Lê Phan xuất thân từ một gia đình có mức sống trung nông, bố mẹ nuông chiều. Lê Phan học hết cấp ba thời Pháp, tóm lại là đọc thông viết thạo. Ngày nay ở học vị trên coi như mù chữ, nhưng trước đây ở làng Đồng Trung thì học hành như Lê Phan cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, vì thế mà Lê Phan luôn tự đắc cho rằng không ai bằng mình. Quả cũng có thế thật. Những năm chống Mỹ, thanh niên khoẻ mạnh được học hành ra đi hết, thời cơ tốt cho Lê Phan sau mười năm làm kế toán leo lên làm Bí thư đảng uỷ xã. Khi được triệu học tại trường Nguyễn Văn Cừ, Lê Phan mới biết mình là dốt nát. Giảng viên nói hết buổi này qua buổi khác, Lê Phan không hiểu gì, nhất là các cụm từ triết học. Nội tâm Lê Phan biết mình dốt nhưng mẽ ngoài lại ra vẻ ta đây, suốt ngày quần áo là li thẳng tắp, xe ngon, ca táp to đen bóng ra điều một người sang. Anh ta bắt đầu đến nhiều với quán ăn, tiệm phở, đồng thời biết cặ bồ…Thế là chưa đầy một nhiệm kỳ ( lúc đó là hai năm) Đảng bộ đại hội gấp, ghế bí thư được trao cho người khác. Lê Phan bắt đầu bất mãn, càng đâm đầu vào rong chơi xả láng. Nhiều đơn của quần chúng, đảng viên đề nghị thi hành kỷ luật Lê Phan. Mặc! Lê Phan cứ tụt ga trên đường đồi bại. Anh ta bỏ tám đứa con và vợ nheo nhóc…

Những năm làm HTX, đối với con số, Lê Phan tiến hoặc lùi dấu phẩy, chữ nghĩa thì biến tác thành tộ nên về cơm áo gạo tiền vợ con Lê Phan sung túc. Nay miệng ăn núi lở, của phù vân không bền, vợ chồng Lê Phan mâu thuẫn, nhưng vợ bất lực ngày đêm sụt sùi, căm giận, héo mòn. Thấy vậy, em con ông chú là một cán bộ huyện đã trực tiếp phân tích cho Lê Phan và vạch một hướng đi:

– Tốt nhất anh tự hối cải quay lại làm Chủ nhiệm HTX nhỏ Đồng Trung (lúc này hợp nhất giải thể), vì anh còn uy tín với chức danh ấy. Sau mấy tháng tái cử, Lê Phan được Bí thư huyện uỷ, người cùng quê cho đi làm cán sự với việc xây dựng HTX tại phía Nam.Từ một cán bộ địa phương đang đà tàn lụi Lê Phan trở thành một đặc phái viên của huyện lương 65 đồng trên tháng vào Tây Ninh làm cố vấn với hàm một cán sự ba. Lê Phan mũi phổng lên như mũi ếch gặp mưa rào, tưởng mình được lên trời.Ngựa quen đường cũ. Gắn bó với Tây Ninh gần một năm Lê Phan tìm cách mua chuộc, luồn cúi với mọi hình thức để được trở lại nơi xuất phát, lại được tăng một bậc lương, với cương vị mới: một cán bộ tổ chức đảng uỷ huyện. Lê Phan được suốt ngày ngồi hon đa 67 lướt đến nơi mình cần đến. Nhìn diện mạo với comple, xe máy, ca táp to mang danh hiệu thay mặt cho cơ quan đảng cấp huyện đâu phải bỡn. Nhiều kẻ cấp dưới mới nhìn thấy đã khúm núm thưa gửi, xun xoe, vâng vâng, dạ dạ. Điều này khiến Lê Phan tưởng mình lên mây. Anh ta tự huyễn hoặc đến chân trời xa tít của đường công danh. Máu khinh đời, tự phụ lại cuộn lên thành lốc trong người Lê Phan…

Ôi thôi có ngờ đâu giai đoạn này ( thập kỷ 80 của thế kỷ 20) đã khác xa những ngày Lê Phan làm Bí thư đảng uỷ. Các đảng bộ cơ sở mà Lê Phan được cử đến có lực lượng đảng viên từ bộ đội chuyển về hông phải ít, lực lượng này có học, có bề dày rèn luyện, từng trải, họ ăn, họ nói họ làm đều là bậc sư phụ của Lê Phan. Bước đầu tiếp xúc với một ông cán bộ tổ chức họ còn xem xét thăm dò “ để xem thế nào”. Sau dần dà họ phát hiện ra ông cán bộ kia chỉ là đồ rởm, một đụn bù nhìn, nói không nên lời, viết không nên chữ vậy nên họ coi thường. Một số lớn không thèm tiếp xúc. Có anh nhổ toẹt khinh Lê Phan ra mặt. Một Bí thư xã nọ đã nói thốc vào mặt Lê Phan:

– Xin lỗi anh, tôi biết anh thay mặt cho huyện uỷ thật nhưng ái đó chỉ là danh nghĩa, còn thực tại anh giúp chúng tôi được gì, ngược lại anh chỉ làm chúng tôi thêm vướng, làm việc cùng anh tốn thêm thời gian. Tốt nhất anh nên nghỉ để người khác thay…

Lê Phan ngậm đắng. Qua bao đêm trằn trọc, cay cú thức trắng, Lê Phan thực sự thấy nhục và thấm thía câu nói của chú em họ khi chú ấy sau mười năm trận mạc thăm nhà:

– Anh thông cảm, anh ạ, sở dĩ anh làm được một số việc vừa qua đó là họ dựng anh lên vì thiếu chó nên bắt mèo ăn cứt. Lê Phan thấy đây là đoạn đường cùng. Cuộc sống trên đe dưới búa, Lê Phan chấp nhận thôi việc không chế độ.

Con cá chuối rất khôn ngoan ấy thế mà nhiều khi mắc câu, dính lưới vì những miếng mồi. Lê Phan xuất thân từ khá giả nên sự chi tiêu phóng túng đồng thời anh cũng biết đời “ rào bằng đũa chắc hơn rào bằng gai”, những ngày làm việc địa phương Lê Phan tung mồi cho lũ phàm phu… Giờ Lê Phan biết mình còn cách mốc chế độ hưởng thụ xa nhưng anh vẫn được lương hưu địa phương nhờ ơn mấy chú cò… Hiện tại Lê Phan đã biết mình là ai, nhưng vốn vẫn đem trái tim có dòng máu sĩ hão thích oai vệ, người lính tính quan, ưa nịnh hót, nhiều khi cứ coi như người ta không biết gì quá khứ của mình, kệch cỡm ra mặt. Thế nhưng đâu che được mắt thế gian.

Mỗi năm Lê Phan liên hoan đồng ngũ ( 1959) một lần cùng một số uý tá, nhưng Phan đi lính chưa đầy hai tháng. Cô con dâu mỗi lần thấy thế cứ cười tủm: “ Ông cháu hôm nay lại họp đồng ngũ”…Cửa miệng Lê Phan nhiều lúc vẫn tự xưng, nhất là khi có khách lạ là đã từng làm ông nọ bà kia. Thực tế: Bí thư đảng uỷ xã một phần hai nhiệm kỳ, cán bộ tổ chức đảng của huyện hai tháng. Một đảng viên tham ô, gian lận có, hủ hoá có, nghiện ngập bê tha, lấn chiếm, vây cánh, thù vặt, trù dập dân lành … nhưng do ô dù chưa phải đuổi khỏi đảng. Chín chín phần trăm dân Đồng Trung khi nghe Lê Phan huấn thị điều gì họ đều nhổ toẹt:

– Chân ông ta giẫm cứt, ông lại giục người khác rửa chân.

Nhưng thực tế, người Việt nam có đức độ nhẫn nhục đến kỳ lạ, mặc dù trog tim gan có căm ghét đến tột cùng nhưng vẻ ngoài vì tình làng xóm, anh em, thông gia mà họ vẫn tặc lưỡi bỏ qua và tản lờ như người không biết. Có khi họ còn giả câm giả điếc. Dù vậy, dân Đồng Trung vẫn ngầm tặng Lê Phan một biệt danh : Lão Kệch.

Năm tháng qua đi để khe lạch thành sông ngòi, biển cả. Năm tháng qua đi để cây lim rừng to dày thêm phần lõi dâng hiến cho đời. Năm tháng qua đi hoá kiếp cho bao con người từ lầm than cực khổ lên ông hoàng bà chúa và ngược lại. Năm tháng qua đi để  Chánh, Phó Chủ nhiệm HTX Đồng Trung thành Kệch, Quẵm và một đôi chuột bạch. Lão Hót, một lão nông thuần tuý mà tri thức dòng đời khá uyên thâm. Dân làng Đồng Trung bảo thế.

                                          Viết  2006

 

 

 

Advertisements

Ngâu

July 10, 2013 Leave a comment

NGÂU

tác giả : Xuân Chiều

Tất cả dòng sông đều nằm ngửa
Riêng dải ngân hà sấp mặt với trần gian
Màu hắc ám phủ kín cầu ô thước
Nối oan tình Chức Nữ-Ngưu Lang
Án lưu đày đôi bờ tả hữu
Tháng bảy ngâu về lệ tắm nhân gian.

 

7/2013

Chùm thơ chào mừng ngày 20-11

November 20, 2012 Leave a comment

Bố tôi là thầy giáo dạy toán, cũng là thầy dạy tôi hồi cấp hai, nhưng lại rất thích thơ. Từ lúc đang dạy hay cho đến lúc về vui thú điền viên 20-11 năm nào khi được mời ra xã gặp mặt vào ngày này trước đông đủ quan chức hàng xã và đồng nghiệp ông cũng đọc một bài thơ ông viết để…chúc mừng. Xin giới thiệu với các bạn một vài bài trong số đó.

Những bài này tôi cũng thường được bố đọc cho nghe nhiều lần và tôi thích nhất những câu như:

“Một chút cao sang danh giá của ông thầy
Cây dẫu lìa rừng hương quế vẫn thơm lây
Đêm cuối tháng gió trở mình thao thức
Từ cái gốc xưa: Nhân gọi bạn rồi thành chim Cuốc
Thiếu nữ ngóng chồng đã hóa đá Vọng Phu”

“Xòe bàn tay Bác Hồ ra đi một phần tư thế kỉ
Chúng con lại xóa mù như ngày nước mới khai sinh
Có phải chăng đường xoáy ốc gập ghềnh
Hay bánh lái quanh co thuyền về nơi xuất phát
Năm tháng thoi đưa trái tim đời mỏi mệt
Đường quá độ còn dài
Một bất phương trình nhiều ẩn số của ngày mai”

“Có suối tâm tư đôi dòng trong đục
Có cả miệng em cười dông tố nổi lên theo
Có những rừng sao quanh chùm từ mới
Một tiết giảng văn đánh đổi mấy đêm chèo
Tầm độ cuối thu heo may nức nở
Lại được nghe em bình giảng truyện Kiều”

“Sứ giả của giàu sang nghênh ngang trước ngõ
Gõ cửa hỏi tiền
– Xin khất một mùa xa”

GỬI BẠN XA GẦN

Chỉnh lại nếp y trang
Từ một góc vườn xa tôi về với ngày nhà giáo
Bởi một lẽ tổ tiên ta có truyền thống tôn sư trọng đạo
Một chút cao sang danh giá của ông thầy
Cây dẫu lìa rừng hương quế vẫn thơm lây
Đêm cuối tháng gió trở mình thao thức
Từ cái gốc xưa: Nhân gọi bạn rồi thành chim Cuốc
Thiếu nữ ngóng chồng đã hóa đá Vọng Phu
Trăng hạ tuần – Hiện thực của ước mơ
Người trời viếng thăm trái đất
Chuyện thần kì xưa mà nay có thật
Ta vui hay ta buồn?
Sâu lắng, ưu tư, thôi thúc, bồn chồn…
Những cái đó đã vượt quá tầm suy nghĩ
Hỡi những bạn đồng hành: sử văn, địa sinh, toán lý
Đứng trước bến bờ vinh nhục đục trong
Anh lái đò chèo thuyền qua sông
Người thủy thủ lái tàu vượt đại dương muôn trùng bão tố
Nhà du hành ngồi vệ tinh bay vào vũ trụ
Những người thầy
Không tính đến tháng ngày
Đưa cái sơ khai vào thượng tầng kiến trúc
Thai nghén, cưu mang, nâng niu dưỡng dục
Trách nhiệm quá tầm vinh hiển đến sau
Có sợ chi sóng cả, biển sâu
Chỉ miễn đời thủy chung son sắt…
Hôm nay còn có quỷ mượn màu vàng của Phật
Mốt hiện sinh đang tác quái yêu ma
Nhiễu: vàng thau, đen trắng, gần xa
Lưỡi của tiền đã xén vào công lý
Thăm thẳm vực sâu nỗi đau nhân sĩ…
Vì hạnh phúc cháu con
Nòi giống tiên rồng, truyền thống sử son
Người thầy Chu Văn An sống mãi!
Ngô Thì Nhậm xếp bút nghiên hôm nay lòng còn đau thế thái
Trước mặt ta trời đất bao la
Tất cả là đổi mới
Ai nếu lãng quên cứ lắng nghe lời sông núi gọi
Chiến lược con người – Đi lên!
Mục tiêu ấy chờ ta phía trước
Còn riêng tôi đã hết thời mơ ước
Nhưng lửa lòng vẫn thắp một áng văn
Thơ viết vội – gạo ăn đong xin gửi bạn xa gần!

20-11-1989

TRƯỜNG TÔI

Có ông mặt trời ngồi ngay mái ngói
Có dép giày qúy phái tải cặp chân thô
Có kỉ niệm xưa quay về gõ cửa
Có lá cờ tung, bập bùng ngọn lửa
Có bể tâm hồn thai nghén những mùa vui
Mùa xuân về em đi bên tôi
Khi nồm nam bồi hồi tới từng căn lớp
Tiết thanh minh, cái xôn xao vơi dần theo ngấn thóc
Em có thấy lòng mình day dứt mãi không thôi?
Ngày hè sập sè mưa rơi
Những giọt chấm than nhỏ dài trước thềm mơ ước
Cái hoang dã bò dần vào nơi quên lãng ấy là mùa thu hái được
Phượng ngả sắc cờ
Trăng hạ huyền mộng mơ
Huyền thoại nơi giảng đường kết tinh
Thành đôi vợ chồng nhiều ký
Xòe bàn tay Bác Hồ ra đi một phần tư thế kỉ
Chúng con lại xóa mù như ngày nước mới khai sinh
Có phải chăng đường xoáy ốc gập ghềnh
Hay bánh lái quanh co thuyền về nơi xuất phát
Năm tháng thoi đưa trái tim đời mỏi mệt
Đường quá độ còn dài
Một bất phương trình nhiều ẩn số của ngày mai
Niềm chính quả giục lòng ta hướng tới
Ai khao khát nấu nung mong mùa gặt hái
Chớ vội vin cành khi trái vẫn đương xanh
Bầu trời nắng lung linh
Rừng cây ươm của ta hương hoa đẹp lắm
Tiếc hãy còn bầy tục tử nhăng nhố xun xoe đang gặm dần đĩa xôi nhân phẩm
Biển vẫn dạt dào cánh sóng
Sông thêm ngời sắc gương
Cái chân lí thượng tầng pha lê trong suốt
Chẳng lẽ cũng bâng khuâng trước vẩn đục đời thường
Nhân nay hai mươi tháng mười một
Tôi hát về trường tôi
Có bậc thăng trầm trong cái sinh sôi
Có nỗi trở trăn ở từng bộ óc
Có suối tâm tư đôi dòng trong đục
Có cả miệng em cười dông tố nổi lên theo
Có những rừng sao quanh chùm từ mới
Một tiết giảng văn đánh đổi mấy đêm chèo
Tầm độ cuối thu heo may nức nở
Lại được nghe em bình giảng truyện Kiều

20/11/1991

KHUẤT MỘT MÙA XA

Con tạo cứ xoay vần
Mười năm ấy chục mùa xuân
Mười năm sáp nhập tách ngăn một lần
Mười năm xây, dỡ bao lần
Vòng quay nội các mấy tuần gió mưa
Mười năm bao chuyến tiễn đưa
Bàn cân thế sự xem chưa an bài
Mười năm một đoạn cuộc đời
Biết bao lắng đọng bồi hồi vấn vương
Lúc đêm buông con đò mộng dong buồm miền thơ trẻ
Buổi rạng ngày thêm một mối cưu mang
Ngày nhà giáo Việt Nam
Một khoảng trời đây vẫn hồng lên nắng hạ
Đêm ngước trăng sao đất trời rộng quá
Không khí cuối mùa thi oi ả
Trời nẫu tua rua thời đại nghén thiên tài
Hoa trái muôn loài sây đỏ góc vườn mai
Hạnh phúc đến với ta leo qua từng trang vở
Đâu phải vô tình con trẻ mến yêu ơi
Xứ sở của niềm tin phía chân trời tri thức
Tiếng trống trường chuyên gọi nhân tài đến lớp
Bố con mình chật vật mấy mùa thi
Chặng đường dài từng bước ta đi
Giành giật với niềm tin có khác chi em giữ gìn trái cấm
Âu kiên nhẫn bước qua cầu số phận
Âu đã thuộc phương trình
Hạn hẹp rộng dài âm dương vô hạn
Hy-péc-pôn không tiếp đích nhưng quyết lòng tiệm cận
Dẫu biển đời sóng nổi khúc trầm luân
Sắp trọn một đời khao khát với thơ văn
Nhưng cơm áo gạo tiền cắt ngang dòng cảm xúc
Nên thơ tôi chẳng êm nhạc tươi vần
Xuân đã leo thang đến bậc ngũ tuần
Tất thảy nét hào hoa thu quân về dĩ vãng
Nắng hoàng hôn chở đời về tĩnh lặng
Vẫn bồi hồi mơ tiếp giấc mơ xa
Phấn bụi, thời gian có thể phủ mờ những nét kiêu sa
Vùng bến bãi hãy còn nguyên phía trước
Tôi thả hồn tôi theo cùng đất nước
Nuôi thầm mơ ước hái nụ tầm xuân
Lòng tôi trong ngần ráng trời ửng đỏ
Sứ giả của giàu sang nghênh ngang trước ngõ
Gõ cửa hỏi tiền
– Xin khất một mùa xa

Ngày 20/11-1992

TẶng Bạn

Trời cuối năm suy tư
Đêm thấm mỏi thường ngày nghiệt ngã
Nghe lá rụng-tiếng ngày mai gõ cửa
Niềm tin gần mà xa
Nhân ngày tết nhà giáo
Tặng bạn đồng hành bộ thước com-pa
Cho đời thêm góc cạnh
Con toán vườn trần gay go đa nghiệm
Đâu những ở âm dương
Nguồn sáng nằm áng văn chương
Chân lý đời thường xa ngái
Từ độ vầng dương khuất núi
Có tâm tà trời cũng tà theo
Thời đại không mèo
Lũ đồ rởm cho đời bao oan trái
Nôn nóng của đần ngu-mối lo đồng loại
Làn quan họ ngân nga
Như gần như xa
Bóng cô Tấm chập chờn phía trước
Thanh bình những chiều quê
Vận đưa số đỏ lại về cố hương
Mưa gió bất thường
Nhà trường hóa thị trường đỏ đen
Mốt thượng tây tàu cuộc sống thần tiên
Ngai vàng của tiền-ấy miền khốc hại
Thiên tài Nguyễn Du
Xa ta gần ba trăm năm
Không một lời trối lại
Đời được một tiếng thương

20/11/1996

XUÂN CHIỀU

NHƯ CÁI TẢNG KÊ CỘT ĐÌNH (truyện ngắn của Xuân Chiều)

May 31, 2012 Leave a comment

NHƯ CÁI TẢNG KÊ CỘT ĐÌNH

 

Sau một tiếng đằng hắng, đội trưởng Lê Sâm vuốt lên mái tóc rồi úp hai bàn tay vào nhau đặt trước ngực trịnh trọng:

– Kính thưa các vị đại biểu, thưa bà con.

Trước khi bước sang phần hai của đại hội- phần bầu ra Ban chỉ huy đội mới, tôi trân trọng giới thiệu cùng bà con, Chủ tịch Hội nông dân ViệtNamcủa xã lên phát biểu cùng đại hội.

 

Sau loạt vỗ tay hội trường im phăng phắc. Từ hàng ghế Ba Lan danh dự kê ngay trước bàn chủ tọa, một người đàn ông tóc vuốt cánh gà, người thon nhỏ trong bộ y phục mùa hè, áo sơ mi cộc tay trắng, quần xẹc Lào màu xanh. Ông bước lên bàn chủ tọa với một vẻ nhanh nhẹn, khuôn mặt rạng rỡ nở một nụ cười, làm cho đôi mắt ti hí của ông như chỉ toàn lòng đen lóng lánh. Nom ông rõ ràng trẻ hơn cái tuổi bốn hai nhiều. Qua thái độ điềm tĩnh, cử chỉ thành thục của ông, mọi người chẳng ai bảo ai đều thầm nhận xét ông rất quen với cái việc diễn thuyết trước đám đông. Tên ông làMaiVăn Cơ chủ tịch Hội nông dân ViệtNamxã Đông Quan vừa nhậm chức sau Đại hội Đảng bộ tháng 8 năm 1989. Trong khi ông Cơ chỉnh lại cổ áo, dịch lại lọ hoa đặt sang một góc bàn và đưa tay phải rút quyển sổ ở túi quần đặt lên mặt bàn thì ở dưới đây đó vang lên những lời khiêu khích.

 

-Ông này là ông lợn ba đầu-một thanh niên chừng hai chín, ba mươi nói vậy.

 

Ông Chính, một cán bộ quân đội nghỉ hưu thật thà:

 

– Sao lại có lợn ba đầu?

 

–  À! ..ra thế, bác chưa hiểu thế nào hả? Ờ, bác mới về có thể không biết được. Rồi anh ta nhìn ông Chính  với một cử chỉ cười bằng mắt vừa như thăm dò, vừa như chế giễu rồi tiếp:

 

– Ông này mấy năm trước ông ấy nuôi một con lợn nó có ba cái đầu.

 

Ông Chính đang ngẩn tò te với dáng mơ hồ thì ở góc bên kia lại có bà nói bâng quơ cốt để ông Cơ nghe được:

 

– Tí nữa hỏi mượn ông ấy mấy cái bánh đà của đầu máy bơm.

 

Một chị nạ dòng ngồi ngay chính hàng ghế giữa lại hích chị bên cạnh nói một cách tự nhiên:

 

– Có thiếu ăn thì chốc nữa hỏi ông chủ tịch mà vay ít sắn.

 

Thấy không lịch sự chút nào đội trưởng Lê Sâm đứng lên. Anh xua xua tay:

 

– Thôi thôi! Tôi đề nghị bà con trật tự. Có gì để chiều ta phát biểu, bây giờ đa phần hết thời gian.

 

Lê Sâm quay về bàn chủ tọa.

 

– Xin mời anh Cơ tiếp tục.

 

Mùi xào rán của đội quân hậu cần ở bếp không xa xông lên ngào ngạt. Với cái ngửi lõi đời, chủ tịch Cơ phân biệt ngay được đâu là mùi của áp chảo, đâu là mùi kho tàu, đâu là thịt gà luộc rắc lá chanh, đâu là nem rán  và dường như còn phảng phất hương vị của lòng lợn húng láng, tiết canh nêm răm, mùi, thì là… Ngoài sân cái nắng của mùa hạ chói chang. Giàn mướp bên bờ giếng phơi những tán hoa vàng rực. Những con ong mật hoang dã to bằng ngón tay cái đen nhẫy, đang hăm hở tranh nhau chuyển từ hoa này sang hoa khác. Lũ gà choai con nào con ấy há mỏ, mở rộng đôi cánh thở gâm gấp đứng trong bóng mít góc vườn. Từ khi nghe được những lời bâng quơ ám chỉ,MaiVăn Cơ thấy trong người nóng ran, hai thái dương tự nhiên giật giật. Đặc biệt là hai tai như xoát dầu cù là. Nhưng ông vẫn điềm tĩnh như không có gì. Ông đảo mắt toàn hội trường một lượt thấy cũng đã im. Tuy vậy, tiếng quạt nan, quạt giấy đôi khi vẫn phát ra phành phạch. Trán ông cũng đã lấm tấm mồ hôi. Ông bắt đầu:

 

– Kính thưa đồng chí Hà thay mặt cho huyện ủy. Kính thưa đồng chí Tân chủ nhiệm. Thưa Ban chỉ huy đội cùng toàn thể bà con xã viên. Vì thời gian có hạn, khả năng của tôi cũng có hạn, một phần thì chủ nhiệm đã phát biểu rồi, hôm nay trời lại nóng, tôi chỉ phát biểu với bà con ba ý sau.

 

Ông liếc nhìn đồng hồ và tiếp.

 

– Xin bà con không quá ba mươi phút. Thứ nhất nói thêm về việc khoán mười ở đội ta. Thứ hai bà con cần đóng góp xây dựng cho Hội nông dân của xã. Thứ ba là có mấy điều tham khảo với Ban chỉ huy đội mới.

Sau đó ông lướt nhanh qua những thành tích của đội 5 như tiến hành chia lại ruộng đất, sắp xếp lại lao động, việc thu hoạch chiêm xuân với năng suất khá và cuối cùng ông đi sâu nhấn mạnh:

 

– Việc thu hồi đất theo chỉ thị 299 và 824 chưa tốt. Đội không quản lý nổi, hay nói một cách khác không thu được diện khai hoang, phục hóa. Không giải quyết được các trường hợp lấn thổ cư vào diện tích canh tác. Hiện tượng bất công bằng về tư liệu sản xuất trong xã viên vẫn còn. Từ đó gây nên mất đoàn kết.

 

Trong khi lý giải những trường hợp cụ thể mà ông nắm được, Chủ tịch nông dân bây giờ mới có đủ thì giờ quan sát thấy cuộc đại hội xã viên đội 5 hôm nay khá đông. Toàn đội có 113 hộ thì có lẽ không thiếu hộ nào. Hội trường bốn gian người ngồi đầy ắp hai hàng ghế nhà ga lại rải cả ra thềm và các xó xỉnh. Xen kẽ những xã viên cố hữu có những cán bộ hưu như: ông Chính, ông Quế, ông Nhiên. Chắc là chấp hành nghị quyết của chi bộ nên các vị đều có mặt. Đặc biệt ông Cơ nhìn thấy cả ông Kiên ngồi tận hàng ghế cuối trong chiếc áo gụ cộc tay. Một bạn học với ông Cơ từ ngày còn nhỏ. Hiện Kiên có hai bằng đại học trong tay. Cuộc đời chiến đấu vào sinh ra tử, cuộc đời một cán bộ pháp lý trầm lắng suy tư làm cho Kiên già nhiều so vớiCơ.Kiên hơn Cơ chừng hai, ba tuổi. Và có lẽ do thương binh loại 3 mà Kiên nghỉ hưu hơi sớm. Đối với Cơ, Kiên vừa là bạn lại là một đối thủ đáng gờm. Ông ta có trình độ bậc thầy màMaiVăn Cơ không thể địch nổi. Bấy lâu nayMaiVăn Cơ rất ngại tranh luận với những cán bộ hưu. Vì nếu so sánh thìMaiVăn Cơ thấy mình dẫu sao cũng chỉ là gà què ăn quẩn cối xay. Cuộc đời của mình cho dù hơn hai mươi năm công tác nhưng chỉ lên đến huyện lại về. Văn bằng chiếu chỉ cho dù trong tay – Cơ có giấy chứng nhận đã học đại học kinh tài nhưng thực chất chỉ là cái vỏ. Với một chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp loại thường vốn văn hóa lớp 7 huyện kéo lên ghép vào lớp đại học tại chức do huyện mở. Như một lão nông lần đầu ngồi cúp sau người lái lướt trong thành phố. Tuy nghe các giáo sư giảng hết năm này tháng khác nhưng thực chấtMaiVăn Cơ ù ù cạc cạc không biết mô tê gì. Ấy thế mà trong bạn bầy công tác cũng nhiều kẻ phục  lăn như bi. Tóm lại số đại biểu trong đại hội nàyMaiVăn Cơ phân chia thành ba thành phần. Một là ân nhân, một là trung gian vô thưởng vô phạt, quan tám cũng ư quan tư cũng gật. Số này đi họp cũng là để gỡ gạc tí chút. Nghề đời đã choMaiVăn Cơ nghiệm thấy nếu tổ chức hội nghị cứ có quả pháo éc dăm bảy chục ký treo cửa hội trường thì đông đáo để. Nếu không, cho dù có đốt đến năm bảy bánh pháo đùng số đại biểu cũng chỉ đếm đầu ngón tay. Còn một nữa là đối tượng. Trong đám đối tượng nàyMaiVăn Cơ còn nhìn rõ cả một lực lượng quần thâm đáng gờm. Đã có lần mấy cái mẹ nạ dòng kia làm choMaiVăn Cơ nay vẫn ớn tận xương sống. Không nhớ rõ vào năm nào nữa, từ ngày chưa có chế độ khoán, xã viên còn làm theo công điểm. Một buổi chiềuMaiVăn Cơ đi họp, khi đạp xe qua vìa làng Đồng Trung này (Đội 5 hôm nay) thấy một toán phụ nữ chẳng hiểu có bao nhiêu người ngồi mát quanh gốc đề đầu xóm.MaiVăn Cơ đon đả:

 

– Thế các bà cấy đâu thế này.

 

Tất cả nhao nhao đáp lại.MaiVăn Cơ nay còn nhớ những cái giọng phát ra từ những miệng có quai có mỏ.

 

– Chào chủ nhiệm

 

– Chúng em chào chủ nhiệm

 

Như một người đóng kịch, không để ý đến những lời phúc đápMaiVăn Cơ nhìn đồng hồ mà nửa đùa nửa thật nghiêm nghị:

 

– Chết! Các vị làm ăn thế này chẳng trách đói là phải. Đói đừng kêu nữa, bây giờ đã năm giờ kém còn ngồi mát.

 

Thế là tất cả bùng lên như ngọn lửa của ngọn đèn măng xông bị bốc.

 

– Đúng chúng tôi đói, đói không đi cấy được.

 

– Nắng chúng tôi chứ nắng gì các ông.

 

Dường nhưMaiVăn Cơ cũng bị kích thích, ông lên mặt bề trên gay gắt:

 

– Còn oan ư? Các người vẫn còn oan ư?

 

Thế là như những cái lò xo đang bị dồn nén tụt chốt hãm bật dậy, chủ nhiệm đủ nghe xói xỉa.

 

– Thời buổi này chỉ chết những đứa còng làm cho những thằng ngay ăn.

 

Lại có lời ví von mát mẻ:

 

– Xã viên làm việc bằng hai để cho chủ nhiệm mua đài mua xe. Xã viên làm việc bằng ba để cho quản trị xây nhà xây sân.

 

Trước tình huống không thể nấn ná mà thêm dại,MaiVăn Cơ đạp xe nhưng ông vẫn còn nghe mồn một. Có lẽ cái bà vừa kháy khỉa ban nãy kia, bà ta đứng lên lồng phách vỗ đến đách một cái vào cái của mình, miệng rít lên đay đổ:

 

– Bắt chước bà nào: Tiên sư bố nhà mày không biết đẻ ra cán bộ nên bà khổ thế này.

 

Và còn nhiều nhiều nữa. ..

 

Từ cú ấy chủ nhiệm Cơ rút kinh nghiệm xương máu. Chớ có ấm đầu mà can thiệp vào những chuyện không đâu. Ngay việc dự đại hội hôm nay cũng thế chủ tịch nông dân phải toan tính kỹ lưỡng mấy ngày về nội dung phát biểu bây giờ. Nói làm sao cho không đụng chạm, nói sao để tránh được hết những điểm vốn há miệng mắc quai của mình. Ở góc trái cuối hội trường, hai cái đầu một xanh một bạc luôn gật gù với nhau. Đó là anh thanh niên nói cái chuyện lợn ba đầu ban nãy. Anh tên là Đỗ Trung Lành. Còn cái đầu bạc chính là ông Chính  một thiếu tá về nghỉ hưu năm ngoái. Anh Lành vẫn xầm xì kể cho ông Chính  về con lợn kỳ quặc ấy.

 

– Cách đây chừng bốn, năm năm, à mà có lẽ đến năm, sáu năm cũng nên. Nghe đâu 1983 thì phải. Hồi đó ông Cơ làm chủ nhiệm, ông Hội làm kế toán trưởng.

 

Lành chậm rãi rít một hơi thuốc lào nhìn ông Chính  thăm dò rồi tiếp:

 

– Hồi làm chủ tịch xã lúc bấy giờ ấy.

 

Ông Chính mắt vẫn chăm chú nhìnMaiVăn Cơ nhưng ông nghe không sót một lời của anh Lành. Lành vẫn nỉ non nhỏ giọt:

 

– Không hiểu các ông ấy làm ăn thế nào mà ông Cơ cân cho nhà nước một con lợn 90 kg sau lại thành ba con lợn tức là thành 270 kg. Đó là thế này.

 

– Ông ấy được lợn nghĩa vụ cụ thể là thanh toán 30 kg giá ngoài nghĩa vụ và 60 kg giá trong.

 

– Ông ấy lại được lợn gia công lấy về 630 kg thóc tức là một cân lợn hơi được 7 kg thóc .

 

– Ông ấy lại đổi được lợn giống cụ thể là bắt cả ba lợi choai nhà ông Tận vừa tròn chín chục ký. Với lý do hợp tác sẽ trừ cho ông Tận số nợ ông hiện còn.

Như vậy chả phải là lợn ba đầu à. Nếu lấy đàn lợn ông Tận làm đơn vị thì con lợn đó còn thành ra chín đầu nữa là khác. Đỗ Trung Lành đưa tay cấu nhẹ vào đùi ông Chính và anh kết luôn:

 

– Thế đấy bác hiểu chưa?

 

Ông Chính nở một nụ cười hóm hỉnh gật gật.

 

– Ờ ờ rõ rồi! Rõ rồi! .

 

Lại ở hàng ghế bên kia, bà Đẻm tay cầm quạt giấy. Đôi môi tím sầm quết trầu của bà luôn mấp máy. Đội trưởng Lê Sâm cứ tưởng bà Đẻm đang nuốt từng lời diễn thuyết của chủ tịch nông dân, nào ngờ bà đang nhẩm tính số máy nước và máy phun sâu của hợp tác do ông chủ nhiệm Mai Văn Cơ đã bán vô tăm tích. Tổng cộng cả máy Ba Lan Trần Hưng Đạo và Bông Sen theo bà Đẻm tính đã lên đến con số bảy  chưa kể đến các phụ tùng và những vụ mất máy trong đêm chưa được phanh phui. Ở góc tận cùng của hội trường vang lên hơi rít của điếu cày. Người có cái đầu trắng như đụn bông, trắng hơn làn khói thuốc do chính ông vừa thở ra đo là ôngTrực.Một lão đồng chí đã gần bảy mươi xuân. Ông Trực rất băn khoăn không sao hiểu nổi là ông Cơ tham ô có, lợi dụng chức quyền chi tiêu trái nguyên tắc có, thanh tra của huyện đã làm ra rành rành. Ông ta không trúng cử đảng ủy, không trúng chủ nhiệm tại sao nay lại làm chủ tịch nông dân? Chợt thấy Lương Trọng Hà huyện ủy viên, người chỉ đạo trực tiếp của xã ra ngoài ông Trực ý tứ ra theo. Ở một góc sân sau vài ba câu chuyện đưa đà, ông Trực phỏng vấn ông huyện ủy viên những băn khoăn mà ông vương vấn. Dường như một vẻ xa xăm thận trọng nhưng nhẹ nhàng Lương Trọng Hà võ vai ông Trực:

 

– Thế này bố ạ. Theo quan điểm của Đảng ta thì đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người chạy lại. Mặt khác ở đường lối cán bộ thì ta thực hiện phương châm trị bệnh cứu người. Mặc dù đồng chí Cơ có khuyết điểm nhưng xét cho kỹ thì ông ta có công xây dựng địa phương mấy chục năm qua, chẳng lẽ bây giờ cho nghỉ hẳn thì thiệt cho ông ấy quá. Nên cũng đề nghị các bố giúp đỡ ông ấy vài năm nữa để ông đủ hưu như vậy vẹn cả đôi đường.

Ông Trực nghe Lương Trọng Hà nói cũng có lý, có tình. Ông gật gật đầu thỏa mãn. Và cả hai lại trở lại chỗ cũ.

 

Những xã viên ở thôn Bến Hạ- đội 4, nơi mà chủ tịch nông dân có nhà cửa vợ con ở đó họ lại phân tích khác. Họ bảo “Lương Trọng Hà là cái ô củaMaiVăn Cơ. Bởi trong mười mấy năm qua từ một cán bộ phái viên của huyện ủy nằm vùng nay lên đến huyện ủy viên phụ trách xã, Lương Trọng Hà đánh chén tại nhà chủ nhiệm Cơ mòn bát vạt đũa. Số xương gà và vỏ lạc chủ nhiệm Cơ, sau những cuộc thết Lương Trọng Hà chả to bằng cây rơm ngay sau mùa gặt. Có lần một khách một chủ cho bay hai cây bảy lăm. Chủ và khách bò tại chỗ. Lương Trọng Hà ăn rồi trả chủ. Trong lúc mộng du anh ta cho cái “vòi siêu” chảy lênh láng một vùng trong nhà. Sau vụ ấy lũ trẻ nhà ông Cơ cạch cái gian nhà ấy như lũ khỉ cạch mắm tôm.

 

Trên bàn chủ tọaMaiVăn Cơ đã chuyển sang ý thứ hai. Một điều làm ông phấn chấn là hội nghị không mất trật tự. Ông tự đánh giá với mình chắc là diễn thuyết của ông đã trúng lòng người. Ông đang chăm chú quan sát những phản ứng của người nghe thì cô gái phục vụ đặt cốc nước lên bàn.MaiVăn Cơ gật đầu cám ơn cô gái và đưa cốc nước lên nhậm một hớp nhỏ. Ông rút khăn mặt lau mồ hôi rồi lại tiếp. Ông động viên những hội viên của hội cố gắng đem nhiệt tình xây dựng hội có chiều sâu bề rộng. Với một người từng làm kế toán, chủ nhiệm bằng ấy nămMaiVăn Cơ thừa hiểu thời kỳ hoàng kim của mình đã hết. Cái ghế hiện tại chỉ là cái ghế bất đắc dĩ-một cái bậc cuối cùng trên dốc mà ông phải xuống. Tuy nhiên ông cũng phải khéo để cho bước đi trót lọt an toàn. Kể chẳng bổng lộc quyền hành gì những cũng còn  gỡ gạc chút đỉnh.MaiVăn Cơ tự tin ê kíp của ông vẫn còn : Lương Trọng Hà huyện ủy, Trần Thế Hội chủ tịch ủy ban nhân dân xã. Thời đại ngày nay làm việc mà  không có ê kíp tài mấy cũng là tong. Chẳng thế suýt nữa bị kỉ luật, bầu đảng ủy trúng ba phiếu trên hai trăm mười. Do tài dàn xếp của Hà, hội hôm nayMaiVăn Cơ vẫn có chỗ ngồi xứng đáng. Lên chức nữa là khác. Từ hợp tác lên xã chứ sao. Đời lắt léo thật. Nhiều khi vợ con mè nheo cắn rứt là thịt hết cả gà giống, hôm nayMaiVăn Cơ mới thấy cái nhìn tầm xa của ông lợi hại. Hiện nayMaiVăn Cơ rảnh rang không phải dính líu phức tạp như ngày làm chủ nhiệm. Giờ thắng ông được xơi nhưng thua ông cóc chịu. Cứ đầu bí thư, chủ tịch, chủ nhiệm ai muốn gõ gì thì gõ. Túm anh có tóc chứ túm gì thằng trọc đầu. Cái chức chủ tịch nông dân thực chất mới là danh dự. Quyền rơm nhưng không phải vạ đá. Cũng may vừa qua Ủy ban xây hội trường lấy ông vào ban xây dựng thì lại có công ăn việc làm bằng không thì ông uống nước vặt đến thủng đít. Dân làng Bến Hạ. Phải! Lại dân làng Bến Hạ họ nỉ non:

– Gớm chủ tịch xã  Trần Thế Hội, trưởng tài chính Hà Mạnh Trấn, chủ tịch nông dânMaiVăn Cơ là những nhà làm kinh tế giỏi. Mỗi người vừa tậu một mô kích mới cực.

 

Có thật. Mỗi vị có một Simson mô kích thật. Cũng chưa biết đầu cua tai nheo thế nào một xã viên nam hơi luống tuổi củ mỉ cù mì vốn chẳng nhiều lời của Bến Hạ cũng ngọt nhạt:

 

– Hà Mạnh Trấn một vợ ba con nhỏ, bố mới cho ở riêng hai năm. Vợ to bằng con nhái bén, anh ta công tác suốt ngày, nghe đâu vừa đánh bùn ao được vàng…

 

Chiếc đồng hồ báo thức để trên bàn trang trí, kiên nhẫn vô tư đẩy kim chỉ mười một giờ năm phút.MaiVăn Cơ cảm thấy mình nói đã hơi lâu khuynh tay nhìn đồng hồ. Chênh nhau một phút, đồng hồ ông nhanh hơn. Vậy đến giờ nghỉ còn những mười lăm phút nữa. Ông mới nói hết nửa thời gian đăng ký làm việc. Tuy vậy ông biết lúc này mà nói dài thành nói dại. Nay mới là đầu tháng 5 âm lịch mà nóng đáo để. Hội trường bây giờ như lộn xộn hơn. Tiếng điếu cày cũng rít liên hồi hơn. Một số thanh niên ngồi sát tường hậu, mặc dù ngay cửa sổ  đã phanh cúc ngực hết loạt. Những tín hiệu ấy thầm nhắcMaiVăn Cơ phải tăng tốc. Ông hắng giọng nhẹ một cái và tiếp tục. Ông khuyên những cán bộ của Ban chỉ huy đội mới phải hết lòng phục vụ dân, ông phê phán những tệ nạn quan liêu ức hiếp hội viên của hội nông dân. Ông nhắc nhở những ủy viên ban chấp hành của hội tại đội 5 phát huy tính độc lập, đấu tranh với những sai trái, với thói xấu của cán bộ đảm bảo cho được nguyên tắc: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

 

Ở hàng ghế đại biểu, chủ nhiệm hợp nhấtNgọcVăn Tân nhìn chủ tịch nông dân không chớp mắt.NgọcVăn Tân vừa nhìn cái miệng nói có duyên của chủ tịch vừa là để tìm kiếm xem trên khuôn mặt ấy có những đường nét nào đồng nhất với cái tâm địa gắp lửa bỏ tay người của ông ta không. Tân vừa được bữa no là chủ tịch nông dân cho ăn dưa cải khú. Của đáng tội khi biết không thể giữ chức chủ nhiệm được nữaMaiVăn Cơ không cần hô hào hộ xã viên chuyển gánh thuế nông nghiệp. Ông ta thúc luôn hai ô tô chuyển trên 200 tấn thóc bán trâu đổ thuế. Khi nhận bàn giao xong chủ nhiệm Tân mới ngã ngửa trên 200 tấn thóc ở kho còn đọng cả trong dân. Đi thu nợ quả là chẳng ngon lành. Thế mới thấy cái ngọt của con người cứ lặng lờ như trê đẻ. Trong lúc ấy mọi người cảm thấy đến đây ông Cơ có vẻ hăng hái hơn, khỏe hơn cũng dường như nói súc tích hơn. Phía Mai Văn Cơ ông lại phát hiện mặc dù trưa nhiều cái chi phối nhưng sự chú ý của người nghe vẫn tốt. Quả là điều chuẩn bị kĩ của ông không thừa.MaiVăn Cơ tự biết mình không còn mới mẻ gì với cái việc phát biểu ở hội nghị. Nhưng từ trước đến nay ông toàn nói nói về hoạt động kinh tế. Những buổi nói của ông nặng về trình bày một bản báo cáo, một phương án ăn chia hoặc thu chiêm làm mùa. Hôm nay ông phải nói chính trị. Một nét mới trong diễn thuyết của ông. Bởi thế thực sự ông trăn trở đã ba ngày ba đêm nay để cho ba mươi phút nói mà ông đang làm. Bề dầy công tác từ mấy chục năm qua đã choMaiVăn Cơ tự rút ra kết luận: Việc gì có công vun đắp thì cái đó thành công. Sự việc chả sờ sờ trước trước nhỡn tiền đấy sao.Năng lực của ông thật có hạn nhưng ông giữ được liên tục bằng ấy năm ở cái ghế chóp bu một hợp nhất đâu phải bỡn. Trong giới cán bộ nhất là những anh chàng hám địa vị vẫn thường thăm dò khám phá ở ông cái tài giữ ghế.MaiVăn Cơ thản nhiên trả lời một cách lý tưởng:

 

– Dân tín nhiệm, dân bầu, dân bỏ phiếu, thế thôi!

 

Cái bí quyết ấy ở chỗ trong hợp nhất có năm thôn làng tất cả. Làng Hậu Du-đội sản xuất số ba của hợp nhất có gần sáu trăm hộ. Một kho người chứa một lượng cán bộ và xã viên quá một phần hai trong toàn hợp nhất. Đó là nơi dung thân của chủ nhiệmMaiVăn Cơ cả một đoàn dài trên đường công tác. Mặc dù cha sinh mẹ đẻ ở làng Bến Hạ nhưng chủ nhiệm Cơ không hề thu vén gì cho nó. Để tỏ ra chí công vô tư không cục bộ, chủ nhiệm cho chuyển dần tất cả những thứ như: nhà mẫu giáo, nhà máy xát, nhà kho, nhà máy bơm về Hậu Du để xây dựng khu trung tâm hợp nhất. Người ta thấyMaiVăn Cơ quan tâm chăm chút bao nhiêu ở khu trung tâm thì ở Bến Hạ ông như câm như điếc bấy nhiêu. Nhờ bão bẻ măng những phần tử cơ hội ở Bến Hạ thả cửa hoành hành. Lấn đường, đào ao vào diện tích canh tác đổi trâu xấu cho tập thể lấy trâu đẹp làm của riêng. Nghe đâu những người khôn ngoan ấy lại là tông tích nhà chủ nhiệm. Ruộng của Bến Hạ cũng ngày một cắt dần sang Hậu Du cho liền khoảnh tiện vùng. Vỡ lòng không lớp học, mẫu giáo không nhà chơi. Trẻ con phải sang đội khác học nhờ… Những người có tâm huyết đề xuất vấn đề trên với chủ nhiệm thì ông bảo:

 

– Chủ nhiệm không lấn sân, đó thuộc quyền của đội.

 

Làng Hậu Du trên đà ấy cứ ngày một phất lớn. Làng xóm phong quang sạch đẹp. Trụ sở, kho tàng, trường lớp khang trang. Vài tuần lại thưởng thức vài ba buổi chiếu phim với danh nghĩa hợp tác xã đăng cai phục vụ.

 

Không phụ lòng chủ nhiệm dân Hậu Du hay xã viên đội ba coi chủ nhiệm như ân nhân của họ. Bởi thế bà con Bến Hạ cho hay:

– Vợ chủ nhiệm đẻ thiếu củi đun cũng có người Hậu Du đem đến. Chủ nhiệm làm nhà, đóng tủ người Hậu Du vác gỗ, thịt chó, nấu cơm. Những mùa thu nợ của xã viên còn thấy người làng Hậu Du lịch kịch kéo thóc, kéo sắn ban đêm đến cho chủ nhiệm.

 

Hay là thế mà cơ ngơi của chủ nhiệm hợp nhất hôm xưa chủ tịch nông dân ngày nay cứ giàu nhanh như mối rừng xây tổ. Cũng bởi có căn cứ địa ấy nên cho dù dông bão thế nào sau mối khóa bầu quản trị,MaiVăn Cơ vẫn cứ thắng phiếu bằng số bầu quá bán, trừ đợt mới rồi sự việc tham nhũng đã quả tang.

 

Vậy thế hôm nay cái phần thứ ba phát biểu với xã viên đội 5 này là phần thiết thực nhất đối vớiMaiVăn Cơ. Trong khi nói cho bà con ngheMaiVăn Cơ vẫn luôn cầm cương cho mình ăn cây nào phải biết rào cây ấy. Ừ thì đã đành trong chặng đường làm ăn có phải đâu toàn bở bùi, ngon ngọt tất, có lúc cũng đắng cay, hợm hĩnh nữa là khác. Cái chiến lược để tồn tại bấy lâu nay vẫn đượcMaiVăn Cơ duy trì thầm lặng như cá tính im ỉm của ông, có ai ngờ tai vách mạch rừng dân ở Bến Hạ họ tỏng tòng tong hết thảy. Họ phát hiện được hết các ngóc ngách trong mánh làm ăn ở trái tim bồ hóng của ông. Ở những cuộc sinh hoạt chi bộ Bến Hạ có đảng viên từng phân tích những việc làm củaMaiVăn Cơ không những không có lợi gì cho hợp tác nói chung và đội 4 Bến Hạ nói riêng. Hơn thế nữa họ nâng thành quan điểm rồi kết luận:

 

– Đó không phải khuyết điểm mà là một tội lớn. Tội cõng rắn cắn gà nhà. Tội mồ cha không khóc đi khóc tổ mối. Tội này cần phải được đưa ra trước vành móng ngựa.

 

MaiVăn Cơ chột dạ, đành rằng những ý kiến ấy chứa ít nhiều tính cục bộ. Ở cấp trên cũng thế không thiếu thằng đội lốt danh nghĩa đảng, nhà nước để hớt tay trên cấp dưới, miễn sao phồng mang trợn mắt. Ngày huyện thanh tra tài chính của hợp tác cũng do quá tay về ăn uống màMaiVăn Cơ thụt quỹ. Mặc dù đã hợp lý hóa nhưng với tay nghề bậc thầy, một cán bộ tài chính của huyện đã phát hiện chỗ bất hợp lý của chủ nhiệm. Anh ta mặt lạnh như tiền mặc choMaiVăn Cơ cuống cuồng kê đệm. Những tưởng anh ta là Bao Công nào ngờ khi cái bao tử đã đầy ự lên toàn thức ăn cao cấp và chất cay hảo hạng anh ta gọi chủ nhiệm ra một chỗ vắng cho điều kiện:

 

– Xin chủ nhiệm một đôi lợn giống. Mỗi con chừng hai lăm, ba mươi ký. Lợn giống mới! Thời gian không quá bốn ngày.

Không còn đường nào khác mười bảy giờ cùng ngày, chủ nhiệm cho dù xát a xít vào ruột gan đành phải bắt cả đôi lợn vợ con đang nuôi, nhờ thêm thằng cháu đem đến “cúng” cho ông cán bộ huyện kém mình chừng chục tuổi. Tức chứ. Tức hơn bò đá, tức lên đến cổ. Đau mà không kêu được…

 

Bởi thế mà nhân đây, nhân cái ghế ở giai đoạn chót này phải làm sao san lấp cho hết những gì còn là khoảng cách giữa mình với xung quanh. Mai Văn Cơ nghĩ thế. Trong khi cắt nghĩa những khía cạnh: người cán bộ có thực sự làm tốt công tác hay không còn phụ thuộc ở nhiều yếu tố: sức khỏe, trình độ hiểu biết về nhiều mặt, đạo đức. Tóm lại là năng lực. Ông chủ tịch nông dân khi thì đan chéo hai tay vào nhau lúc lại nhíu đôi lông mày lại. Rồi đột nhiên ông nghiêm sắc mặt:

 

– Nhất là vấn đề lấy dân làm gốc. Lấy dân làm gốc.

 

Mai Văn Cơ từng được nghe nhiều cán bộ ở nhiều cấp cao thấp khác nhau ví von. Mỗi một người ở mỗi cương vị lại có cách so sánh dẫn chứng riêng. Hồi nghe một cán bộ trung ương về thăm huyện ông ta cũng nói vấn đề lấy dân làm gốc. Ông cho hay trong Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã nói “bồi dưỡng sức dân là cái kế sâu gốc bền rễ”. Rồi ông ví cái cây, cành lá muốn xanh tốt thì gốc phải được chăm sóc, vun xới thường xuyên. Không những thế còn phải bắt sâu, bắt nhậy chữa bệnh cho nó. Đừng quan niệm là gốc như một cái gốc sung ven sông. Khi gốc sung ấy bị sóng vỗ hàng ngày, bộ rễ phải cố chết để níu lấy sự sống thì ta thản nhiên đem dao bập vô tội vạ vì cần nhựa. Một nhà tuyên huấn cấp tỉnh lại ví dân phải là trụ của một chiếc cầu. Vẫn vấn đề ấy một trưởng ban tuyên huấn cấp huyện lại ví dân như cái móng của một nếp nhà. Còn đến chủ tịch nông dân bậc xã như Mai Văn Cơ thì nói sao? Đây chính là cái mà ông day dứt đến khổ sở. Ông mất ăn, mất ngủ về việc này. Chẳng lẽ nói lại toàn bộ những điều người khác đã nói thì còn đâu là sáng kiến, là vận dụng linh hoạt nữa. Cái nghề nói chính trị này mà không biết chế biến xào rán thì người dùng khó tiêu. Đêm hôm qua một mình ông xoay xở đến buốt óc bên ngọn đèn hoa kỳ mà chưa tìm được đáp số “mĩ mãn”. Hy vọng ở những liều kích thích, ông xài có đến lạng chè búp cũng nên vẫn chưa cho phát minh thích đáng. Nhưng rồi ông sẽ tìm được cái mà ông muốn tìm. Một tí nữa thôi chắc phải có người thầm khen là ông dẫn chứng sinh động. Mai Văn Cơ chợt thấy anh thanh niên ý tứ đứng từ ngoài bờ giếng giơ tay làm động tác xem đồng hồ và hất hất hàm ra hiệu cho Lê Sâm. Đội trưởng Lê Sâm xòe và giơ mười ngón tay về phía anh ta. À còn mười phút nữa Mai Văn Cơ hiểu. Và ngay sau đó ông chỉ tay về phía ngôi đình cách không xa.

– Đấy bà con xem cái đình của ta theo tôi có lẽ trong ngoài năm, sáu thế kỉ nay nó vẫn tồn tại. Mặc dù trải qua biết bao nắng, mưa gió bão đến hôm nay đình vẫn uy nghi vững chãi như một điều chân lý được khẳng định. Sở dĩ nó vững được là  nhờ bộ tảng khổng lồ của nó. Vậy theo tôi dân chúng ta phải như những cái tảng kê cột đình.

 

Rồi ông kết thúc:

 

– Vâng như cái tảng kê cột đình.

 

Khi nán lại ít phút để đội trưởng hướng dẫn công việc ban chiều và sinh hoạt bữa trưa, nhiều người nhìn thấy hai lão đồng chí là ông Chính và ông Trực đứng sát lại với nhau. Ông Chính bấm vào tay ông Trực miệng lẩm bẩm nhắc lại:

 

– Dân như cái tảng kê cột đình

 

Tháng 3/1990

 

 

 

Vô Đề

April 6, 2012 Leave a comment

Tiết thu

Xuân Chiều

 

Đêm tiết thu

Trăng nhởn nhơ rong chơi

Mây xăng xái đón đường chào hỏi

Cuộc chuyện trò mờ ảo cõi nhân gian

Tiệc rượu nhà ai

Lanh canh cụng ly, chí chát đạp bàn

Thách thức

Những máy nói thăng hoa

Thai nghén úa tàn.

 

Bão

 

Cây sấu xum suê

Góc vườn gãy gục

Nhựa làm chua chát giọt mưa

Bão Chenchu-trận đại phong cuồng nộ

Biển tanh thêm vị máu dân lành.

 

8/2006

 

Vô đề

Không có chó bắt mèo ăn cứt

Cô đơn chơi với lũ lợn gà

Buồn nắm cổ chai bồ thóc

Rượu vào mặt tựa bánh đa

 

Bố cầm bút thì con cầm bút

Cha cầm bay con sẽ cầm bay

Một lũ giun trùn mơ chiếu đất

Cháu con của họ chắc cầm cày.

 

Quảng Cáo

Quảng cáo

Quảng cáo

Bát nháo, bát nháo

Thời trang, thời trang

Hở núi, hở núi

Hở hang, hở hang

Hư hư thực thực-lũ xin mời.

Nóng-Mưa Ngâu

April 6, 2012 Leave a comment

Nóng

Xuân Chiều

Gà mái ấp. Gầy mòn tỏa nóng

Sau ba tuần ổ trứng thảy lũ gà con

Chiếc chảo sau mấy giờ bốc khói

Khi nguội chè móc có hương thơm

Cái nóng vã mồ hôi

Bố em qua cơn sốt rét

Để rồi trắng mắt môi thâm

Mọi cái sống bùng lên nhờ nắng ấm

Liệu mặt trời có mòn mỏi đi chăng?

6-1999.

 

Mưa Ngâu

 

Mưa ngâu

Mưa ngâu

Mối tình khốn khổ

Của kẻ chăn trâu

Khiến cả trời thu tuôn dòng nước mắt.

 

Trời đang trong vắt

Mây gió vụ vần

Nước từ sông Ngân

Xối vào mặt đất

Thổn thức, tủi hờn, sụt sùi, oan khuất

Miệng trần gian kể mãi một mối tình.

 

8-1999.

TÀ Khốông

April 6, 2012 Leave a comment

TÀ Khốông

Xuân Chiều

 

 

Đêm ấy

Xuyên Trường Sơn ra trận

Giặc trút mưa bom

Xe qua ngầm Tà Khốông

Anh tắt đèn gầm

Em vén đùi thắp sáng cọc tiêu

Một góc vầng trăng

Khoảng trời khung cửa

Bên hố bom sâu

Mắt em làm cục lửa

Đỉnh điểm căm hờn

Đỉnh điểm thương yêu

Bốn mươi năm

Thời gian đắp nấm mồ quá khứ

Kỷ niệm vùng lên như nước thủy triều

Đêm nay

Trên đường xuôi Niết Bàn

Trong mỗi giấc chiêm bao

Xe anh lại qua Tà Khốông