Archive

Archive for the ‘Truyền thông VN nói về giáo dục’ Category

Bài 2: Cho tư nhân viết sách, bây giờ cũng chả mấy người làm!

June 27, 2014 Leave a comment

 

XUÂN TRUNG

27/06/14 04:46

(GDVN) – Câu chuyện khuyến khích các tổ chức, cá nhân cùng tham gia viết sách giáo khoa, đó là chủ trương đúng, khơi dậy được sở trường từng người, nhưng còn đó nỗi lo.

Chính phủ khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc. Xung quanh chủ trương này, chúng tôi có cuộc trao đổi với PGS. Nguyễn Kế Hào, nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục tiểu học (Bộ GD&ĐT), người từng từ quan để phản đối chương trình cải cách giáo dục tiểu học mới.

Người viết sách phải có gan

Trước chủ trương khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia viết sách giáo khoa, PGS. Nguyễn Kế Hào cho rằng, mặc dù đây là chủ trương dân chủ nhưng sẽ không nhiều người đứng ra viết sách.

Theo quan điểm của PGS. Hào, vấn đề này phải có người nào đó xả thân đứng ra để chủ trì thì lúc đó mới có người tham gia viết, tức là tổng chủ biên. “Sách giáo khoa không thể viết theo kiểu gom mỗi người một tí, mà phải thống nhất” PGS Hào cho hay.

PGS. Nguyễn Kế Hào, nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục tiểu học (Bộ GD&ĐT). Ảnh Xuân Trung

Chia sẻ thêm, người từng giữ chức Vụ trưởng Vụ giáo dục tiểu học còn cho rằng, nếu cá nhân hay tổ chức có nguyện vọng viết sách phải được đăng ký trước, và phải xét người đó, tổ chức đó có đủ tiêu chuẩn hay không? Một tác giả viết cẩu thả để rồi bắt con cháu mình học chương trình đó là nguy hiểm.

“Đầu tiên người viết sách phải có phẩm chất, năng lực, chung thành với Nhà nước. Sách viết ra phải được thử nghiệm, có đạt chuẩn không và khi đạt chuẩn thì giáo viên, phụ huynh sẽ chọn sách” ông Hào nói.

Theo lời của PGS. Nguyễn Kế Hào, công việc viết sách rất vất vả, người viết sách phải có gan, biết hy sinh, còn viết sách để kiếm tiền thì đó lại không phải là viết sách giáo khoa.

Nói ít người tham gia viết sách giáo khoa nhưng không thể cấm những cá nhân, tổ chức tham gia viết sách, vì đó là dân chủ. PGS. Hào cho rằng, ai cũng tham gia viết sách và kinh phí có thể  tự bỏ ra hoặc nhà nước hỗ trợ một phần ban đầu, và bộ sách của ai, của tổ chức nào được chọn thì tác giả sẽ sống bằng “bản quyền” của bộ sách đó sau khi được in và tái bản nhiều lần.

Điều lo ngại không kém khi cho các cá nhân, tổ chức tham gia viết sách giáo khoa là chương trình sách phải được viết như thế nào để đảm bảo tính ổn định của vòng đời sách? Câu hỏi này PGS. Nguyễn Kế Hào cho biết, xác định sách càng cấp dưới tính ổn định càng cao, ít nhất là 15-20 năm.

“Việc đọc thông viết thạo tiếng Việt, tiếng Việt thì không thể thay đổi được” PGS. Hào khẳng định.

…và cần cái Tâm

Theo chủ trương của Chính phủ, Chính phủ khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc; xây dựng ngân hàng bài giảng điện tử để giáo viên và học sinh tham khảo.

Như vậy sẽ có một chương trình khung cứng của Bộ GD&ĐT, các cá nhân và tổ chức có khả năng sẽ cùng tham gia viết sách. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra trong nội dung này: Trách nhiệm của từng cá nhân, từng tổ chức khi tham gia viết sách là gì, điều gì cần ở họ nhất để tránh tình trạng viết sách giáo khoa là một món lời của dịch vụ?

PGS. Nguyễn Kế Hào thẳng thắn cho rằng, người viết sách trước hết phải có tâm, có trình độ, am hiểu không những về khoa học mà còn về nghiệp vụ sư phạm. Viết sách đòi hỏi phải có kiến thức khoa học cơ bản, người viết sách phải là ông thầy, là nhà nghiên cứu.

Do đó viết sách phải có đủ ba nhà; nhà khoa học, nhà tâm lý giáo dục và nhà chuyên môn sư phạm.

Để tránh lãng phí, theo ý kiến của PGS. Hào chúng ta có thể lấy một số môn khoa học tự nhiên của nước ngoài về và cải biên thành sách để học sinh học phổ thông học. Riêng cấp tiểu học phải là sách của ta, vì tiếng Việt không thể lấy của nước ngoài (giáo dục đạo đức lối sống, lịch sử).

 

Việc thay đổi sách và làm lại bộ sách có thể ảnh hưởng tới học sinh và toàn xã hội, theo PGS. Hào ở những nước phát triển họ rất chú ý tới các cấp học dưới. Chính vì thế chúng ta có đề án xây dựng chương trình giáo dục phổ thông là rất đúng.

Việc để xã hội cùng tham gia làm sách giáo khoa sẽ tiết kiệm kinh phí cho nhà nước?

Quan điểm của PGS. Nguyễn Kế Hào hoàn toàn ngược lại, vì bản chất xã hội hóa làm sách là mở rộng, dân chủ, không cấm ai tham gia viết sách, và khi tuân thủ được quy trình làm sách sẽ rất ngặt nghèo. Khi làm xong sách phải đưa thử nghiệm và qua kiểm định để xem có được chấp nhận hay không?

Quan ngại nhất của PGS. Hào là quá trình thử nghiệm, bởi để một bộ sách vào trường học là không dễ. Khi một vài bộ sách được Bộ GD&ĐT  thẩm định thì các trường và học sinh sẽ là người lựa chọn.

 

Còn nữa…

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Bai-2-Cho-tu-nhan-viet-sach-bay-gio-cung-cha-may-nguoi-lam-post146587.gd

Advertisements

Cho tư nhân viết sách giáo khoa

June 27, 2014 Leave a comment

 

(GDVN) – Xác định những nhiệm vụ, kế hoạch và phương hướng đi đúng đắn sẽ giúp quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được nhanh chóng, vững chắc.

 

LTS: Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó xác định 9 nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành liên quan để góp sức đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

 

Trước đó, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết 29 với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện  giáo dục và đào tạo. Đây là những chủ trương, mục tiêu quan trọng giúp sự nghiệp giáo dục và đào tạo đi đúng hướng, triển khai có hiệu quả công cuộc đổi mới toàn diện.

 

Góp sức với chủ trương trên, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam cùng với các chuyên gia am hiểu giáo dục đồng hành góp tiếng nói của mình để thúc đẩy chương trình hành động của Chính phủ có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra.

 

Bài 1: Cần có nhiều bộ sách giáo khoa cho một chương trình

 

Một trong những nội dung nằm trong khung chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo là vấn đề khuyến khích các tổ chức, cá nhân cùng tham gia viết sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) dựa trên khung chương trình được Bộ GD&ĐT phê duyệt.

Để mở đầu cho câu chuyện xã hội hóa làm sách giáo khoa (SGK), chúng tôi có cuộc trao đổi xung quanh chủ đề này với GS. Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT.

 

Tư nhân viết sách

 

Chia sẻ quan điểm của mình về việc cần thiết phải có một bộ SGK, GS. Trần Xuân Nhĩ cho biết, đây là một trong những việc làm cần phải đổi mới song song với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Nói về thực trạng, GS. Nhĩ cho rằng chương trình và SGK của chúng ta hiện nay được viết theo nội dung lạc hậu, chủ yếu viết để làm sao giáo viên dạy theo kiểu truyền thụ kiến thức, nên phải thay đổi.

GS. Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT.

Quan điểm của Chính phủ về việc làm sách là huy động sức mạnh của cộng đồng, không nên để việc làm sách mang tính độc quyền từ phía Bộ GD&ĐT. Vậy làm SGK theo mô hình xã hội hóa như thế nào? GS. Trần Xuân Nhĩ cho rằng, trước hết phải xác định được một chương trình phù hợp, sau khi có chương trình phù hợp nên đặt yêu cầu cho từng lớp. Lớp 1 yêu cầu gì, lớp 2-3-4 yêu cầu gì? Và đến tận bậc phổ thông, vấn đề này Bộ GD&ĐT phải chịu trách nhiệm để làm và lấy ý kiến của các tổ chức xã hội, các chuyên gia.

Khi xác định được chương trình phải cụ thể hóa và huy động các tổ chức xã hội, những cá nhân có kinh nghiệm, có năng lực và tâm huyết để viết SGK. Khâu này ai có năng lực sẽ đăng ký làm và Bộ GD&ĐT chỉ đứng ra thành lập kiểm định xem bộ sách nào đạt và cho lưu hành.

 

Theo đánh giá của GS. Nhĩ, hiện nay đất nước ta đang có rất nhiều các tổ chức chuyên ngành, và việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia làm SGK trước hết dành cho các tổ chức chuyên ngành này đảm nhận. Lấy ví dụ làm chương trình sử sẽ có Hội khoa học lịch sử Việt Nam, chương trình Sinh học có Hội sinh học Việt Nam…đứng ra đảm nhận.

Hơn nữa, theo gợi ý của GS. Nhĩ chúng ta làm SGK mới không chỉ dựa vào cộng đồng trong nước, mà hãy xem SGK ở nước nào trên thế giới là tốt nhất, thích hợp với chúng ta, nhất là SGK về tự nhiên, xã hội và ngoại ngữ.

“Nhà nước và Bộ GD&ĐT nên mời một số chuyên gia để họ đánh giá chương trình nước ngoài, đồng thời có thể Việt Nam hóa chương trình đó, đó là giải pháp nhanh. Nếu chúng ta làm như vậy tôi nghĩ sẽ nhanh chóng có bộ sách để áp dụng dạy được sớm” GS. Nhĩ tin tưởng.

Với kinh nghiệm và hiểu biết của mình khi có điều kiện được làm việc ở một số nước có nền giáo dục phát triển ở Châu á, GS. Trần Xuân Nhĩ viện dẫn việc làm sách cần nhẹ nhàng, tăng cường tính trực quan.

“Tôi từng làm việc tại Singapore và có điều kiện tiếp cận một số quyển sách dành cho các trẻ mẫu giáo, quyển sách có 50 trang, mỗi trang có 20 hình vẽ, mỗi hình vẽ được diễn giải bằng từ ngữ dễ hiểu. Trẻ con chỉ cần ngồi chơi một lúc 20 tấm hình/trang đó là hiểu hết các từ, một quyển như vậy là 1.000 từ.

Với quyển sách này nếu được in tất cả cho các trường mẫu giáo là rất nên, điều đó vừa nhẹ nhàng như chơi mà học, học mà chơi. Trong vòng 2-3 năm trừ những từ sai sót trẻ có thể nhớ được hơn 1.000 từ. Với lượng từ được kết cấu trong sinh hoạt trẻ có thể giao tiếp được thông thường ở bậc mẫu giáo” GS. Nhĩ chia sẻ.

Cũng theo kinh nghiệm của Singapore, trên cơ sở cho trẻ học như vậy ở bậc mẫu giáo, sách sẽ được in và tích lũy ở các bậc học cao hơn. Như vậy, không bất ngờ khi tiếng Anh của học sinh ở đây rất giỏi.

Cần nhiều tổ chức, cá nhân cùng tham gia viết SGK. Ảnh minh họa Xuân Trung

Ở nước ta, theo quan điểm của GS. Nhĩ, chúng ta có thể từ một chương trình chuẩn và có nhiều bộ SGK khác nhau. Trước đó, có thể chỉ dạy một tác phẩm văn học cho học sinh, nhưng khi áp dụng nhiều bộ SGK có thể dạy thêm cảm nhận về dòng tác phẩm như vậy, nhiều tác phẩm khác nhau và chỉ cần giữ “cốt” khi phân tích tác phẩm.

“Để minh họa một chương trình thì có nhiều cách minh họa khác nhau”GS. Nhĩ khẳng định.

 

“Khi chúng ta thay đổi SGK cũng nên xem vấn đề nào lạc hậu thì bỏ đi, thiếu thì bổ sung. Đây là một dịp để cân đối chương trình” GS. Trần Xuân Nhĩ.

Về quy trình soạn thảo, ý kiến của nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, sau khi Bộ GD&ĐT công bố rộng rãi một chương trình chuẩn trước hết nên dành quyền làm sách cho các Hội khoa học kỹ thuật, các tổ chức chuyên ngành, bởi thực tế SGK chỉ gồm các môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Lịch sử, Ngoại ngữ, Văn học, Đạo đức, tương ứng với các môn sẽ có những hội khoa học và sẽ đăng ký làm sách.

Thậm chí, ở đây xã hội hóa cả cộng đồng và những giáo viên dạy lâu năm về bộ môn đó cũng có thể viết được sách, trên quan điểm ai viết được sách nên viết. Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức mội hội đồng thẩm định chính quyển sách của cá nhân, tổ chức xem đã đạt yêu cầu của chương trình đề ra hay chưa, nếu đạt sẽ in và công bố, tuy rằng không nên có quá nhiều bộ sách.

Trước khi để các tổ chức, cá nhân tham gia viết sách Bộ GD&ĐT phải thẩm định năng lực của tổ chức, cá nhân xem có đủ để viết SGK hay không.

 

Xã hội hóa SGK: Bớt được khoản tiền khổng lồ

 

Chia sẻ thêm với chúng tôi, người từng lãnh đạo ngành giáo dục cũng cho rằng, thuận lợi của chủ trương xã hội hóa làm SGK (sách in và điện tử) sẽ đỡ tốn kém tiền của dân. Hình dung rằng, một bộ SGK sẽ do cá nhân hay các tổ chức đứng ra viết, sau khi được thẩm định Bộ GD&ĐT chỉ việc mua bản quyền. Theo ước lượng của GS. Nhĩ có thể chỉ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng, nếu khi có khoảng 100 bộ sách cũng chỉ mất khoảng vài tỷ đồng.

“Kinh phí làm SGK tôi nghĩ không thể hết tới con số hơn 34 nghìn tỷ, mặc dù đó chỉ là chủ trương. Nhưng khi làm việc gì chúng ta cũng phải tính tới điều kiện để làm, như vậy ngay người cho cũng không thể cho được” GS. Nhĩ nói về sự vô lý về lượng kinh phí khổng lồ khi nghĩ tới làm SGK.

Cũng theo GS. Trần Xuân Nhĩ, thời gian duy trì một chương trình và bộ sách chỉ khoảng vài năm, không nên duy trì  quá lâu sẽ dẫn đến lạc hậu. Tuyệt đối không được thay SGK theo kiểu cuốn chiếu, mà ngược lại hãy đưa ra một chương trình tổng thể, sau đó tính toán việc viết SGK tổng thể rồi đối chiếu lại xem vấn đề nào được và chưa được, mỗi lớp nên làm thế nào và chỉ tiến hành trong một vài năm.

 

Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo T.Ư cũng từng có bài viết trên báo chí rằng, một chương trình có thể và rất nên có nhiều bộ SGK. Việc quy định một chương trình một bộ SGK do nhà nước ban hành. Theo TS. Hoàng, việc này nên đổi mới, mà nên làm sớm, làm ngay chứ không nên kéo dài nữa.

 

 

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Cho-tu-nhan-viet-sach-giao-khoa-post146485.gd

Sẽ có một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa

June 21, 2014 Leave a comment

(VTV Online) –

Việc có một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa là bước ngoặt lớn, thể hiện sự thay đổi tư duy và phương pháp dạy học ở Việt Nam hiện nay. Nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho cơ quan quản lý giáo dục.

Sẽ có một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển

 

Phóng viên Thời sự đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT về vấn đề rất mới này.

Thưa Thứ trưởng, liên quan đến chương trình hành động của chính phủ về đổi mới giáo dục vừa được ban hành có một điểm nổi bật đó là cho phép các cá nhân và tổ chức được tham gia biên soạn sách giáo khoa dựa trên một chương trình chung thống nhất của Bộ. Tại sao lại có quyết định này?

 

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển: Các nước đều có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau để dạy phổ thông. Điều đó phát huy trí tuệ, năng lực của nhiều lực lượng tham gia công tác phổ thông. Mặt khác khi có nhiều bộ sách giáo khoa sẽ đáp ứng nhiều điều kiện, hoàn cảnh dạy học khác nhau. Trước đây chúng ta chưa làm được việc có nhiều sách giáo khoa nhưng giờ đã đến lúc chúng ta có thể làm được việc này khi cân đối được người viết, điều kiện xây dựng chương trình đáp ứng được việc viết nhiều sách giáo khoa.

 

Tuy nhiên Bộ GD-ĐT sẽ kiểm soát chất lượng các bộ sách giáo khoa này như thế nào? Liệu có xảy ra tình trạng loạn sách giáo khoa và loạn chất lượng sách?

 

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển: Theo quy định của Luật Giáo dục, Bộ GD-ĐT sẽ là cơ quan tổ chức thẩm định, phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng trong cả nước. Đồng thời, việc cho phép nhiều tổ chức cá nhân biên soạn sách giáo khoa thì trước đó chúng ta phải xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá sách giáo khoa.

 

Mặt khác, việc xây dựng chương trình cũng phải có nét mới để làm sao chương trình phát huy được khả năng khác nhau của tổ chức, cá nhân đồng thời chương trình đó là cơ sở đánh giá sách giáo khoa. Nghĩa là, chương trình phải tạo điều kiện cho người ta viết được sách đồng thời cho chúng ta dựa vào tiêu chí để đánh giá sách.

 

Điều này có nghĩa là Bộ GD-ĐT sẽ là đơn vị cuối cùng chịu trách nhiệm về chất lượng sách giáo khoa?

 

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển: Đúng vậy.

 

Bộ tính toán cách thực hiện như thế nào để lộ trình thực hiện không quá dài, không quá chậm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng xây dựng chương trình sách giáo khoa?

 

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển: Đối với người viết sách, về mặt thủ tục đơn giản. Người ta chỉ cần dựa vào yêu cầu của chương trình đổi mới như thế nào để viết sách. Nhưng việc của Bộ phức tạp hơn, đó là làm thế nào để có chương trình, làm thế nào đánh giá được chương trình sách giáo khoa, làm thế nào để chọn được sách giáo khoa và quản lý sách giáo khoa sao cho phù hợp với tiến độ.

 

Trong trường hợp chúng ta có nhiều bộ sách giáo khoa thì công tác tập huấn cho giáo viên sẽ được tiến hành ra saokhi mà trước đây, chúng ta đã tiến hành đồng loạt với một chương trình, một bộ sách duy nhất?

 

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển: Trước đây khi tập huấn giáo viên vẫn bám theo sách còn bây giờ tập huấn giáo viên sao cho họ hiểu được chương trình. Và trong chương trình quy định cụ thể hơn những chuẩn của từng cấp học một nói chung, chuẩn môn học nói riêng, chuẩn môn học theo lớp học.  Dựa vào chuẩn đó, người ta sẽ nắm được yêu cầu của chương trình và sẽ biết lựa chọn và sử dụng sách.

 

Vai trò của chương trình và sách giáo khoa sẽ thay đổi. Vai trò chương trình sẽ quan trọng hơn so với hiện nay. Sách giáo khoa vẫn có vai trò quan trọng nhưng không phải là độc nhất. Sách giáo khoa có thể là tài liệu tham khảo tốt nhất cho giáo viên dạy học.

Xin cảm ơn Thứ trưởng về cuộc trao đổi!

http://vtv.vn/thoi-su-trong-nuoc/se-co-mot-chuong-trinh-nhieu-bo-sach-giao-khoa/120856.vtv#sthash.Atu8RnOm.gbpl

Đậu tốt nghiệp THPT gần 100%: Có thực chất?

June 17, 2014 Leave a comment

Thứ tư, 18/06/2014, 00:02 (GMT+7)

° Nam Định tạm dẫn đầu cả nước về tỷ lệ đậu tốt nghiệp

(SGGP).– Ngày 17-6, nhiều tỉnh, thành tiếp tục công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2014. Trong đó, tỉnh Nam Định công bố tỷ lệ đậu tốt nghiệp hệ THPT là 99,94%; hệ giáo dục thường xuyên (GDTX) là 99,57%. Tính chung cả 2 hệ tỷ lệ đậu là 99,91%. Như vậy, đến thời điểm này, tỉnh Nam Định đang đứng đầu cả nước về tỷ lệ đậu tốt nghiệp năm 2014. Không phải chỉ năm nay, nhiều năm liền, Nam Định cũng nằm trong tốp đầu cả nước về tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT.

Ngày 17-6, Bộ GD-ĐT cũng đã có báo cáo sơ bộ về kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014. Theo đó, với 908.109 thí sinh dự thi, cho đến thời điểm tổng hợp kết quả kỳ thi theo báo cáo của 46 tỉnh, thành thì trên cả nước, kết quả thi tốt nghiệp năm 2014 nhìn chung không có biến động nhiều so với năm 2013. Cụ thể: tỷ lệ tốt nghiệp của 46 tỉnh, thành của cả nước: giáo dục THPT là 99,01% (năm 2013 là 98,97%); GDTX là 86,97% (năm 2013 là 78,08%). Bộ GD-ĐT cho rằng, kết quả này phản ánh những điều chỉnh, đổi mới của kỳ thi năm nay đã có tác động tích cực, nâng cao chất lượng đánh giá công nhận tốt nghiệp THPT. Tỷ lệ đậu tốt nghiệp cao theo Bộ GD-ĐT còn là do việc kết hợp sử dụng kết quả thi 4 môn thi với kết quả học tập tất cả các môn của lớp 12 để xét công nhận và xếp loại tốt nghiệp.

Cũng theo lý giải của Bộ GD-ĐT, đề thi năm nay có yêu cầu cao hơn các năm trước, tăng cường các câu hỏi đòi hỏi học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp để giải quyết vấn đề chứ không nặng về ghi nhớ máy móc các số liệu, sự kiện hay trả lời theo các khuôn mẫu có sẵn. Đề thi các môn Văn, Địa lý, Lịch sử có câu hỏi gắn với nội dung bảo vệ chủ quyền, biển đảo, cập nhật được những vấn đề thời sự đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân; đồng thời phát huy tính tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của thí sinh…

Ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định giáo dục cho biết, trên cơ sở kết quả kỳ thi năm nay, bộ sẽ xây dựng định hướng cho việc tổ chức dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá trong quá trình học và thi tốt nghiệp THPT năm học 2014 – 2015 và các năm tiếp theo.

Kết quả cao chót vót của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 lại tiếp tục làm dư luận dấy lên băn khoăn: kết quả đậu gần 100% có thực chất? PGS-TS Văn Như Cương cho rằng, nếu tổ chức một kỳ thi vất vả, tốn kém mà chỉ để loại vài chục thí sinh thì quá lãng phí sức người, sức của; thi mà đậu gần 100% thì quá hình thức. GS Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cũng cho rằng, với tỷ lệ đậu gần 100% như vậy thì không cần thiết phải tổ chức kỳ thi quốc gia mà nên giao địa phương tổ chức.

 

PHAN THẢO

http://sggp.org.vn/giaoduc/2014/6/352492/

 

Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

June 10, 2014 Leave a comment

(Chinhphu.vn) – Chính phủ vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Ảnh minh họa

Chương trình này xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 29 nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở

Theo Chương trình, cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và hành động trong triển khai đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong đó, các Bộ, ngành, địa phương, trước hết là ngành giáo dục và đào tạo, các cơ quan báo chí chủ động tổ chức việc học tập và thường xuyên tuyên truyền, giải thích các nội dung của Nghị quyết 29.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo và giữa các hình thức giáo dục, đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và hội nhập quốc tế. Cụ thể, rà soát và điều chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân theo các cấp học và trình độ đào tạo.

Bên cạnh đó, rà soát việc thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia, đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong nước và tham gia thị trường lao động quốc tế; ưu tiên đầu tư phát triển một số trường và ngành đào tạo chất lượng cao.

Đồng thời, triển khai phân luồng và định hướng nghề nghiệp ở giáo dục phổ thông; phân loại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu, ứng dụng và thực hành.

Đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực

Chương trình hành động cũng đề ra nhiệm vụ triển khai đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển năng lực và phẩm chất người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học.

Cụ thể, sẽ rà soát, hoàn thiện chương trình giáo dục mầm non bảo đảm mục tiêu giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1. Triển khai chương trình hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình và các nhóm trẻ độc lập, tư thục.

Bên cạnh đó, xây dựng và phê duyệt chương trình giáo dục phổ thông mới theo tinh thần Nghị quyết 29, chú trọng việc tăng cường các hoạt động trải nghiệm thực tế nhằm giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc. Xây dựng hệ thống ngân hàng bài giảng điện tử để giáo viên và học sinh có thể tham khảo trong quá trình dạy và học.

Cùng với đó, rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội. Triển khai cơ chế phối hợp giữa các trường bảo đảm chất lượng, thống nhất chương trình, giáo trình theo từng ngành, nhóm ngành, nhóm nghề đào tạo. Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu của người học và chuyển đổi ngành, nghề của xã hội.

Tiến tới tổ chức một kỳ thi chung

Cũng theo Chương trình hành động, cần đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển.

Trong đó, cần đổi mới việc tổ chức thi, công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh cao đẳng, đại học, tiến tới tổ chức một kỳ thi chung, lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và làm căn cứ tuyển sinh đào tạo nghề và đào tạo cao đẳng, đại học; thành lập các trung tâm khảo thí độc lập.

Tăng cường quản lý chất lượng đầu ra ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trường lao động. Xây dựng cơ chế xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo nghề, đào tạo cao đẳng, đại học hàng năm trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động, năng lực đào tạo và tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Định kỳ tổ chức đánh giá chất lượng giáo dục trên phạm vi cả nước và từng địa phương; tham gia các kỳ đánh giá quốc tế về chất lượng giáo dục phổ thông để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục; định kỳ kiểm định và công khai kết quả kiểm định các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề và các chương trình đào tạo; thành lập các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục và trung tâm đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Xây dựng quy chế đào tạo theo hướng người học được bảo lưu kết quả học tập để học liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà giáo đầu ngành ở các cấp học

Về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cần đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.

Cụ thể, sắp xếp, kiện toàn hệ thống và điều chỉnh nhiệm vụ các cơ sở đào tạo giáo viên, cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục; tập trung chỉ đạo và triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giáo viên phổ thông, giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình, sách giáo khoa mới. Xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Nghiên cứu, đề xuất chính sách tiền lương nhằm khuyến khích thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành giáo dục và đào tạo: mức lương nhà giáo được hưởng trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; phụ cấp theo tính chất công việc, theo vùng; phụ cấp thâm niên nghề nghiệp tính cho thời gian trực tiếp giảng dạy. Xây dựng cơ chế tín dụng để tạo điều kiện về nhà ở và học tập nâng cao trình độ cho giáo viên, giảng viên trẻ.

Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà giáo đầu ngành ở các cấp học và trình độ đào tạo phù hợp với điều kiện của Việt Nam và từng bước hội nhập quốc tế; nghiên cứu, hoàn thiện quy định về bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; thu hút các nghệ nhân, nghệ sỹ tài năng, người có kinh nghiệm thực tiễn lâu năm trong ngành, có tay nghề cao tham gia giảng dạy, truyền nghề tại các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề

Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề, đặc biệt đối với giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Huy động sự tham gia của toàn xã hội để tăng nguồn đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ các hoạt động của cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Cụ thể, cần sửa đổi, bổ sung cơ chế đầu tư, ưu đãi về đất đai, vốn để hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề ngoài công lập; cơ chế cho thuê cơ sở vật chất để phát triển giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập.

Khuyến khích hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề; phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề với các cá nhân, doanh nghiệp có uy tín trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; bảo đảm sự công bằng về mọi chế độ, chính sách đối với học sinh, sinh viên giữa cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.

Xây dựng chính sách hỗ trợ nhà giáo trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề công lập và ngoài công lập; xây dựng cơ chế và lộ trình điều chỉnh học phí theo hướng linh hoạt, trên cơ sở chất lượng và chi phí đào tạo để phát huy năng lực của từng loại hình cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Bên cạnh đó, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và dạy nghề; trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các Bộ, ngành, địa phương và trách nhiệm của các Hội, Hiệp hội. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực, tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề.

Hoàng Diên

http://baodientu.chinhphu.vn/chi-dao-quyet-dinh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu/chuong-trinh-hanh-dong-cua-chinh-phu-ve-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc-va-dao-tao/201329.vgp

Gọi tên triết lý giáo dục

May 10, 2014 Leave a comment

Gọi tên triết lý giáo dục

Giáp Văn Dương
Thứ Năm,  8/5/2014, 09:43 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè

(TBKTSG) – Triết lý giáo dục của hệ thống hiện thời là đào tạo con người công cụ. Đây là cái sai nghiêm trọng nhất trong những cái sai của hệ thống giáo dục này.

Có hay không triết lý giáo dục?

Mục đích chính của việc học hiện nay là học để thi. Thi gì thì học nấy. Trong ảnh: đoạn đường trước một điểm thi đại học tại TPHCM. Ảnh: Kinh Luân

Triết lý giáo dục được hiểu là những khái quát ngắn gọn, thường chỉ trong một câu thôi, được sử dụng làm định hướng vận hành cho cả hệ thống giáo dục.

Như vậy, triết lý giáo dục khác với triết học giáo dục ở chỗ, triết học giáo dục là một phân ngành riêng của triết học, chọn giáo dục làm đối tượng nghiên cứu. Còn triết lý giáo dục lại là tinh thần chủ đạo, là hồn cốt thần sắc, của cả một hệ thống giáo dục và do đó của mọi hoạt động giáo dục liên quan.

Dựa vào triết lý giáo dục, cả hệ thống giáo dục, và theo đó là các hoạt động của nó, được thiết kế, vận hành và điều chỉnh tương ứng.

Hiện nay, triết lý giáo dục vẫn đang được xem là điểm bế tắc của hệ thống giáo dục Việt Nam. Mọi bất cập hiện có, và sự thất bại của các cuộc cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua, đều có thể truy nguyên về việc thiếu vắng một triết lý giáo dục đúng để dẫn dắt.

Triết lý giáo dục cần phải chuyển sang hướng đào tạo con người tự do, để học có thể tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, thay vì đào tạo con người công cụ như mục đích của hệ thống hiện thời.

Trước tình hình đó, đã có nhiều bàn thảo và nghiên cứu về triết lý giáo dục được tiến hành, bao gồm các đề tài nghiên cứu và các hội thảo lớn nhỏ, với mục đích tìm xem Việt Nam có triết lý giáo dục không, và nếu có thì đó là gì.

Nhưng đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng: Không một phát biểu tường minh nào về triết lý giáo dục được tìm ra. Tất cả vẫn chỉ quanh quẩn trong những câu chữ cũ, hoặc lảng tránh vòng vo, và cuối cùng là đều trở về các nghị quyết.

Điển hình là ngày 29-4-2014, khi trả lời báo chí trong phiên họp báo của Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận nói: “Tôi xin khẳng định triết lý trực tiếp của giáo dục chúng ta là Nghị quyết 29 của trung ương”.

Tìm đọc Nghị quyết 29 thì thấy rằng nghị quyết này dài hơn mười trang A4, nội dung được trình bày trong hơn 7.000 từ. Vậy thì thử hỏi ai có thể nhớ được để mà vận dụng và để gọi nó là triết lý giáo dục được?

Trên thực tế, nội dung của Nghị quyết 29 đã được đề cập trong những nghị quyết trước đó nhiều năm.

Câu trả lời của bộ trưởng đã cho thấy đây là một sự lảng tránh, trong nhận thức về triết lý giáo dục của người đứng đầu ngành.

Nhưng rõ ràng bất cứ hệ thống giáo dục nào cũng phải có một tinh thần chủ đạo, một triết lý dẫn dắt, dù có được gọi tên hoặc thừa nhận hay không.

Nay câu chuyện về triết lý giáo dục lại trở lại, với việc xúc tiến đề án cải cách căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thì câu hỏi về triết lý giáo dục lại cần được đào xới trở lại, ít nhất cũng ở mức nhận chân vấn đề, để có thể điều chỉnh kịp thời.

Vậy thì hãy một lần nhìn thẳng vào hệ thống giáo dục hiện thời và các hoạt động của nó, để định hình xem triết lý giáo dục đang được sử dụng là gì?

Tìm triết lý giáo dục ở đâu?

Muốn tìm triết lý giáo dục thì câu hỏi đầu tiên đặt ra là: Tìm triết lý giáo dục ở chỗ nào?

Có hai cách trả lời cho câu hỏi này, tùy theo cách tiếp cận: hệ thống hoặc sản phẩm. Hai cách tiếp cận này quan hệ chặt chẽ với nhau như hai mặt của một đồng xu, nên không thể tách rời nhau trên thực tế, vì hệ thống nào thì sản phẩm đó.

Đó thực chất chỉ là hai diễn giải khác nhau cho cùng một vấn đề. Cụ thể:

Cách 1: Tìm ở các nguyên tắc thiết kế hệ thống giáo dục, xem hệ thống này được thiết kế như thế nào và để làm gì?

Cách 2: Tìm ở sản phẩm đầu ra của hệ thống giáo dục, tức ở những phẩm tính của con người mà hệ thống đó dự kiến đào tạo ra. Nói nôm na thì đó là việc trả lời câu hỏi: Hệ thống giáo dục này muốn tạo ra con người nào?

Với cách tiếp cận thứ nhất, người viết bài này đã từng đưa ra năm nguyên tắc thiết kế cho hệ thống giáo dục: mở, sáng tạo, toàn diện, hiện đại và hội nhập. Trên cái nền hệ thống đó, các hoạt động giáo dục sẽ diễn ra và tự điều chỉnh nhằm tạo ra những con người sáng tạo, hiện đại và hội nhập.

Thực tế, đó cũng là một phát biểu về triết lý giáo dục, nhưng theo cách tiếp cận về thiết kế hệ thống, thay vì tiếp cận ở sản phẩm đầu ra, để tránh sa vào những tranh cãi bất tận về triết lý giáo dục.

Nhưng cách tiếp cận hệ thống này chỉ phù hợp với những nhà làm chính sách. Còn với đa số thầy cô giáo, phụ huynh và học sinh thì đây là những vấn đề quá xa vời. Cái họ cần hơn, và gần gũi hơn, là một hình dung về kết quả của việc học, về sản phẩm của giáo dục, để ước định sau nhiều năm đi học, thì học sinh của họ, con cái họ, và bản thân họ, sẽ trở thành người như thế nào.

Những người tham gia giáo dục cần một minh định như thế, để định hướng và điều phối mọi hoạt động giáo dục của mình. Cái minh định đó, không là gì khác hơn là triết lý giáo dục được tìm ra trong cách tiếp cận thứ hai, tức tiếp cận sản phẩm đầu ra.

Điển hình của cách tiếp cận này là giáo dục Nho giáo, với hình dung rất rõ ràng về sản phẩm đầu ra: học để làm quan, với hình mẫu tối hậu là trở thành người quân tử. Chính nhờ sự tường minh trong mục tiêu này mà hệ thống giáo dục Nho giáo đã đứng vững hàng ngàn năm. Chỉ đến khi nội hàm của khái niệm người quân tử không còn phù hợp nữa thì nền giáo dục này mới sụp đổ.

Ngày nay, hình dung về sản phẩm đầu ra không được tường minh và dõng dạc như thế, do bị ẩn giấu dưới trùng trùng các lớp ngôn ngữ của các nghị quyết, các chỉ đạo, các khái niệm chưa rõ ràng như khái niệm về con người mới xã hội chủ nghĩa, các luận thuyết giáo dục và tất nhiên của muôn vàn hoạt động giáo dục riêng lẻ hàng ngày, một cách vô thức hoặc chủ ý.

Nay nếu muốn tìm triết lý giáo dục thì chẳng còn cách nào khác là hãy tạm thời lùi xa một bước để nhìn thẳng vào nội dung của các hoạt động giáo dục, từ đó lần ra được điểm hội tụ của các hoạt động này, để xem khi cộng hợp lại thì chúng sẽ hướng đến việc tạo ra con người như thế nào. Đó chính là đầu dây mối nhợ của câu chuyện nhức đầu này.

Triết lý giáo dục hiện thời là gì?

Quan sát các hoạt động giáo dục đang được triển khai, có thể nhận thấy:

• Mục đích chính của việc học là học để thi. Thi gì thì học nấy.

• Nội dung chương trình được kiểm soát chặt chẽ dưới dạng sách giáo khoa và sách giáo viên. Thầy hiếm khi dạy ngoài sách, trò cũng chỉ phải học thuộc sách hoặc đề cương thầy giao.

• Phương pháp dạy chủ yếu là truyền đạt một chiều, theo kiểu đọc-chép, nặng tính áp đặt. Phương pháp học chủ yếu là học thuộc bài mẫu hoặc dạng mẫu. Phần thảo luận để phát triển tư duy phê phán, tư duy độc lập và tính sáng tạo không được khuyến khích. Người thầy là trung tâm của lớp học.

• Với các môn về khoa học xã hội, cả thầy và trò chỉ được chấp nhận một cách diễn giải chính thống. Với cuốn sách giáo khoa trên tay, người thầy là hiện thân của chân lý.

Những đặc điểm này nói lên điều gì?

Chúng nói lên rằng, hệ thống giáo dục hiện thời không khuyến khích học trò ra khỏi vòng kiểm soát của nội dung chương trình. Về đại thể, trò không được phép vượt quá thầy và đi ra ngoài sách giáo khoa.

Nó cũng không khuyến khích người học tự tìm tòi khám phá để xây dựng kiến thức cho riêng mình mà phải học thuộc và thừa nhận như chân lý một nội dung định trước.

Những con người được tạo ra từ hệ thống này cũng không được trang bị đủ kiến thức cập nhật, và đặc biệt không đủ kỹ năng để cạnh tranh trong môi trường quốc tế, vì lối học từ chương, học thuộc, học tủ, học để thi đang là chủ đạo.

Trò giỏi theo cách học này được hiểu là học giỏi và thi giỏi, chứ không phải là làm giỏi.

Nói một cách khác, hệ thống giáo dục hiện thời không hướng đến việc đào tạo con người tự do và độc lập, có tư duy phê phán, tư duy sáng tạo; mà chủ ý hình thành một người ngoan ngoãn, thích tuân thủ và cần cầm tay chỉ việc. Đó chính là hình ảnh của con người công cụ.

Hệ thống hiện thời được thiết kế để tạo ra những con người như vậy. Và các hoạt động giáo dục cũng dẫn đến kết quả như vậy. Do đó, dù nhìn từ cách tiếp cận nào thì cũng thấy đây chính là tinh thần chủ đạo của hệ thống giáo dục hiện thời.

Vì thế có thể nói, triết lý giáo dục hiện thời là đào tạo con người công cụ.

Điều này được cộng hưởng mạnh mẽ với nền văn hóa truyền thống, khi sự tuân thủ trên nguyên tắc ứng xử một chiều trên – dưới thấm đẫm trong mọi gia đình, và lối học từ chương từ xa xưa đã được coi là một chuẩn mực.

Triết lý này cũng phù hợp với lịch sử nhiều chiến tranh của Việt Nam, đặc biệt là trong thế kỷ 20, khi sự tuân thủ cấp trên và thực hiện mệnh lệnh là một trong những nguyên tắc sống còn của thời chiến.

Có sự kế thừa nền giáo dục truyền thống, có môi trường thời chiến, hoặc tư duy của thời chiến còn rớt lại, để sinh sôi, nên triết lý giáo dục này đã không bị phán xét hoặc phản biện thấu đáo.
Nhưng nay hoàn cảnh đã thay đổi, Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập toàn cầu, nhu cầu về sáng tạo và tự chủ cá nhân trở thành bức thiết, thì triết lý giáo dục đào tạo con người tuân thủ này đã không còn phù hợp.

Nó chính là nguyên nhân trực tiếp và sâu xa làm cho nền kinh tế của Việt Nam kém cạnh tranh và do đó đất nước rơi vào tụt hậu, mà biểu hiện cụ thể nhất là năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực đến hàng chục lần.

Vì thế, trong cuộc cải cách lần này, triết lý giáo dục cũng cần phải chuyển sang hướng đào tạo con người tự do, để học có thể tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, thay vì đào tạo con người công cụ như mục đích của hệ thống hiện thời.

Điều này cũng tương tự như việc học để làm quan, để trở thành người quân tử theo quan niệm của Nho giáo, đã không còn phù hợp khi làn sóng văn minh phương Tây tràn đến hồi đầu thế kỷ 20 nên cả nền giáo dục đã phải thay đổi.

Chỉ khi nào thực hiện được sự thay đổi này thì mới có thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Còn nếu không, sự thất bại giống như các cuộc cải cách giáo dục trước đây là điều có thể dự báo trước.

http://www.thesaigontimes.vn/114544/Goi-ten-triet-ly-giao-duc.html

“Muốn đổi mới chỉ có cách thay đổi chương trình, SGK”

May 1, 2014 Leave a comment

Cập nhật: 22:29 | 29/04/2014

 – Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận khẳng định cần thiết phải đổi mới chương trình và sách giáo khoa để thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

Trả lời tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ chiều 29/4, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho hay, dù có nhiều ý kiến bình luận trên truyền thông về việc không nên đổi mới chương trình, sách giáo khoa nhưng để cân nhắc, lựa chọn thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục như tinh thần Nghị quyết 29 của Trung ương thì đó là việc cần thiết.

Phạm Vũ Luận, 34 nghìn tỉ đồng, sách giáo khoa, Bộ trưởng

“Có nhiều ý kiến nói là chúng ta chưa có triết lý đổi mới giáo dục, nhưng tôi xin khẳng định triết lý trực tiếp của đổi mới giáo dục thể hiện trong Nghị quyết 29, thể hiện truyền thống, tinh hoa, kinh nghiệm của cha ông trong phát triển, làm giáo dục và cập nhật thời đại theo quan điểm của chúng ta” – ông Luận nói.

Trả lời câu hỏi “có cần thiết phải đổi mới chương trình và sách giáo khoa không”, Bộ trưởng Luận khẳng định: “Đây là việc cần thiết”.

Người đứng đầu ngành giáo dục cho hay, Nghị quyết 29 xác định chuyển nền giáo dục hiện nay đang chú trọng từ truyền thụ kiến thức một chiều sang một nền giáo dục chú trọng hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất của người học.

Theo Bộ trưởng Luận, để đạt mục tiêu chuyển đổi đó thì phải thay đổi. Từ thầy, trò, cán bộ quản lý, chương trình, sách giáo khoa, cách học, cách dạy, cách thi cử đều phải thay đổi.

“Chúng ta sẽ thay việc thiết kế các môn học theo vòng tròn đường tâm nhau giờ toán lý hóa văn sử địa, các lĩnh vực khoa học, ngoài cuộc sống có thế nào thì các kiến thức trong nhà trường cũng làm như vậy.

Kiến thức nhân loại bùng nổ tăng, làm chương trình quá tải, phải thay đổi cách đó bằng cách khác, thiết kế khối lượng kiến thức nhằm vào việc hình thành các chức năng, phẩm chất của học sinh, theo hướng các môn học chương trình học ở cấp dưới sẽ tích hợp cao. Phân hóa và tự chọn mạnh và sâu ở bậc học lớp học trên. Muốn làm được chả có cách nào khác phải thay đổi chương trình và sách giáo khoa” – ông Luận nói.

Bộ trưởng Luận cũng cho hay, việc hoãn trình dự thảo Nghị quyết của QH về đổi mới chương trình, sách giáo khoa xuất phát từ yêu cầu của UB TVQH muốn đề án được hoàn thiện chi tiết, cụ thể, trong đó có cả kinh phí thực hiện, tiến độ thời gian.

Ông cũng tái khẳng định con số kinh phí ước tính thực hiện hơn 34 nghìn tỉ đồng không phải là con số tính toán chính thức của Bộ, chỉ là con số tham khảo của các chuyên gia nghiên cứu khi đề xuất nghiên cứu nội dung khác nhau của vấn đề đổi mới giáo dục.

Ông Luận cũng khẳng định việc “khái toán” kinh phí thực hiện sẽ được cân đối.

“Nếu đưa ra giải pháp hay đòi hỏi nhiều kinh phí nhưng không có tiền thì không làm được, không thực tiễn. Đến thời điểm này chưa có con số nào cả. Chúng tôi đang làm…” – Bộ trưởng Luận nói.

Linh Thư
http://m.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/173212/-muon-doi-moi-chi-co-cach-thay-doi-chuong-trinh–sgk-.html

%d bloggers like this: