Archive

Archive for the ‘Truyện dịch’ Category

Tiệm thịt con vẹt

August 22, 2011 Leave a comment

Truyện ngắn của Ishii Shinji (Nhật Bản), Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật

Nhà văn Ishii Shinji sinh năm 1966 tại Osaka và lớn lên ở Kyoto. Cho tới nay ông đã xuất bản khoảng 20 đầu sách với nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, điểm sách, phỏng vấn…

Truyện ngắn “Tiệm thịt con vẹt” dưới đây được rút ra từ tập  truyện mang  tên “ Chim trắng và chim đen” do Kadokawa Shoten xuất bản năm 2005.

Tiệm thịt con vẹt nằm trên con đường lầm bụi nối với miền quê ở cuối phố. Ngôi nhà bê tông một tầng với tấm bảng sắt đã rỉ sét ở trên giữa nóc từ xa nhìn lại trông giống như nhà chờ xe buýt hoặc nhà kho đựng vỏ chai. Nhưng càng đi lại gần ai cũng có thể nghe thấy không lẫn vào đâu được tiếng ông chủ tiệm.

“ Nào! Bò phải không? Nếu lấy thịt bò thì đây này! Ò! Ò…! Ồ, quý vị đã nghe thấy phải không nào. Thực ra thì miếng thịt này đang kêu với tiếng kêu tuyệt diệu đấy! Đây này.Ò…Ò…Ò!”

Cả khu phố chỉ có mỗi tiệm thịt này bởi thế hầu như sáng  rồi tối lúc nào cũng thấy cảnh các bà nội trợ cắp giỏ đứng trước cửa tiệm.

Chúng tôi trên đường đi học ngày nào cũng nghe thấy tiếng  ông chủ tiệm bắt chước tiếng kêu của con vật(cả trường cấp một và cấp hai suốt từ ngày xưa đều nằm ở cuối con đường dẫn tới vùng quê). Khi băng qua chúng tôi ghé mắt liếc nhìn ông chủ tiệm béo phục phịch với đôi mắt đỏ ngầu đang hăm hở phồng má cất cao giọng. Các bà nội trợ vừa nháy mắt với nhau vừa cười toe toét. Cũng giống như bán thịt, à mà không, dưới con mắt lũ trẻ chúng tôi ông chủ có vẻ như nhiệt tâm hơn trong việc bắt chước tiếng kêu của loài vật.

Sự bắt chước tiếng kêu của ông ta quả thật là tuyệt vời. Nếu người lạ đi qua chắc chắn người đó sẽ nghĩ mình vừa đi qua chuồng nuôi gia súc của đại nông trường nào đó.

Bò, lợn rồi cừu, gà. Cũng đôi khi là tiếng hí rít lên của ngựa  vọng tới từ tiệm thịt và những bà nội trợ đang làm việc trên đồng khi nghe thấy liền hiểu rằng “A! hôm nay có món thịt ngựa”. Ông chủ tiệm thịt còn đeo trên tay chiếc vỏ lon rỗng và chiếc hộp gỗ để tái hiện lại nhịp rung của tiếng móng ngựa. Ông vừa nói cảm ơn khách hàng vừa rung chiếc vỏ lon có đựng mấy đồng xu bên trong kêu leng keng.

Lúc tan học đôi khi vào lúc cửa hàng không có khách ông chủ giấu giấu diếm diếm chỉ cho chúng tôi xem bí quyết bắt chước  tiếng kêu của con vật.

“ Này! tiếng kêu của bò sữa và bò lấy thịt là khác nhau đấy nhé”

Ông chủ tiệm thịt kéo da dưới cổ căng ra rồi tiếp tục.

“ Bò sữa phát ra tiếng kêu bằng cách đẩy không khí từ túi da ra ngoài. Thế nên tiếng kêu của nó rất dễ chịu. Nhưng nếu là bò thịt thì mỡ sẽ đóng cứng ở ngay chỗ này này. Vì thế mà tiếng kêu hơi cao một chút. Giống như tiếng tù và vậy và có chút gì đó hơi buồn”.

Ông chủ tiệm thịt vốn là nghệ sĩ xiếc. Ông được biết đến với biệt danh “Người Vẹt” bởi ông có thể ngay lập tức bắt chước bất cứ tiếng kêu, âm thanh nào trên thế gian này( vào thời điểm đó tôi vẫn còn chưa ra đời). Tiếng động cơ máy bay, tiếng rắn sắp tấn công, lời thoại của các nữ diễn viên nổi tiếng, tiếng sóng vỗ bờ. Tất cả khán giả đều nhắm mắt lắng nghe âm thanh rung lên từ vòm họng của ông.

Nghe nói “Người Vẹt” hóa thân thành ông chủ tiệm thịt khi con ngựa của đoàn xiếc bị chết lúc biểu diễn phải mang ra bán ngoài chợ. Ông chủ tiệm thịt đến chợ mua thịt và “Người Vẹt” phải lòng con gái ông. “Người Vẹt” quyết định trở thành đệ tử của ông chủ tiệm thịt và tạm thời đến nhà ông  ở để học cách xẻ thịt và phân loại thịt. Tiệm thịt được dựng lên ở khu phố chúng tôi khoảng 20 năm về trước.

Hiếm khi thấy bóng bà vợ ở tiệm thịt. Bà vợ có mái tóc nhàu nhĩ và sắc mặt xấu, cho dù có là 30 năm về trước đi chăng nữa thì chuyện đột ngột phải lòng người phụ nữ như thế này quả thật là chuyện không thể nào tin được. Nhưng ông chủ tiệm thịt bao giờ cũng vui vẻ và sau khi mở cửa hàng riêng vợ chồng ông còn có một thằng con trai. Đấy là  thằng La. Thằng La cùng học cấp hai với chúng tôi nhưng tôi nghĩ về tuổi tác có lẽ hắn nhiều hơn đến 5 tuổi. La có thân hình lực lưỡng  như thể một con bò. Khác với người cha có thể ung dung bắt chước vô vàn tiếng kêu, La chỉ biết đến duy nhất một từ. Dù là trong giờ học, trên đường từ trường về nhà hay lúc được ai đó chào ở giữa phố, hắn lúc nào cũng chỉ há miệng thật to và gào lên thế này.

“ La…!”

Người chồng giỏi bắt chước tiếng kêu của động vật, người vợ hiếm khi nói điều gì và đứa con trai khổng lồ chỉ biết nói mỗi từ “La”. Thật là một gia đình kì lạ nhưng dưới con mắt của những người sống trong khu phố thì mọi việc ở tiệm thịt  con vẹt đều diễn ra suôn sẻ. Chúng tôi thường rủ La chơi trò vật nhau ở bãi cỏ cạnh con sông đào. Tất nhiên không một ai trong chúng tôi có thể thắng được La. Cho dù là hai hay ba đứa xúm lại cũng không vật ngã được La. Sau khi  dùng một tay  nhẹ nhàng quẳng chúng tôi khi ấy đang bám vào thắt lưng và cánh tay xuống, thằng La xoay lưng về phía mặt trời mùa hè và căng ngực thét lên sung sướng: “La…!”

Chơi vật với thằng La thật thích nhưng có thứ còn thích hơn và làm chúng tôi mê mẩn ấy là trò “tùng xẻo” diễn ra vào buổi chiều thứ bảy ở nông trường tức là công việc giết thịt lợn hay bò. Ông chủ tiệm thịt con vẹt xách chiếc túi da đã sạm  lái chiếc xe tải cũ ra khỏi nhà. Ngồi ghế bên cạnh là  thằng La. Ngồi bó gối ở thùng chở hàng là hai, ba đứa trẻ may mắn trong đó có tôi. Đương nhiên là tôi bị mẹ cấm không cho xem trò “tùng xẻo” đó. Bố tôi thì lặng im không nói gì. Ông tôi thì chỉ nói rất nhỏ là đừng có bước qua hàng rào.

Ông chủ nông trường vừa chỉ tay ra phía bãi cỏ vừa thét lên con kia, con kia kìa, chính con ở phía ấy đấy. Người nông dân có khuôn mặt rám nắng lấy tấm vải bịt mắt lũ gia súc, tròng dây vào cổ và kéo chúng về phía túp lều chuyên dùng vào việc giết thịt. “Người Vẹt” lấy dao từ chiếc túi da ra( kích thước và góc độ của lưỡi dao mỗi lần rất khác nhau) và mài xoèn xoẹt trên tấm đá mài. Lũ gia súc bị nhốt trong khoảng trống chật hẹp tạo ra bởi hàng rào không ngừng kêu rống lên. Ông chủ tay cầm dao tiến gần lại lũ gia súc. Ông quỳ xuống ghé miệng sát vào tai chúng và nói bằng giọng nhẹ nhàng như thể vuốt ve ai đó “ Cái chết của bọn bay không uổng phí đâu”, “ Bọn bay sẽ đi vào bụng bọn ta và dân làng. Bọn bay sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng vô cùng quý giá. Nhờ bọn bay bọn ta lại có thể sống lâu hơn chút nữa. Xin cảm ơn”.

Ông chủ tiệm thịt không chút do dự thọc sâu con dao vào cuống họng con vật ngoan ngoãn. Người chủ nông trại đưa chậu hứng dòng máu phun vọt ra. Thằng La dùng cả hai tay đỡ lấy thân con vật và đặt nó vào tấm ni lông. Bên ngoài túp lều lũ chó tranh nhau sủa ầm ĩ. Nhưng ông chủ tiệm thịt và ông chủ nông trường  thu nhặt cẩn thận hết cả những mảnh thịt vụn cho dù chúng nát tới đâu và không để cho lũ chó một mảnh vụn nào.Còn vết máu dính trên tấm ni lông được thằng La dùng những chiếc bánh mì cứng mang theo lau sạch sẽ. Sau khi công việc kết thúc thằng La xé bánh mì chia cho chúng tôi. Trên đường về nhà chúng tôi vừa ngồi nghiêm trang, lặng im trên thùng hàng xe tải vừa ăn bánh mì. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ ràng mùi vị ấy. Chiếc bánh mì đỏ thẫm với muối và mỡ có vị  như  thể chúng tôi đang gặm chính ngón tay mình.

Ngay khi kì nghỉ hè kết thúc ông công chứng viên râu rậm hầm hầm chạy đến tiệm thịt con vẹt. “Tôi vừa trói thằng La nhà ông vào cây sồi sau vườn. Nó vừa làm một điều kinh khủng không thể nào tin được. Tôi sẽ làm cho nó không bao giờ có thể vác mặt ra ngoài được nữa”.

Nhưng chúng tôi và những người trong phố đều hiểu rằng người rủ rê  chính là con gái ông công chứng. Thằng La không bao giờ tự ý mò vào giường của người khác. La vốn là thằng nhút nhát đến độ chỉ cần  bị chúng tôi bỏ lại một mình ở bãi chơi là khóc thét lên. Con gái ông công chứng viên bị sốc bất tỉnh phải chuyển tới bệnh viện ở khu phố bên cạnh trong tư thế trần truồng. Theo chị hầu phòng thì bức tường ở gần giường vẫn còn lại những vết lõm giống như bị đập bằng búa. “Trò chơi nguy hiểm”-thứ cô con gái ông công chứng viên nửa đùa nửa thật dạy  thằng La cũng chẳng khác gì trò đánh vật. Có điều với thằng La thì vật lộn trên chiếc giường bị dẫm bẹp quá chật hẹp so với  bãi cỏ ở bên bờ sông.

Ông chủ tiệm thịt con vẹt không ngớt lời xin lỗi và rồi ông công chứng viên vừa vuốt râu vừa tính toán số tiền bồi thường. Mặc dù số tiền ấy không chỉ đủ đền cho chiếc giường và bức tường mà có vẻ như đủ để xây mới lại cả căn nhà nhưng để lấy lại đứa con trai với thân hình lành lặn và thực sự lo lắng cho cô gái nên ông chủ tiệm thịt con vẹt đã kí ngay vào tờ giấy đòi bồi thường mà không hề phàn nàn một lời nào.

Mặt thằng La sưng phồng lên như quả bí đao và trở về tiệm thịt bằng bước chân khỏe mạnh. Người chủ tiệm thịt đứng đợi trước tiệm không nói một lời nào chỉ hơi rướn mình vỗ nhẹ lên tấm vai cao hơn vai ông và chắc như đá tảng. Đứa con trai cúi xuống và lẩm bẩm: “La!”

Ông chủ tiệm thịt qua đời vào mùa đông và người ta nói rằng do ông mắc bệnh gan nhiều năm ròng. Cái lạnh khắc nghiệt đã cướp đi chút sức lực cuối cùng còn lại trong ông. Cho dẫu thế nào đi chăng nữa thì chuyện ông chăm chỉ lao động tới tận ngày ông gục ngã là điều không cần bàn cãi. Cũng có thể ông biết trước là mình bị bệnh nhưng vẫn cố làm để kiếm cho đủ số tiền bồi thường phải trả. Nhưng người chủ tiệm thịt con vẹt dũng cảm đã tính toán sai hai điều. Cái chết đến với ông nhanh hơn rất nhiều thời điểm ông dự tính. Và việc ông lao động quá sức nhiều ngày bên ngoài trời lạnh cóng đã làm cho cái chết đến nhanh hơn.

Dưới đây là câu chuyện ông bác sĩ trong khu phố tiết lộ ngoài quán rượu.

Nằm trên giường bệnh người chủ tiệm thịt với khuôn xanh nhợt đưa mắt nhìn từ vợ sang đứa con trai. Ông mấp máy miệng( ông không đủ sức để nói nữa) gọi hai người. Người vợ không hề thay đổi nét mặt nhưng trên môi bà hằn vết răng cắn chặt. Đứa con trai thì không hiểu chuyện gì đang xảy ra cứ đưa ngón tay di đi di lại trên khung trắng của chiếc giường.

Thân hình ông chủ tiệm thịt đột ngột cong lên  giống như một cây cầu. Bác sĩ hốt hoảng chuẩn bị thuốc để tiêm. Khi ấy thằng La ghé miệng vào bên tai người cha mắt đã chuyển sang màu trắng. Và rồi nó bắt đầu bắt chước tiếng người cha bằng một giọng ngập ngừng:

“ Cái chết này không phải  là cái chết uổng đâu !”

Người cha đột nhiên lại run lên lần nữa.

“ Bọn ta sẽ sống. Cái chết này không phải cái chết uổng đâu!”.

Thằng La cứ thế nhắc đi nhắc lại. Dần dần giọng nó trở nên giống hệt giọng người cha. Đồng thời cùng lúc ấy hơi thở của người cha nhẹ dần đi êm đềm như chìm vào giấc ngủ. Thằng La-con trai người chủ tiệm thịt vẹt- đã dốc lòng thì thầm những tiếng mà nó đã nghe và quen từ hồi nhỏ cho tới khi người cha trút hơi thở cuối cùng.

Từ đấy trở đi cho đến khi thằng La trả hết tiền bồi thường mất khoảng một năm. Buổi trưa ở tiệm thịt, buổi tối ở công trường ngoài bờ sông, thằng La lao động không hề biết mệt.

Vào giữa mùa đông, bụng cô con gái ông công chứng viên bỗng ngày một phồng lên. Gia đình chúng tôi vào cuối năm ấy chuyển nhà tới thành phố lớn ở phía đông. Vì thế những gì chúng tôi tận mắt nhìn chỉ đến đấy mà thôi.

Theo lá thư người bạn thân viết cho tôi thì đứa con của thằng La và cô con gái ông công chứng viên chết ngay khi mới chào đời. Nhưng ngay năm sau cô lại mang thai lần nữa với thằng La. Đứa con thứ hai chào đời khỏe mạnh. Ông công chứng viên miễn cưỡng phải công nhận cuộc hôn nhân của hai người.

Có lẽ tiệm thịt vẹt vẫn còn nằm nguyên ở cuối phố. Bà mẹ tuổi cao vẫn như ngày trước chúi sâu trong góc cùng tiệm thịt, người vợ trẻ rám nắng vừa vỗ hai tay vào nhau vừa cất tiếng gắt gỏng gọi khách hàng.

Người bố trẻ ôm đứa con thơ vừa sinh đứng ở trước cửa hàng chính là thằng La.

“ La…!La…! La…!”

Thứ giọng trầm của nó thật hợp với việc dỗ dành trẻ con. Trên lòng bàn tay rộng lớn thân hình nhỏ bé đang vặn vẹo lúc này sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời giống như miếng thịt tươi nguyên mà người cha đã mất vừa cắt ra. Đứa bé lúc lúc lại nhìn ông bố rồi ấp úng bắt chước: “La…La…”. Và rồi cuối cùng chẳng bao lâu vào một lúc nào đó từ đôi môi nhỏ bé kia lại phát ra vô vàn những âm thanh vang vọng khắp nơi trên thế gian này./.

Truyện ngắn này đã được đăng ở đây

Advertisements

Xác Ướp

August 18, 2011 Leave a comment

Truyện ngắn của  Yoshimoto Banana (Nhật Bản). Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật. Truyện đã đăng ở đây

Ngay trước lúc bước vào tuổi hai mươi phần lớn con gái đều đang ở vào thời kì đỉnh cao của sự liều lĩnh muốn cất giấu cả thế giới vào trong trí óc nhỏ bé của mình và tôi tất nhiên cũng là một kẻ như thế. Và thường họ cũng hay cảm thấy bực dọc hay bồn chồn vô cớ. Có lẽ vấn đề đó là do hoóc-môn gây ra. Tuy nhiên chính sự mất cân bằng hoóc-môn này cũng lại sinh ra sự nhạy cảm khác thường. Nó là thứ ánh sáng chỉ hiện diện trong khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi giống như cây cầu vồng rực rỡ bắc qua bầu trời. Và nữa điều người ta ít thấy là họ còn có thể đánh hơi được sự hiện diện của mọi người.

Tôi đang là sinh viên của khoa dược và mới chỉ  vào khoảng tháng sáu thôi tôi đã cảm thấy chán ngấy trường đại học. Vào buổi chiều nọ tôi dạo bước trên đường về nhà với cảm xúc trống rỗng và băng qua công viên ngắm chiếc cầu vồng trên bầu trời cao đang mờ dần. Đột nhiên tôi có ý nghĩ rằng có lẽ mình sẽ  không ngước nhìn trời cao như thế này trong một thời gian.

Dự cảm đã đúng! Vào ngày ấy tôi đã gặp người thanh niên hàng xóm mà tôi quen mặt ở công viên và bị anh ta đưa đi rồi bị giam lỏng và không thể về nhà trong một thời gian.

Tôi chỉ biết người thanh niên đó tên là Tajima là sinh viên sau đại học và đang làm thêm với công việc phụ giúp việc khai quật các di tích cho nên hàng năm anh ta có mặt 6 tháng tại Ai-cập. Anh ta có nước da rám rắng, gầy mảnh khảnh đeo kính, thuộc tuýp thanh niên làm nghề gia sư và có vẻ như là được nhiều cô gái yêu mến. Tôi đã từng có lần nghĩ: “chà! anh ta có đôi mắt mới đẹp làm sao” và mỗi lần gặp anh ta ở ngoài đường tôi đều cất tiếng chào.

“Chào anh”

Tôi khẽ cúi đầu và hồn nhiên cất tiếng chào. Anh ta hơi mỉm cười và cho biết hiện đang viết luận văn nên ra ngoài đi dạo để thay đổi không khí.

“Tháng trước ở đây có xảy ra vụ giết người đấy”

Anh ta nói.

“Nguy hiểm lắm! Em đừng đi dạo một mình. Có cần anh đưa về không?”

“Có cái gì để đảm bảo rằng anh không nguy hiểm nào?”-tôi nghĩ vậy nhưng im lặng.

“Thủ phạm vẫn chưa bị bắt sao hả anh?”, tôi hỏi.

“Ừ, cả trường đại học của mình cũng bị xét hỏi. Đấy là vì bọn mình hay ở lại phòng nghiên cứu vào ban đêm. Hơn nữa lại có cả những dụng cụ có thể chặt thi thể ra thành từng mảnh”.

“ Nạn nhân bị chặt ra từng mảnh ạ?”

“Hình như là như thế. Nghe nói chỉ còn đầu là chưa tìm thấy”

“Đầu…”

Những sự việc liên quan xảy ra từ thời điểm này thực ra là những điều dường như nên biết trước. Vào lúc ấy, khi tôi đặt tay lên cổ mình tôi đã đọc được số phận của bản thân ở vài tiếng đồng hồ sau đó.

Tuy nhiên trong công viên đang chìm dần vào bóng tối tôi đã so sánh đơn giản thủ phạm vụ án với người quen rồi đột nhiên lo sợ thủ phạm vụ giết người rất có thể đang ẩn trong bóng tối và nảy ra sự suy đoán đầy lí tính. Tôi lựa chọn việc đi cùng với anh ta. Anh ta nói con người không có thời kì phát dục bởi vì sự ham muốn của con người sẽ trỗi dậy ở một thời điểm nào đó trong năm. Khi mắt anh ta sáng lên có lẽ tôi đã đánh hơi được rằng mình đã bị quyến rũ. Giả sử như tôi là sinh vật hoang dã chắc chắn tôi đã tháo chạy. Một khi cảm thấy sinh mạng đang ở vào thế hiểm nguy. Nhưng tôi lại chỉ là một con người-một đứa con gái ngu ngốc nên tôi đã thuận theo lẽ bản năng. Giây phút đó là cơ hội duy nhất tôi có thể chạy trốn.

Nhưng muộn mất rồi. Thời điểm ấy cũng là lúc trong bóng cây tối đen chúng tôi đang dấn sâu vào thế giới bóng đêm nơi chỉ có hai người.

Nhà ở gần đây thôi, anh ta đột nhiên cất tiếng.

“Anh nghĩ rằng chúng mình không thể tạm biệt như thế này”

Mắt anh ta tỏ ra thật nghiêm túc.

Tôi hỏi.

“Ý anh nói là chúng mình hứa sẽ còn gặp lại nhau? Phải thế không?”

Anh ta hoàn toàn không phải tuýp người mà tôi thích. Chuyện trò hoàn toàn không hợp rồi cả sở thích cũng khác nhau. Nhưng khi đi bên nhau thì có cảm giác gì đó cuốn vào nhau…Chỉ thế thôi. Mối quan tâm chỉ có thế. Trong đầu tôi không hề hiện ra cảnh hai người hẹn hò ở trước nhà ga hay ở trong quán cà phê. Nghĩ mình thật ngu ngốc, tôi định bước đi.

“Đợi chút! Anh có thứ này muốn chỉ cho em xem”.

Anh ta nói vậy rồi ôm ghì lấy tôi trên lối đi tối om không một bóng người. Tôi ngửi thấy mùi khô héo giống như mùi của chiếc áo len đã cũ. Nếu như không đi theo, anh ta sẽ theo dõi và giết tôi cho dẫu thế thì sự việc sẽ kéo dài chi bằng làm cho nó kết thúc nhanh chóng. Tôi đã có ý nghĩ như vậy. Mà không, cũng có thể đơn giản là tôi muốn đi cùng anh ta. Vào lúc ấy cho dẫu thế nào đi nữa tôi vẫn muốn đụng chạm một phần cơ thể với anh ta. Cảm xúc mê đắm đã truyền sang tôi. Cảm xúc mê đắm ấy là thứ cảm xúc xấu xa-thứ mà tôi từ trước đến giờ chưa bao giờ cảm thấy nhưng không hiểu sao nó đã chạm đến tâm hồn tôi.

Căn phòng rộng như một chiếc nhà kho và anh ta cho biết thực ra nó chính là kho chứa đồ của ông chủ đã được tu sửa lại. Trần nhà cao có cầu thang và cả gác xép đi kèm. Tôi ngồi lọt thỏm trong đó. Anh ta pha cà phê. Tôi chăm chú lặng nhìn đám hơi nước mờ trên cửa sổ. Trong căn phòng có vô số những món đồ trang trí kì quái. Có lẽ đó là những thứ lấy từ các ngôi mộ cổ ở Ai-cập…. Chum, lọ rồi những thứ giống như đầu mũi tên, tượng đá đầu cá sấu và cả những mảnh vỡ của đồ đất nung.

“ Anh nói là có thứ muốn cho em xem mà?”

Tôi lên tiếng.

Rốt cuộc, tôi thầm nghĩ, mình đã đưa ra một câu hỏi thật là ngớ ngẩn cho dù cả hai đều không nghĩ đến thứ gì khác ngoài thứ sẽ làm.

“Để sau đi”

Như thể đã nhìn thấu chỗ sâu kín nhất trong đáy lòng tôi, anh ta đẩy tôi ngã xuống chiếu.

Tôi không hề thích một chút nào từ vóc dáng, khuôn mặt lẫn cách làm tình dai dẳng giống như thể học từ các cuộn băng video của anh ta. Dục vọng anh ta tập trung vào việc ngắm nhìn hơn là việc đi vào trong tôi cùng những thứ khác và dường như trong đầu anh ta không hề có chút ý định nào làm cho tôi hứng thú. Sự dai dẳng làm cho tôi lên tới đỉnh trong vô thức vài lần nhưng đấy không phải là khoái cảm có được từ sự quan hệ thông thường mà nó là thứ ngất ngây có gì đó như là lệch lạc. Nhưng tôi không biết phải diễn tả nó như thế nào.

Cả cánh tay gầy một cách kì lạ, cả tấm lưng nhấp nhô, cả nơi đám lông rậm đến kinh ngạc, cả lông mi dài khi bỏ kính ra và cả những đám da rám nắng đều tuyệt vời một cách đáng ghét. Cả sự im lặng suốt từ đầu đến cuối cũng làm tôi mê mẩn.

Chúng thật giống như cảm giác vào ngày còn nhỏ tôi đi ra biển và thả mình nằm xuống mỗi khi những con sóng tràn tới vỗ vào bờ. Trạng thái những hạt cát chứa nước mềm mại đưa qua đưa lại dưới thân mình. Đấy là cảm giác thật sung sướng đê mê khi nằm ngủ bên mép nước cho dù biết rằng rồi thế nào cát cũng lọt vào trong quần áo tắm và gây nên sự rắc rối sau này. Khi cả thân mình chìm hẳn vào nước thì tôi có cảm giác ghê tởm nhưng mỗi lần bị sức mạnh của cát mềm quyến rũ tôi lại muốn dùng dằng ở đó.

Sau khi lần thứ nhất kết thúc chúng tôi trần truồng leo cầu thang lên gác xép. Tôi đã phải chiều theo ý thích của anh ta suốt cả đêm và không hề được phép liên lạc gì với bố mẹ.

Tôi non nớt nhưng đã có riêng cho mình tiêu chuẩn về tình yêu. Đấy là chuyện tôi sẽ cho phép hay không cho phép người ấy trong tưởng tượng cho dù người ấy đối xử thô bạo với tôi như thế nào đi chăng nữa. Ở đó nếu như tôi không thích thì cho dù mối quan hệ có tốt đẹp đến thế nào đi chăng nữa cũng chỉ là bạn bè mà thôi. Và cho đến trước thời điểm này tôi đã định rằng sẽ chỉ yêu người mà tôi có thể cho phép làm chuyện đó mà thôi. Nhưng rồi ở đây chẳng có gì cả, cũng chẳng hề có sự cho phép và tôi chưa hề một lần nghĩ rằng có thứ quan hệ tồn tại đơn thuần vì sex như thế này. Tôi đã nghĩ rằng: “thế giới này còn có biết bao điều mới mẻ cơ mà”. Chúng tôi không hề nói một lời nào cũng không hề có sự gần gũi thân mật chỉ tiếp tục lần này qua lần khác. Tôi chỉ hỏi anh ta duy nhất một câu. “Lần cuối cùng anh có quan hệ khi nào?”, tôi hỏi anh ta câu đó vì tôi choáng váng bởi sức bền bỉ của anh ta. “Hồi còn là học sinh cấp ba. Chỉ một lần thôi”, anh ta đáp. À, thì ra là  vậy, tôi thầm nghĩ.

Tôi rất muốn biết xem giờ là mấy giờ nhưng anh ta giấu đồng hồ đi và cửa sổ thì bị che bởi tấm rèm tối đen nặng nề vốn được dùng khi muốn biến căn phòng thành buồng tối. Sau khi ngủ thiếp đi rồi tỉnh dậy tôi uống nước suông và có ý nghĩ thây kệ đến đâu thì đến. Đương nhiên cả chuyện đi vệ sinh tôi cũng không hề có chút riêng tư. Có những lúc tôi đi trong khi vẫn bị ôm chặt và có lúc tôi són cả ra quần. Sex thứ không thể nào làm được trước mặt cha mẹ, anh em nhưng lại có thể làm trước mặt người mà hầu như tôi không hề biết mặt quả là điều kì bí. Thời gian càng trôi đi tôi càng có cảm giác rằng tôi đã sống kiểu như thế này suốt từ lâu rồi.

“Cái chuyện có món đồ muốn chỉ cho xem không phải là bịa đâu”

Sau khoảng 12 lần tôi nói rằng tôi phải gọi điện cho bố mẹ trước khi họ gọi điện cho cảnh sát, anh ta đột nhiên nói vậy rồi lấy ra một chiếc hộp dài, mảnh từ phía trong chiếc giá xếp đầy tài liệu ngăn nắp. Khi mở nắp ra thấy ở trong một  xác mèo ướp nhỏ khô cong.

“Á…”

Tôi kêu lên

“Anh tự làm lấy à?”

Anh ta gật đầu. Tôi choáng váng. Bởi tôi hỏi câu đó nửa thật nửa đùa.

“Đây là con mèo cực xinh đã sống 18 năm đấy. Anh đã tự lấy hết nội tạng của nó ra rồi nhồi vào đó dược thảo có mùi thơm giống y như cách làm xác ướp của Ai-cập vậy. Anh không nói cách làm vì nó mất thời gian nhưng mà quả thật nó cần đến sự nhẫn nại và can đảm. Thực tế thì anh đã từng tò mò rằng liệu mình có thể tự tạo ra xác ướp không? Tuy nhiên nếu chỉ có cái đó thôi thì không thể làm được công việc kinh khiếp thế này đâu”.

“Công việc thật khó nhọc phải không ạ?”

“Đúng là khó nhọc thật. Có thể em nghĩ là khi tạo ra nó anh rất sung sướng nhưng thực sự thì đấy là công việc rất buồn bã, cô đơn và khó nhọc. Không cả muốn nghĩ lại nữa.Anh có ý nghĩ nặng nề giống như anh đã giết nó cho dù thực tế thì anh  không hề giết”.

“Ừ có lẽ là như thế”

“Nhưng dù thế nào đi nữa thì anh vẫn muốn giữ lại. Cái hình dáng đó”.

“Em nghĩ nếu biết được kĩ thuật thì cũng có khối người khác muốn làm như thế. Cảm giác đó có khác gì cảm giác của những người làm thú nhồi bông hay làm áo lông thú đâu?”

Tôi nói. Lặng đi một lúc, anh ta đáp.

“Anh biết là em sẽ không gặp anh nữa đâu nhưng em có thể ở đây với anh thêm một ngày nữa được không? Em có thể gọi điện về nhà ngay bây giờ”.

“Không được đâu”

Tôi đáp. Xác ướp con mèo được cuốn trong tấm vải rất đẹp vẫn nằm yên ở đó. Khi đã nhìn rõ sự hiền lành và tính cách của anh ta, tôi không thể nào trở thành thú vật như đã từng trước đó. Cảm giác nhờm tởm dâng lên trong lòng tôi.

Mặc dù luôn bị cha mẹ nổi giận nhưng từ ngày nhỏ tôi đã có sự lạnh lùng như thế. Chẳng hạn như khi đến cửa hàng bách hóa tổng hợp và gặp nhân viên bán hàng nào đó quá kém không biết tiếp khách cũng không ân cần mời khách mua hàng khiến cho mẹ tôi từ bỏ ý định mua đồ, tôi liền buột mồm nói: “ Chà! cái anh bán hàng kia thật là ngu hơn cả bọ” và khi ấy tôi  liền bị mắng: “Ai cho mày  nói thế hả”. Mẹ tôi bảo như thế là coi khinh người khác. Tuy nhiên tôi đâu có cảm thấy tự hào khi khinh thường người khác. Chẳng qua lúc đó tôi thấy nhân viên bán hàng thực sự là như thế mà thôi. Giống như con bọ loay hoay không tìm thấy lối ra trong cái hộp tối mò. Lúc này cũng thế. Đấy là cảm giác rất thực. Tôi muốn bỏ đi bởi vì tôi muốn dịu dàng với người mà tôi không muốn kết giao.

“Tôi sẽ gọi điện về nhà”.

Khi tôi vừa lấy điện thoại di động từ túi xách ra thì anh ta liền cướp lấy và lấy chân dẫm nát.

“Anh làm cái quái gì thế!”

Tôi hét lên và hướng ra phía cửa nhưng anh ta nhào tới  đẩy tôi ngã xuống và cố diễn trò ấy lần nữa. Không nén nổi nữa tôi vớ lấy bức tượng dài và mảnh gần đó đập thẳng vào mặt anh ta. Bức tượng làm bằng đất vỡ tan ra từng mảnh và khuôn mặt anh ta nhuốm đầy máu.

Khi nhìn thấy giây phút ấy khái niệm tình yêu vốn ngủ im trong tôi bỗng trào lên đỉnh điểm. Tất cả những người tôi đã yêu, tất cả những người rồi tôi sẽ yêu trong cuộc đời mình, những cảm xúc mà tôi và họ sẽ không bao giờ có thể sẻ chia – những thứ thể hiện sự tha thiết, đau đớn khôn nguôi – tất cả đã dâng đầy trong tôi ở vào phút giây đó.

“Xin lỗi anh! Em không biết phải nói sao!”

Tôi dang hai tay ôm chặt lấy anh ta và mắt thì đẫm lệ.

“Không sao, chính anh mới là người có lỗi”

Anh ta đáp.

Tôi sát trùng vết thương cho anh ta rồi gọi điện cho bố mẹ nói là do có việc nên sẽ phải đi xa hai, ba ngày rồi cúp ngay điện thoại. Và lần này tôi chui vào tấm chăn trên gác cùng với anh ta trong trạng thái gần như là tiến thêm một bước đến tình yêu. Chúng tôi vừa siết chặt lấy nhau vừa tránh sao cho khỏi đụng vào vết thương.

Cho dẫu thế thì thời khắc chia tay đã tới gần. Cả hai đều hiểu rõ điều đó.

Nửa đêm khi tôi thức dậy trong ánh sáng mảnh mai của những ngọn đèn ngoài phố rọi vào anh ta đã thức dậy. Anh ta nhìn chằm chằm vào chiếc bụng trần nơi tôi. Chăm chú. Như thể là nhìn thấu tận tim gan. Tôi thầm nghĩ. Anh ta muốn biến tôi thành xác ướp…thật kì lạ là tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Và rồi tôi lại ngủ thiếp đi.

Và lần này khi tôi thức giấc thì trời đang mưa lớn. Tôi nói khi nào trời tạnh mưa tôi sẽ ra về và anh ta gật đầu. Máu ở những vết thương trên mặt đã khô cứng lại. Chúng tôi cùng nhau trải qua những giây phút cuối cùng trong tiếng sấm nổ vang rền.

Tôi không muốn nghĩ đến chuyện cha mẹ tôi đã giận dữ tới mức nào. Nếu như anh ta là kẻ giết người thì câu chuyện đã có cái kết thú vị nhưng không phải vậy kẻ giết người đã bị bắt sau đó không lâu. Một ông già bệnh hoạn đã giết chết người tình và chặt ra từng mảnh.

Từ đó về sau tôi không gặp lại anh Tajima lần nào trên đường nữa. Theo như đồn đại thì anh ta bị mắc bệnh sốt rét ở nước ngoài và sau khi về nước thì trở nên suy sụp tinh thần và phải thường xuyên tới bệnh viện.

Tôi tốt nghiệp đại học, trở thành dược sĩ và đi khỏi khu phố.

Một vài năm sau, anh ta xuất bản cuốn tiểu thuyết trinh thám lấy bối cảnh là Ai-cập, trở nên có một chút tiếng tăm và xuất hiện cả trên tạp chí. Tôi nghĩ cả cái này nữa cũng giống như một sự chuyển đổi hoàn hảo. Bởi anh ta thông minh, thích khảo cổ học và có những cảm xúc dị thường nên sẽ chẳng bao giờ trở thành người ấn tượng như thế-tôi lại có ý nghĩ ngạo mạn thứ có thể làm cho cha mẹ tôi nổi giận.

Anh ta kết hôn và vợ anh ta còn xuất hiện cả trên tạp chí ảnh. Khi ngắm tấm ảnh và nhận ra rằng vợ anh ta có vóc dáng khá giống tôi dù chỉ là nhìn qua trang phục, tôi cảm thấy đau mơ hồ sâu trong lồng ngực.

Tôi có một tình yêu bình thường, chúng tôi hò hẹn, ăn mặc đẹp đi ra ngoài và làm tình với nhau. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ có chuyện tôi cảm thấy ham muốn với ai đó tôi gặp trên con đường ban tối nữa. Đấy có lẽ là giây phút mà sự nhạy cảm khuyếch đại bất thường của tuổi trẻ đã biến sự tưởng tượng thành hiện thực. Mọi vật thông thường đều được tạo nên từ rất nhiều góc độ khác nhau. Nếu lấy tất cả đi và chỉ chăm chăm nhìn vào một thế giới thì mọi thứ đều có thể xảy ra. Vào buổi tối ấy hai người đã vô tình gặp nhau và trong thế giới nội tâm bất thường của tôi anh ta đã đáp lại bằng sức hấp dẫn hệt như thế và nó đã diễn ra giống như là phản ứng hóa học và cả hai đã bay vào không gian nơi khác xa thế giới hiện thực. Có lẽ trong cả hai đã có một sức mạnh cuồng nhiệt vận hành  đến độ làm cho con người ta lạc lối.

Đôi khi tôi tự hỏi mình. Như vậy bây giờ đây cuộc sống với biết bao thứ gồm nhiều chiều kích này liệu có phải là thứ tuyệt đối đúng đắn và hạnh phúc hay không?

Vẻ đẹp của tiếng sấm tôi nghe vào tối ấy khi chúng tôi siết chặt lấy nhau trong chăn. Cũng rất có thể là tôi đã không thể thoát ra khỏi thế giới như thế.

Tôi tưởng tượng. Chẳng hạn như là mình bị biến thành xác ướp giống như con mèo. Rồi cái chết của anh ta với cái đầu bể nát bởi thứ tình yêu  làm tôi nghẹt thở.

Nhưng không hiểu vì sao tôi không thể nghĩ rằng đấy là những điều tệ hại./.

Nhà văn Yoshimoto Banana sinh năm 1964 tại Tokyo. Cuốn sách đầu tay của bà có tựa đề “Nhà bếp”(Kitchin) xuất bản năm 1987 đã bán được 2 triệu bản và trở thành sách bạn chạy ở Italia năm 1991. Cuốn sách này về sau được dịch ra 28 thứ tiếng trên thế giới. Bản tiếng Anh được New York Times  bình chọn là một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm 1993. Sau “Kitchin” bà xuất bản một loạt các tập truyện khác như: “ Dự cảm buồn”(1988), “Bóng trăng” (2003), “Hồ” (2005)…

Truyện ngắn “Xác ướp”(Miira) của Yoshimoto Banan xuất hiện lần đầu trong tập truyện có tựa đề “Cơ thể biết rõ mọi thứ” do nhà xuất bản Bungei Shuju ấn hành  năm 2000.

Gần đây nhất nhà văn Yoshimoto Banana đã được trao tặng giải thưởng văn hóa của Italia mang tên một hòn đảo ở Địa trung hải: “Giải thưởng Capri”. Theo dự kiến lễ trao thưởng chính thức sẽ diễn ra vào đầu tháng 7 năm 2011 tại đảo Capri. Giải thưởng này ra đời năm 1987 và thường được trao cho các sử gia hay các nhà thơ  trong đó có nhà thơ giành giải Nobel: Derek Alton Walcott.

Xuống tàu giữa đường

July 31, 2011 4 comments

                                         Truyện ngắn của Miyamoto Teru(Nhật Bản)

Cách đây 20 năm về trước, tôi cùng với người bạn thân  lên Tokyo  để dự thi vào một trường đại học. Nói đúng ra là chúng tôi lên Tokyo bằng tàu điện. Cũng giống như những sĩ tử khác chúng tôi ôm trong lòng một chút bất an một chút cô đơn ngắm nhìn phong cảnh ngoài cửa sổ. Để làm dịu đi những cảm xúc ấy, tự nhiên chúng tôi trở thành những kẻ lắm lời.

Nhưng rồi một nữ sinh trung học lên tàu từ Kyoto và ngồi xuống ghế bên cạnh chúng tôi đã làm cho bầu không khí thay đổi hoàn toàn. Bởi đấy là một cô gái xinh đẹp hiếm thấy. Cả tôi và người bạn thân không hiểu sao bỗng trở nên chùng xuống và ít lời hơn. Bạn tôi quyết định bắt chuyện với cô gái khi tàu  đi qua Shizuoka. Cô gái đang trên đường trở về Ohito ở Izu(1) sau khi dự tham dự kì thi vào trường đại học Kyoto. Cậu bạn thì thầm vào tai tôi: “Vũ nữ Izu đấy!(2)”. Chả hiểu tại sao cậu bạn lại gọi cô nữ sinh là vũ nữ Izu nhưng tôi cũng ừ hữ gật đầu. Cô gái cũng dần dần góp lời với chúng tôi, cô bảo nếu ba người mà thi cử thành công thì sẽ gặp lại nhau ở đâu đó tổ chức tiệc mừng. Và rồi cô gái  xuống tàu ở Mishima cùng nụ cười quyến rũ bỏ mặc chúng tôi với con tim xốn xang rối bời.

“Có lẽ tớ sẽ bỏ thi vào đại học Tokyo chuyển sang thi vào đại học Kyoto cũng nên”, cậu bạn  lẩm bẩm với vẻ không có gì là đùa cả.

“Mình  cũng đã nghĩ từ lúc nãy rồi. Cho dù năm nay có thi thì chắc cũng trượt mà thôi. Chấp nhận muộn một năm, dốc sức học thật kĩ chuẩn bị cho sang năm có lẽ lại ngon hơn”.

Tôi cũng nói vậy bằng cả sự thật lòng.

Mọi sự đã được quyết định thật dễ dàng.

Chúng tôi đem số tiền cha mẹ cho để thuê nhà trọ ở Tokyo làm một chuyến du lịch khắp Izu rồi xuống tàu ở ở Atami(3).

Thật là hai đứa con trai bất hiếu.

Và thế là đây là lần đầu tiên trong đời tôi xuống tàu giữa đường.

Chúng tôi vừa khoan khoái ngâm mình trong suối nước nóng vừa nghĩ về  cô gái xinh đẹp sống đâu đó ở Oni. Cô gái có cho chúng tôi địa chỉ và số điện thoại nhưng chúng tôi chỉ nhìn chăm chú mảnh giấy đó mà không làm gì cả. Ba ngày sau, chúng tôi trở về nhà giả bộ như là đã thi xong.

Vào khoảng nửa năm sau, bố người bạn thân mất. Cậu ta vì phải thay cha trông nom cửa hàng chuyên nghề vận chuyển của gia đình nên từ bỏ việc học hành.

Còn tôi, thì bỏ bê việc ôn thi và vùi đầu vào đọc tiểu thuyết. Nhưng trong lòng hai người hình bóng của cô nữ sinh gặp  trên tàu vẫn không phai mờ. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi toàn nói về chuyện đó.

Chúng tôi rất tò mò muốn biết xem liệu cô nữ sinh có thi đỗ vào trường đại học Kyoto hay không. Một ngày kia, chúng tôi quyết định chơi trò “jan-ken”(4) với điều kiện  ai thua sẽ phải gọi điện đến nhà cô gái. Tôi thua cuộc và nhấc điện thoại quay số đúng lúc cô gái có công chuyện gì đó vừa trở về từ Kyoto. Cô cho biết  đã thi đỗ và hiện đang trọ tại nhà họ hàng ở Marutamachi(5)

“À, mà cậu là ai trong hai người đấy?”, cô gái hỏi.

Tôi chủ ý muốn đùa liền nói tên của người bạn. Cô gái lặng yên trong giây lát  rồi thì thầm:“ Nếu mà gặp nhau, mình chỉ muốn gặp một mình cậu thôi”.

Tôi giữ chặt điện thoại trong tay chết lặng. Và cứ thế tôi cúp máy. Chắc chắn  sẽ có phương cách nào đó tốt hơn nhưng tôi – chàng trai 18 tuổi – trong lúc buồn nản đã không biết làm gì hơn.

“ Này, thế nào? Nàng nói sao?”

Bạn tôi mắt sáng lên hỏi đi hỏi lại đến mấy lần. Tôi bịa ra một câu chuyện khác. Tôi bảo cô gái thi trượt và đã đi làm, cô nói không muốn ai gọi điện đến quấy rầy nữa rồi dập máy đánh rầm một cái. “Hừ, thế là bị lừa một vố tuyệt hảo nhỉ”

Cậu lè lưỡi ra cười.

Kỉ niệm này mãi không tan đi trong lòng tôi. Không phải là cú  thất tình đầu đời đã để lại vết thương nơi trái tim tôi. Trong vô số những chuyện tôi đã  bịa ra thì sự bịa đặt này mãi mãi không bao giờ  tôi có thể tha thứ cho mình. Giờ đây khi tôi ngồi viết lại câu chuyện này thì bạn tôi – người mà tôi tự coi là tình địch – đã qua đời trong một tai nạn giao thông 10 năm về trước.

Nguyễn Quốc Vương  dịch từ tiếng Nhật

 

Miyamoto Teru( sinh năm 1947 tại Hyogo)

Truyện ngắn trên được trích từ tập “Ánh sáng tuổi hai mươi”( nhà xuất bản kodansha, 1973)


(1) Izu là địa danh bao gồm các hòn đảo và bán đảo Izu thuộc tỉnh Shizuoka. Ohito là tên một khu phố nằm trên địa danh này – ND.

(2) Vũ nữ Izu là tên một tiểu thuyết của nhà văn Kawabata Yasunari, xuất bản năm 1926. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện lãng mạn về nhân vật”tôi”-20 tuổi và cô gái làm nghề vũ nữ – ND

(3) Địa danh nằm ở bờ biển phía đông bắc bán đảo Izu, nơi nổi tiếng vì có nhiều suối nước nóng – ND

(4) giống như trò chơi “oẳn-tù-tì” ở Việt Nam – ND

(5) Tên một khu phố ở Kyoto – ND

Con Rết

July 8, 2011 Leave a comment


 Truyện ngắn của Rony V. Diaz (Philippin)

Khi tôi nhìn thấy chị gái tôi, Delia, đánh con chó của tôi bằng gậy, tôi cảm thấy nỗi căm ghét, giận dữ đang sôi lên trong lồng ngực.  Dưới ánh mặt trời, tóc chị tôi  lóe lên như thể là kim loại và trong chiếc váy màu nâu, trông chị chẳng khác gì chiếc dao găm nằm trong vỏ. Biryuk bám chặt vào đất và rú lên nhưng tôi không lao lên phía trước hoặc gào to lên với chị tôi. Chị có trái tim ốm yếu và không thể làm chị bị kinh động. Vì thế tôi cố kìm mình lại, họng tôi như vỡ ra  và tôi cảm thấy nỗi giận dữ, căm giận đang lồng lên trong từng đường gân thớ thịt.

Cha dẫn tôi đi săn lần đầu tiên khi tôi 13 tuổi. Trong suốt mùa hè năm ấy,  không một thứ vũ khí trong tay, tôi đã một mình  lang thang  thám hiểm những cánh đồng và khu rừng ở xung quanh trang trại. Sau đó đột nhiên vào một buổi chiều cuối tháng bảy, cha tôi nói với tôi rằng tôi có thể sử dụng khẩu súng săn của ông. Trên lùm cây ipil[1] nhỏ trên đồng cỏ, chúng tôi phát hiện thấy  một bầy chim bồ câu nâu. Trong khoảng không gian rộng thoáng, chúng không ngừng bay lên bay xuống và chao lựơn trên không mỗi khi chúng tôi cố tiến vào để đưa  chúng vào tầm bắn.  Nhưng cuối cùng chúng cũng đậu xuống mặt đất phía  bên trong rặng cây ổi. Cha tôi bấm vào vai tôi và tôi dừng lại. Sau đó chúng tôi cúi khom chầm chậm tiến lại. Gió thổi thật nhẹ và những ngọn cỏ cứa vào đôi chân trần của tôi. Một lần nữa cha tôi dừng lại. Ông quỳ xuống và nắm tay tôi.

“Đợi cho bầy chim bay lên hãy nổ súng”, ông thì thầm.

Tôi mở chốt an toàn và ngắm dọc qua  nòng súng. Tôi cảm thấy báng súng trơn nhớt bên má tôi. Khẩu súng quá nặng và bắp cơ tay tôi như rúm lại. Miệng tôi khô khốc; tôi cảm thấy mệt mỏi mơ hồ. Tôi muốn ngồi xuống.

“ Con đã quên không nhổ nước miếng”, cha tôi nói.

Cha đã từng nói với tôi rằng những người thợ săn luôn nhổ nước miếng trước khi bắn để cầu may. Tôi nhổ nước miếng và nhìn thấy ngọn gió bẻ cong những tia nước bọt tóe ra trong suốt hướng về phía đàn chim.

“ Tốt đấy!” cha tôi nói.

“ Sao chúng ta không ném đá?”, tôi lẩm bẩm. “Đợi thế này thì lâu lắm!”

“ Không được, con phải đợi”

Đột nhiên tiếng sủa chói tai của con chó nhỏ vang lên xé tan bầu không khí ủ ê của đồng cỏ và những lùm cây nhỏ. Nó băng  qua cánh đồng xoáy tròn và nhào xuống những cẳng chân chim vốn đã biến mất và giờ đây đang lần lượt lóe lên trong ánh sáng của mặt trời khuất sau đám mây lớn. Một con kêu lên và cả bầy vùng bay lên như đám hạt giống vãi vào trong gió. Tôi bóp cò và toàn thân rung lên theo đà giật của khẩu súng. Tôi nhìn thấy ba con cố vùng vẫy yếu ớt trong không khí bằng chút nỗ lực cuối cùng rồi rơi xuống đất. Tiếng súng không làm cho chú chó sợ hãi. Nó chạy đến bên chúng tôi và khụt khịt hít ngửi một cách thận trọng. Nó chạy vòng quanh cho đến khi tôi búng ngón tay và nó chạy đến bên tôi.

“ Không tồi”, cha tôi cười lớn. “ Một phát súng hạ ba chú chim”. Tôi chạy đến bụi cây để nhặt chim. Chú chó chạy thong thả phía sau tôi. Nó tìm chim giúp tôi. Ngực một con bị xé rách. Con chim này đã rơi xuống khoảng đất trống và máu   thấm rộng ra xung quanh giống như một miếng giẻ nhỏ màu đỏ. Chú chó thè lưỡi liếm dấu máu. Tôi nhặt chú chim lên và chỗ thịt bị xé rách còn ấm dính vào gan bàn tay tôi.

“Chú mày thính  thật đấy”, tôi nói với con chó. “ Nào . Lại đây!”. Tôi chìa lòng bàn tay dính máu ra và chú chó chạy lại liếm sạch. Tôi đưa lũ chim cho cha. “ Cha cho con trông nom con chó này được không?”, tôi nói và chỉ chú chó. Cha bỏ lũ chim vào chiếc túi da đeo bên hông. Cha nhìn tôi giây lát và nói: “Ồ xem nào. Cha cũng không chắc lắm. Nó có lẽ thuộc về ai đó.”

“ Con có thể giữ nó cho tới khi chủ nó tới được không?”, tôi nài nỉ.

“ Nó thực là một chú chó săn cừ”, cha tôi bình luận. “ Nhưng cha không muốn con trai mình trở thành một tên trộm chó”.

“ Không, không!” tôi nói thật nhanh. “ Con sẽ trả lại nó ngay khi người chủ kia tìm đến”.

“ Thôi được”, cha nói “ hi vọng là nó sẽ giúp con thành một thợ săn”.

Biryuk và tôi nhanh chóng trở thành bạn thân. Chiều chiều sau khi tan học, chúng tôi đi tới cánh đồng để săn chim cút hoặc tới bờ sông mọc đầy lau sậy với đám lá sắc nhọn để đuổi chim dẽ. Hầu như những lần ấy cha tôi  đi vắng nhưng mỗi khi có mặt  ở nhà cha đều đi săn với chúng tôi.

Biryuk chạy vụt đi và chị gái tôi quăng cây gậy vào nó. Sau đó chị quay lại và nhận ra tôi.

“Eddie, lại đây!”, chị ra lệnh. Tôi e sợ tiến lại gần. Chậm rãi, gần như là thận trọng, chị tiến lại và xoắn tai tôi.

“ Tao không muốn nhìn thấy con chó  trong ngôi nhà này nữa”, chị lạnh lùng nói. “ Nó đã cắn hỏng dép tao một lần nữa rồi đấy. Tao sẽ bảo Berto giết nó nếu nó còn dám lảng vảng đến gần đây lần nữa”. Chị đặt bàn tay lạnh ngắt, ẩm ướt lên một bên má tôi và xô tôi thật thô bạo. Tôi ngã nhào xuống đất. Nhưng tôi không khóc cũng không phản kháng. Tôi đã bỏ qua cái thời kì ấy. Giờ đây mọi lời lẽ, hành động chị nhằm vào tôi tôi đều tóm lấy để nuôi nỗi  căm ghét  mỗi ngày một lớn lên trong mình.

Chị gái tôi là  kẻ đáng ghét  nhất mà tôi được biết. Vào ngày mẹ tôi mất, chị tròn tám tuổi còn tôi thì lên bốn. Cho dù chúng tôi vẫn tiếp tục sống chung dưới một mái nhà, nhưng dường như chị đã đi đến một nơi xa lạ, đã đi khỏi nơi chị nhìn tôi với nỗi bực dọc và khinh miệt đang ngày một lớn dần.

Một trong những kí ức đau đớn hằn lại  đầu tiên nơi  tôi là  khi tôi đứng trước một túp lều cỏ. Chiếc sàn bẩn thỉu của nó được phủ bằng thân cây chuối trắng và một chiếc hộp nhỏ đựng những bông hoa nhàu nát  đặt ở một góc lều. Một con búp bê được đặt vào chiếc hộp và đấy là chỗ  chơi của chị gái tôi. Tôi nhớ chị đã từng đe tôi là  đừng bao giờ đặt chân tới đó. Chị đã không có ở đó và thế là tôi bước chân vào. Vỏ những thân cây chuối tươi lạnh ngắt dưới bàn chân tôi. Bên trong túp lều bốc lên mùi chua loét của cỏ chết ẩm ướt. Trái ngược với những bông hoa, con búp bê  trông có vẻ nặng đến không ngờ. Tôi nhấc nó lên. Nó thanh mảnh nhưng chân tay rất cứng. Tôi cố bẻ một bên chân và nó gẫy đánh tách một cái. Tôi hoảng hốt nhìn trân trân vào ống chân rỗng của con  búp bê. Rồi tôi nhìn thấy chị gái tôi đang chạy đến. Tôi giấu cái chân gãy xuống dưới đống vỏ chuối. Chị tôi chạy gấp và tôi biết chị đang bừng bừng giận dữ. Bốn bức tường của túp lều đột nhiên siết lại quanh tôi. Tôi cảm thấy nôn nao bởi một nỗi đau đớn thật khó gọi tên. Bức tường mỏng đổ ụp lên tôi. Tôi nghe thấy chị gào lên, lăng mạ tôi bằng thứ giọng vỡ ra, hoang dại và cả thân thể tôi ngập tràn nỗi sợ hãi. Chị chộp lấy một cây non treo trên mái lều và đánh tôi liên tiếp cho tới khi lưng và đùi tôi sưng vù lên, đau nhức khủng khiếp. Sau đó đột nhiên chị rền rĩ, rồi đông cứng lại, cây roi tuột khỏi tay chị rơi xuống sàn nhà và chị im lặng như thể một cốc rượu mạnh pha đường đã làm chị chùng lại, sụp xuống mặt đất. Đôi mắt chị vằn lên hoang dại như bầu trời có bão, răng cắn chặt lấy môi, bọt mép trào ra và run lên bần bật. Tôi phóng như bay về nhà để gọi cha đến.

Chị trở về từ bệnh viện thành phố với bộ dạng xanh xao, tiều tụy và câm lặng, dường như tất cả những cảm xúc, hành động của chị đều thể hiện sự ngang bướng, chua cay ngấm ngầm giống như con dao ẩn mình trong vỏ, chị che giấu trong mình sức mạnh thật đáng sợ, sức mạnh có thể gây nên sự đau đớn, sợ hãi ấy  không phải luôn luôn được tạo nên bởi  lưỡi dao cùn kia mà bằng hình thù đáng sợ của nó được địnnh hình bằng cái vỏ bên ngoài cũng giống như cái đáng ghét nơi con người chị được đình hình qua vẻ ngoài của  chị.

Không  một việc gì tôi  làm có thể làm vừa lòng chị. Chị cố phá hỏng mọi thứ tôi thích. Lúc đầu tôi cho rằng đấy là quá trình thích nghi, là một bước tiến tới việc hòa giải, tôi chộp lấy và vò nát tất cả những hạt mầm tức giận mà chị đã gieo vào lòng tôi, nhưng sau đó tôi nhận ra rằng việc phá hoại đã trở thành thói quen của chị. Tôi đã không thèm nói gì khi chị bảo Berto giết chết con khỉ tôi nuôi vào  buổi sáng kia chỉ vì nó cười khúc khích  trước mặt chị, khi chị đang đáng răng. Tôi cũng không thèm nói gì khi chị nói với cha rằng chị không thích cái chuồng chim bồ câu của tôi vì rằng nó bốc lên mùi hôi thối và tôi phải đem cho lũ bồ câu và Berto đã chẻ tan nó thành đống củi. Tôi biết cách kiềm chế bản thân vì tôi hiểu chúng tôi phải nhẫn nhịn để giữ cho chị bình tĩnh và thanh thản. Nhưng khi chị tống những con bướm của tôi vào một chiếc bình phế thải rồi đem thiêu ở trong sân thì tôi nhận ra rằng chị đang ra sức chọc tức tôi.

Lũ bướm của tôi chả bao giờ cười chị và chúng cũng chẳng bốc mùi. Tôi đặt  chúng trong một cái tủ không dùng đến ở trong phòng khách và chỉ trừ phi chị mở ngăn kéo ra chúng luôn ở ngoài tầm mắt chị. Và chị thừa biết rằng bộ sưu tập bướm ấy đã lớn lên cùng tôi. Nhưng một buổi chiều, khi tôi từ trường học trở về nhà, tôi nhận ra đàn bướm của tôi đã bị đốt cháy trong một chiếc can giống như những tàn giấy còn sót lại. Tôi khóc và cha tôi đã phải gọi chị đến để giải thích.  Chị đứng thẳng và thản nhiên trước cha nhưng đôi mắt đẫm nước của tôi đã nhận ra ở chị cái chân dung nhẫn tâm và ngạo mạn. Chị tò mò nhìn tôi nhưng không nói gì và cha nhẹ nhàng cất tiếng hỏi. Chị lắng nghe rất ngoan ngoãn và khi cha dứt lời, chị đáp thản nhiên: “ Chúng làm lũ kiến kéo đến”.

Tôi chạy theo Biryuk . Nó đã chạy núp vào bụi gai. Tôi chạy sau và gọi tên nó. Tôi tìm thấy Biryuk dưới một bụi cây thấp và nhăn nhúm . Tôi gọi Biryuk nhưng nó chỉ rên rỉ. Rồi tôi nhìn thấy một bên mắt  Biryuk đang chảy máu. Tôi ngồi phệt xuống đất và nhìn gần hơn. Một bên mắt đã bị xé rách. Cây gậy trong tay chị tôi đã đâm trúng một bên mắt Biryuk. Tôi choáng váng. Tôi ngồi lặng yên một hồi lâu nhìn chăm chăm Biryuk. Rồi tôi cảm thấy thật căm ghét sự né mình, những vuốt sắc của nó bắt đầu cào xé xuống nền cũi đang giam giữ nó, nó làm những bắp cơ rắn lại, nó thu mình lại trong một phút rồi bung ra phá tan cánh cửa và nỗi căm giận  điên dại cào xé óc tôi. Tôi gào lên. Biryuk hoảng sợ, tru lên và vọt ra khỏi bụi rậm. Tôi không chạy theo sau Biryuk.

Một con chim ưng lớn lượn vòng uyển chuyển bên trên một bầy chim. Nó bay lượn thành vòng trôn ốc và dần xiết chặt lại gần phía trên bầy chim. Trên đường trở về nhà, tôi băng qua  lều chứa củi. Tôi nhìn thấy Berto đang chẻ củi  dưới bóng cây. Anh ta đang chẻ số củi anh ta chất đống lại từ năm ngoái. Một đống thanh gỗ mỏng trắng được xếp đống cạnh đống củi anh ta đang chẻ. Khi thấy tôi anh ta ngừng lại và gọi tôi.

Đầu anh ta ướt đẫm mồ hôi. Anh ta gạt mồ hôi và những sợi tóc rũ xuống mắt và nói: “ Tớ có cái này cho chú mày đây”

Anh ta bỏ lưỡi rùi xuống và đi vào lều củi. Tôi đi theo sau. Berto đi tới một góc lều. Tôi nhìn thấy một cái bị bằng đay giăng ra trên nền đất.

“ Nhìn đây!”, anh ta nói.

Tôi tiến lại. Một con rết lớn bị ghim xuống nền đất bởi một thanh củi. Tấm thân đỏ hung ác đang co giật.

“ Nó to thật”, tôi nói.

“ Tớ tìm thấy nó dưới đống củi”, Berto cười sung sướng. Anh ta nhìn tôi với con mắt đục ngầu.

“ Chú mày biết không”, anh ta nói, “Cái thằng quỷ sứ này làm tao  suýt chết”.

Tôi làm bộ cứng cỏi: “ Thế ạ, có thật không?”. Tôi nói và cố kiểm soát giọng nói đang rung lên . Berto vẫn ngoác miệng cười và tôi cảm thấy nóng râm ran khắp người.

“ Tớ không nghĩ là sẽ tìm thấy một con rết ở đây”, anh ta nói. “ Tí nữa thì nó cắn tớ. Ai mà lại không sốc cơ chứ”. Anh ta lay và nhổ thanh  củi lên.

“ Thanh củi   này ở đây”, anh ta nói và bỏ xuống đống củi.

“ Sau đó tớ nhặt nó lên như thế này. Và con rết thì nằm cuộn tròn ở đây. Ngay chỗ này này. Tay tớ gần như là chạm vào nó. Chú mày  sẽ cảm thấy thế nào khi chú mày  làm điều đó?”

Tôi không trả lời. Tôi ngồi xổm nhìn con rết. Những chiếc râu của nó rung rung dò tìm trong buổi trời chiều. Tôi nhặt một thanh củi trắng và chọc con rết. Nó duỗi ra hằn học. Những cái kìm của nó huơ lên quật lấy quật để.

“ Em sẽ kết liễu đời nó”, tôi nói to.

“Phải”, Berto nói “ Tớ không giết nó ngay vì tớ biết chú mày  sẽ thích nó”.

“ Vâng, anh nói đúng”

“ Nó lớn hơn con chú mày  tìm thấy năm ngoái phải không?”

“ Phải, nó lớn hơn nhiều”

Tôi thọc thanh củi vào tấm áo giáp của con rết. Nó xuyên qua lớp thịt được phủ ngoài bởi chiếc áo giáp đỏ, một thứ dịch lỏng trăng trắng rỉ ra. Sau đó để khẳng định xem nó đã chết thật chưa tôi chạm nhẹ vào bộ râu của nó. Con rết không hề nhúc nhích. Tôi gói nó vào trong chiếc khăn tay. Chị tôi đang ngồi trên chiếc ghế rộng trong hiên nhà. Lưng chị quay lại phía cánh cửa và mặt thì hướng ra cửa sổ. Chị đang thêu gì đó trên một mảnh vải  trắng. Tôi tiến lại gần, đứng đằng sau chiếc ghế. Chị không hề biết sự có mặt của tôi. Tôi mở con rết ra và thả nó vào vạt váy chị. Chị thét lên thất thanh buông rơi mảnh vải, nó bay lượn như thể một con chim ưng. Chị vụt đứng lên, quay lại và nhận ra tôi nhưng rồi chị sụp ngay xuống ghế ôm ngực tronng nỗi đau đớn nhân đôi. Con rết đã bị hất rơi xuống sàn.

“Chính mày đã làm việc này”, chị kêu lên hổn hển. “ Mày cố làm điều ấy để giết tao. Mày có sức khỏe, ….  có cuộc sống…mày đã cố…”,  giọng chị méo đi kéo dài thành tiếng rên rỉ đau đớn.

Đột nhiên tôi chìm trong cảm giác tội lỗi và hối hận.

“ Nhưng nó đã chết rồi mà”, tôi bật khóc và quỳ xuống trước mặt chị tôi. “ Nó chết rồi mà. Này chị nhìn xem, nhìn xem!”.

Tôi vồ lấy con rết và vầy vò đầu nó bằng những ngón tay. “ Nó chết thật rồi mà!”

Chị tôi lặng yên. Tôi giơ con rết lên trước mặt chị tôi như thể người thợ săn đang khoe chiếc đuôi của con hươu và không hề cảm thấy sự gớm ghiếc của những cái chân đang cọ vào lòng tay tôi.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh


[1] . Một loại cây nhiệt đới thuộc họ cây vang, thân có thể cao tới 50m.

Nơi ở của Kara.

July 7, 2011 Leave a comment


truyện ngắn của Luis Joaquin  M. Ktigbak(philipin)

 

Tôi dám chắc rằng chỉ có hai con chuột. Tôi  đã trông  thấy chúng quá thường xuyên đến nỗi giờ đây tôi có thể phân biệt  được con nào với con nào và kể từ đó tôi đặt cho chúng một cái tên, tôi bắt đầu  có cảm giác giống như là yêu mến chúng. Tôi không có ý muốn nói là tôi sẽ cho chúng ăn hay làm điều gì đó cho chúng.  Việc chúng xơi trộm thức ăn của tôi đã là quá đủ rồi-xin cám ơn – nhưng ít nhất tôi không còn cảm thấy phát điên lên nữa khi chúng xuất hiện, và tôi cũng không cố kiếm bằng được vật gì  gần nhất vào lúc ấy nữa. Tôi trông  thấy Ludlum( chú chuột nhỏ và sẫm màu hơn) sáng nay ngay đằng sau tấm khăn rửa bát và Le Carre’  thì viếng thăm khi tôi đang ăn bữa trưa. Tôi có thể đoán được những gì tôi nghĩ về chúng lúc này: chúng là những vị khách và có chúa chứng giám  tôi  cũng chẳng có nhiều khách tới thăm lắm ở chốn  Krus na Liga này.

Ồ ! tất nhiên đó là Eric. Kể ra thì cũng buồn cười chúng tôi đã quen biết nhau nhiều năm rồi kể từ hồi  học cùng  trường trung học- và chúng tôi chưa bao giờ thực sự trở thành những người bạn thân nhưng gần đây tôi nghĩ anh ta có vẻ ngọt ngào với tôi. Tại sao anh ta lại chịu chui rúc vào những con đường chật hẹp của Krus Na Liga này mà không phải một nơi nào khác? Tại sao anh ta lại không lang thang ở nơi nào khác thay vì một nơi tồi tệ như nơi này. Ý tôi muốn nói  là việc gọi phòng tôi bằng một  từ gì mĩ miều thay thế sẽ là sự quá tử tế.Nó dường như không được xây dựng hài hòa cho lắm. Sự dở hơi của căn phòng  này được chứng minh bằng chiếc cửa sổ đặt ở bức tường hậu:  một bức bình phong bụi bẩn, cáu ghét nói cho người ta biết rằng đấy là một chiếc cửa sổ và bức mành gỗ của nó giờ đây đã được đóng đinh, nhưng bất cứ ai cũng có thể nhận ra rằng nó vốn đã là cửa sổ trước của ngôi nhà. Tôi đoán chủ nhân của ngôi nhà cần thêm tiền nên đã quyết định dành ra một “ phòng” cho những sinh viên khờ khạo, như tôi chẳng hạn, thuê.

Bức tường bên phải được dựng  bằng những tảng đá lồi lõm  chất lên nhau. Từ phần cao tầm thắt lưng trở lên nó chẳng khác gì chiếc tổ gà được đỡ bằng giàn khung gỗ. Sự thực ấy hiếm khi được nhận ra bởi chiếc rèm cửa màu vàng nặng nề rủ xuống từ trên nóc. Bức tường còn lại được làm bằng gỗ nhưng cũng thật không may nó lại là một bức tường chung. Một nửa bức tường đó thuộc về những người ở kế bên,  từ phòng mình tôi có thể nghe thấy  tiếng họ cãi nhau.

Cho dẫu thế tôi cũng không  thực sự cảm thấy phiền vì  tất cả những thứ ấy. Tôi đã từng thuê những chỗ tệ hơn thế. Dù thế nào chăng nữa thì tôi dành phần lớn thời gian vào việc ngủ cho nên tôi chẳng thèm màng đến nội thất cũng như sự thiếu thốn của căn phòng. Tôi có thể chung sống hòa bình với tiếng ồn, chỉ một lát thôi nó sẽ trở thành tiếng xì xào giống như chiếc ti vi bị bỏ quên không tắt với màn hình trắng lúc nửa đêm khi bạn ngủ gục trên đi văng. Nhưng thứ làm tôi khó chịu nhất là khi tôi phải đi qua  căn nhà chính để vào phòng tắm. Tất nhiên tôi thừa hiểu rằng đừng bao giờ bước ra khỏi nhà tắm chỉ với chiếc khăn mặt hay thậm chí với chiếc áo choàng tắm nhưng có vẻ như đứa con trai vô dụng của ông chủ nhà vẫn hau háu nhìn tôi khi tôi mặc quần soóc và đi dép lê. Tôi phải băng qua nhà bếp để đi tới gian giữa  và nếu như anh ta có mặt ở đó, tôi cảm thấy anh ta nhìn chằm chằm vào tôi lướt trên thân hình tôi từ trên xuống dưới. Thậm chí tôi không cần phải thoáng liếc nhìn anh ta để nhận ra điều đó vì anh ta không được khéo léo cho lắm. Tôi muốn nói với anh ta rằng hãy kiếm lấy một việc gì đó để  làm đi, hãy thay đổi cuộc sống chết tiệt của anh đi!

Có tiếng gõ cửa. Cửa  phòng tôi được làm bằng gỗ dán  rẻ tiền  và được gia cố thêm  bằng những thanh sắt mạ kẽm. Không hiểu sao bất cứ âm thanh nào được tạo  ra bằng cách đập vào nó dường như nghe có vẻ như không có thật và tôi phải đợi tới lúc tiếng gõ vang lên đến lần thứ hai, thứ ba mới vùng dậy để trả lời.

“ Ai đó?”, tôi hỏi.

“ Mình đây”, một giọng quen thuộc đáp.

“Eric phải không?”

“Phải”

Tôi đẩy chiếc ghế xếp để lấy lối  đi vào nơi gọi là buồng của tôi. Chiếc  ghế làm phát ra âm thanh như tiếng vỡ vụn nghe mà phát cáu. “Đợi chút”, tôi nói khi tôi mở cửa buồng và giật mạnh một chiếc ngăn kéo. “ Cho tớ một, hai phút đế sửa soạn tí chút”.

“ Ok”, cậu ta  đáp khi tôi lục lọi tìm  nịt vú- chiếc áo phông trắng của tôi khá mỏng manh và  tôi biết cũng phải có giới hạn nhất định với sự cẩu thả  của mình. Tôi tìm thấy một chiếc, mặc nó vào rồi trở dậy ra mở cửa.

“ Chào Kara” cậu ta lên tiếng với cái cười lớn và cái vẫy tay nho nhỏ. Cứ như thể tôi đứng cách xa đến vài mét vậy. Đúng là một chàng ngốc.

“ Chào Eric” tôi mỉm cười, “ Vào đi” –tôi chỉ chiếc ghế. “ Mời cậu ngồi, xin cứ tự nhiên !”. Cậu  ta ngồi xuống tương đối ngoan ngoãn . Tôi không thể ngăn được sự liên tưởng đến sự trung thành của loài vật nảy ra trong óc tôi. Tôi biết, tôi biết, tôi có thể đã trở nên đê tiện. Và  tôi nghĩ rằng Eric là một trong số những người hiếm hoi thực sự tôi thích.

Tôi ngồi trên giường, chiếc giường sắt cũ dùng cho quân đội kêu lên cọt kẹt mỗi khi tôi cử động.

“À,  lớp cậu học thế nào?”, Eric đi thẳng vào câu chuyện phiếm. Một kì học mới đã bắt đầu với  chúng tôi  ở đại học này và lần đầu tiên trong một thời gian dài tôi không cảm thấy có sự trào lên hứng thú như thường lệ với kì học mới, con sóng tự dối mình  đã sai khiến tôi tự nhủ rằng lần này tôi sẽ lao đầu vào học , lần này tôi sẽ đạt điểm cao ở mọi môn. Tôi chỉ cảm thấy mình hơi huyênh hoang  chút ít.

“ Lớp học của tớ ấy à? mọi thứ sẽ “ok” nếu như chúng không  quấy rầy  giấc ngủ của tớ quá nhiều”.

Eric cười và sau đó vẻ mặt cậu ta chuyển sang nghiêm túc: “ Kara? liệu mình có thể nói cho cậu biết  điều đang làm mình lo lắng  không?”. Tôi đáp:  “Được, cậu nói đi xem nào!”.

Eric bắt đầu nói về bốn người đàn ông mặc “sando”[1], những người dường như không làm gì cả ngoài việc lang thang ở những cửa hàng “sari-sari” [2] bên  đường. Cậu  ta nói rằng ngay mới đây khi cậu ta  ra khỏi xe ô tô và liếc nhìn họ cậu ta  nhận ra  họ đã say khướt. Cậu  ta tiếp tục nói về việc họ  có thể nguy hiểm như thế nào, về việc mọi việc sẽ ra sao khi ban  đêm tôi trở về nhà một mình , bạn biết đấy, mọi thứ đều có thể xảy ra, rằng tôi nên cho phép cậu ta đưa về khi tôi kết thúc lớp học cuối cùng hàng ngày, rằng đó không phải là việc gì to tát lắm.

Tôi cảm thấy muốn nói với cậu  ta rằng tôi đảm bảo  họ chẳng sao cả, rằng họ đủ tử tế để  mỗi khi  say tất cả những điều họ từng làm là hát- hát thật tồi tệ -nhưng tôi biết  cậu  ta sẽ bảo tôi thật ngây thơ và khờ dại. Tôi cũng cảm thấy muốn hỏi “ Này đợi đã ! thế chúng ta là gì của nhau nhỉ? Việc đưa đón tớ  hàng ngày thật ra là chuyện gì? Tớ  có cảm  thấy thiếu  thứ gì không ? Chúng ta đang tiến thêm một chút có phải không?”. Nhưng đôi khi sẽ  dễ dàng hơn khi để cho  những câu hỏi vụng về  sôi lên  trong niềm hi vọng  giả tạo  rằng chúng sẽ hoàn toàn tan biến. Vì thế thay vì  hỏi tôi lơ đãng nhìn  chiếc nệm lồi lõm ,  bọc  tấm ga trắng đã sờn với họa  tiết trang trí là  những bông hoa màu vàng cam.

Ngay khi Eric nói xong  bất chợt có dòng nước  chảy từ trên mái nhà xuống và sau đó thêm  dòng nữa, dòng  nữa. Chúng tôi ngước nhìn lên và nhận ra trời bắt đầu mưa.

Chúng tôi ngồi đó trong giây lát lắng nghe tiếng nước rớt mỗi lúc một nhanh hơn , lắng nghe tiếng mưa đang mỗi lúc một mạnh hơn. Chẳng bao lâu âm thanh của mưa  trở nên giống như  âm thanh của nhóm nhảy “Filipiniana”[3] đang biểu diễn trên mái.

“ Ha ha,.. không sao nó sẽ giúp tớ rửa sạch chiếc xe!” Eric lắc đầu và sau đó chậm rãi nở một nụ cười lớn. “ Cậu vẫn  còn nhớ sinh  nhật của Joa-ann vào năm cuối  chứ ?”

Sao tôi lại quên chứ? Jo-ann là một trong ít người  ở khóa học chúng tôi có xe hơi và cô ta là người duy nhất có chiếc xe mới- một chiếc hiệu Galant mới cứng tương phản với những “ cục sắt gỉ” vẫn thường  thổi phì phò trong bãi đỗ xe. Và vì thế vào ngày sinh nhật của cô ta,  nhóm bạn  đã tiêu phí vô tội vạ những lọ keo dính bôi khắp xe của cô ta để tạo ra một sự  bất ngờ. Theo kế hoạch  chúng tôi sẽ mang đến những lọ kem cạo râu và phủ thứ kem đó lên khắp xe cô ta rồi  đặt vài quả anh đào lên mui xe và nấp. Khi Jo-ann trở lại bãi xe, chúng tôi sẽ thưởng thức trong tầm mắt sự choáng váng của cô ta và sau đó chúng tôi sẽ phóng nhanh ra khỏi hàng rào và hét lên “ Ngạc nhiên chưa!” rồi  vui vẻ tẩy sạch đi lớp keo dính bầy nhầy ấy . Rắc rối là ở chỗ chúng tôi không lường trước được kem cạo râu có thể phá hủy lớp sơn xe. Chúng tôi đã phải dùng số tiền trợ cấp ít ỏi của mình trong vài tháng tiếp theo  để chi trả  cho việc sửa chữa.

Eric và tôi cùng cười khi cùng nhau nhắc lại câu chuyện. “ Và sau đó”,  tôi hổn hển nói:  “ Và sau đó là quãng  thời gian chúng ta là sinh viên năm thứ hai và trời thì mưa dữ làm cho họ phải hủy các lớp học để rồi  Rachel thông báo rằng cô ta muốn xem một bộ phim phải không?”. Eric gật đầu sôi nổi. Cậu  ta kết thúc câu chuyện hộ tôi: “ Phải, và chúng ta đã bảo với cô ta rằng cô ta thật gàn dở, nhưng không hiểu làm sao mà cô ta trưng dụng được phó giám đốc phụ trách vận tải và chúng ta đã được chở miễn phí đến khu phố lớn”

Chuyện tiếp chuyện. “Cậu có nhớ quãng thời gian trong phòng thí nghiệm sinh vật không?”. “Khi nào?”… “thế còn cái buổi ở hội chợ thì sao?”. Chúng tôi đã quên đi căn phòng, quên đi những chiếc rèm cửa vàng ọp ẹp, quên đi những băn khoăn nghi ngại giữa hai người. Trong giây lát chúng tôi như đang ở một nơi khác thật an toàn, tránh khỏi những phán quyết của số phận , những khả năng và  hệ quả . Chúng tôi đang ở một nơi chúng tôi có thể sẻ chia kỉ niệm, ở công viên giải trí của trái tim. Nơi không thứ gì có thể xảy đến ngoại trừ  những điều làm cho chúng tôi vui vẻ, nơi mà những chuỗi ngày trong quá khứ  có thể được vẽ lại bằng sắc màu tươi sáng và hạnh phúc.

Đôi khi tôi nghĩ rằng đó là lí do tại sao tôi  thực sự thích  Eric- đó là việc chúng tôi có thể nói về mọi chuyện đã xảy ra với chúng tôi trong trường trung  học.

“ Chà !chà!” Eric kết luận “Đấy thực là những ngày hạnh phúc!”.

Tôi tạo ra một âm thanh chế giễu, thứ gì đó nửa giống như nụ cười nửa giống như cái khịt mũi. Tôi không biết tại sao. Có phải vì đấy là câu nói sáo rỗng? Thực tế là những lời nói có vẻ xuẩn ngốc ấy lại từ  miệng một người không còn là kẻ 20 tuổi nữa. Có thể là anh ta đã sơ xuất lỡ lời làm tôi hơi sợ. Cái gì sẽ xảy ra nếu “Đấy thực sự là những ngày hạnh phúc ”?

Eric cảm nhận  được nỗi bứt rứt của tôi và lái câu chuyện sang chủ đề  khác . “ Cậu sẽ học gì vào kì này?”, cậu  ta hỏi.

Và tôi bắt đầu liến thoắng những môn học của tôi: Thông tin liên lạc, khoa học xã hội,,,vân vân …  rồi toán 17.

“À này!”,  cậu ta nói một cách nghiêm túc “Cậu  sẽ không học  kì cuối phải không?”

“ Phải” tôi đáp.

“ Thế thì cậu làm  thế nào?”

Vẻ lúng túng hiện ra trên mặt cậu ta rất thành thật.

Tôi băn khoăn tự hỏi mình sẽ trả lời anh ta thế nào đây. Eric biết tôi đủ rõ để nhận ra rằng sẽ chẳng có cách nào cả khi tôi  đã  trượt môn toán 17.

“ Tớ đã thi hỏng”

“ Không thể nào ”

“Đúng thế”, tôi chỉ dãy chai lọ được sắp xếp cạnh chiếc bồn rửa bát trong bếp “ Này cậu muốn uống gì không? Trà chanh  hòa tan , cà phê hay một chút Dom Perignon[4] ?..”

“ Không … Không …” ,cậu ta  gạt đi cố gắng  thay đổi chủ đề câu chuyện của tôi  với tính quả quyết của những người có xu hướng  luôn đi theo con đường riêng của mình. “ Sao cậu lai có thể trượt môn toán được nhỉ?Mình  muốn nói  cậu vốn  giỏi nhất ở trường trung học mà . Mọi người đều copy bài tập về nhà của cậu còn gì. Quỷ tha ma bắt! thậm chí rất có thể cậu còn làm được phép tính trong lúc ngủ nữa”.

Tôi nhún vai và quay đi khỏi cậu ta. Tôi đột nhiên nhận ra rằng tôi sẽ giải thích với cậu ta  và tôi không muốn nhìn cậu ta khi tôi làm việc đó. Tôi cầm lên cuốn sách toán 17 mới in và mở đại một trang. một đống những đồ thị, kí hiệu, biểu thức hiện  ra. Tôi nhận ra chương này và cả những vấn đề được trình bày ở đây.

“À”, tôi bắt đầu “Ừ thì cậu biết đấy, trong toán học sự chăm chỉ không có ý nghĩa gì hết”. Cậu ta cau mày. “Tớ  muốn nói đấy là tất cả những gì mà những chuyên đề toán khác đã nói  với tớ . Tất cả các giáo viên sẽ  chỉ quan tâm đến việc bạn có giỏi không hay thôi. Một vài người trong số họ thậm chí còn không quan tâm đến việc kiểm tra sĩ số. Tất cả mọi sự nằm ở chỗ cậu có thi qua hay không mà thôi”.

Eric vẫn tiếp tục cau mày. Tôi bắt đầu lo rằng cậu ta sẽ làm trán mình nhăn vĩnh viễn.

“ Vì thế  giờ học môn  toán 17 của tớ  bắt đầu vào bảy giờ sáng. Quá sớm đối với tớ. Tớ bỏ học hơi nhiều và cuối kì tớ chỉ có mặt để tham dự kì thi. Và cho phép tớ nói với cậu, tớ làm bài thi một cách ngon lành!”. Tôi vẫn tiếp tục nhìn vào trang sách. Bằng ngón tay trỏ tôi lần theo một đồ thị hình cung trong đống đồ thị. “ Và sau đó, chỉ ngay sau kì thi cuối  ông thầy kêu tôi tới gặp ông ta ở văn phòng”. Tôi ngừng lại, thở một hơi thật sâu, thật chậm.

“ Tớ đến đó. Ông ta mỉm cưới, vào đi, vào đi , ông ta nói. Ông ta ngồi xuống và chỉ một chiếc ghế đối diện bảo tớ  ngồi xuống đó. Ông ta bắt đầu nói rằng tớ  không đến lớp đủ tiết rằng tớ sẽ gặp rắc rối vì tớ  đã nghỉ quá số buổi được phép. Tớ  ngồi im nghe và không biết nói sao để bào chữa. Đột nhiên  ông ta đặt tay  lên đùi  tớ và ông ta nói với tớ  rằng thực sự thì việc không  dự đủ số tiết cũng không có gì rắc rối cả nếu tớ  chịu “ vui vẻ” một chút”.

Eric nhìn chằm chằm vào mặt tôi như thể cậu  ta không hiểu, không tin một chút nào vào những điều tôi đang nói như thể tất cả những gì cậu  ta làm lúc này là nhìn chằm chằm đôi môi tôi đang mấp máy.

“ Tất nhiên là tớ bỏ đi và sau đó khi tớ nhận kết quả học tập thì có một  con ngỗng  to tướng trong đó.”

Eric thốt ra: “ Tại sao cậu không nói cho mình biết điều đó?”. Và sau đó như thể e sợ câu trả lời thành thực, cậu ta nhanh chóng hỏi câu tiếp theo: “ Thế cậu có phản ứng lại với ông ta không?”

“ Có chứ. Tớ bảo Rach đi cùng tới phòng ông ta và tôi nói với ông ta rằng mọi chuyện như thế thật là lố bịch. Tôi nói với ông ta rằng cuộc gặp lần trước với ông ta tại văn phòng đã đủ cấu thành tội quấy rối . Tôi cũng chỉ ra rằng cũng có những người khác  bỏ lớp nhiều như tôi tại sao ông  ta không đánh trượt họ. Ông ta phủ nhận rằng ông ta đã đến gần tớ  và nhắc đến điểm thi ông ta nói rằng ông ta làm thế là theo đúng luật của nhà trường. Ông ta cũng ngụ ý rằng tớ sẽ gặp rắc rối to nếu nói chuyện này ra ngoài”.

Eric tức giận. Trông cậu ta còn có vẻ tức giận hơn cả tôi.

“ Bình tĩnh nào Eric”. Tôi nói nhưng nhìn cậu ta tôi biết mình nói thừa.

“Đồ khốn kiếp! Lão ta có ô dù phải không ? Lão có anh em trai làm thượng nghị sĩ phải không?”

“ Thế thì sao nào?”

“ Cậu nói đúng. Chẳng vấn đề gì cả. Lão ta sẽ chẳng biết được ai hay thứ gì sẽ trừng phạt lão ta đâu”

“Đấy không phải là những điều tớ muốn nói”

“ Nào, đấy là ở trong kinh thánh. Nếu bạn có mối bất bình với ai đó, trước hết hãy nói chuyện với hắn  ta. Sau đấy nếu hắn ta không chịu nghe hãy đưa một người bạn đến cố nói chuyện với  hắn lần nữa. Và sau đó nếu tất cả thất bại bạn phải tiến lên “ trừng phạt”. Cậu biết đấy phải giã cho thằng cha ấy một trận”

“ Tớ  biết “ trừng phạt” có nghĩa như thế nào, cám ơn cậu . Và nó chỉ có  trong kinh thánh thôi, Cậu đã đọc nó rồi sao?

“Mình  nghĩ nó nằm trong cuốn kinh Mathew. Mình  đảm bảo rằng trong đó viết thế”

“ Tớ nhận ra rằng thật khó mà tin được , Eric” .

“ Nhìn đây” và lần đầu tiên cậu ta làm tôi sợ. Tôi nhìn vào mắt cậu ta và nhận ra rằng gã ngốc Eric, cậu bạn cũ học cùng trường trung học,  hoàn toàn có khả năng  dự tính trả thù bằng  bạo lực.

“ Nhìn đây! Chúng ta sẽ phải làm thứ gì đó. Lão ta  không thể nào trốn chạy được đâu”

“Eric, tớ thề với chúa nếu tuần tới mà tớ tốt nghiệp và khám phá ra rằng ông ta đạo diễn mọi chuyện thì tớ sẽ không nói lại với cậu nữa đâu”.

Cậu ta không đáp lời chỉ ngồi yên đó. Bàn tay nắm chặt lại và im lặng. Cuối cùng cậu ta lẩm bẩm: “ Lão ta sẽ không thể tránh được điều đó”.

Đột nhiên tôi cảm thấy thật mệt mỏi.

Eric đứng dậy. “Mình nghĩ mình  nên…”. Cậu ta huơ tay  mơ hồ về phía cửa nhưng vẫn đứng yên. Tôi nhìn vào mắt cậu ta. Chúng đang lấp lánh. Cậu ta đặt tay lên chúng như thể không cho những tia nhìn đó lộ ra. Tôi vùng dậy chạy tới và choàng tay ôm cậu ta. Lần cuối tôi ôm Eric là trong ngày tốt nghiệp ngay sau buổi lễ cuối cùng khi mọi người đang cười nói và ném tờ chương trình lên không trung. Đó là một ngày đẹp đẽ. Và giờ đây vòng tay cậu ta đang bọc quanh tôi và bắt đầu siết chặt lại. Cậu ta mở đôi mắt ướt nhìn tôi và  cúi xuống rồi môi cậu ta chạm đôi môi tôi và tôi có thể cảm nhận được lưỡi  cậu ta  cử động.

Tôi đẩy cậu ta ra bằng tất cả sức mạnh đột ngột  dâng tràn lên trong tôi.  Cậu ta lảo đảo suýt ngã nhưng  cố gượng được bằng cách chống tay vào bàn.

“ Mình xin lỗi”, cậu ta nói thẳng thắn một cách bất ngờ. Cậu ta đứng đó  hoàn toàn ngây dại , đông cứng trong giây lát và sau đó hấp tấp  xoay người lao ra phía cửa. Cậu  ta lắc cánh cửa để nó mở ra trước  khi tôi kịp nói điều gì, trước khi tôi kịp an ủi cậu  ta hoặc cho  mượn chiếc ô, cậu  ta lao ra ngoài chạy về phía chiếc ô tô  ướt sũng. Tôi đứng nhìn  khi cậu ta dò dẫm tìm chìa khóa.  Cuối cùng cậu  ta cũng vào được bên trong và bắt đầu nổ máy. Đèn pha nhấp nháy và cậu ta bấm còi hai ba lần. Tôi làm một cử chỉ vẫy tay khe khẽ  nhưng tôi không dám chắc cậu ta có nhìn thấy tôi qua làn mưa như trút không.

Tôi đóng cửa và ngồi xuống chiếc bàn ăn trong bếp. Tôi cầm lên một hộp nhựa có nắp xoáy trong đựng đầy bột trà chanh hòa tan. Tôi xúc lấy vài muỗng đổ vào trong cốc , rót đầy nước vào và khuấy mạnh cho tới khi  không còn thấy chút bột nào xoay tròn xung quanh nữa, cho đến khi thứ còn lại là một chất lỏng có màu nâu tối. Tôi tu một hơi. Ở phía kia tôi nhìn thấy Ludlum khi chú ta băng qua mép chiếc bồn rửa bát.

Đã rất nhiều lần tôi ước chuột có thể nói được tiếng người. Chết tiệt, lần này thì tôi ước chó có thể nói, mèo  có thể nói và tất cả các loại động vật cùng những vật vô tri vô giác khác có thể nói được tiếng người- tôi  ước có thể nói chuyện với những quyển sách hoặc đống quần áo của tôi để xem có ai trong số chúng đi ra ngoài với tôi ngày hôm nay. Tôi ước tôi có thể  chạy qua ngôi trường , lướt bàn tay tôi lên bức tường khoa nhân văn và cảm ơn  cây Narra[5], cái cây mọc  gần kí túc nữ- vì những buổi chiều lãng quên vui vẻ tôi đã có  dưới bóng cây đó. Tôi uống nốt chỗ trà quá ngọt  còn lại và liếm môi. Dư vị còn lại trong cốc trà thật tệ. Tôi đặt chiếc cốc xuống bàn và lê lên giường. Lò xo kêu lên cọt kẹt khi tôi nằm xuống. Tôi hít thật sâu và nhắm mắt lại. Tôi có thể nghe thấy âm thanh cãi nhau đang bắt đầu ở gian phòng kế bên, tôi có thể nghe thấy tiếng sục sạo của hai người bạn bộ gặm nhấm cùng phòng khi chúng vui sướng nhảy vào bức tường rỗng phía bên trái. Và ở bên ngoài mưa vẫn tiếp tục gào thét như thể chính bầu trời kia đang cười vì một trò đùa thú vị nào đó mà chỉ có tôi là  không hiểu.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh


[1] Kiểu áo cộc tay bó sát người.

[2] Một kiểu cửa hàng rất phổ biến ở Philipin bán hàng tạp hóa, đồ uống.  Đàn ông thường đến đây tụ tập, giải trí, uống rượu.

[3] Tên một ban nhạc sinh viên ở Philipin được thành lập từ năm 1992.

[4] Một loại rượu vang được đặt tên theo tên tu sĩ pháp Pierre Perignon (1638-1715)

[5] một loại thảo mộc thuộc họ đậu tên khoa học là Pterocarpus indicus.

Biển xanh sâu thẳm.

July 7, 2011 2 comments

Peter Hobbs lớn lên ở Cornwall rồi Yorkshire và hiện sống ở Luân Đôn.  “The shortday dying” (tạm dịch: ngày đang chết), cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhà văn đã giành giải thưởng Betty track và được đề cử vào giải thưởng whitbread first novel award và giải thưởng Llewellyn Rhys.

 

Nhà văn cũng đã cho in một tập truyện ngắn “ I could ride all day in my cool blue train”( năm 2006), truyện ngắn The deep blue sea là truyện ngắn rút ra từ cuốn sách này.


 

Tôi sống ở một thành phố phủ đầy mưa, một thành phố nước. Chúng tôi  vừa đưa nước lên các sườn núi và tôi  cảm thấy thật khó thở. Bụng chiếc máy bơm đang  phập phồng và nước thì chảy tràn ra lênh láng,  bầu không khí thật ẩm ướt. Trước đó, trời đã mưa liên tiếp suốt 33 ngày liền và mực nước đã dâng lên đến mức 8 inh. Các cột nhà đã khó có thể mà chịu đựng thêm được nữa  khi nước thì đẩy lên còn chúng tôi thì đang đẩy ra. Những người thợ sửa chữa   đã  sẵn sàng tiến thêm một mức khác và đẩy chúng tôi lên trên gác lần nữa. Tất cả thứ nước này chúng tôi không thể uống dù chỉ là một giọt. Chúng tôi đã phải  giảm xuống ở mức dùng hai chén nước sạch mỗi ngày. Đấy có thể là một điều tốt đẹp. Sal thì bỡn cợt rằng ai đó đã đái nhầm vào đây và tất cả  chúng ta rất có thể  sẽ phải bơi trong thứ nước đó. Vòi nước sạch dẫn từ máy lọc đến nhà bếp đã bắt đầu có vị không khác thứ nước cặn còn lại trong máy lọc là mấy. Nước từ vòi tắm hoa sen đã trở nên sền sệt và  có màu. Người ta  sẽ cảm thấy sạch sẽ hơn nếu không dùng nó. Sau cơn mưa mọi thứ đều bốc mùi hôi thối. Có thể chỉ có máy lọc nước là vấn đề đáng ngại còn tình hình thức ăn thì vẫn tạm có thể coi là ổn. Ở đây có nhiều vụ thu hoạch  rong, tảo  biển. Có hôm chúng tôi ăn cá và cũng có hôm chúng tôi ăn những gì có thể thay thế chúng.

Vào tuần cuối cùng thì những tầng bên dưới đều  đã nằm dưới mặt biển. Nó giống như ai đó đã nhấn chìm  thời thơ ấu của tôi vì  tôi lớn lên ở đây. Đó là quay lại thời điểm khi mà những đứa trẻ vẫn được phép ở trên những cây cột trước khi chúng được đưa tới những nơi khô ráo. Khi đó tôi 11 tuổi. Những chiếc xe vận tải tới và các bà mẹ cùng con cái thực hiện một cuộc di cư lớn. Ngoại trừ tôi bởi  mẹ tôi đã chết hơn nữa tôi đang ốm nên không đủ tiêu chuẩn để ra đi. Họ bỏ tôi lại để xem tôi có thể vượt qua được không. Tôi thầm nhủ rằng tôi sẽ vượt qua và   ai đó sẽ đến đây cho dù điều ấy đã không xảy ra.  Chẳng bao lâu người ta được phép đến đây và nhiều người đến để làm việc nhưng họ không được phép dời đi, không một ai được phép làm điều đó vào lúc này.

Một lần khi mực nước hạ xuống thấp trước mạn thuyền đã được làm xong, tôi ngồi trên một bậc và nhìn con thiên nga chưa ai nhìn thấy trước đó đang nổi bồng bềnh trên mặt nước như một bông hoa huệ cổ dài hoặc giống như  một bàn tay đang nắm một bông hoa. Và sau đó nó cất cánh gây ra tiếng động ầm ầm như sấm. Đôi cánh rộng sạch sẽ của nó quay tròn. Có thể rằng trong hồi tưởng của tôi nó đã lớn hơn thực tế đôi chút nhưng thực sự nó là con thiên nga khổng lồ. Thậm chí sau đó nó có vẻ như là một sinh vật trong thần thoại. Không một ai dám giết nó để làm thức ăn. Nhưng giờ đây mạn thuyền đã làm xong và những người khác tôi biết sẽ ra đi và không ai có thể nhìn thấy một loài chim nào khác ngoài những con mòng biển trong nhiều năm và thậm chí cuối cùng chúng đã học được cách tránh xa những chiếc tổ mà chúng tôi đã làm cho chúng.  Đôi khi cũng có một chiếc trực thăng bay qua hướng về phía này hay phía kia. Xa mãi ngoài phía tây có một đường như thể đường chân trời nơi thực sự là điểm bắt đầu của chốn khô ráo với con đê lớn giữ nước trong vịnh. Dẫu cho với thời tiết gần đây, tôi cũng không muốn nghĩ về những rắc rối mà họ đang gặp phải ở phía đó. Ở đây có dòng chảy ngược và dòng chảy xuôi. Những dòng chính chảy qua phía bên phải của thành phố và gần đây có thứ gì đó đen tối trong dòng sông Lớn , giống như người ta đổ một thìa dầu xuống sông và nó loang dọc theo dòng sông đó. Họ đã cắt đứt dòng chảy trong một vài ngày trong khi những người khác lo giải quyết rác nhưng trong thời gian chờ đợi thì mọi việc trở nên tồi tệ hơn và cuối cùng những cơn mưa còn  báo hiệu sự đen tối hơn cả nước dưới chân cầu thang.  Có những lời đồn len lỏi qua những vụ mùa rong tảo biển cho dù tôi vẫn chưa nhìn thấy nó. Thứ không thể chịu nổi ở đây là mùi. Và không ai có thể biết được bóng tối kia là gì. Một vài người đã ngã bệnh.  Nhưng tôi thì đã ốm một thời gian dài ngay từ buổi đầu. Bởi vì tôi nhớ  rằng căn bệnh  luôn luôn như thế. Những cơn ớn lạnh đến rồi đi, răng tôi đánh vào nhau lập cập và  tôi cảm thấy buồn nôn suốt cả ngày. Tất cả điều tôi có thể làm là gọi cho bác sĩ và nằm cong mình chớ người ta mang thuốc đến. Họ mang thuốc đến thật.

Những ngày đó tôi nằm trên giường. Chúng tôi được sắp xếp chỗ nằm trên một toa tàu nhô lên bên trong đoàn  tàu đã bị rách nát cả và những chiếc giường được đặt trong đó, chỉ còn màu xanh của tấm vải đệm là còn lại. Hầu hết các ngày  chỉ có tôi là người duy nhất ở đây. Những người khác phải làm việc. Các cây cột lắc  lư trong gió. Và với tiếng động của chiếc bơm dưới đáy tàu đặt ngay dưới chiếc bàn thấp dưới bạn, bạn sẽ có cảm giác là mình đang di chuyển nếu bạn uống thuốc và nhắm mắt lại.

Tôi có thể bồng bềnh cả ngày trên tàu xanh mát lạnh

Nếu tàu  kia chịu đi đúng đường ray.

Gần đây tôi đang viết nhưng việc đó diễn ra không suôn sẻ lắm. Không một ai thích những câu chuyện tôi vừa viết xong. Và dường như tôi không thể xuất bản chúng. Và bây giờ trong ít ngày tôi đang cố gắng viết một truyện mà tôi đặt tên là “ Rác ”. Nó là câu chuyện về thảm họa thời tiết khiến cho tất cả mọi người phải rời bỏ thế giới.  Lính cứu hỏa và bác sĩ lão khoa phải chạy lên sống trên mặt trời. Những ai có khả năng đáp ứng được điều đó đã di chuyển tới những hành tinh mát mẻ hơn ngoài hệ mặt trời. Chỉ còn lại tầng lớp dưới rớt lại trên thế giới và sống trong những căn phòng tí xíu, những thứ là bộ phận của một cỗ  máy khổng lồ thứ đem đến năng lượng và làm mát nhiệt độ bằng việc tái chế chất thải.  Nước và không khí được hạn chế một cách nghiêm ngặt.  Không có bất cứ thứ gì bị ném đi. Có sự đông đúc khủng khiếp ở đây nhưng sự phân chia có tính cá nhân nghiêm ngặt đã được tiến hành nhằm ngăn chặn rắc rối và sự sinh sản. Vì thế có những căn phòng nén chặt những cư dân sở hữu rác và đồ phế thải và trong số các phòng đó có một phòng  chứa một người đàn ông liều lĩnh, người có cảm giác rằng  anh ta không thuộc về nơi đó và đó là người đang lập kế hoạch để  có thoát ra chiếc “xà lim” này.  Anh ta nghĩ rằng anh ta có thể vượt qua nó để sống nếu như chỉ cần một cô gái  ở đây với anh ta. “ Nếu nàng ở đây với ta, ta sẽ vượt qua được tất cả”, anh ta nghĩ vậy. Nhưng  cô ta không có ở đây và thế là tôi không  biết làm thế nào để kết thúc câu chuyện. Tôi không  giỏi về khoa học viễn tưởng. Nhưng tôi nghĩ đây thực sự là một câu chuyện khá khôi hài. Một trong số họ sẽ phải đánh giá cao nó.Nhưng cho dù có mấy viên thuốc tôi vẫn không làm được điều ấy, tôi co tròn và cố giữ ấm cho dù tôi vẫn tiếp tục run rẩy. Và sau đó trước khi mọi người trở lại tôi chìm vào giấc ngủ và bồng bềnh suốt đêm trên con tàu mát lạnh xanh thẳm. Bạn biết đấy người ta có thể bị nôn mửa nếu ở trên giường quá lâu.

Hôm nay tôi uống thuốc và chế ra một  cái đầu ngựa. Đấy là công việc tôi đã muốn làm trong một thời gian dài. Khi những người khác ra khỏi giường, tôi uống thuốc và trán tôi như chẻ toác và dài ra. Và tôi tìm kiếm sự phản chiếu trên tấm kính cửa sổ u ám.  Và tôi đã thành một con ngựa. Tôi chơi trò đó cả ngày và vào buổi tối tôi đau đầu khủng khiếp. Nhưng điều hay về những con ngựa là chúng luôn trung thực hơn tất cả và bạn một ngày nào đó cũng sẽ cần đến cách đó. Tôi mặc đồ và đi từ bàn này đến bàn khác cho tới khi tôi tới được quầy rượu. Mưa đã ngớt và người ta có thể đi bộ ra phía kia. Có những  tấm vải dầu nặng  treo trên  lối đi và bạn phải lướt qua nó.  Không khí bên trong quánh lại và ngột ngạt. Mọi người đều ở đây. Họ không thể uống nước cho nên họ đến đây để uống rượu uýt-ki.  Cạnh lối ra vào ở phía trong có một bức tượng. Tượng được làm bằng bộ áo lặn cũ và được nhồi bằng các ống nhựa platíc,chiếc áo và đống cao su quá rách nát chẳng dùng được vào việc gì. Phần đầu là khuôn mặt tròn với đôi mắt đá đen giống như con côn trùng và đôi chân vịt làm thành đôi tai quá khổ. Tượng cầu phúc cho quầy rượu và nếu ai đó rửa tội cho nó bằng uýt-ki thì nó cũng sẽ cầu chúc cả người đó nữa. Nhưng có điều luôn phải cân nhắc một bên là thứ rượu uýt-ki quý báu và một bên là điều may mắn chưa chắc đã xảy ra. Tôi thì luôn luôn chọn rượu Uýt-ki.Cuối cùng đâu biết được ai  sẽ là người may mắn?

Sal đang đợi phía sau quầy rượu, khuôn mặt già nua trông thật mệt mỏi. Anh ta đang đứng  dưới bức tranh phai màu vẽ một nghệ sĩ mê nhạc Jazz , ai đó đã vẽ bức tranh này bằng than chì trên bức tường gỗ phía trước. Nghệ sĩ cười toe toét và tôi cũng cười đáp lại.

“ Uýt-ki , Sal” tôi nói.

“ Cậu đến muộn. Cậu sẽ có phần nếu cậu làm  tốt.

Anh ta sập mạnh cánh cửa quầy rượu và mọi thứ chùng xuống im lặng một chút. Đôi khi họ muốn nghe và đôi khi họ không muốn. Tối nay dường như họ không chắc là sẽ chọn hướng nào. Tôi đứng và đọc câu chuyện. Nó cũ nhưng họ chưa nghe nó và tôi không thể viết được thứ gì mới. Đấy là câu chuyện về đôi trai gái gặp và yêu nhau và nói chung là họ rất hạnh phúc. Họ đính hôn và trao cho nhau lời thề  ước vào một ngày tuyệt đẹp.  Họ sống rất hạnh phúc cho đến một ngày cô gái bảo với chàng trai rằng cô phải ra đi. Cô cầm lấy chiếc túi và bắt đầu bước đi, chàng trai không thể tin nổi điều ấy, chàng khóc. Tôi muốn nói rằng chàng đang bị xé ra từng mảnh và từng mảnh ấy đang vỡ ra theo bước chân của cô gái tiến ra phía cửa và vị cay đắng tận cùng đang tứa ra nơi đầu lưỡi là dấu hiệu báo trước cái chết  , nhưng chàng vẫn gắng hết sức nói:“ Nhưng em đã nói là sẽ yêu anh mãi mãi cơ mà”.  Điều này ít nhất cũng làm cho cô gái dừng lại trước cửa và chàng trai chờ đợi cô sẽ quay trở lại và nhận lỗi rồi mọi chuyện sẽ lại trở nên tốt đẹp. Hoặc ít nhất cô cũng giải thích lí do. Nhưng thực tế tất cả những điều xảy ra là mặt cô thoáng lộ vẻ bối rối và cô nói : “Ồ,  anh yêu,  anh tưởng nó là mãi mãi sao?”

Họ không thích câu chuyện này một chút nào cả.  Những người kiếm cá và lo tìm thức ăn đã cả ngày vật lộn để làm việc không muốn nghe những thứ như thế. Họ không thích thú một tẹo nào và trong giây lát tôi ở trong tình thế nguy hiểm như đứng trước những kẻ sát nhân thích   hành hình kiểu  Lín-sơ (kiểu hành hình man rợ của người da trắng ở mĩ đối với người da đen trong quá khứ). Ở đây đã có sự gieo rắc nỗi bất mãn, thứ luôn làm cho người ta trở nên cáu kỉnh. Sau đó một trong những kẻ “lười tắm nắng”đứng dậy. Anh  ta giơ chiếc túi của mình lên và  mọi thứ dịu xuống. Thật hú vía, tôi chỉ bị  tống ra khỏi quầy rượu, bị cấm đọc truyện trong vòng một tuần  và họ ngầm dọa  rằng cho dù là thứ gì đi nữa thì lần sau cũng phải tốt hơn hoặc tôi sẽ phải tìm một công việc khác. Khi tôi bị lôi ra ngoài, đám đông giải tán và họ dội rượu Uýt-ki lên pho tượng để gột sạch nơi tôi đã làm kinh động. Những câu chuyện tồi sẽ chỉ đem lại những điều như thế. Tôi quay trở lại trốn trong giường một lát. Sau đó những cơn ớn lạnh trùm lên người tôi còn thái dương thì nóng bừng bừng và răng thì bắt đầu đánh vào nhau lập cập.

Tôi có thể ngủ suốt đêm trên con tàu xanh mát lạnh.

Nếu tàu kia giúp làm dịu cơn đau.

 

Vào cuối tuần khi  một chiếc trực thăng xuất hiện, lượn trên đầu, tôi đang ở trên giường với những cơn ớn lạnh và không nhìn thấy nó, nhưng Sal thì nhìn thấy và anh ta chạy  đến chỗ tôi để cho tôi biết điều ấy. Anh ta nói rằng anh ta đã nhìn thấy sợi dây được ném ra từ bên trong chiếc trực thăng và bốn người đàn ông mặc đồ đen nắm dây trượt xuống những boong tàu nơi những chiếc ca-nô được cột. Anh  ta cười và bảo rằng có một người trượt chân ngã thẳng vào con tàu  trước khi những người kia kéo ra.  Họ vẫy chào  chiếc trực thăng vừa bay đi. Sau nhiều lần trượt ngã,  họ ra thoát khỏi boong tàu và trèo lên thang như những con thằn lằn hướng qua mạn tàu, chắc chắn rồi , chắc chắn là để bàn thảo với những kẻ “lười tắm nắng”. Họ sẽ bước ra và ngồi trong những chiếc ghế có bọc khăn mặt dày để chống lạnh.

Tôi cảm thấy khá hơn nhiều khi nghe anh  ta nói về điều đó. Những người đàn ông đến đây bằng trực thăng không phải là đến để ở đây. Họ đến vì có lí do khác. Có việc gì đó rất quan trọng. Liên lạc với những người khác thật là việc tốt lành đối với thế giới ở đây. Bạn  có thể đi đâu đó trong nhiều tháng và nghĩ rằng việc làm đó có nghĩa là bạn vẫn tồn tại trên thế giới này.  Và sau đó có thể rằng họ đã đến đây vì bạn. Bạn không hề biết điều đó. Tôi nghĩ đến việc muốn lại gần chiếc bàn chính để xem chuyện gì đang diễn ra.  Nhưng tôi biết tôi sẽ không bao giờ lại gần được.

Sau đó lệnh cấm áp dụng đối với tôi ở quầy rượu lần trước chấm dứt vì thế tôi dành thời gian còn lại của ngày để viết nốt câu chuyện mà tôi đã đọc cho mọi người nghe tối đó. Quầy rượu đông như thường lệ. Mọi người đều đang có mặt ở đó. Có cái gì đó khác lạ trong bầu không khí ở đây nhưng tôi không thể định hình nổi nó là thứ gì. Họ đang đợi tin tức từ những kẻ “lười tắm nắng”chứ chẳng phải mong chờ thứ gì khác. Chúng tôi muốn được thông báo tin tức. Nhưng những kẻ “ lười tắm nắng” không ở đây, điều ấy có nghĩa là họ vẫn còn đang bàn bạc. Nhưng dù thế nào đi nữa tôi có cảm giác tôi đang bỏ lỡ thứ gì đó.

“Họ đang trông đợi mọi thứ sẽ sáng sủa hơn”, Sal nói vậy khi anh ta  trông thấy tôi. “Đừng thất vọng sớm” Sal đưa Uýt-ki cho tôi và tôi nhấp môi từng hớp một thứ rượu đắng đó. Sau đó tôi trèo lên quầy rượu và bắt đầu cho họ biết về câu chuyện. Đấy là câu chuyện viết về nơi khô ráo. Nó kể về một trận động đất  khủng khiếp đã phá hủy một thành phố và về việc những  thứ đẹp đẽ cùng cư dân ở thành phố đó đã bị chôn vùi trong đống đổ nát kinh khủng như thế nào. Tôi biết họ sẽ lắng nghe. Họ thích tưởng tưởng về vùng đất khô ráo hay họ muốn có ai đem đến cho họ sự tưởng tượng về nó. Họ thích được nghe những từ  như “ bê tông” hay “tòa nhà cao chọc trời”.

Đó là câu chuyện về việc sau cơn địa chấn hầu hết mọi người đã chết và bị vùi lấp và những người cứu hộ đang nỗ lực một cách vô vọng để tìm kiếm những người sống sót. Và chi tiết ám ảnh họ là cô gái nhỏ đang khóc như mưa vì đã mất mẹ cũng như con chó cô yêu quý và không ai  có  thời gian để bế cô lên và dỗ dành cô cả.

Đấy là một câu chuyện thật ấn tượng, tôi nói hoàn toàn nghiêm túc đó!Vì cô gái nhỏ cứ vừa chạy quanh vừa khóc nên cuối cùng có một người cứu hộ, một người lính cứu hỏa kiệt sức, dừng việc đào bới, cúi xuống khuôn mặt cô bé và nỗ lực mệt mỏi của anh ta là nói cho cô bé biết rằng cho dù mọi người đã chết nhưng anh và những người khác sẽ cố gắng tìm kiếm mẹ cho cô cho dù anh ta biết rằng mẹ cô bé chắc chắn đã bị cán mỏng như chiếc bánh kếp. Anh ta bảo trong lúc chờ đợi cô bé nên theo sau những người khác để đến điểm tập trung, ở đó cô có thể kiếm được thức ăn. Anh ta đang cố chắp nối những từ này thì có tiếng chó sủa và anh ta quay lại tập trung trong chốc lát. Bởi vì anh ta nghĩ rằng một trong những con chó của đội cứu hộ đã tìm thấy ai đó- có lẽ là một phần thân thể của ai đó- hơn là một con người hoàn chỉnh, nhưng sau đó anh ta nhận ra rằng tiếng sủa đã câm bặt và biến mất như thể nó vừa cất lên từ trong đống đổ nát, nơi người ta đã không nghe thấy bất cứ âm thanh nào phát ra trong nhiều tiếng đồng hồ liền. Gần chục nhân viên cứu hộ xếp thành hình tam giác và bắt đầu di chuyển các mảnh vụn đổ nát, việc đó chỉ giống như là việc tìm kiếm một con thú nào đó có khả năng bị mắc kẹt ở đó mà thôi chứ nói thẳng ra thì chả có một dấu hiệu nào chỉ ra rằng sự sống sẽ hồi sinh vào ngày đó. Phía sau người lính cứu hỏa là cô bé, cho dù anh ta không biết điều này, mặt cô bé có tươi lên chút ít vì cô biết rằng con chó của cô vừa  nãy đã cất tiếng sủa. Chắc chắn một điều là cô đã nhận ra nó, không thể nào có chuyện nhầm lẫn được. Cô nín khóc và ngồi xuống đợi những người lính cứu hộ tìm thấy con chó của mình.

Sau đó không có thêm tiếng sủa nào nữa và tôi thử thách thính giả một chút.  Bạn biết đấy- có thể là  họ đã đào sai nơi, cuối cùng có thể là không phải là con chó của cô bé, đại loại là những điều như thế. Tôi khiến họ phải tập trung. Sau đó một khối mảnh vỡ lớn được nhấc lên và bên dưới chỗ trũng tồn tại đến khó tin là con chó nhỏ của cô bé đang lo âu nhìn ánh sáng đột nhiên rọi tới và những người lạ mặt. Và những người cứu hộ dừng lại hoàn toàn vì con chó bị giữ bởi tay một người phụ nữ. Và người phụ nữ cho dù bị phủ  bụi và hiển nhiên đang chịu nỗi đau đớn và một chân bị mắc kẹt nhưng bà ta không chỉ sống sót mà còn tỉnh táo nữa và khi họ kéo người phụ nữ ra ngoài thì cô bé đứng vụt dậy và gọi bằng âm thanh hạnh phúc nhất mà người ta  có thể tưởng tượng được “ Mẹ ơi!”. Và người mẹ vươn tay về phía cô bé . Khi tay họ gặp nhau người mẹ nó: “ Con yêu  của mẹ, mọi thứ qua rồi, mẹ con mình lại được gặp nhau”.

Tôi nghe thấy Sal thổn thức phía sau. Những giọt nước mắt. Tôi thề rằng có những hạt mưa trong mắt đang rơi xuống như thể là tôi vừa tạo nên một vùng tiểu khí hậu trong quầy rượu. Hoàn toàn không có ngoại lệ nào ngoại trừ bốn gã mặc đồ đen ở chiếc bàn phía sau quanh chỗ cong của bức tường.  Những người chắc chắc vừa kết thúc việc bàn bạc với những kẻ “ lười tắm nắng” và họ vừa im lặng trở về quầy rượu. Họ không khóc cho dù họ đến để lắng nghe.

Mặc dầu vậy có chút rắc rối mà tôi không thể giải quyết được lúc này. Đấy là việc tôi vẫn chưa kết thúc được câu chuyện cho dù mọi người đều nghĩ rằng tôi đã làm điều đó. Tôi đã giành lại được sự chú tâm của họ.  Tôi nói bằng giọng khinh bỉ. Tôi tiếp tục nói rằng. Bởi vì họ đang khóc họ đã không hiểu một từ nào mà tôi nói, rằng họ có vẻ như không nhận ra đó là một câu chuyện thật khủng khiếp, rằng hàng ngàn người đã chết, rằng cái kết của câu chuyện không phải là có hậu mà là cái kết cục kinh khủng, bàng hoàng và đầy châm biếm. Rằng phản ứng của họ đối với câu chuyện thật ủy mị, ngây thơ và thất vọng, rằng bất chấp những thứ rình rập ở đây họ vẫn tràn ngập ảo tưởng và trên thực tế ảo tưởng vẫn chảy ở trong họ.Rằng tất cả những gì họ nghĩ tôi muốn nói là “ Thế giới ngập tràn rác rưởi và cặn bã và sau đó đột nhiên có sự chân thành, tính nhân văn và niềm hi vọng!” Trong khi đó điều tôi thực sự muốn nói là “ Nó, tất cả những thứ đó chỉ là cặn bã mà thôi”. Sau đó sự im lặng còn tiếp diễn thêm chút nữa trong khi họ cân nhắc điều này. Và sau đó là sự náo động. Họ gào lên: “ Mẹ kiếp mày là thằng chó chết, mày là thằng chó chết!”. Lúc này không có gã “ lười tắm nắng” nào ở đây cả để làm dịu tình hình xuống. Vài chiếc cốc được ném nhằm vào tôi, một chiếc cốc nặng bay vút qua tai tôi và đập vào tấm tranh da cá sấu phía sau vỡ tan. Họ không thích bị nhạo báng. Họ không muốn người khác làm cho họ cảm thấy rằng họ ngu xuẩn. Tôi nhảy vội xuống khỏi quầy rượu nhưng Sal đã chặn tôi lại. Một trong những kẻ làm nhiệm vụ tìm kiếm thức ăn chộp lấy tôi. Nước mắt vẫn còn nhòe trên gò má gã nhưng lúc này trông gã thật gớm ghiếc và đằng đằng sát khí. Tay gã nắm lại và co về phía vai. Tôi nằm co tròn dưới sàn chờ đợi cú đấm khủng khiếp. Một cú đánh trúng lưng tôi nhưng nó nhẹ,  gã đang ở vị trí không thuận lợi và tôi có cảm giác rằng gã  đang xoay xở để có vị trí thuận lợi hơn. Nhưng không có điều gì xảy ra ngoại trừ không khí và tiếng ồn ào biến mất chỉ còn lại một âm thanh duy nhất. Mọi người lúc trước đều gào lên nhưng giờ đây chỉ còn một người làm điều đó. Tôi thức dậy để xem kẻ đó là ai. Đấy là một trong những kẻ mặc đồ đen. Có tiếng rì rầm của  sự im lặng  tỏa ra từ anh ta, đi cùng với giọng của anh ta. Anh ta thét lên  còn mọi người thì im lặng. Tôi có thể nhìn thấy nó băng qua căn phòng và có vẻ như nó có ý làm cho tôi sợ hãi. Họ e ngại người đàn ông này. Người mà thậm chí  không ngần ngại phô bày khẩu súng của mình. Tất cả mọi người đều đã biết anh ta có súng. Cho dù không ai biết anh ta là ai, là cái thá gì. Không có ai giải thích và chúng tôi chỉ có cách chấp nhận thực tế ấy. “ Im lặng”, cuối cùng anh ta cất tiếng, khi anh ta thấy không cần thiết phải thét lên nữa và quầy rượu đã trở nên câm lặng hơn bao giờ hết. Anh ta nhìn khắp phòng để tìm kiếm ánh  mắt nào đó, nhưng không một ai có ý nhìn anh ta cả. Sau đó anh ta nhìn tôi và tôi nhìn lại, tôi không thể nhìn đi chỗ khác. Sau đó anh ta mỉm cười và vì thế ngay lập tức nó làm cho tôi nghi ngờ liệu có phải tôi đã nhìn thấy nụ cười đó không.

“ Hãy bớt lên mặt một chút được không?” anh ta nói thế khi nhìn tôi.  Sau đó anh ta ngồi xuống với những người khác và tiếp tục uống  trong im lặng. Và vì thế mọi người đều làm theo không phải là vì họ muốn mà vị họ sợ. Họ không dám nhìn người đàn ông mặc đồ đen nhưng họ nhìn tôi và họ đã không hề tha thứ cho tôi.

Tôi muốn đi tới chiếc bàn nơi những người lạ mặt đang ngồi. Họ đang không nhìn tôi. Tôi muốn nhận mặt những người khác để  xem trong số họ có ai là phụ nữ không. Nếu  có điều ấy không phải là quan trọng sao? Nhưng Sal đã chụp lấy tay tôi và lôi tôi vào sau quầy rượu. “ Tốt nhất là cậu  hãy đi đi” , anh ta  nói “có thể cậu  không được đọc nữa nhưng cậu sẽ vẫn còn đường sống nếu số cậu may mắn. Có phải là trong bếp luôn có việc để làm phải không?”. Anh ta  đẩy tôi vào một căn phòng phía sau, một căn phòng tĩnh lặng. Một chất lỏng màu vàng đang chảy qua những chiếc ống mảnh, nơi Sal biến  nước thành  rượu Uýt-ki.  Tôi muốn quay trở lại quầy rượu nhưng làm thế e rằng chính tay Sal sẽ giết tôi. Vì thế tôi lật nắp cửa sập bước xuống thang đi xuống những  bậc sàn nhớp nháp ẩm ướt.  Tôi ngửi thấy muối,  mùi rong biển thối và sự nồng nực hôi hám.

Mọi thứ có vẻ an toàn khi ở nơi có những người đàn ông bảo vệ đeo súng nhưng ở bên ngoài quầy rượu sẽ không có căn cứ nào để đảm bảo rằng một vài gã “thợ câu” hoặc “ thợ tìm thức ăn” sẽ không chực sẵn ở đâu đó để đón tôi với những chiếc lưỡi câu sắc lẹm. Và việc nhìn thấy những kẻ rác rưởi đó lúc này là một tội ác hạng A, nó làm ô nhiễm dòng nước, gây ra những vấn đề ngoại giao rắc rối và thứ duy nhất  có sức hấp dẫn với tôi lúc này là những thứ gì thay thế được cho cá. Vì thế tôi lang thang một chút nhưng không phải dứơi gầm những chiếc boong  tăm tối nơi tôi không nhìn thấy những gì sẽ xảy ra mà trên một boong tàu đánh cá không dùng đến cách xa quầy rượu gần toa chở hàng. Nó thật lạnh lẽo nhưng tôi có thể sống được ở đó.  Có vầng trăng chưa tròn nhưng lớn và sáng như bạc óng ánh dưới nước vì thế tôi có thể nhìn thấy những thứ trong nó. Những đám mây xám mỏng trôi nhanh xô đẩy lẫn nhau. Tôi ngồi và rùng mình , đó không phải là cái rùng mình trong giây lát mà vì tôi lạnh.  Không một ai đi tới.

Tôi nghĩ rằng tôi đã có chút gì đó bất nhẫn với họ vì câu chuyện mình viết.  Cuối cùng tất cả những người ở đây đều đã mất mẹ. Có lẽ tôi đã sai khi chế nhạo sự ảo tưởng của họ. Tôi cảm thấy khốn khổ khi nghĩ về điều ấy. Nó khiến tôi nghĩ rằng tôi nên viết một câu chuyện khác dành cho họ để bào chữa cho điều ấy. Nhưng bây giờ họ không cho phép tôi nữa. Điều ấy làm tôi ở vào tình thế khó khăn hơn. Vì thế tôi cố gắng nghĩ xem là liệu rằng mình có thể thoát ra ngoài được không. Tôi chờ cho những người đàn ông lạ mặt dời khỏi quầy ba. Tôi núp ở đó và khi nghĩ mọi thứ đã ổn, tôi chỉ việc đứng thẳng dậy và qua toa hàng.

Tôi quay trở lại phòng ngủ nhưng chẳng có dấu hiệu nào của bất cứ ai như tôi đã nghĩ. Có thể cuối cùng họ đã không tới. Có thể tôi đã hiểu sai. Nhưng sau đó tôi nhìn chỗ tôi ngủ. Ở đó có một bộ đồ lặn được quấn bằng một dải ruy-băng kì quặc và có đính cả một chiếc nơ lớn. Nó đã bị méo mó một chút với những vết lồi lõm nhưng có một cái đồng hồ đo và một cái vòi cùng ống nói và tôi nghĩ rằng nó vẫn còn dùng được. Bên cạnh bộ đồ lặn là một tấm lưới được làm bằng các que khô và bện lại với nhau bằng dây. Trông nó giống như sợi dây trong trò chơi buộc dây thành vòng tròn quanh các ngón tay, ngoại trừ cái cách thiết kế hơi quái dị một chút. Một cái que lớn được đặt ở giữa và có một cái vỏ ốc trắng, nhỏ gắn cạnh nó. Một vỏ ốc khác nằm ở gờ cấu trúc hình chữ thập. Tôi xoay trở nó cả hai mặt rồi xoay tròn ngắm nghía. Đấy là chiếc bản đồ dòng chảy. Cái que lớn nhất chính là dòng sông Lớn. Cái vỏ ốc nằm bên cạnh nó là mũi tên lớn nói rằng “bạn đang ở đây”. Cái vỏ ốc kia diễn đạt vài điều khác. Và trong giây lát tôi nghĩ rằng mọi thứ đã được sắp xếp và tôi nghĩ rằng thậm chí họ đã ở đó. Tôi lấy mẩu thuốc cuối cùng từ món đồ của tôi . Vậy tôi có thể làm điều đó. Nhưng sau đó tôi dừng lại . Có lẽ những viên thuốc là ý tưởng không hay ho gì, thứ cuối cùng tôi cần.  Đây không phải lúc để nhầm lẫn. Sẽ không có viên thuốc nào cho hôm nay. Con tàu mát lạnh xanh thẳm của tôi sẽ phải lên đường.  Tôi sẽ ở bên dưới con tàu của mình.

Tôi lựa chọn, sắp xếp đồ đạc của mình và lắng nghe tiếng động. Khi mà tôi cảm thấy những chiếc giường ngập đầy âm thanh, tôi thu thập đồ đạc và dời đi bằng cách qua mạn tàu. Không ai qua mạn tàu vào ban đêm vì nó không an toàn lắm. Cho dù tôi chạm nước  khi ngã tôi  cũng không thể bơi. Nước thì bẩn vậy thì ai học bơi làm gì cơ chứ? Nếu ai đó ngã xuống mà không được kéo lên thì sẽ chìm xuống, mẹ tôi cũng đã chìm xuống như thế. Và nếu như ai đó ngã xuống rồi được kéo lên, như tôi đây thì người đó sẽ ốm.

Cho dù vậy, lần này tôi không ngã. Tôi đã nghĩ rằng tôi sẽ gặp khó khăn khi kéo theo bộ đồ lặn nhưng nó phù hợp với tôi. Tôi bước trên những tấm ván cao cho tới khi tới được quầy rượu và đợi cho tới khi mọi người đi hết và tôi nhìn thấy Sal tới. Và sau đó tôi đợi thêm. Mặt trăng méo mó xoay tròn với những đám mây kéo thành dải mảnh đi bên cạnh. Tôi trượt xuống một cái cột và bị xô đẩy qua những tấm vải dầu. Bên trong chúng có hắc ín nhưng tôi tìm thấy quầy rượu bằng những cánh tay trải rộng và ôm lấy nó. Tôi vươn tới cái giá và cố gắng không đụng vào cốc thủy tinh. Tôi lấy chiếc đèn pin chịu được nước từ chiếc hộp trên quầy rượu và bật nó lên, vậy là tôi có thể vận hành nó nhanh hơn. Tôi trả chiếc hộp lại. Tôi cố gắng hành động một cách yên lặng nhất, tôi tháo lấy đôi chân vịt của bức tượng gần cửa ra vào và giật lấy vài sợi dây plastic dùng để buộc chúng vào chân tôi. Tôi xé bộ quần áo cao su để  làm tấm áo ấm .

Sau đó tôi kéo lê mọi thứ trở lại lên chiếc cột, đeo chân vịt vào đôi bàn  chân và buộc các tấm cao su xung quanh tay và chân. Tôi mặc bộ đồ lặn và ngậm lấy ống thở. Cái kim trên mặt chiếc đồng hồ chỉ sáng mờ mờ nhưng ơn chúa nó không hề rơi ra khỏi bộ đồ lặn vẫn còn “đầy đủ” này. Tôi cầm lên chiếc đèn pin và tấm bản đồ . Sau đó tôi lùi lại dọn dẹp mọi thứ và tôi biết rằng có thể lẽ ra tôi phải đi xuống bằng thang và vì thế tôi có thể gần mặt nước hơn khi ngã nhưng tôi cũng thừa biết rằng chỉ có một cách duy nhất để xuống nước là nỗ lực của chính bản thân mình. Với lá phổi nặng nề trên lưng tôi lao vụt xuống, đầu lao xuống trước và hướng lên trên, tôi xuyên qua làn nước. Nước bắn lên tung tóe nuốt lấy tôi trước khi tôi bứt ra được. Tôi bị sốc và tôi quên mất là phải trồi lên mặt nước đã vì thế khi tôi bắt đầu chìm xuống tôi hoảng sợ cho đến khi tôi nhận ra rằng không sao tôi vẫn có thể thở được như thường. Tôi đã ở đây với tất cả những thứ này. Chúng đây. Chỉ có tấm bản đồ đang tan chảy trong tay tôi- tôi nghĩ chính tôi đã vò nhàu nó khi lao xuống hoặc là nó không thể dùng được trong nước. Nhưng tôi không cần nó. Tôi đang ở gần cái vỏ ốc nhỏ và tôi đang hướng về cái kia.  Tôi đạp chân vịt một cái và được đẩy đi rất hiệu quả trong màn nước âm u. Không hiểu tại sao qua chừng ấy mà thứ tôi vẫn cố gắng giữ trong tay chiếc đèn pin và thậm chí may mắn hơn nó vẫn sáng . Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi lại ở dưới biển một lần nữa, không phải là sau lần đầu tiên. Có hai thứ ở dứơi nước sẽ  chôn vùi tôi và chỉ một thứ trong đó tôi đang nghĩ tới đó là cái lạnh. Nó không giống cái lạnh của không khí. Việc chằng bó trước đó chẳng ích gì. Những tấm cao su không giúp được gì. Có những dòng chảy lạnh và dòng chảy ấm, nhưng về cơ bản chúng lạnh lẽo như cái chết. Chúng nén lại. Mắt tôi lồi ra vì chúng. Tất cả những gì tôi có thể làm là tiếc tục di chuyển.Thứ còn lại là những khả năng có thể xảy ra. Thế giới trong không gian ba chiều lớn hơn tôi tưởng tượng. Thẳng bên dưới mạn tàu không phải là quá sâu.- tôi có thể  nhìn thấy đáy bùn nơi những chiếc cột bị chôn vùi và những chiếc neo bị chôn vùi một nửa. Chiếc đèn pin có thể giúp tôi nhận ra chúng. Nhưng sông Lớn ở đâu? nơi nước dồn mạnh, sắc nhọn vào đường hầm rồi nó mở ra với đại dương vô hạn nơi nước sạch sẽ và tầm nhìn được cải thiện. Sau đó người ta sẽ có cảm giác đang được bồng bềnh trên khoảng không vĩ đại hơn là nghĩ đến phía bên dưới mình sâu đến bao nhiêu mét.

Tôi biết trước hết tôi phải băng qua sông  Lớn. Tôi có thể nhìn thấy vết bẩn đóng trên mặt nước đen phía trên đang mỏng dần đi nhưng tôi thì đang trượt đi bên dưói làn nước đang rõ dần. Chỉ cần đạp nhẹ một chút, chiếc chân vịt đã hướng tôi tiến lên dọc theo bên phải. Tôi chưa cảm thấy thật thoải mái. Tôi đạp , đạp liên tiếp và lướt đi.

Tôi có thể bồng bềnh cả ngày trên tàu xanh mát lạnh.

Khi  tàu kia giúp tránh được cơn mưa.

.

Tôi nghĩ về chiếc vỏ ốc và nơi nương náu tiếng Anh. Tôi đã đi ra xa khỏi sông  Lớn . Giờ thì thật khó mà có thể giữ được sự bình tĩnh để đảm bảo chắc rằng tôi vẫn đang tiếp tục đi ra khỏi những chiếc cột. Đôi khi tôi phải ngừng đạp để xem xem có phải là dòng nước đang đẩy tôi đi hay không, để xem tôi đang đi về bên trái hay bên phải, phía trước hay đi giật lùi. Tôi kiểm tra lại dưỡng khí và thấy rằng nó vẫn còn trên một nửa. Tôi lọt vào một dòng chảy và trượt xuôi theo nó. Tôi để mắt nhìn ra ngoài xem có đi lạc không. Nếu tôi đi quá xa, làm thế nào để quay lại.

“Hãy câm đi và đừng lên mặt nữa!”, có một cái ống và tôi sẽ theo nó đi xuống. Đấy là hướng đi. Có được sự dẫn đường một lần thôi thật là tốt. Sau khi người ta  quyết định đi theo sự dẫn đường nào đó thì mọi thứ sẽ thật dễ dàng, người ta sẽ chẳng phải lo lắng về bất cứ điều gì cả. Mặt chiếc đồng hồ cho biết chỉ còn chưa đầy  một phần tư dưỡng khí còn lại khi tôi tìm thấy chiếc ống. Nó lớn , được chế tạo  bằng sắt và chạy dọc theo đáy biển sau đó vặn góc và đâm sâu vào vách đá đi thẳng xuống nơi ánh trăng không thể chiếu đến. Tôi vọt dọc theo cái  ống đó và đạp chân vịt bằng mọi cách. Tôi giữ chiếc đèn pin dọc gờ sắt của ống để tôi có thể nhìn rõ mọi thứ. Áp suất ôm chặt lấy tôi, cào cấu tôi cho tới khi tôi cảm thấy chóng mặt choáng váng. Tôi có thể nhìn thấy cái lạnh, bóng tối và chỉ một lối nhỏ sáng và chiếc ống lao xuống mãi. Tôi đã có thể trồi lên và tôi sẽ không bao giờ lao xuống sâu như thế này nữa. Và không có gì phía trên tôi cả. Bề mặt nước dường như đã trở thành một khoảng không đơn độc.

Chỉ đến khi chiếc ống sắp lao thẳng xuống mặt bùn mới có một lỗ hình ô-van mở ra. Ngọn đèn trong tay tôi vẫn sáng nhưng đấy chỉ là thứ ánh sáng chiếu trong một cái ống. Nó là một toa tàu nhỏ. Tôi bơi vào trong. Bằng một tay quờ quạng và chiếc đèn pin tôi cảm nhận được xung quanh và phía nào dẫn ra cửa và tôi tìm thấy nó. Một kiểu nút không khí. Có một cửa ở phía ngoài, ở chỗ nào đó và cũng có cả một cánh bên trong nữa. Cánh cửa thứ nhất đóng lại rất chậm. Kim chiếc đồng hồ báo rằng dưỡng khí của tôi đã cạn. Tôi hít vào một hơi và nhận thấy dưỡng khí vẫn đi vào vì thế tôi gắng giữ nó lâu tới chừng nào có thể. Tôi tìm kiếm núm xoay mở cửa hoặc tín hiệu chỉ đường ra. Chiếc cánh cửa thứ hai. Tôi quét cái nhìn khắp từng phần bên trong của chiếc ống để định xem đâu là lối đi lên, đâu là lối ra.

Sau đó chiếc đèn pin tắt ngấm. Tôi hít một hơi dành cho nửa chặng đường còn lại phải băng qua. Toa tàu trống rỗng. Chân tay tôi co thắt lại trong cơn hoảng loạn bao trùm, tôi quẫy đạp, vùng vẫy. Cho đến khi tay tôi bị đập mạnh và tôi cảm thấy đau đớn. Một cảm giác tê cóng nặng nề hơn bao giờ hết bao trùm lấy tôi.Có thứ gì đó ở trên tường. Có thứ gì đó giống như các tay cầm ở trên tường. Một cái móc tròn trên một đường thông khí. Tôi móc tay còn lại vào đó và đu người lên với tất cả sức lực và hơi thở còn lại.  Giờ đây đã quá muộn để trồi lên bề mặt. Mọi thứ đã hầu như quá muộn. Nhưng chưa quá muộn đế quyết định xem cái tay cầm này sẽ quay về phía nào nếu như nó thậm chí có thể xoay được. Theo chiều kim đồng hồ. Tôi vặn nhưng  nó không hề nhúc nhích. Đã quá muộn để vặn thử theo chiều ngược lại chăng? Hay tôi chỉ nên cố gắng vặn nó theo chiều này. Có thể đã quá lâu nó không được dùng ? Đã quá muộn để làm bất cứ cách nào chăng?

Tôi co hai chân lên qua người đạp vào tường . Tôi nắm chặt và cố sức vặn mạnh. Chiếc bong bóng cuối cùng tôi thở ra bật ra cùng với cố gắng đó. Tôi hít lấy hít để nhưng không có gì  xảy đến cả và ngực tôi rung lên  như nhịp đập trái tim giận giữ.

Và sau đó có một sự  trao đổi, một sự trao đổi thật sự nhẹ nhàng. Tiếp đến  có một sự thay đổi xa hơn. Nhưng không có không khí. Và hai cánh tay, đầu tôi  căng lên chuẩn bị cho cơn co giật. Mọi thứ vốn đã đen tối nhưng giờ đây nó còn tối đen hơn nữa trong đôi mắt mù và hai lá phổi trống rỗng của  tôi. Tôi cố vặn cái tay cầm một lần cuối  và có một tiếng thét im lặng lấy đi mọi thứ trong bóng tối dày đặc vô tận.Một cơn rùng mình đánh thức tôi dậy. Tôi run lên bần bật như thể gã thợ tìm kiếm thức ăn đã tóm được tôi và đang lắc tôi như lắc một túi đá. Nhưng phổi tôi đang hoạt động với nhịp thở ra hít vào. Không khí thật là tồi tệ và tôi cố nhịn thở nhưng tôi miệng tôi trở nên lập bập và ho liên tiếp. Tôi kéo bật  bộ đồ lặn nặng nề, thứ giờ đây đang nằm  ngượng nghịu bên dưới tôi, giữ cho mặt tôi tránh được nước khi tôi đang ở trong đó. Tôi đứng dậy và thở dốc rồi lấy chân đá một thứ gì đó, thứ đó hóa ra là chiếc đèn pin. Tôi khó có thể chạm tay tới gần nó dường như sẽ phải tốn đến vài phút để tôi có thể nắm chặt được nó. Một sự kích thích vừa đủ, chiếc đèn dường như hoạt động trở lại.

Tôi nhìn xung quanh. Tôi đang ở trong một cái ống nhưng không phải cái ống lúc trước bởi vì cái ống này có vẻ chạy theo chiều nằm ngang. Tay tôi không thể tháo nổi đôi chân vịt và cuối cùng tôi xé toạc nó. Một vài sợi dây quấn vào chân tôi và cắt vào da. Đôi bàn chân tôi tê cóng nên không cảm thấy điều đó. Làn da xanh tái và máu không chạy. Tôi xác định hướng đi và bì bõm lội trong nước dọc theo ống. Chiếc ống dựng thẳng và phân làm nhiều đoạn. Nước rõ ràng đang nông dần. Bên trong ống là lớp bùn lỏng dày. Nó lạnh, tối, nặng nề và tôi không biết mình đang ở đâu.  Tôi bì bõm như thế cho tới khi ngọn đèn mờ đi và nước rút xuống đến mắt cá chân. Có một cánh cửa khác chặn đường đi nhưng nó có một tay cầm để mở và khi mở nó phát ra chuỗi tiếng kêu chói tai của rỉ sét kim loại bị xoắn lại. Đường hầm mở ra sạch sẽ hơn. Ít rác rưởi, bùn nhão và khó tìm thấy nước ở trên sàn. Và sau đó tôi nhận ra rằng tôi không cần phải dùng tới đèn pin nữa. Đường hầm tối nhưng sau đó thì không còn tối nữa. Có ánh sáng ở cuối đường hầm, một thứ ánh sáng yếu ớt nhưng vì nó phản chiếu với nền đường hầm ẩm ướt nên tôi có thể nhận biết được đường đi. Tôi tắt ngọn đèn pin để tiết kiệm điện và vấp chân suýt ngã.

Ở cuối đường hầm có một cánh cửa kín mít và trên nó có một khung cửa sổ dày. Và qua tấm cửa sổ tôi có thể nhìn thấy ai đó đang đứng ở đó lưng quay về phía cửa, rõ ràng là đang bảo vệ cái cửa này. Anh ta bận đồ đen như chính cái bóng của mình và đeo một khẩu súng lớn. Ở cách xa anh ta tôi không thể  biết nhiều hơn. Mọi thứ có vẻ xanh tươi và mở ra một chút. Tôi đập mạnh cán chiếc đèn pin vào cửa kính và theo quy luật tự nhiên người bảo vệ giật nảy mình. Anh ta quay mặt về  về phía cửa nhìn săm soi bất lực trong bóng tối. Khuôn mặt anh ta trong thật kì lạ, tôi có thể nhìn thấy từng lỗ chân lông và sự hoảng sợ trong đôi mắt. Sau đó ánh sáng thay đổi và tôi biết là anh ta đã nhìn thấy tôi. Chúng tôi nhìn nhau chằm chằm trong giây lát và tôi nhận thấy miệng anh ta nhếch lên chậm chạp. Sau đó anh ta bỏ đi. Chiếc cửa đóng kín đã bị vỡ và cửa hầm mở vào phía trong và tôi nhào vào và lần thứ hai bóng tối  trùm lấy người tôi nhưng lần này tôi cảm thấy khoan khóai với sức nóng của cơ thể.

Có tiếng hét lên bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu được. Dán mình trên tấm sàn mềm mại, tôi có thể ngửi thấy thứ gì đó. Không phải cái cảm giác sốc khi chiếc bình dưỡng khí gần cạn, cũng không phải là thứ không khí tù đọng trong chiếc ống. Không phải những thứ đó. Một thứ gì đó thật khác. Một thứ gì đó quá  đẹp đẽ để thốt thành lời, một thứ gì đó cần thiết phải được chia sẻ. Thứ gì đó mà khi người ngửi thấy người ta sẽ hồi tưởng lại thời thơ ấu hoặc thậm chí nó là thứ gì đó khiến người ta quay lại thời thơ ấu . Tôi kiệt sức không thể cười nổi , những cơn rùng mình đã bắt đầu và khiến tôi cảm thấy ấm áp.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh

Mùa Hái Dâu

July 6, 2011 1 comment

Truyện ngắn của  Erskine Caldwell ( Mĩ)

Vào đầu mùa xuân khi dâu bắt đầu chín, mọi người thường  đi từ nơi này đến nơi khác để giúp những người nông dân thu hoạch chúng. Nếu như đấy là một vụ mùa bội thu và  có nhiều dâu để hái sẽ có đến khoảng ba lăm  hoặc bốn mươi người cùng làm việc trên một cánh đồng. Một số người mang cả gia đình theo, họ di chuyển từ trang trại này đến trang trại khác và cố gắng hái dâu ở mức nhanh nhất mà họ có thể. Họ ngủ trong những ngôi nhà kho  hoặc bất cứ nơi nào mà họ tìm thấy. Và bởi  mùa hái dâu thật ngắn nên mọi người đều phải làm việc từ sáng tinh mơ cho tới tận sẩm tối.

Chúng tôi đã luôn có những mùa hái dâu đẹp đẽ . Có rất nhiều các cô gái ở đó và thật là vui khi chòng ghẹo họ. Nếu một  cô trong số họ cúi  lom khom ở phía hơi xa  và chỉ để lộ một chút thân hình, bất cứ ai nhìn thấy cô ấy đầu tiên sẽ cố hết sức hét  thật to.  Chúng tôi, những người còn lại sẽ gào lên phụ họa làm tiếng gọi đó vang khắp cánh đồng. Những cô gái khác sẽ khúc khích cười và kéo vạt váy xuống. Cô gái gây nên tiếng hét  ấy sẽ bẽn lẽn đỏ mặt lên vì thẹn và hấp tấp chạy về   chỗ để đồ xếp đầy những chiếc giỏ. Và trước khi cô quay trở lại thì lại có cô gái khác cắm cúi  ở phía xa và mọi người lại bắt đầu trò chòng ghẹo.

Có một cô gái tên là Fanny Forbes,  người luôn luôn hiện ra lom khom ở phía đằng xa. Tất cả chúng tôi  đều yêu mến  Fanny.

Chúng  tôi còn  có trò vui khác là “vỗ dâu tây”. Một gã  trong số chúng tôi sẽ lẻn đến đằng  sau một cô gái trong khi cô đang cúi lom khom trên những chiếc giỏ hái dâu và thả một quả dâu chín mọng vào trong  váy cô gái. Nó thường tắc lại ở chừng giữa lưng cô gái và chúng tôi vỗ mạnh  cho nó vỡ ra. Quả dâu bị đập vỡ sẽ tạo ra một  thứ bầy nhầy. Thứ nước màu đỏ từ quả dâu sẽ thấm ra ngoài vải và tạo nên những vết ố  hình tròn lớn. Nếu những quả dâu không hợp với làn da ai đó  thì điều trên có thể còn tồi tệ hơn. Dẫu thế,  rất ít các cô gái cảm thấy phiền vì chuyện đó. Mọi người đều mặc những bộ quần áo cũ khi làm việc trên đồng và vì thế những vết bẩn ấy không đáng bận tâm. Điều tệ hại nhất là bị mọi người cười nhạo kia. Mọi người khi ấy đều ngừng tay hái dâu và cười. Khi trò đùa  kết thúc, mọi người trở lại công việc và quên nó đi cho đến khi một cô gái  khác lại dính những quả dâu chín mọng. Chúng tôi đã có thật nhiều niềm vui  như thế trong lúc hái dâu.

Fanny Forbes bị dính những vết bẩn từ những quả dâu chín mọng nhiều hơn bất cứ cô gái nào. Tất cả các chàng trai đều thích Fanny   và cô chả bao giờ nổi giận . Fanny cũng là một cô gái thật ưa nhìn.

Một ngày kia tôi đi tới cánh đồng, nơi tôi biết đang có  vụ mùa bội thu. Đấy  là một cánh đồng nhỏ, rộng chừng 2 hay ba mẫu Anh[1] và chỉ có  vài người  lui tới đó. Tôi quyết định tới đó trước khi những người khác đến.

Khi tôi tới cánh đồng, Fanny đã sắp hái xong hai luống đầu tiên. Cô nghĩ rằng cả cánh đồng thuộc về cô, giống y chang những gì tôi đã nghĩ. Chúng tôi không cảm thấy phiền vì sự có mặt của người kia chừng nào những người khác chưa đến.

“ Chào Fanny”, tôi nói. “ Cái gì đã khiến  cậu nghĩ tới việc tới đây, chỗ   cánh đồng của  ông Gunby này vậy ?”

“ Thì cũng giống như điều đã khiến cậu nghĩ về nó thôi, mình  đoán thế”, Fanny đáp, thổi sạch cát ở một vốc dâu và bỏ vào miệng.

Chúng tôi bắt đầu tiến hành công việc sát bên nhau. Fanny hái rất nhanh nên tôi phải gắng hết sức để theo kịp cô.

Khoảng một giờ trước lúc giữa trưa, mặt trời trở nên nóng bức và bầu trời thì không một đám mây. Những trái dâu chín nhanh không kịp hái. Fanny có được một tá những hộp đựng đầy dâu  từ luống tiếp theo. Cô có thể hái cả ngày và không bao giờ để lẫn một quả nho nào vào những trái dâu. Cô chỉ dùng ngón cái và hai ngón tiếp theo, tạo thành một hình tam giác nắm lấy trái dâu gần cuống và bứt nó lên. Cô  không bao giờ làm vỡ một trái dâu nào như những người khác vẫn thường làm.

Tôi chưa bao giờ nhận ra điều này  trên những cánh đồng khác trước đó nhưng hôm nay tôi đã nhận ra điều ấy: Fanny hái dâu trên đôi chân trần.  Tất nhiên vào buổi chiều sẽ mát mẻ hơn với đôi chân không đi tất và đấy  là cách tốt nhất để tránh khỏi việc phải đeo tất tới tận đầu gối. Fanny nhận ra tôi đang nhìn đôi chân trần và hơi khẽ mỉm cười. Tôi muốn nói với Fanny  rằng trông chúng thật duyên dáng biết chừng nào nhưng tôi không dám.

Vào lúc giữa chiều thậm chí trời còn nóng hơn cả lúc 12 giờ trưa. Những ngọn gió nhẹ mà chúng tôi tận hưởng vào ban sáng đã biến mất và mặt trời như một tấm gương lớn  rọi gay gắt trên đầu chúng tôi. Chân của Fanny  đã bắt màu nâu rám nắng.

Trước khi  biết được mình  đang làm gì tôi lẳng lặng lẻn đến sau Fanny và thả một quả dâu chín mọng to tướng xuống chỗ hở trên cổ chiếc  váy cô đang mặc. Lúc đầu nó làm cô  sợ hãi. Tin rằng tôi đang ở cách đấy một vài luống cô nghĩ nó là một con rệp hoặc một con côn trùng nào đó tương tự thế đã rơi vào trong váy. Tuy nhiên khi cô nhảy lên và nhìn thấy tôi đang đứng ở đằng sau thì cô bật cười và đưa tay  xuống phía ngực  để tìm trái dâu. Tôi cam đoan là  tôi đã nhìn thấy nó dưới váy Fanny. Trước khi  tay cô kịp chạm vào nó tôi ráng sức đập mạnh. Tôi nghĩ chắc chắn rằng Fanny  sẽ bật cười như mọi lần khi những người khác đập trái dâu vỡ nhưng lần này cô  không cười. Cô ngồi thụp xuống, co tròn người lại. Sau đấy tôi nhận ra có điều gì đó không ổn. Fanny nhìn tôi và đôi mắt thì đẫm nước. Tôi quỳ sụp xuống bên cạnh Fanny. Tôi đã đập trúng ngực cô.

“ Có sao không Fanny?”, tôi cầu khẩn. “ Tớ có làm cậu đau không? Tớ  không hề có ý định làm thế. Thật đấy. Tớ  không hề có ý làm thế đâu”.

“ Mình biết cậu không có ý làm thế”, Fanny  nói, những giọt nước mắt rơi xuống ngực áo, “ nhưng nó vẫn làm mình đau. Cậu không được đập  vào nơi  ấy”

“ Tớ sẽ không bao giờ làm thế nữa đâu, Fanny. Tớ hứa đấy, tớ sẽ không làm thế nữa”.

“ Giờ thì mọi chuyện  ổn rồi”, cô mỉm cười đau đớn. “ Cho dù nó vẫn còn đau chút ít”.

Fanny  ngả   đầu vào vai tôi. Tôi vòng tay ôm lấy  Fanny . Cô đưa tay chùi khô những giọt nước mắt.

“ Giờ thì không sao rồi”, Fanny  nhắc lại. “ Nó sẽ chóng hết đau thôi”.

Cô  ngẩng đầu lên và mỉm cười với tôi. Đôi mắt xanh to tròn của cô giờ đây thật giống như hình ảnh bầu trời trước lúc bình minh.

“ Tớ sẽ không bao giờ thả dâu vào cậu nữa đâu chừng nào tớ còn sống, Fanny”,  tôi nài nỉ hi vọng cô  sẽ tha thứ cho tôi.

Fanny cởi cúc chiếc váy xuống đến tận thắt lưng. Quả dâu tây vỡ ra bên dưới áo lót cô. Vết ố màu đỏ tươi trông giống như đóa hoa bìm bìm nổi bật trên nền vải màu trắng.

“ Mình phải cởi nốt nó để lấy trái dâu ra”, cô  nói.

“Để tớ lấy cho”, tôi khẩn khoản. “ Cậu không muốn nước dâu dây ra tay mà”.

Cô  cởi chiếc áo lót ra. Quả dâu vỡ nát đang nằm giữa hai bầu vú Fanny. Đôi bầu vú  có màu trắng sữa và ở giữa mỗi bên có một chấm đỏ giống như trái dâu tây chín. Thật khó mà biết được mình đang làm gì nữa tôi ghì chặt lấy Fanny trong vòng tay và hôn môi cô thật lâu. Quả dâu tây vỡ rơi tuột xuống mặt đất bên cạnh chúng tôi.

Khi chúng tôi đứng dậy, mặt trời đang lặn và mặt  đất đang dần dần trở nên dịu mát. Chúng tôi tìm những chiếc hộp cùng những  chiếc giỏ đựng dâu rồi  đi bộ băng qua cánh đồng  về nhà kho. Khi chúng tôi tới đó, ông Gunby đếm lại  và trả tiền công cho chúng tôi.

Chúng tôi đi qua sân kho tới trước ngôi nhà và đứng ở cổng  nhìn nhau rất lâu. Không ai trong chúng tôi nói một lời nào. Fanny đã có lần nói rằng cô chưa hề có bạn trai. Tôi ước cô sẽ là bạn gái của tôi.

Fanny quay đi và bước  xuống  phía dưới con đường và tôi thì đi  lên chiều ngược lại. Đấy cũng là lúc mùa hái dâu chấm dứt.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Anh


[1] Một mẫu Anh (acre) = 0.4 hecta – ND

%d bloggers like this: